1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế tác động đến cân đối ngân sách nhà nước

92 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Thành Phần Của Cán Cân Thanh Toán Quốc Tế Tác Động Đến Cân Đối Ngân Sách Nhà Nước Tại 10 Quốc Gia Đang Phát Triển Ở Châu Á
Tác giả Trần Thị Cẩm Tú
Người hướng dẫn GS. TS. Dương Thị Bình Minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (12)
    • 1.1. Lý do lựa chọn đề tài (12)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (13)
    • 1.3. Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 1.4. Phạm vi nghiên cứu (14)
    • 1.5. Ý nghĩa của đề tài (14)
    • 1.6. Kết cấu đề tài (14)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY (16)
    • 2.1. Cơ sở lý thuyết (16)
      • 2.1.1. Cân đối ngân sách (16)
        • 2.1.1.1. Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước (16)
        • 2.1.1.2. Tài trợ thâm hụt ngân sách (16)
      • 2.1.2. Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) (19)
        • 2.1.2.1. Khái niệm (19)
        • 2.1.2.2. Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế (19)
        • 2.1.2.3. Các yếu tố tác động đến cán cân thanh toán quốc tế (20)
      • 2.1.3. Tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước (21)
        • 2.1.3.1. Tác động của cán cân tài khoản vãng lai đến cân đối ngân sách nhà nước (21)
        • 2.1.3.2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước 13 2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (23)
      • 2.2.1 Cân đối ngân sách nhà nước (24)
      • 2.2.2 Các cách tiếp cận trong phân tích cán cân thanh toán quốc tế (27)
      • 2.2.3 Tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước (30)
        • 2.2.3.1. Cán cân tài khoản vãng lai tác động đến cân đối ngân sách nhà nước (30)
        • 2.2.3.2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước. 23 2.3. Kết luận (33)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. Phương pháp nghiên cứu (36)
    • 3.2. Dữ liệu (38)
    • 3.3. Mô hình nghiên cứu (39)
    • 3.4. Giới thiệu các biến (39)
    • 3.5. Các bước tiến hành (40)
    • 3.6. Kết luận (41)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VÀ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (43)
    • 4.1.1 Việt Nam (43)
    • 4.1.2 Thái Lan (45)
    • 4.1.3 Philippines (48)
    • 4.1.4 Malaysia (50)
    • 4.1.5 Indonesia (52)
    • 4.1.6 Ấn Độ (53)
    • 4.1.7 Pakistan (54)
    • 4.1.8 Bangladesh (55)
    • 4.1.9 Sri Lanka (56)
    • 4.1.10 Mông Cổ (57)
    • 4.2. Phân tích định lượng tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á (58)
      • 4.2.1. Kết quả thống kê mô tả (58)
      • 4.2.2. Kết quả kiểm định tính dừng (60)
      • 4.2.3. Kết quả hồi quy Pool OLS, FEM và REM (61)
      • 4.2.4. Kết quả hồi quy GLS (63)
      • 4.2.5. Thảo luận về kết quả nghiên cứu (63)
    • 4.3. Kết luận (64)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN, HÀM Ý VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH (65)
    • 5.1. Kết luận của nghiên cứu (65)
    • 5.2. Hàm ý và kiến nghị về chính sách (65)
      • 5.2.1. Chính sách tác động cán cân tài khoản vãng lai (66)
      • 5.2.2. Chính sách tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài (66)
      • 5.2.3. Chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (67)
    • 5.3. Hạn chế và hướng phát triển của đề tài (68)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Lý do lựa chọn đề tài

Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và tăng trưởng kinh tế, giúp phân bổ lại nguồn lực và giảm bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, nếu ngân sách nhà nước bị thâm hụt lớn, sẽ gây bất ổn cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, tổng sản lượng đầu ra, tiết kiệm và đầu tư tư nhân Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế, đặc biệt ở các quốc gia MENA Hiện nay, nhiều quốc gia đang phát triển phải đối mặt với thâm hụt ngân sách lớn do thu nhập thấp, dẫn đến số thu thuế hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư cho cơ sở hạ tầng và bảo hộ ngành sản xuất trong nước lại rất cao.

Thâm hụt ngân sách nhà nước là một vấn đề quan trọng, dẫn đến nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến nó Neaime (2015) chỉ ra rằng gánh nặng nợ lớn và thu thuế không tương xứng với chi tiêu cho đầu tư cơ sở hạ tầng gia tăng thâm hụt ngân sách Nghiên cứu của Arjomand và cộng sự (2016) cho thấy tăng trưởng kinh tế và lạm phát có tác động tích cực đến thâm hụt ngân sách, trong khi năng suất lao động lại ảnh hưởng ngược chiều Khalid và Guan (1999) nhấn mạnh rằng thâm hụt tài khoản vãng lai, được tài trợ bởi nợ công, làm gia tăng thâm hụt ngân sách qua thời gian Mặc dù nhiều nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai và ngân sách nhà nước, nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào tác động của các thành phần khác trong cán cân thanh toán quốc tế, như đầu tư trực tiếp nước ngoài, đến cân đối ngân sách Do đó, tác giả luận văn quyết định chọn đề tài này để làm rõ vấn đề.

Cán cân thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á Nghiên cứu này phân tích các thành phần của cán cân thanh toán và tác động của chúng đến ngân sách, giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và quản lý tài chính công trong khu vực Việc nắm bắt những yếu tố này là cần thiết để xây dựng chính sách tài khóa hiệu quả và bền vững cho các quốc gia đang phát triển.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á nhằm đề xuất các chính sách bảo đảm cân đối ngân sách Đề tài tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa cán cân thanh toán và ngân sách nhà nước, từ đó đưa ra giải pháp hiệu quả cho các quốc gia này.

Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm các thành phần chính như cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước Các yếu tố này không chỉ phản ánh tình hình kinh tế quốc gia mà còn tác động trực tiếp đến chính sách tài chính và sự phát triển bền vững của đất nước.

10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á như thế nào?

- Các giải pháp nào có thể cải thiện cân đối ngân sách nhà nước?

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn tiến hành phân tích định tính và định lượng để khám phá tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Trong phân tích định tính, tác giả áp dụng thống kê mô tả và tổng hợp để đánh giá thực trạng các thành phần như cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cân đối ngân sách Đối với phân tích định lượng, tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị nhằm xác định tính dừng của dữ liệu, sau đó áp dụng hồi quy POLS, FEM, REM để chọn mô hình tốt nhất Cuối cùng, tác giả sử dụng mô hình ước lượng GLS để khắc phục các vấn đề và tìm hiểu ảnh hưởng của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia này.

Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tác động của các thành phần trong cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với ngân sách nhà nước.

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn thu thập dữ liệu theo năm trong giai đoạn từ năm

1991 đến năm 2017 của 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á: Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Mông Cổ.

Dữ liệu cho các biến trong mô hình nghiên cứu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) và trang web chỉ số các biến kinh tế www.ieconomics.com.

Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á.

Dựa trên lý thuyết và kết quả ước lượng GLS, bài viết đề xuất một số chính sách nhằm đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước cho 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á.

Kết cấu đề tài

Đề tài gồm có các phần sau:

Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đế cân đối ngân sách nhà nước và các nghiên cứu trước đây

Chương này trình bày các nghiên cứu liên quan đến cán cân thanh toán quốc tế, cân đối ngân sách nhà nước, và tác động của cán cân tài khoản vãng lai cùng đầu tư trực tiếp nước ngoài đến ngân sách nhà nước thông qua các nghiên cứu thực nghiệm.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Chương trình trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, giới thiệu các biến và giả định sử dụng, cùng với quy trình thực hiện hồi quy, kiểm định mô hình và kết quả ước lượng.

Chương 4: Phân tích định tính và định lượng về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước

Bài viết trình bày kết quả phân tích định tính về tình hình ngân sách nhà nước, cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á Đồng thời, chương này cũng trình bày kết quả hồi quy ước lượng mô hình nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến sự cân đối của ngân sách nhà nước.

Chương 5: Kết luận, hàm ý và kiến nghị về chính sách

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước cho 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á Những kiến nghị này nhằm cải thiện quản lý tài chính công và tăng cường hiệu quả sử dụng ngân sách, từ đó hỗ trợ sự phát triển bền vững của các quốc gia này.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Cơ sở lý thuyết

2.1.1.1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước

Cân đối ngân sách nhà nước là quá trình điều chỉnh thu chi của chính phủ, với sự khác biệt giữa tổng số thu và chi tiêu Ngân sách bị thâm hụt khi chi tiêu công vượt quá thu thuế, và ngược lại, có thặng dư khi thu thuế lớn hơn chi tiêu Mối quan hệ giữa ngân sách nhà nước và chi tiêu công là ngược chiều: tăng chi tiêu công khi thu thuế không đổi sẽ làm xấu đi ngân sách Ngược lại, nếu thu thuế tăng trong khi chi tiêu không thay đổi, ngân sách sẽ được cải thiện Những chính phủ có thu nhập không ổn định thường gặp thâm hụt ngân sách lớn hơn, trong khi việc kiểm soát chi tiêu hiệu quả sẽ giúp giảm thâm hụt ngân sách.

2.1.1.2 Tài trợ thâm hụt ngân sách

Theo Govil (2014), để bù đắp cho thâm hụt ngân sách, chính phủ có thể thực hiện việc vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm ngân hàng trung ương, các tổ chức tài chính nước ngoài, ngân hàng thương mại và khu vực phi ngân hàng trong nước.

Vay nợ ngân hàng trung ương được thực hiện bằng việc tăng cung tiền (Govil,

Việc tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách chỉ nên được thực hiện khi chính phủ thực sự cần thiết phải phát hành tiền (Ghosh, 2002) Theo Boariu & Bilan (2007), phương trình sức mua tiền tệ của Irving Fisher có thể được biểu diễn bằng M (lượng tiền tệ lưu hành), V (vòng quay của tiền), P (mức giá hàng hóa) và T (khối lượng giao dịch).

Khi cung tiền tăng mà khối lượng hàng hóa và dịch vụ cùng vòng quay tiền tệ không thay đổi, mức giá sẽ gia tăng Sự gia tăng này dẫn đến việc giảm thu nhập thực của cá nhân và tổ chức, mặc dù thu nhập danh nghĩa không thay đổi Việc tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến phân phối thu nhập của người dân, với lượng tiền tăng thêm được sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ và chi tiêu công Mặc dù việc tăng cung tiền có thể làm tăng giá trong ngắn hạn, nhưng ảnh hưởng đến lạm phát trong dài hạn phụ thuộc vào cách chính phủ sử dụng nguồn lực.

Việc in thêm tiền để tài trợ cho các dự án đầu tư có thể làm tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến sự gia tăng lượng tiền lưu thông tương ứng Tuy nhiên, nếu lượng tiền này được sử dụng để chi tiêu tiêu dùng mà không làm tăng GDP, thì trong dài hạn sẽ gây ra lạm phát, không còn sự tăng giá thực sự.

Tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước chủ yếu thông qua vay nợ từ ngân hàng thương mại, vay nợ nước ngoài và khu vực phi ngân hàng, có thể dẫn đến hiện tượng lấn át đầu tư, lạm phát và gánh nặng nợ trong tương lai Việc này cho phép chính phủ mở rộng chi tiêu nhưng cũng làm gia tăng nợ công, dẫn đến việc tăng thuế trong tương lai để trả nợ Theo mô hình Keynes, khi chi tiêu chính phủ tăng lên nhờ vay nợ, sản lượng và thu nhập cũng sẽ tăng, từ đó giảm thâm hụt ngân sách Tuy nhiên, chi tiêu này có thể làm giảm đầu tư tư nhân do lãi suất tăng lên từ cầu vay chính phủ Nếu thâm hụt ngân sách phát sinh từ giảm thuế, điều này cũng gây ra hiệu ứng chèn lấn đối với đầu tư tư nhân do giảm tiết kiệm Ngoài ra, vay nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt cũng làm tăng nợ nước ngoài và ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế Thâm hụt ngân sách cũng có thể được tài trợ bằng cách tăng thuế, theo lý thuyết đường cong Laffer.

B Laffer đưa ra năm 1974 Lý thuyết cho rằng những thay đổi về thuế suất có tác động về mặt số học và kinh tế đến số thu thuế Về mặt số học, khi thuế suất hạ xuống sẽ làm giảm số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước tăng và ngược lại, khi thuế suất tăng làm tăng số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước giảm Về mặt kinh tế, theo Laffer (2004) việc giảm thuế suất tác động tích cực đến việc làm và sản lượng, do đó tạo ra động lực để tăng cường các hoạt động kinh tế Nếu thuế suất tăng sẽ không khuyến khích những hoạt động kinh tế bị đánh thuế Vì vậy, Mitchell

Năm 2010, các nhà hoạch định chính sách được khuyến cáo nên đặt mức thuế nhằm tối đa hóa tăng trưởng thay vì chỉ tối đa hóa số thu Đường cong Laffer không cung cấp thông tin rõ ràng về việc cắt giảm thuế sẽ ảnh hưởng đến số thu thuế như thế nào Sự thay đổi về thuế suất tác động đến số thu thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm hệ thống thuế, thời hạn áp dụng, khả năng tiếp cận các hoạt động kinh tế ngầm, thuế suất hiện hành, tỷ lệ lỗ hổng pháp lý và năng suất của nền kinh tế (Okafor và các cộng sự).

Lý thuyết đường cong Laffer, được mở rộng bởi Trostel (1995) trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển, cho thấy rằng thâm hụt tài chính có thể trì hoãn thuế hiện tại, dẫn đến thuế suất tương lai tăng cao Việc tăng thuế dựa trên thu nhập sẽ làm giảm tỷ lệ tiền lương ròng trong tương lai, trong khi giảm thuế suất hiện hành có thể tăng tỷ lệ tiền lương ròng hiện tại Những thay đổi này ảnh hưởng đến đầu tư vốn nhân lực, tiêu dùng, việc làm, tổng sản lượng và tỷ lệ tiền lương ròng (Okafor và các cộng sự, 2017).

2.1.2 Cán cân thanh toán quốc tế (BOP)

Cán cân thanh toán quốc tế, theo định nghĩa của IMF (2009), là báo cáo thống kê các giao dịch kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc một quý Báo cáo này được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán kép, trong đó mỗi giao dịch sẽ có hai bút toán: bút toán nợ và bút toán có.

2.1.2.2 Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế

Theo công ước quốc tế, cán cân thanh toán quốc tế bao gồm các thành phần chính như tài khoản vãng lai, tài khoản vốn, tài khoản tài chính, dự trữ ngoại hối và sai số thống kê.

Theo IMF (2009), tài khoản vãng lai phản ánh dòng chảy hàng hóa, dịch vụ, thu nhập sơ cấp và thứ cấp giữa một quốc gia và các nước khác Cân bằng tài khoản vãng lai là sự chênh lệch giữa tổng xuất khẩu, thu nhập phải thu và tổng nhập khẩu, thu nhập phải trả Tài khoản vãng lai bao gồm cán cân mậu dịch, xuất nhập khẩu dịch vụ, tiền lãi, lợi nhuận và cổ tức từ đầu tư nước ngoài, cũng như tiền lương của người lao động ở nước ngoài và tổng các khoản biếu, cho tặng từ người di cư (Copeland, 2005).

Tài khoản vốn và tài khoản tài chính là hai loại tài khoản quan trọng ghi nhận các dòng vốn ảnh hưởng đến tài sản và nợ nước ngoài của một quốc gia Tài khoản vốn chủ yếu phản ánh giao dịch mua bán tài sản cố định, trong khi tài khoản tài chính bao gồm các thành phần như đầu tư trực tiếp nước ngoài thuần, đầu tư gián tiếp nước ngoài thuần, và các khoản đầu tư khác thuần như cho vay, tín dụng thương mại và tài sản dự trữ.

Dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương bao gồm vàng và các tài sản khác, những tài sản này có khả năng giao dịch linh hoạt trên thị trường tài chính quốc tế.

Theo IMF (2009), dự trữ ngoại hối là tài sản bằng ngoại tệ do các cơ quan tiền tệ quản lý, nhằm tài trợ cho sự mất cân bằng thanh toán và điều chỉnh mức cân bằng thông qua can thiệp vào thị trường ngoại hối để ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.

Sai số thống kê bao gồm giao dịch không thống kê được hoặc bị bỏ sót vì các hoạt động kinh tế ngầm, phi chính thức (Copeland, 2005).

2.1.2.3 Các yếu tố tác động đến cán cân thanh toán quốc tế

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn đã thực hiện phân tích định tính thông qua thống kê mô tả và phân tích tổng hợp nhằm đánh giá thực trạng cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á.

Bài viết phân tích tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á thông qua phương pháp phân tích định lượng Các kỹ thuật kinh tế lượng như mô hình hồi quy Pool OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình ảnh hưởng biến thiên (REM) được sử dụng, tuy nhiên, mô hình Pool OLS thường không hiệu quả Để khắc phục nhược điểm của FEM và REM, phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được lựa chọn làm phương pháp luận chính Phần này sẽ tổng quan về các phương pháp Pool OLS, FEM, REM và mô hình GLS, đồng thời trình bày cụ thể các bước thực hiện hồi quy.

Phương pháp Pool OLS được sử dụng cho dữ liệu có hệ số không đổi theo thời gian và cá nhân, giả định rằng giá trị tung độ gốc và hệ số độ dốc của biến giải thích là như nhau cho tất cả các quốc gia trong mẫu Tuy nhiên, mô hình OLS có nhược điểm là dễ dẫn đến hiện tượng tự tương quan, đặc biệt khi chỉ số Durbin-Watson nhỏ.

Mô hình tác động cố định (FEM) được áp dụng khi cần phân tích tác động của các biến số thay đổi theo thời gian, nhằm hiểu mối quan hệ giữa dự báo và các biến kết quả trong các thực thể như quốc gia, con người hay công ty Mỗi thực thể có những đặc điểm riêng có thể ảnh hưởng đến các biến dự đoán, vì vậy các nhà nghiên cứu giả định rằng những đặc điểm này cần được kiểm soát FEM loại bỏ ảnh hưởng của những đặc điểm không thay đổi theo thời gian, cho phép đánh giá hiệu quả thuần của các dự báo Một giả định quan trọng khác của FEM là các đặc điểm riêng của cá nhân không thay đổi theo thời gian và không tương quan với các đặc điểm khác Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm, đặc biệt là khi có nhiều biến, dễ dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến.

Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) giả định rằng sự khác biệt giữa các thực thể là ngẫu nhiên và không tương quan với các biến dự báo trong mô hình (Gujarati, 2011) Theo Greene (2008), điểm khác biệt chính giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) là sự biến động giữa các quan sát chéo có tương quan với các biến hồi quy trong mô hình Nếu sự khác biệt giữa các thực thể ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên nên được sử dụng Một lợi thế của REM là khả năng bao gồm các biến số bất biến theo thời gian.

Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát (GLS), được phát triển bởi Alexander Aitken vào năm 1934, là một phương pháp quan trọng trong kinh tế lượng và thống kê để ước lượng các tham số trong mô hình hồi quy tuyến tính, đồng thời khắc phục hiện tượng tự tương quan khi sử dụng các phương pháp như OLS, FEM, REM GLS mang lại ước lượng không chệch, vững, hiệu quả và tiệm cận Một trường hợp đặc biệt của GLS là bình phương nhỏ nhất có trọng số (WLS), áp dụng khi các biến trong mẫu không tương đồng nhưng không có sự tương quan giữa chúng Ngoài ra, phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) cũng là một biến thể của GLS, được thực hiện qua hai bước: ước lượng bằng OLS và xây dựng ma trận hiệp phương sai từ phần dư Đối với mẫu lớn, FGLS thường hiệu quả hơn OLS, nhưng trong trường hợp mẫu nhỏ, ước lượng FGLS có thể không đạt hiệu quả như OLS.

Dữ liệu

Luận văn này thu thập số liệu từ 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, và Mông Cổ, trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2017 Các quốc gia này đều theo đuổi chính sách thị trường như tự do hóa thương mại và thả nổi tỷ giá hối đoái, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh và đồng đều, cùng với sự gia tăng dân số và tăng trưởng GDP bình quân đầu người không chênh lệch quá lớn Xu hướng tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến ngân sách của 10 quốc gia này cũng khá tương đồng Dữ liệu được thu thập từ Wordbank và các chỉ số kinh tế quốc tế, được trình bày chi tiết trong bảng 3.1.

Bảng 3.1 Nguồn thu thập số liệu

Biến Tên biến Nguồn số liệu

BB/GDP (%) Cán cân ngân sách/Tổng thu nhập quốc nội www.ieconomics.com

CA/GDP (%) Cán cân tài khoản vãng lai/Tổng thu nhập quốc nội Wordbank

FDI/GDP (%) Đấu tư trực tiếp nước ngoài/Tổng sản phẩm quốc nội Được tính toán dựa trên số liệu của Wordbank

INF (%) Tỷ lệ lạm phát Wordbank

EX (Nội tệ/USD) Tỷ giá hối đoái Wordbank

GDP (USD) Tổng thu nhập quốc nội Wordbank

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên số liệu hàng năm của 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, nghiên cứu này áp dụng các mô hình hồi quy Pool OLS, FEM, REM và GLS để phân tích tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước Mô hình hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên phương pháp của Anoruo & Ramchander (1998).

(BB/GDP)it =β1 + β2i(CA/GDP)it +β3i (FDI/GDP)it +β4iINFit +β4iEXit + β4iGDPit +ɛ t (3.1)

BB/GDP đại diện cho cân đối ngân sách nhà nước so với tổng sản phẩm quốc nội, trong khi CA/GDP thể hiện cán cân tài khoản vãng lai trên tổng sản phẩm quốc nội FDI/GDP phản ánh đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến tổng sản phẩm quốc nội Biến số EX là tỷ giá hối đoái, và GDP là tổng sản phẩm quốc nội Các chỉ số i và t lần lượt chỉ định quốc gia và thời gian, trong khi ɛ là sai số ngẫu nhiên trong mô hình.

Giới thiệu các biến

Để loại trừ xu hướng gia tăng trong thâm hụt ngân sách do giá cả và tăng trưởng kinh tế, thâm hụt danh nghĩa được tính theo tổng sản phẩm quốc nội (Xie & Chen, 2014) Luận văn tập trung vào tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đến cân đối ngân sách Để đảm bảo tính chính xác, luận văn cũng sử dụng các biến kiểm soát như tỷ giá hối đoái (EX), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và lạm phát (INF).

Lạm phát có thể ảnh hưởng đến ngân sách của chính phủ thông qua việc tăng thuế suất và khung thuế, cũng như việc điều chỉnh chỉ số giá cho các khoản thu và chi Ngoài ra, lạm phát cao có thể làm giảm khả năng cạnh tranh và tạo ra áp lực lên tỷ giá cố định, buộc chính phủ phải điều chỉnh chính sách ngân sách để đối phó với những thách thức này.

Lạm phát có thể làm tăng lãi suất dài hạn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các chính phủ có thể tận dụng lạm phát để giảm giá trị thực của nợ công Do đó, tác động tổng thể của lạm phát đối với ngân sách nhà nước vẫn còn gây tranh cãi.

Tỷ giá hối đoái (Nội tệ/USD) có ảnh hưởng lớn đến cân đối ngân sách của một quốc gia thông qua tác động đến xuất nhập khẩu Sự gia tăng tỷ giá hối đoái cũng dẫn đến việc tăng nợ công, từ đó ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia Để đảm bảo tính chính xác trong phân tích hồi quy, tỷ giá hối đoái sẽ được chuyển đổi thành logarit Nepe.

Tăng trưởng GDP là mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc nội (USD) Chính phủ có thể áp dụng chính sách tài khoá mở rộng hoặc thắt chặt để điều chỉnh tổng cầu, từ đó tác động đến doanh thu thuế và chi tiêu công, ảnh hưởng trực tiếp đến cân đối ngân sách nhà nước (Tujula, Mika; Guido, 2004) Để đảm bảo độ chính xác trong phân tích, tỷ giá hối đoái sẽ được chuyển đổi sang dạng logarit Nepe.

Các bước tiến hành

Kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị của Levin-Lin-Chu Với giả thiết H0: Dữ liệu bảng có nghiệm đơn vị

H1: Dữ liệu bảng ổn định

Nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, thì dữ liệu sẽ có tính dừng

Hồi quy Pool OLS, FEM, REM Sau khi thực hiện kiểm định tính dừng của dữ liệu

Bài nghiên cứu phân tích 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, sử dụng mô hình hồi quy 3.1 với các phương pháp ước lượng Pool OLS, FEM và REM Để đánh giá hiệu quả của kỹ thuật Pooled OLS và REM, luận văn áp dụng kiểm định LM test với các giả thuyết tương ứng.

Nếu giả thiết H0 được chấp nhận, mô hình Pooled OLS sẽ hiệu quả hơn; ngược lại, nếu không đủ bằng chứng để bác bỏ H0, mô hình REM sẽ là lựa chọn tối ưu hơn Để so sánh tính hiệu quả của hai mô hình FEM và REM, luận văn áp dụng kiểm định Hausman nhằm xem xét hiện tượng tự tương quan giữa ɛ i và uit Kiểm định Hausman được xây dựng dựa trên các giả thiết cụ thể.

H0: ɛ i và biến độc lập không tương quan

H1: ɛ i và biến độc lập có tương quan

Nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, FEM sẽ hiệu quả hơn, và ngược lại, nếu không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0, REM sẽ hiệu quả hơn

Dựa trên kết quả kiểm định LM test và kiểm định Hausman, bài khoá luận sẽ lựa chọn mô hình tối ưu nhất Tiếp theo, tác giả sẽ tiến hành kiểm định các vấn đề tiềm ẩn của mô hình như đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan.

 Đa cộng tuyến : là hiện tượng mà các biến giải thích trong mô hình có sự tương quan với nhau

Phương sai thay đổi là hiện tượng mà phương sai của biến phụ thuộc không đồng nhất với các giá trị của biến độc lập, dẫn đến ước lượng kém hiệu quả Để kiểm tra sự xuất hiện của hiện tượng này trong kết quả ước lượng, các kiểm định như White, Park và Breusch-Pagan thường được áp dụng.

Tự tương quan là mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi quan sát được sắp xếp theo thời gian hoặc không gian Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan, có thể sử dụng các phương pháp như kiểm định Breusch-Godfrey, kiểm định Durbin-Watson và phương pháp đồ thị.

Hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được thực hiện sau khi kiểm định các hiện tượng như đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan Phương pháp này giúp cải thiện độ chính xác của ước lượng trong các mô hình hồi quy.

Kết luận

Chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của luận văn Để nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước, tác giả luận văn thu thập số liệu hàng năm của 10 quốc gia đang phát triển tại châu Á trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2017 Luận văn sử dụng phương pháp định tính và định lượng bằng hồi quy Pool OLS, FEM, REM, GLS theo mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là cân đối ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (BB/GDP), biến độc lập là cán cân tài khoản vãng lai trên tổng sản phẩm quốc nội (CA/GDP), đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trên tổng sản phẩm quốc nội (FDI/GDP) Tác giả sử dụng biến tỷ giá hối đoái (EX), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) làm các biến kiểm soát của mô hình hồi quy.

PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VÀ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Ngày đăng: 27/06/2021, 09:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w