Đó chính là những chính sách pháttriển kinh tế mạnh mẽ với “quyết tâm chính trị cao” và “có sự cam kết mạnh mẽ củaChính phủ”, trong đó nổi bật nhất là các chính sách đầu tư phát triển cô
Trang 1SAEMAUL UNDONG - PHONG TRÀO NÔNG THÔN MỚI Ở HÀN QUỐC
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Hàn Quốc là đất nước có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa với Việt Nam,cũng từng trải qua thời kỳ chiến tranh gian khổ, nhiều mất mát hy sinh như dân tộcViệt Nam Sau chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc bị phá hủy gần như hoàn toàn, lànước nghèo nhất thế giới (vào những năm 1950), người dân mất hoàn toàn hy vọngvào tương lai, rượu chè, cờ bạc tràn lan và chỉ trông chờ viện trợ từ bên ngoài HànQuốc nghèo về tài nguyên thiên nhiên, phần lớn diện tích đất nước là đồi núi hiểmtrở, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất có thể canh tác; khí hậu khắc nghiệt, khôngthuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, mùa đông lạnh giá kéo dài từ tháng 12 đến tháng
3 Vậy sức mạnh nào đã đưa Hàn Quốc trở thành một cường quốc có nền kinh tếđứng thứ 12 (xếp hạng năm 2013) trên Thế giới? Đó chính là những chính sách pháttriển kinh tế mạnh mẽ với “quyết tâm chính trị cao” và “có sự cam kết mạnh mẽ củaChính phủ”, trong đó nổi bật nhất là các chính sách đầu tư phát triển công nghiệp vàphát huy nội lực cộng đồng nông thôn qua phong trào Saemaul Undong - phong tràolàng mới Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu bối cảnh hình thành Saemaul Undong, quátrình phát triển và những kết quả được cả thế giới ngưỡng mộ để cùng tìm hiểu và rút
ra những bài học kinh nghiệm góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới ở ViệtNam
Trang 2PHẦN 1 SAEMAUL UNDONG - PHONG TRÀO NÔNG THÔN MỚI Ở HÀN QUỐC
1 Khái niệm phong trào nông thôn mới
Saemaul Undong là một phong trào đổi mới được tổng thống Park Chung Hee phátđộng vào ngày 22 tháng 4 năm 1971 “Sae” (새) theo tiếng Hàn là có nghĩa là mới,
“maul”( 새새) có nghĩa là làng Từ “mới”ở đây chỉ cải cách, sự lột xác, thay đổi để trởthành cái mới tốt đẹp hơn, từ “làng” ở đây không còn đơn thuần là một ngôi làng nhỏ
mà bao hàm ý nghĩa to lớn hơn, đó là một cộng đồng xã hội Saemaul là một cộngđồng mới hơn, tốt đẹp hơn “Undong”( 새 새 ) có nghĩa là “phong trào” Cụm từ
“Saemaul Undong”–“phong trào làng mới” có nghĩa là phong trào tổng động viên toànthể nhân dân cùng chung tay cải tổ, đổi mới và phát triển một cộng đồng mới hơn, tốtđẹp hơn
Vì phong trào này bắt đầu từ nông thôn nên “Saemaul Undong” được hiểu là “Phongtrào đổi mới nông thôn” hay còn gọi là “phong trào nông thôn mới” Mục đích ban đầucủa phong trào Saemaul Undong là thay đổi môi trường, điều kiện sống ở vùng nôngthôn Hàn Quốc
Thực chất, phong trào làng mới là “phong trào vì cuộc sống thịnh vượng” Cuộc sốngthịnh vượng ở đây bao hàm cả mặt vật chất và mặt tinh thần, có nghĩa là một cuộcsống sung túc, đầy đủ về kinh tế và hạnh phúc, trong sạch, lành mạnh về tinh thần.Chính phủ đã đề ra 4 qui tắc để xây dựng một cuộc sống tịnh vượng và coi 4 qui tắcnày như kim chỉ nam trong suốt quá trình thực hiện phong trào nông thôn mới
- Cuộc sống vật chất phải sung túc
- Đề cao sinh hoạt văn hóa có phẩm chất và thoải mái
- Mọi người phải biết sống vì nhau
- Xây dựng cuộc sống thịnh vượng không chỉ vì chúng ta hôm nay vàcòn vì con cháu mai sau
Chúng ta có thể thấy phong trào làng mới hướng đến sự thịnh vượng về cả vật chất lẫntinh tinh thần không chỉ cho mỗi cá nhân mà cho cả cộng đồng, không chỉ cho thế hệhôm nay mà còn cho cả thế hệ mai sau Phong trào làng mới là phong trào để xây dựng
Trang 3nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, góp phần vào sự thịnh vượng chung của đấtnước.
2 Hoàn cảnh ra đời của phong trào nông thôn mới
Hàn Quốc là quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở phía nam của bán đảo Triều Tiên, có lịch
sử truyền thống văn hoá lâu đời Thoát khỏi ách thống trị của Nhật bản chưa bao lâulại phải đối mặt với cuộc chiến tranh Triều Tiên(1950-1953), Hàn Quốc bị tổn hại nặng
nề cả về người về của và trở thành một trong những nước kém phát triển nhất thế giới.Đến những năm1960, Hàn Quốc vẫn là một nước chậm phát triển, nền kinh tế chủ yếudựa vào nông nghiệp với hai phần ba dân số sống và làm việc ở nông thôn nhưng điềukiện tự nhiên lại không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Hàn Quốc nghèo nàn vềtài nguyên và kém thuận lợi về khí hậu cho sản xuất nông nghiệp Phần lớn địa hình làđồi núi hiểm trở, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất (khoảng hơn 2 triệu hécta) cóthể canh tác, mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 cũng gây khó khăn chohoạt động sản xuất nông nghiệp Thêm vào đó, khắp đất nước lũ lụt và hạn hạn lại xảy
ra thường xuyên, hạ tầng cơ sở nông thôn manh mún, nghèo nàn đã đẩy tỷ lệ hộ nghèokhu vực nông thôn đến khoảng 24% Đến cuối thập niên 60, 70% dân số sống HànQuốc sống ở nông thôn, trong số đó 80% sống trong nhà mái rạ, vách đất tạm bợ, dùngđèn dầu và không có điện thắp sáng, đường làng nhỏ hẹp, xe bò xe ngựa không qua lạiđược, gần như không có các công trình vệ sinh, y tế, văn hóa kém phát triển, thất học,thiếu đói triền miên…tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với cácnước nghèo ở châu Phi và châu Á GDP đầu người là 85USD/năm
Mặc dù Chính phủ đã có nhiều biện pháp để tăng năng suất lương thực nhưng nhìnchung nông thôn Hàn Quốc còn rất lạc hậu Xã hội Hàn Quốc phân tầng, phân cựcnhanh chóng Xã hội bị phân chia thành hai khối có đời sống tinh thần khác hẳn nhau.Trong khi một bộ phận cư dân thành thị tích cực học tập, với quyết tâm đổi đời thì đại
bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, mang trong mình tư tưởng bi quan,
ỷ lại, lối thoát duy nhất của họ là rời bỏ quê hương, di chuyển về đô thị Những thấtbại từ công cuộc vận động tái thiết đất nước sau chiến tranh, hay từ những chươngtrình tăng thu nhập trong nông-ngư nghiệp của Chính phủ không thành công đã làmnản lòng nông dân, khiến họ mất đi sự tự tin vốn có Lúc bấy giờ, đất nước Hàn Quốcđược nhận xét là "một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng"
Trang 4Năm 1969, Tổng thống Hàn Quốc lúc đó là ông Park Chung Hee đã tới thăm các vùngnông thôn bị thiệt hại sau trận lũ lớn Tổng thống Park Chung Hee đã rất ngạc nhiênkhi thấy ở một số làng quê, người dân tự đứng lên khôi phục hậu quả, tu sửa lại nhàcửa và đường sá mà không có sự trợ giúp của Chính phủ Từ chuyến đi này ông suynghĩ rất nhiều và nhận ra rằng viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dânkhông nghĩ cách tự giúp chính mình; hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác
và giúp đỡ nhau là điểm mẫu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính lànền tảng của phong trào “Saemaulundong” sau này Vào ngày 22/4/1970 trong cuộchọp với các Bộ trưởng của mình, Tổng thống Park Chung Hee đã phát động Phongtrào làng mới Cheongdo, bắt đầu từ việc khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡnhau để phát triển nông thôn Năm 1971, phong trào đổi tên thành phong trào xâydựng nông thôn mới (Saemaul Udong) được triển khai trên phạm vi toàn quốc dưới sựchỉ đạo của chính phủ và sự hưởng ứng tích cực của toàn thể nhân dân
Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee (ngoài cùng bên trái) với Saemaul Undong
3 Tinh thần cơ bản của phong trào nông thôn mới
Phong trào làng mới là phong trào vì cuộc sống thịnh vượng, do vậy, để có cuộcsống thịnh vượng tất yếu cần có mục tiêu hành động cụ thể chứ không thể dừnglại ở việc nói suông Hơn nữa, mục tiêu của Chính phủ khi thực hiện phong tràolàng mới trong giai đoạn một (1970-1979) là phong trào cải tổ, thay đổi và phát
Trang 5triển làng xóm nông thôn trên cơ sở đó mới triển khai trên phạm vi rộng Nhưvậy, làng xóm muốn thay đổi thì con người sống ở làng đó phải thay đổi, conngười muốn thay đổi tất nhiên phải thay đổi tinh thần, suy nghĩ của chính mìnhtrước Tinh thần của phong trào làng mới được xác định bằng ba tiêu chí: cần cù,
tự lực và hợp tác
Tinh thần cần cù
Cần cù là đức tính cơ bản của đức hạnh, thể hiện tinh thần làm việc chăm chỉ,sống trung thực, không dối trá, giả tạo, nó không chỉ là sự chăm chỉ, sự nỗ lựcnhất thời mà còn có ý nghĩa là sự phấn đấu không ngừng, sự dũng cảm dámđương đầu với mọi tình huống
Tinh thần cần cù đề cao giá trị đạo đức đối với công việc, do vậy, nó là nhân tốthúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân đối với phong trào làng mới và đóngvai trò quan trọng, tiên phong trong việc thực hiện phong trào
Tục ngữ Hàn Quốc có câu “Con chim dậy sớm sẽ bắt được nhiều sâu nhất”, cónghĩa là phải chăm chỉ hơn người khác thì mới có thể có được cuộc sống sungsướng Điều đó đặc biệt có ý nghĩa đối với điều kiện thực tế của Hàn Quốc làdiện tích hẹp, nghèo tài nguyên, do vậy, để tồn tại thì chỉ có một nguyên lý cơbản là “cần cù” Cần cù phải đi đầu, cần cù chăm chỉ dẫn tới niềm tin và sẽ thànhcông
Tinh thần hợp tác là tinh thần quan trọng để thực hiện thành công phong trào làng
Trang 6mới Phong trào làng mới sẽ không phát triển được nếu chỉ bằng sức lực của một
cá nhân mà cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng Hợp tác phải dựa vào sựkhát khao, lòng mong muốn phát triển chung của cả cộng đồng, sự liên kết, phốihợp sẽ tạo nên sức mạnh
Tinh thần cần cù và tinh thần tự lực là hai điều kiện cần nhưng chưa đủ để thựchiện tốt phong trào làng mới mà cần phải phát huy tinh thần hợp tác hỗ trợ nhaucủa cả cộng đồng Chính vì vậy, ba tinh thần cơ bản của phong trào làng mớiđược coi là nhân tố quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn và xây dựng một xã hội tiên tiến, hiện đại, một quốc gia thịnh vượng màChính phủ Hàn Quốc muốn hướng tới
4 Quá trình phát triển của phong trào nông thôn mới
Ngay từ đầu, phong trào làng mới không phải là một dự án lớn Mãi đến năm
1973, tức là sau 3 năm thực hiện thực tế, Chính phủ mới lập mục tiêu phát triểndài hạn, giai đoạn 1 tính từ năm 1970 đến năm 1979, tổng cộng là 10 năm và chiathành 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn cơ sở (1970-1973); giai đoạn phát triển tựlực (1974-1976); giai đoạn hoàn thành tự lập (1977-1979)
Giai đoạn cơ sở (1970-1973)
Giai đoạn này tập trung phát động tinh thần làng mới của người dân qua việcthực hiện chương trình cải thiện môi trường sống cơ bản và chương trình tăng thunhập thông thường Có thể nói rằng, đây là giai đoạn quan trọng nhất trong bagiai đoạn phát triển của phong trào làng mới vì nó là xuất phát điểm, thành công
mà nó có được sẽ là bệ phóng để thực hiện tiếp những bước tiếp theo
Giai đoạn cơ sở được chia thành nhiều giai đoạn và thực hiện cụ thể theo từngnăm Năm 1970 được coi là kỳ khởi động, năm 1971 là kỳ thử nghiệm, năm 1972
là kỳ khởi động cơ sở, năm 1973 là thời kỳ xác lập nền tảng cho việc hệ thống hóaphong trào làng mới
Năm đầu tiên 1971, chính phủ lợi dụng mùa nông nhàn của nông dân và đưa ra thửnghiệm 10 chương trình dự án gồm: trồng cây gây rừng, mở rộng đường xá, làmcầu cống, nhà vệ sinh, nạo vét kênh mương, xây dựng khu giặt giũ và giếng nướccông cộng, diệt chuột… Chính phủ hỗ trợ 335 bao xi măng cho 33,267 làng trêntoàn quốc, toàn bộ dự án do chính làng đó quản lý, chính quyền cùng người dân
Trang 7bàn bạc, quyết định loại công trình, dự án nào cần làm trước và làm mọi việc bằngchính sức lực và tiền của của mình Mỗi làng tiến cử một người có năng lực, khôngphân biệt nam nữ giữ vai trò lãnh đạo cùng mọi người lập kế hoạch và thực hiện kếhoạch, mọi người tự nguyện tham gia đông đủ, kết quả là sau một năm thực hiện,hơn một nửa tổng số làng có sự cải thiện đời sống.
Năm 1972, dựa vào kết quả thực hiện của năm 1971, Chính phủ xúc tiến thựchiện phong trào làng mới thực tế hơn, đó là đưa ra chính sách cạnh tranh với việcchọn ra 16,600 làng có thành tích xuất sắc trong năm 1971, hỗ trợ cho mỗi làng
500 bao xi măng và 1 tấn sắt theo phương châm hỗ trợ những làng biết vượt lênkhó khăn, cán bộ có tâm huyết, người dân hưởng ứng nhiệt tình Ngoài nhữnglàng được Chính phủ hỗ trợ trong năm thứ hai này, còn có 6,108 làng tự nguyệntham gia phong trào thi đua bằng sức lực và tiềm năng sẵn có của mình, nângtổng số làng tham gia phong trào lên 22,708 làng (chiếm 68%) Nhờ đó mà bộmặt nông thôn Hàn Quốc thay đổi, khắp nơi người dân thi đua cải tạo nhà tranhvách đất thành mái ngói, tường xây, đường xá được nâng cấp, mở rộng, cầu cốngđược xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng thu nhập phi nông củangười dân, nông nghiệp dần được cơ giới hóa, làng xã phát triển với tốc độ nhanh,người dân đã lấy lại sự tự tin Những làng thực hiện tốt còn được Chính phủ ưutiên cung cấp điện trước, tính đến thời điểm đó đã có khoảng 40% dân số ở nôngthôn mắc điện thoại cố định
Sau một năm thực hiện phong trào làng mới, Chính phủ nhận ra vai trò quantrọng của người lãnh đạo, làng nào có người lãnh đạo tâm huyết thì làng đó thựchiện các dự án rất thành công Chính vì vậy, trong năm 1972 Chính phủ đã thànhlập Học viện bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo phong trào làng mới, mỗi làng được cửmột người tham gia khóa đào tạo, họ sẽ là những người lãnh đạo và hướng dẫncho dân làng sau này
Sang năm thứ ba 1973, Chính phủ thực hiện phân loại các làng theo ba tiêuchuẩn: cơ sở, tự lực, tự lập nhằm khuyến khích các làng phát huy tinh thần tự lực,làm chủ, thi đua nhau thực hiện tốt dự án và có kế hoạch hỗ trợ phù hợp Toànquốc có 34,665 làng tham gia phong trào thi đua, mỗi làng được cấp 500 bao ximăng và 1 tấn sắt, kết quả có 18,415 làng đạt danh hiệu làng cơ sở, 13,943 làng
Trang 8tự lực và 2,307 làng tự lập Cũng trong năm này, Chính phủ thành lập 170 “nhàmáy làng mới” nhằm tạo ra công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.
Năm
Số làng
tham gia
Lượt ngày người tham gia Số dự án
Bảng: Quy mô hoạt động của phong trào Saemaul từ 1971 đến 1973
Chặng đường mở đầu bốn năm tuy không dài nhưng phong trào làng mới đã gặthái thành công rất lớn với các chương trình dự án cải tạo môi trường sống, tăngthu nhập và cải tổ nhận thức của người dân Môi trường sống ở nông thôn hoàntoàn đổi khác: đường xá được mở rộng, nhà tranh vách đất được thay thế bằngnhà ngói, tường xây, các khu công cộng được xây dựng, nạn đói nghèo bắt đầugiảm, suy nghĩ và hành động của người dân thay đổi rất nhiều, nạn cờ bạc rượuchè, mê tín giảm hẳn Thành công vang dội của phong trào làng mới ở giai đoạn
cơ sở (1970-1973) là kết quả của sự kết hợp hài hòa giữa chính phủ và nhân dânvới niềm tin quyết thắng mang tính thời đại, nó còn là tiền đề quan trọng cho việctriển khai phong trào làng mới trên phạm vi toàn quốc ở các giai đoạn tiếp theo
Đổi mới nông thôn ở Hàn Quốc
Giai đoạn phát triển tự lực (1974-1976)
Trang 9Có thể nói rằng, phong trào làng mới ở giai đoạn này là phong trào toàn dân, bởi
lẽ, hoạt động và ý chí của phong trào làng mới đã bắt đầu lan rộng từ nông thônđến thành thị, các công sở, nhà máy, đối tượng và phạm vi thực hiện của các dự
án cũng dần dần được hoạch định, mở rộng tức là nhân lực và tổ chức của phongtrào làng mới tăng đồng nghĩa với việc hỗ trợ tài chính của Chính phủ cũng phảităng theo
Trong giai đoạn này, ba chương trình cải tạo môi trường sống, chương trình tăngthu nhập và chương trình cải tổ ý thức của người dân vẫn tiếp tục được thực hiện
có điều thứ tự ưu tiên thực hiện có sự thay đổi Chương trình gia tăng thu nhậpcho người dân được chú trọng hơn cả Cụ thể, năm 1974, Chính phủ tập trungthực hiện chương trình gia tăng thu nhập cho người dân qua việc phát triển hệthống thủy lợi, thực hiện phương pháp canh tác tổng hợp thay cho tập quán trồnglúa và lúa mạch trước đây, thành lập các khu liên hiệp sản xuất vừa gia tăng thunhập vừa khuyến khích người dân giúp đỡ lẫn nhau, thậm chí có thể giảm thiểuđược các chi phí không hợp lý, tìm kiếm các giải pháp tăng nguồn thu cho ngườidân từ việc nuôi lợn, bò, gà… Kết quả là thu nhập của người dân ở nông thônnăm 1974 cao hơn thành thị, sản lượng lương thực tăng đến mức có thể tự cấp tựtúc, lấy lại sức sống cho vùng nông thôn và góp phần quan trọng cho sự tăngtrưởng kinh tế của cả nước Năm 1973, tổng sản phẩm quốc nội (GNP) là 375 đô
la thì đến năm 1976 đã tăng lên 765 đô la, gấp 2 lần so với năm 1973
Chương trình cải tạo môi trường sống của người dân ở nông thôn tiếp tục mởrộng với việc ngói hóa, bê tông hóa tường xây, sửa sang xây mới nơi ăn chốn ở,lắp đặt hệ thống nước, xây dựng trung tâm giải trí của làng Đến năm 1976 trênđịa bàn nông thôn, nhà tranh vách đất không còn hiện diện, nhà bếp và khu vệsinh được xây dựng hiện đại, điều kiện vệ sinh được cải thiện rõ rệt
Bên cạnh đó, Chính phủ tăng cường giáo dục về làng mới nhằm nuôi dưỡng nănglực và khí chất của người lãnh đạo làng mới, mặt khác, mở rộng cơ hội được đàotạo cho mọi tầng lớp từ các công chức nhà nước, các tầng lớp lãnh đạo trong xãhội tới dân thường giúp họ có nhận thức đúng đắn về phong trào làng mới và tíchcực tham gia phong trào
Trang 10Đổi mới nông thôn ở Hàn Quốc
Giai đoạn hoàn thành tự lập (1977-1979)
Giai đoạn hoàn thành tự lập được coi là thời kỳ phát triển “chiều sâu” của phongtrào làng mới theo xu hướng mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh tế của các
dự án Các dự án trọng điểm của phong trào làng mới ở giai đoạn này không chỉdừng lại ở nông thôn mà còn lan sang khu vực thành thị
Ở khu vực nông thôn, để gia tăng thu nhập cho người dân, chính sách của Chínhphủ chủ trương hướng dẫn người dân thực hiện canh tác tổng hợp và chăn nuôigia súc bên cạnh việc xây dựng thêm các nhà máy làng mới và các khu liên hợpcông nông Để môi trường sống của mình tốt hơn, người nông dân tiếp tục cảithiện nơi ở của mình và xây mới nhà ở bằng nguyên vật liệu do Chính phủ hỗ trợ
Ở thành thị, phong trào làng mới bắt đầu với việc thực hiện ba chiến dịch là chiếndịch tinh thần, chiến dịch hành động, chiến dịch môi trường Chiến dịch tinh thầnnhấn mạnh đến việc tôn trọng người lớn, sống căn cơ tiết kiệm và biết giúp đỡlẫn nhau Chiến dịch hành động nhấn mạnh đến việc giữ trật tự giao thông, hành
xử có đạo đức nơi công cộng, kinh doanh buôn bán đứng đắn Chiến dịch môitrường nhấn mạnh đến việc giữ vệ sinh môi trường sống, giữ gìn môi trườngđường phố và bảo vệ môi trường
Phong trào làng mới nơi công sở, nhà máy được triển khai rất mạnh mẽ với mụctiêu nâng cao năng suất sản xuất, tiết kiệm vật tư, cách ứng xử lành mạnh giữachủ và thợ Đặc biệt, để nâng cao năng suất sản xuất và cải thiện mối quan hệ
Trang 11giữa chủ và thợ, hàng loạt dự án đã được thực hiện như mở trường học côngnghiệp, mở rộng hệ thống phúc lợi trong nhà máy, cải thiện phúc lợi xã hội chongười lao động…
Đổi mới nông thôn ở Hàn Quốc
5 Thành tựu của phong trào nông thôn mới
Sau mười năm triển khai thành công của phong trào làng mới sau mười năm triểnkhai thể hiện rõ nhất ở hai mặt:
Thứ nhất, phát triển nông thôn và đặt nền móng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Về phát triển nông thôn, Hàn Quốc đã cơ bản hoàn thành cơ sở hạ tầng nôngthôn Tổng chiều dài các tuyến đường xây dựng và cải tạo, nâng cấp là 85.851
km trong đó, đường làng và đường nội đồng là 43.631km, đường trong làng là42.220 km, xây dựng và sữa chữa được khoảng 65.000 cây cầu, kiên cố hóa7.839km đê, xây 24.140 hồ chứa nước phục vụ tưới tiêu Đến năm 1976, nhàtranh vách đất được thay thế hoàn toàn bằng nhà ngói tường xây, khu bếp, khu vệsinh được xây dựng hiện đại, hoàn thành việc lắp đặt hệ thống ống nước, cáccông trình phúc lợi công cộng được xây dựng, gần 100% hộ nông dân có điệnthắp sáng
Thành công của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mở đường cho các dự án tăngsản lượng lương thực và thu nhập Chính phủ thành lập các khu liên hiệp nôngnghiệp trồng các sản phẩm mũi nhọn có giá trị cao như rau sạch, nấm, cây thuốc