Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế đã được nhiều tác giả nghiên cứu: Nguyễn Thị Lan Phương “Nâng cao tính tuân thủ của đối tượng
Trang 1PHAN THỊ HỒNG THẮM
HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI TƯỢNG NỘP
THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI-2015
Trang 2PHAN THỊ HỒNG THẮM
HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI TƢỢNG
NỘP THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin,
số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, có nguồn gốc xuất
xứ rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Thị Hồng Thắm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Danh Tốn đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa
học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Hoạt
động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay”
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình tác giả thực hiện nghiên cứu Đồng thời xin cảm ơn các quý Thầy Cô giáo- các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành Quản lý kinh tế cho tác giả trong những năm vừa qua
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Thị Hồng Thắm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ……….….……….i
LỜI CẢM ƠN… ……….…….ii
MỤC LỤC……….iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU……….vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ……… viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp của đề tài 4
7 Kết cấu đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ Ở VIỆT NAM 6
1.1 Lý luận chung về hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế 6
1.1.1 Khái niệm và vai trò thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế 6
1.1.1.1 Khái niệm quản lý thuế và đối tượng nộp thuế 6
1.1.1.2 Vai trò của thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế 9
1.1.2 Hình thức và nội dung của hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng 10
1.1.2.1 Hình thức 10
1.1.2.2 Nội dung 14
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế 16
1.1.3.1 Các chỉ tiêu lượng hoá 16
1.1.3.2 Các chỉ tiêu phi lượng hoá 18
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, kiểm tra 18
1.1.4.1 Điều kiện kinh tế xã hội và dân trí 18
1.1.4.2 Cơ chế quản lý thuế 19
Trang 61.1.4.3 Yếu tố về nguồn lực của cơ quan thanh tra, kiểm tra thuế 22
1.2 Kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra thuế đối tượng nộp thuế ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam 23
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 23
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Malaysia 23
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Indônêxia 23
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 24
1.2.1.4 Kinh nghiệm của Mỹ 25
1.2.1.5 Kinh nghiệm của Anh 26
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 26
1.2.2.1 Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế 26
1.2.2.2 Về công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ thanh tra, kiểm tra 27
1.2.2.3 Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm 28
1.2.2.4 Về kiểm soát chất lượng thanh tra, kiểm tra 28
1.2.2.5 Về chiến lược xử lý rủi ro 29
1.2.2.6 Về ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra, kiểm tra thuế 29
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1 Tổng quan về cơ quan thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế trong bộ máy quản lý thuế ở Việt Nam 30
2.1.1 Cơ cấu và chức năng nhiệm vụ của cơ quan thanh tra, kiểm tra thuế trong bộ máy quản lý Thuế ở Việt Nam 30
2.1.2 Lực lượng thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt nam 35
2.2 Tình hình hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam 38
2.2.1 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định về chế độ, sổ sách, chứng từ kế toán 38 2.2.2 Thanh tra, kiểm tra việc tính, kê khai và nộp thuế của đối tượng nộp thuế 41
Trang 72.3 Đánh giá chung về hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt
Nam hiện nay 44
2.3.1 Những kết quả đạt được 44
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 46
2.3.2.1 Những tồn tại, hạn chế 46
2.3.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 51
CHƯƠNG 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI 54
3.1 Bối cảnh nền kinh tế hiện tại và ảnh hưởng của nó đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế 54
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam 57
3.2.1 Đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách về thuế 57
3.2.2 Đổi mới công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 57
3.2.3 Nâng cao chất lượng và tăng cường số lượng cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế 58
3.2.3.1 Tăng cường số lượng cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế 58
3.2.3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế 59
3.2.3.3 Đảm bảo chế độ thù lao thoả đáng cho đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế 62
3.2.4 Giải pháp về phương tiện đáp ứng yêu cầu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế 62
3.2.4.1 Xây dựng, cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu về người nộp thuế phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế 62
3.2.4.2 Phát triển hệ thống phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ công tác thanh tra thuế 65
3.2.5 Tăng cường vai trò truyền thông và sự hợp tác trong nội bộ cơ quan thuế 67 3.2.6 Một số giải pháp khác 68
Trang 83.2.6.1 Xử lý các mối quan hệ trong công tác thanh tra thuế 68
3.2.6.2 Áp dụng chính sách đền bù tài chính thoả đáng nếu đề xuất kết luận và kết luận thanh tra sai chính sách của cán bộ thanh tra thuế và Cơ quan thuế 68 3.3 Một số kiến nghị 68
3.3.1 Kiến nghị với Quốc hội và Chính phủ Việt Nam 68
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài Chính và Tổng cục thuế 71
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1- Kết quản thực hiện kế hoạch thanh, kiểm tra người nộp thuế 44 Bảng 2.2- Số lượng doanh nghiệp đang quản lý và triển khai thanh tra, kiểm tra 45
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1- Cơ chế đối tượng nôp thuế tự tính toán và tự kê khai nộp thuế … 21
Sơ đồ 1.1- Cơ cấu tổ chức của thanh tra, kiểm tra Thuế …30
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thu ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung nguồn tài chính quốc gia hình thành nên quỹ Ngân sách nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội của Nhà nước
Thuế đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước Thuế được nhà nước sử dụng để chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển, là một công cụ điều tiết khoảng cách giàu nghèo, là nguồn chi để duy trì bộ máy nhà nước, phát triển các hoạt động công cộng như quốc phòng, an ninh, văn hoá, y tế, giáo dục, xây dựng kết cấu hạ tầng…Thuế có tác động ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực và tạo môi trường đầu tư nhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Như vậy, Thuế có vai trò đặc biệt trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
Ngành Thuế Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lược xây dựng một ngành Thuế tiến tiến, chuyên nghiệp đảm bảo thực thi tốt pháp luật thuế; đảm bảo tính công bằng, minh bạch, hiệu quả phù hợp với chuẩn mực trong nước và quốc tế nhằm nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của các cá nhân, tổ chức nộp thuế; tăng cường việc thanh tra, giám sát của cơ quan thuế để giảm thiểu sự thất thoát nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mãnh mẽ của nền kinh tế thị trường, số lượng doanh nghiệp và cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh cũng tăng lên nhanh chóng với quy mô và cách thức hoạt động rất phức tạp Bên cạnh các doanh nghiệp, cá nhân luôn có ý thức chấp hành pháp luật về thuế tốt thì cũng có rất nhiều tổ chức, cá nhân tìm mọi cách để trốn (tránh) nộp thuế với nhiều hình thức khác nhau Khi nền kinh tế nước nhà đã và đang trên con đường mở cửa, hội nhập với các nền kinh tế trên thế giới, bộ máy quản lý Thuế mặc dù đã có những chuyển biến về cơ cấu tổ chức và hoạt động nhưng thực sự vẫn chưa phát huy được tính
Trang 12hiệu lực, hiệu quả, đặc biệt hoạt động thanh tra, kiểm tra các đối tượng nộp thuế còn rất nhiều hạn chế
Thực tế cho thấy rằng, gian lận thuế tại một doanh nghiệp cụ thể thường rất phức tạp, hành vi gian lận không năm nào giống năm nào Mỗi năm tài chính tại doanh nghiệp khi được cơ quan thuế thanh tra phát hiện các hành vi gian lận, trốn thuế rất ít khi giống nhau Rất nhiều các doanh nghiệp cố gắng sử dụng các nghiệp
vụ lách luật để giảm nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước tối đa nhất Do vậy cơ quan thuế cần đưa ra hệ thống quy định và có cán bộ với những kỹ năng tinh sắc nhất để phát hiện những hành vi gian lận thuế
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả cho rằng việc nghiên cứu đề tài: “Hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tƣợng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa thiết
thực và cấp bách trong bối cảnh hiện tại
Câu hỏi nghiên cứu đặt ra cho đề tài là: Cần phải làm gì và làm như thế nào
để hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam?
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế đã được nhiều tác giả nghiên cứu:
Nguyễn Thị Lan Phương “Nâng cao tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế trong điều kiện hiện nay của Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội năm 2008, đã trình bày và nghiên cứu về việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế trong giai đoạn hiện nay
Hoàng Vân Anh “Một số biện pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội năm 2008, đã nghiên cứu và phân tích về công tác thanh tra, kiểm tra thuế cũng như đề cập đến các biện pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Nguyễn Đẩu “Hiện đại hoá công tác thanh tra thuế - Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam”, Tạp chí Thuế Nhà nước, kỳ 2 tháng 2 năm 2005, đã đưa
Trang 13ra được một số biện pháp và bài học trong quá trình hoàn thiện, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Lê Thị Phương Thảo “Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà nội năm 2009, đã phân tích thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế qua ba nội dung: Đăng
ký thuế; chấp hành chế độ kế toán số sách chứng từ, hoá đơn; kê khai tính thuế và nộp thuế Đã đề xuất giải pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay: Xây dựng bộ tiêu chí, đánh giá lựa chọn xếp loại doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế cho phù hợp; phân cấp quản
lý doanh nghiệp cho các cấp để chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ ngân sách
Phan Thị Minh Hiền “Hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại chi cục thuế Thái Bình”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà nội năm 2012 Tác giả luận văn đã trình bày lý luận về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế với các nội dung: Khái niệm và tiêu chí xác định hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế, theo đó hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế được xác định qua các tiêu chí: Số thu tăng, chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật công bằng; thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại chi cục thuế Thái Bình; các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại chi cục thuế Thái Bình
Tóm lại, các tác giả đã nghiên cứu, phân tích hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế ở những khía cạnh nhất định và đây là nguồn tư liệu quan trọng làm tài liệu tham khảo cho luận văn Tuy nhiên hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế vẫn được coi
là một hoạt động nhạy cảm và mang nhiều ý nghĩa trong công cuộc phát triển kinh
tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Từ giác độ của khoa học quản lý kinh tế, tác giả đã chọn vấn đề hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thanh tra, kiểm tra các đối tượng nộp thuế ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Nghiên cứu hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế trong công tác quản lý thuế ở Việt Nam tức là nghiên cứu hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế của thanh tra ngành Thuế thuộc Bộ Tài Chính – Việt Nam
Về thời gian: Từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê để làm rõ vấn đề nghiên cứu
Trang 161.1.1.1 Khái niệm quản lý thuế và đối tƣợng nộp thuế
- Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo đối tượng nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật thuế
Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng nộp thuế
- Đối tượng nộp thuế là những pháp nhân và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật
- Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định: “là sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra” trên cơ sở thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ) được giao, nhằm đạt được mục đích nhất định Tính chất của thanh tra mang tính thường xuyên, tính quyền lực, do đó hệ quả của thanh tra thường là “phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”
Theo Luật Thanh tra 2010 - khoản 1, Điều 3 “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính thì thanh tra thuế là
“hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật” [15,tr.437]
Trang 17Thanh tra đối tƣợng nộp thuế là một chức năng thiết yếu trong quản lý
thuế nhằm mục đích kiểm tra, xem xét việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế (NNT) được cơ quan thuế thực hiện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhằm kết luận đúng sai, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản
lý thuế, chính sách thuế, pháp luật thuế, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của NNT
Thanh tra thuế là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức cao hơn, hoàn thiện hơn Thanh tra thuế được thực hiện định kì đối với các đối tượng nộp thuế lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng, quy mô lớn hoặc với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế và thanh tra thuế để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng bộ Tài chính
- Về khái niệm Kiểm tra, theo Từ điển Tiếng việt kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”[22,tr.523]
Theo giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính thì kiểm tra thuế là
“hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá”[15,tr.411]
Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên, mang tính nhiệm vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan quản lý thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế Việc kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế, chỉ thực hiện khi họ không tự giác sửa đổi, bổ sung những nội dung sai sót mà
cơ quan thuế đã kiểm tra, phát hiện và yêu cầu Nội dung kiểm tra thuế là kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ của người nộp thuế trong việc kê khai thuế
Dựa vào một số quan niệm trên ta có thể hiểu rằng: Thanh tra, kiểm tra thuế
là hoạt động giám sát có định hướng của chủ thể quản lý (cơ quan thuế) đối với các đối tượng quản lý (đối tượng nộp thuế) nhằm đạt mục tiêu do Nhà nước đặt ra
Trang 18Tuy nhiên, thanh tra và kiểm tra thuế có một số điểm giống nhau và khác nhau:
-Những điểm giống nhau:
+Mục đích: Để phòng ngừa, phát hiện và xử lý sai phạm về pháp luật thuế +Tiêu chí xác định: Lấy 3 tiêu chí chính để xác định vi phạm thuế là: Doanh thu-Chi phí- Lợi nhuận
+Cách thức tiến hành: Căn cứ và hoạt động thực tế của đối tượng để phân tích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo pháp luật thuế
+ Về phương pháp: đều phải phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý
dữ liệu, tính toán lại và xác minh
-Những điểm khác nhau:
+ Nội dung: Thanh tra thường là những vấn đề phức tạp, những hành vi thuộc về quá khứ Hoạt động thanh tra là kiểm tra các hoạt động kinh tế-xã hội đã phát sinh (thường là sau một năm) Nội dung của hoạt động kiểm tra thường là những vấn đề xảy ra trong năm, dễ nhận biết thực chất của chúng hơn
+ Về thời gian: Hoạt động thanh tra thường được tổ chức theo từng cuộc nên thời gian thường kéo dài, theo qui định tối đa là 30 ngày (trừ một số trường hợp đặc biệt theo địa bàn vùng sâu, xa là 45 ngày) và có thể kéo dài thêm 30 ngày (hoặc 45 ngày) trong trường hợp cần thiết Đối với hoạt động kiểm tra thời gian ngắn hơn, tối
đa không quá 5 ngày
+ Về hình thức tổ chức: Để tiến hành thanh tra phải thành lập Đoàn và đoàn thanh tra thực hiện trình tự thanh tra theo qui định của pháp luật Đối với hoạt động kiểm tra có thể thành lập Đoàn hoặc không, có khi chỉ cần một người tiến hành việc kiểm tra theo yêu cầu của cấp trên, cũng có khi cấp trên yêu cầu cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên
+ Về biện pháp áp dụng: thanh tra được áp dụng các biện pháp mạnh hơn (tạm giữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất dấu tang vật, tài liệu – theo quy định của Luật quản lý thuế)
Trang 191.1.1.2 Vai trò của thanh tra, kiểm tra đối tƣợng nộp thuế
Thanh tra, kiểm tra là một trong 3 chức năng cơ bản của hoạt động quản lý nói chung, hoạt động quản lý thuế nói riêng 3 chức năng đó là:
- Xây dựng chiến lược, chương trình, chính sách, kế hoạch
- Chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện chiến lược, chương trình, chính sách, kế hoạch
- Thanh tra, kiểm tra thực hiện chiến lược, chương trình, chính sách, kế hoạch
Hoạt động thanh tra, kiểm tra đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản
lý nhà nước về thuế, điều này thể hiện qua một số khía cạnh sau:
-Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật thuế
Hệ thống thuế ở Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế Mỗi sắc thuế được nhà nước ban hành ra để điều tiết đến các đối tượng khác nhau Nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi và hội nhập với kinh tế thế giới, các chính sách về thuế khi được Nhà nước ban hành ra không tránh khỏi những điều bất hợp
lý, do đó thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động giúp Nhà nước thấy được chính xác
và chân thực hơn các hoạt động đang diễn biến trong đời sống kinh tế xã hội để từ
đó góp phần điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách về thuế cho phù hợp với thực tiễn
-Thanh tra, kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính thuế
Các thủ tục hành chính thuế được triển khai song hành cùng quá trình thực thi mọi quy định theo pháp luật thuế đến các đối tượng nộp thuế Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế sẽ thấy được các trường hợp thực hiện quy trình về thuế không đúng và không hợp lý, từ đó tìm ra nguyên nhân để kiến nghị nhằm kịp thời điều chỉnh những thủ tục hành chính thuế chưa phù hợp dẫn đến hiểu và thực hiện sai về pháp luật thuế ở đối tượng nộp thuế, cũng như phát hiện được các trường
Trang 20hợp cán bộ thuế gây sách nhiễu khó khăn cho các đối tượng nộp thuế trong quá trình quản lý, hướng dẫn thực thi pháp luật thuế
-Thanh tra, kiểm tra thuế giúp tăng nguồn thu cho Ngân sách nhà nước
Thuế luôn đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, để từ
đó nhà nước có đủ ngân sách để điều tiết toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước Như vậy hoạt động thanh tra kiểm tra thuế
sẽ phát hiện ra các trường hợp gian lận về thuế để truy thu, có biện pháp xử lý các khoản nợ đọng thuế nhằm tăng đáng kể số thu về cho ngân sách nhà nước
-Thanh tra, kiểm tra thuế là biện pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa, răn đe các hành vi tiêu cực phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật thuế
Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra, thanh tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các
cá nhân có đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế
Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không khiếm khuyết Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách luật để trục lợi cá nhân Kiểm tra, thanh tra thuế phải phát hiện những hành vi tiêu cực để ngăn ngừa kịp thời
1.1.2 Hình thức và nội dung của hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tƣợng nộp thuế
Trang 21hoạch thanh tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra thuế được phê duyệt
- Thanh tra thuế đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao
* Theo nội dung và phạm vi thanh tra thuế có hai hình thức là thanh tra toàn diện và thanh tra hạn chế
- Thanh tra toàn diện là hình thức thanh tra tổng hợp về mọi sắc thuế (thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và các sắc thuế khác) trên cơ sở
tờ khai thuế hàng năm Đây là loại hình thanh tra sâu và phạm vi rộng cho phép kết luận về những vấn đề mà đối tượng nộp thuế chưa tuân thủ pháp luật thuế Thanh tra toàn diện liên quan đến:
+ Nhiều sắc thuế - nghĩa là thanh tra tổng hợp các sắc thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và các sắc thuế khác theo pháp luật thuế
+ Nhiều kỳ tính thuế - đối với những sắc thuế nộp tờ khai năm thì thời kỳ kiểm tra là những kỳ tính thuế gần nhất và chỉ khi có các phát hiện trong quá trình thanh tra thấy cần thiết mới mở rộng phạm vi thanh tra Đối với những sắc thuế nộp
tờ khai theo tháng thì thời kỳ thanh tra thường là kỳ tính thuế gần nhất cộng với 2
kỳ tính thuế nữa, tuy nhiên thanh tra dạng này thường là ngoại lệ
+ Phạm vi thanh tra không hạn chế hoặc rộng - các cuộc thanh tra dạng này
sử dụng các kỹ thuật chọn mẫu thích hợp và sẽ quyết định mở rộng phạm vi thanh tra (trên cơ sở rủi ro) và thời kỳ kiểm tra khi các kết quả của công tác đánh giá rủi
ro hoặc các phát hiện trong quá trình thanh tra chứng minh sự cần thiết
+ Nhóm trọng điểm - phần lớn đối tượng của thanh tra toàn diện là các NNT lớn
+ Địa điểm tiến hành: thường ở trụ sở của đối tượng nộp thuế chứ không ở
cơ quan thuế
Trang 22+ Thời gian/độ dài cuộc thanh tra - thời gian thanh tra toàn diện một đối tượng nộp thuế lớn là 30 ngày và thời gian thanh tra toàn diện đối tượng nộp thuế vừa là 10 đến 15 ngày
- Thanh tra hạn chế (Thanh tra hoàn thuế, một sắc thuế, dự án, phạm vi hạn chế…) là loại thanh tra bị hạn chế về phạm vi, có thể là thanh tra hoàn thuế Giá trị gia tăng, thanh tra dự án về hạng mục chi phí hoặc một chỉ tiêu nào đó trên bảng cân đối kế toán hoặc báo cáo lỗ lãi
Một cách khác để xác định thanh tra hạn chế là công việc thanh tra chỉ hạn chế đối với một số chỉ tiêu nhất định và không bao gồm các phép thử hay các bước tuần tự thanh tra cần thiết cho phép cán bộ thanh tra đánh giá được tổng thể mức độ tuân thủ hay không tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế bị thanh tra Thông thường thanh tra bao gồm việc rà lại các chứng từ liên quan trực tiếp đến (các) vấn đề được kiểm tra Loại hình thanh tra này thường được bắt đầu từ một trong những nguồn sau:
+ Đề xuất của bộ phận rà soát các tờ khai
+ Một dự án hay chương trình liên quan đến vấn đề cụ thể cần được kiểm tra + Hướng dẫn của cán bộ thanh tra cấp cao hơn
+ Thanh tra một đối tượng nộp thuế khác về một vấn đề cụ thể
* Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra có hai hình thức là thanh tra tại trụ sở cơ quan thuế và thanh tra tại trụ sở đối tượng nộp thuế
- Thanh tra tại trụ sở cơ quan thuế (thanh tra tại bàn): Việc kiểm tra tại bàn
có thể áp dụng đối với bất kỳ tờ khai thuế nào, bao gồm kiểm tra các chỉ tiêu thu nhập, chi phí hoặc hoàn thuế
Thanh tra tại bàn không cần đến cơ sở người nộp thuế Phạm vi thanh tra thường hạn chế chỉ để xác minh một số vấn đề cụ thể đã được cán bộ rà soát tờ khai lưu ý hoặc được lưu chuyển qua các khâu (xử lý trước đó)
Thanh tra tại bàn thực hiện đối chiếu chéo những thông tin kê khai trong tờ khai cụ thể, xác minh các phép tính về trừ chi phí sử dụng vốn và kiểm tra chéo dữ liệu thông qua việc yêu cầu người nộp thuế mang đến và xuất trình sổ sách, chứng
Trang 23từ mua vào, bán ra tại cơ quan thuế Thông thường kiểm tra tại bàn đối với người nộp thuế qui mô lớn hoàn tất trong 3 ngày, đối với người nộp thuế qui mô vừa là một ngày, bao gồm:
+ Một sắc thuế hoặc một chỉ tiêu – chỉ kiểm tra hoặc xác minh một sắc thuế như thuế lợi tức, thuế lương, thuế khấu trừ tại nguồn Thanh tra tại bàn cũng được
áp dụng để thanh tra một hạng mục chi phí hoặc chỉ tiêu nào đó trên tờ khai
+ Một kỳ tính thuế
+ Phạm vi hạn chế hoặc hẹp – đối chiếu chéo những thông tin kê khai trong
tờ khai cụ thể, xác minh các phép tính về trừ chi phí sử dụng vốn và kiểm tra chéo
dữ liệu thông qua việc yêu cầu người nộp thuế mang đến, xuất trình sổ sách, chứng
từ mua vào, bán ra tại cơ quan thuế
+ Nhóm người nộp thuế trọng điểm và nhóm người nộp thuế lớn và vừa + Địa điểm tiến hành: Tại cơ quan thuế
+ Thời gian/độ dài cuộc thanh tra tại bàn đối với người nộp thuế quy mô lớn hoàn tất trong ba ngày, đối với người nộp thuế vừa là một ngày
- Thanh tra tại trụ sở của người nộp thuế: Thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế là một công cụ chủ yếu trong chương trình thanh tra của cơ quan thuế Thời gian cần thiết để thực hiện công việc này là từ một vài ngày cho đến vài tuần tuỳ thuộc bản chất của cuộc thanh tra hoặc quy mô và tính phức tạp của hoạt động của người nộp thuế được thanh tra Thanh tra tại trụ sở người nộp thuế thường là việc thanh tra chi tiết nhưng cũng có lúc chỉ là việc kiểm tra một phần sổ sách kế toán thông thường của người nộp thuế ngay tại trụ sở làm việc của người nộp thuế Thanh tra tại trụ sở người nộp thuế có thể được tiến hành bởi một cán bộ thanh tra, kiểm tra hoặc một đoàn thanh tra, kiểm tra Đoàn thanh tra, kiểm tra sử dụng từ hai cán bộ thanh tra, kiểm tra trở lên và có thể bao gồm những thành viên có những kỹ năng khác nhau Đặc điểm của thanh tra tại cơ sở của người nộp thuế:
+ Thanh tra và sử dụng các kỹ thuật thanh tra đối với những chứng từ kế toán được người nộp thuế lưu giữ
Trang 24+ Trao đổi với người nộp thuế
- Kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp
Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của người nộp thuế được thực hiện tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:
+ Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn
+ Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp: báo cáo quyết toán tài chính quí, năm; tờ khai thuế Giá trị gia tăng, bản xác định số thuế Thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quí, tờ khai thuế Thu nhập doanh nghiệp tự quyết toán năm và các tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
+ Kiểm tra việc mở sổ sách và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản
Trang 25+ Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu,
hồ sơ liên quan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế,
cơ quan kho bạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễn giảm thuế
- Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở người nộp thuế gồm các nội dung sau:
+ Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh tra thuế
+ Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của doanh nghiệp với các chuẩn mực nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán Nhà nước ban hành )
+ Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra, hồ sơ chứng lý được coi
là tài liệu gốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: Các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn băng ghi lại những việc làm sai của Doanh nghiệp (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài liệu )
+ Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giám định
Tóm lại, nội dung của thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế trong công tác quản lý thuế là:
Thứ nhất: Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định về chế độ, sổ sách, chứng từ kế toán
Thứ hai: Thanh tra, kiểm tra việc tính, kê khai và nộp thuế của đối tượng nộp thuế
Trang 261.1.3 Các tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tƣợng nộp thuế
1.1.3.1 Các chỉ tiêu lƣợng hoá
Tỷ lệ doanh nghiệp được thanh tra
Tỷ lệ doanh nghiệp được
S.lượng doanh nghiệp được thanh tra S.lượng doanh nghiệp ngành thuế quản lý
Chỉ tiêu này cho thấy trung bình một trăm doanh nghiệp thì có bao nhiêu
doanh nghiệp được thanh tra trong một năm
Mục tiêu quan trọng của thanh tra thuế đối với doanh nghiệp là phòng ngừa các hành vi vi phạm về thuế; phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế Công tác thanh tra thuế càng hoàn thiện khi các hành vi vi phạm pháp luật về thuế được phát hiện, xử lý thích đáng và qua đó để phòng ngừa, răn đe đối với các doanh nghiệp khác Đồng thời công tác thu thuế cũng được đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, tránh bỏ sót khoản thu Số lượng doanh nghiệp được thanh tra càng nhiều thì hành vi vi phạm pháp luật càng được phát hiện và xử lý kịp thời, công tác thanh tra thuế càng có hiệu quả cao
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra
Kế hoạch thanh tra đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hiệu quả công tác thanh tra Cơ quan thuế chỉ được thanh tra các doanh nghiệp nằm trong kế hoạch thanh tra được duyệt (Trừ các trường hợp thanh tra đột xuất) Lập kế hoạch thanh tra giúp cho việc phân bổ và sử dụng nguồn lực thanh tra được hiệu quả Do
đó, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra cho thấy nguồn lực thanh tra có được phân
bổ hợp lý hay không, có lãng phí nguồn lực không, hiệu suất làm việc của đoàn thanh tra có tối ưu hay không Đồng thời, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra còn cho thấy công tác lập kế hoạch và việc lựa chọn doanh nghiệp để thanh tra có khoa học hay không
Tỷ lệ hoàn thành kế
Số doanh nghiệp đã thanh tra
Số doanh nghiệp phải thanh tra theo kế hoạch
Trang 27 Trung bình số thuế truy thu và phạt sau thanh tra của một doanh
nghiệp
Trung bình số thuế truy thu và phạt sau thanh tra thể hiện mức độ vi phạm pháp luật về thuế của doanh nghiệp được thanh tra Trung bình số thuế truy thu và phạt sau thanh tra của một doanh nghiệp càng lớn thì mức độ vi phạm pháp luật về thuế càng cao, phản ánh mục tiêu phòng ngừa và răn đe các hành vi vi phạm về thuế chưa được đảm bảo, thanh tra thuế chưa hoàn thiện, chưa hiệu quả
Trung bình số thuế truy thu và
Số thuế truy thu và phạt sau thanh tra
Số doanh nghiệp được thanh tra
Tần suất thanh tra một doanh nghiệp
Tần suất thanh tra thuế đối với một doanh nghiệp là số lần doanh nghiệp được thanh tra trong một khoảng thời gian nhất định hay nói cách khác, đó là khoảng cách thời gian giữa các lần thanh tra đối với một doanh nghiệp
Thông thường, trung bình mỗi doanh nghiệp lớn sẽ được thanh tra với tần suất hai năm một lần, với doanh nghiệp vừa và nhỏ là hai đến ba năm một lần Khoảng thời gian đó đủ để đảm bảo nguyên tắc không làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp Đồng thời, nếu khoảng thời gian giữa 2 lần thanh tra thuế kéo dài hơn sẽ dẫn đến tình trạng các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp không được phát hiện và xử lý kịp thời, không có tác dụng phòng ngừa vi phạm trong các năm tài chính tiếp theo, doanh nghiệp dễ mắc lỗi hệ thống gây thiệt hại cho cả doanh nghiệp và nhà nước
Theo quy định tại điểm 1.2, mục IV, phần A Thông tư 61/2007/TT-BTC của
Bộ Tài chính ngày 14/06/2007 "Hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về
thuế" thì: "Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự, hành vi chậm nộp tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện đến ngày hành vi vi phạm được phát hiện và được lập biên bản (trừ trường hợp không phải lập biên bản)" Như vậy, nếu quá năm năm, số thuế gian lận, vi phạm của doanh nghiệp phát
Trang 28hiện qua thanh tra thuế chỉ bị truy thu mà không bị phạt Điều này không những không có tác dụng răn đe doanh nghiệp mà còn gây thất thu cho ngân sách Nhà
nước
1.1.3.2 Các chỉ tiêu phi lượng hoá
Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những chỉ tiêu mang tính
xã hội, chính trị như:
- Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật Chỉ tiêu này có thể đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng được thanh tra, kiểm tra thuế qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được thanh tra, kiểm tra (mức độ tái phạm)
- Tác dụng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; tạo sự công bằng giữa những đối tượng nộp thuế; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và xử phạt hành chính thuế (chia theo mức xử phạt)
- Tác dụng phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan thuế và tạo lòng tin của NNT vào hoạt động thanh tra, kiểm tra Có thể đánh giá qua chỉ tiêu: Tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trong thanh tra, kiểm tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theo hình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử lý Hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra được đánh giá theo kỳ (quý, năm) và được chia theo nhiều sắc thuế; theo hình thức thanh tra; theo loại đối tượng nộp thuế và từng nội dung thanh tra, kiểm tra tương ứng
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế
1.1.4.1 Điều kiện kinh tế xã hội và dân trí
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà các quan hệ kinh tế xã hội đều có
sự biến động, thay đổi rất lớn không chỉ trong nội bộ của mỗi quốc gia mà còn chịu
sự tác động do quá trình hội nhập, liên kết sâu, rộng giữa các nước Theo xu hướng
Trang 29phát triển đó, công tác quản lý thuế cũng đòi hỏi phải thay đổi để làm sao đưa ra được các chính sách hợp lý nhằm khuyến khích hợp tác đầu tư, tự do hoá thương mại và đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh cho mọi đối tượng và khi tạo được sự đồng bộ và hoàn thiện của pháp luật thuế sẽ là cơ sở để cho hoạt động thanh tra kiểm tra thuế phát huy tối đa tác dụng
Khi nền kinh tế xã hội phát triển càng cao, điều kiện để nhà nước đầu tư vào con người, đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc hiện đại càng lớn thì hiệu quả công tác thanh tra kiểm tra cũng thuận lợi, mang tính chính xác cao hơn,
dễ dàng thực hiện đối chiếu hơn
Xã hội phát triển hơn, trình độ hiểu biết và nhận thức của người dân cũng cao hơn, điều này sẽ có tính hai mặt:
- Một mặt sẽ làm cho người dân hiểu về pháp luật thuế, hiểu được nghĩa vụ
và quyền lợi cũng như trách nhiệm của mình khi tham gia nghĩa vụ thuế, từ đó làm tăng ý thức, nâng cao tinh thần tự giác khi thực hiện pháp luật thuế
- Mặt khác, do trình độ dân trí được nâng cao thì hiểu biết về thuế và pháp luật thuế cũng được tăng lên Theo đó, các hành vi vi phạm pháp luật Thuế cũng tinh vi hơn, đa dạng hơn, gây khó khăn và cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.4.2 Cơ chế quản lý thuế
Trong quá trình thực thi pháp luật thuế, có hai cơ chế quản lý thuế chính đang được áp dụng hiện nay để thu nộp thuế về ngân sách nhà nước là: Đối tượng nộp thuế tự tính toán và tự kê khai nộp thuế; cơ quan thuế tính toán ra thông báo nộp thuế
- Cơ chế đối tƣợng nộp thuế tự tính toán và tự kê khai nộp thuế:
Cơ chế tự tính toán và kê khai nộp thuế là cơ chế quản lý thuế hiện đại, được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng Theo cơ chế này đối tượng nộp thuế tự giác căn cứ vào tình hình, kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn
cứ vào những quy định của pháp luật tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai
và nộp thuế vào ngân sách nhà nước, tự chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật
về tính trung thực, chính xác thông số đã kê khai
Trang 30Khi thực hiện cơ chế này, cơ quan quản lý thuế không can thiệp trực tiếp vào nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế mà chỉ có trách nhiệm hướng dẫn, tuyên truyền, hỗ trợ và giám sát việc đó qua hoạt động thanh tra, kiểm tra để phát hiện và
tự kê khai, tự nộp thuế Cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở thu thập đủ các thông tin cần thiết về đối tượng nộp thuế (từ tờ khai thuế, báo cáo tài chính và thông tin từ các nguồn khác) để phân tích, đánh giá xác định theo các tiêu chí đánh giá rủi ro, từ đó lựa chọn ra đối tượng nộp thuế cần kiểm tra, thanh tra
và áp dụng nội dung, hình thức kiểm tra, thanh tra phù hợp Do đó, các thông tin này phải đầy đủ, chính xác, dễ truy cập, có liên kết chặt chẽ với nhau qua một hệ thống nhận diện duy nhất (mã số thuế) Các thông tin về đối tượng nộp thuế được thanh tra, kiểm tra được cập nhật ngay khi có biến động trên cơ sở dữ liệu chung do Tổng cục Thuế quản lý và được chia sẻ, khai thác trên phạm vi cả nước, do đó thông tin phải mang tính lịch sử và trung thực
Khi thực hiện theo cơ chế này, cơ quan thuế phải tăng cường tuyên truyền pháp luật thuế đến người nộp thuế, để họ tự ý thức được trách nhiệm, hậu quả khi vi phạm pháp luật thuế, ở đây hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không nhằm mục đích chính là tăng số thu nộp về ngân sách mà là nhằm ngăn ngừa, phòng chống vi phạm pháp luật thuế, do đó đòi hỏi cơ quan thuế cần xây dựng một cơ chế thanh tra, kiểm tra để phân bổ hiệu quả nguồn lực nhằm giám sát tốt nhất hoạt động của đối tượng nộp thuế
Trang 31Cơ chế quản lý thuế này mang lại nhiều lợi ích cho cả cơ quan thuế cũng như đối tượng nộp thuế, đây là cơ chế quản lý thu thuế theo mô hình hiện đại nhằm nâng cao ý thức, tăng tính tự giác trong quá trình thực thi pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế, góp phần hiện đại hoá và chuyên môn hoá sâu trong hoạt động của cơ quan thuế Và đây cũng là cơ chế quản lý thuế hiện đang áp dụng tại Việt Nam
Sơ đồ 1.1: Cơ chế đối tượng nộp thuế tự tính toán và tự kê khai nộp thuế
-Cơ chế cơ quan thuế tính toán và ra thông báo nộp thuế
Cơ quan thuế tính toán ra thông báo nộp thuế là cơ chế quản lý thu thuế theo kiểu truyền thống, căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các quy định của pháp luật thuế, định kỳ người nộp thuế kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra và tính thuế, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho người nộp thuế Người nộp thuế có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theo thông báo về ngân sách nhà nước theo thời gian quy định Cơ quan thuế kiểm tra, đối chiếu số thuế mà đối tượng đã nộp vào ngân sách với thông báo
Khi áp dụng cơ chế này, có ưu điểm số liệu tính toán thu nộp ngân sách chính xác nhưng nhược điểm là cơ quan thuế phải sử dụng nguồn nhân lực rất lớn
Thanh tra thuế đối với một số trường hợp chọn lọc
Nhiệm vụ của người nộp thuế
Nhiệm vụ của cơ quan thuế
Trang 32vào những công việc mà người nộp thuế có thể hoàn toàn tự làm như tính toán số thuế, ra thông báo nộp thuế Nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế không cao
do số thuế họ phải nộp được xác định theo thông báo của cơ quan thuế Nếu cơ quan thuế kiểm tra, tính toán không kỹ thì có thể dẫn đến xác định sai số thuế phải nộp, làm thất thu ngân sách mà người nộp thuế không hề có lỗi
Cơ chế này chủ yếu thanh tra, kiểm tra tại đơn vị nên thường gây ra những phiền nhiễu cho doanh nghiệp và đôi lúc mất thời gian, tăng chi phí tốn kém cho cơ quan thuế
Do số liệu thu nộp thuế là của cơ quan thuế tính thuế và ra thông báo cho người nộp thuế, khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra là đang “vừa đá bóng, vừa thổi còi” nên hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa đạt kết quả cao
Nhìn chung, cơ chế này mang tính áp đặt, không nâng cao được tính tự giác, trách nhiệm công dân của đối tượng nộp thuế Do vậy, công tác thanh tra, kiểm qua thuế gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả thu được không cao
1.1.4.3 Yếu tố về nguồn lực của cơ quan thanh tra, kiểm tra thuế
- Lực lượng cán bộ, công chức thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan quản lý thuế: Đây là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế Số lượng cán bộ công chức thanh tra, kiểm tra thuế phải đủ
để thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra thuế Năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức thanh tra thuế của cơ quan thuế phải được chú trọng Người làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải có năng lực đáp ứng yêu cầu của công việc và phải hàng ngày nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến thanh tra, kiểm tra thuế
- Cơ sở vật chất, kỹ thuật hỗ trợ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế: Việc lưu trữ, tìm kiếm, xử lý thông tin từ hệ thống máy tính giúp cho cán bộ thanh tra, kiểm tra không mất nhiều thời gian Với một cơ sở hạ tầng thông tin đủ mạnh giúp cho việc giám sát tài chính các đối tương nộp thuế từ xa có hiệu quả, từ đó phát hiện, ngăn chặn có hiệu quả và kịp thời các sai phạm khi sắp diễn ra hoặc đang diễn
ra thay vì khi sự việc đã kết thúc
Trang 331.2 Kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra thuế đối tượng nộp thuế ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Malaysia
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Malaysia được tổ chức thành trung tâm thanh tra – điều tra thuế được phân bổ theo vùng Các trung tâm không chỉ dừng lại theo chức năng kiểm tra thuế thông thường mà chủ yếu tập trung vào công tác điều tra phát hiện và xử lý các trường hợp trốn lậu thuế có tính chất nghiêm trọng, truy thu thuế vào ngân sách nhà nước Trung tâm điều tra, thanh tra có nhiệm vụ tổ chức, thu thập các thông tin từ nội bộ ngành thuế, người tố giác, người khai báo, báo chí…để phát hiện các trường hợp, các khả năng trốn thuế Tổ chức công tác điều tra nghiệp vụ trên có sự phối hợp trên toàn quốc hoặc quy mô quốc tế Tổ chức lưu giữ tài liệu, bằng chứng liên quan đến hành vi trốn thuế Tổ chức việc kiểm tra, đối chứng để quy phạm hành vi trốn thuế Khởi tố, truy tố, phạt hành chính, kiến nghị phạt hình sự đối với các hành vi trốn thuế Bắt giữ tài sản, phong toả tài sản, truy thu cho ngân sách
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Indônêxia
Thanh tra, điều tra thuế là một chức năng cơ bản của cơ quan thuế Indonêxia, giữ vai trò quan trọng để đảm bảo quá trình áp dụng thành công cơ chế
tự tính, tự khai nộp thuế Công tác thanh tra, chính sách thanh tra được quy định bởi Cục thanh tra và điều tra thuộc Tổng cục Thuế, chỉ được thực hiện sau khi đã thu thập các thông tin và xử lý các dự liệu về đối tượng nộp thuế để đánh giá mức độ tuân thủ nghĩa vụ thi hành về thuế và sự thi hành của các quy định về thuế Công tác thanh tra thuế được thực hiện trên nguyên tắc: Đối tượng nộp thuế không bao giờ bị thanh tra lại trong cùng 01 năm Nhằm tránh việc thanh tra nhiều lần đối với đối tượng nộp thuế trong cùng năm thì cần phải tiến hành thanh tra đối với mọi loại thuế cùng một lúc Trường hợp trong năm phải tiến hành thanh tra quá một lần chỉ khi có các lý do như: Đối tượng nộp thuế có hành vi phạm tội hình sự, có chứng cứ
Trang 34mới hoặc chứng cứ chưa bộc lộ có thể làm tăng số thuế phải nộp hoặc có lý do theo chỉ thị của Tổng cục trưởng tổng cục thuế
Hoạt động thanh tra được tiến hành bởi đội thanh tra trong đó luôn có 01 giám sát viên, 01 đội trưởng và 01 hoặc một số thành viên tuỳ theo nhiệm vụ công tác
Thời gian thanh tra tại cơ sở kinh doanh là 02 tháng và có thể kéo dài 08 tháng nếu được Tổng cục trưởng tổng cục thuế cho phép, thanh tra tại trụ sở cơ quan thuế thì thời gian là: 01 tháng, có thể kéo dài 02 tháng
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc công tác quản lý thuế được giao cho Cơ quan dịch vụ thuế quốc gia (Tổng cục thuế) Hàn Quốc trực thuộc Bộ Tài chính với cơ cấu quản lý thuế của Hàn Quốc bao gồm 3 cấp: cấp 1: Các vụ và các phòng chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan thuế vụ quốc gia, cấp 2: Cơ quan thuế vùng dưới sự giám sát của cơ quan dịch vụ thuế quốc gia có trách nhiệm trực tiếp xử lý tính thuế đối với một số đối tượng nộp thuế trong những trường hợp đặc biệt, hướng dẫn và quản lý toàn bộ các hoạt động của cơ quan thuế quận huyện, cấp 3: Cơ quan thuế quận huyện Công tác thanh tra thuế được xây dựng xuyên suốt từ Tổng cục Thuế đến các cơ quan thuế quận huyện Tại cơ quan thuế vùng đã xây dựng các phòng thanh tra, kiểm tra với chức năng chuyên biệt như sau: Phòng thanh tra và quản lý chịu trách nhiệm về
kế hoạch thanh tra, thu thập, phân tích, xử lý những thông tin liên quan đến việc trốn thuế; Phòng các cán bộ thanh tra chịu trách nhiệm tiến hành thanh tra và xác định thuế; Phòng các cán bộ thanh tra đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm Ở Hàn Quốc hệ thống tự tính, tự nộp thuế đã áp dụng đối với hầu hết các loại thuế Mỗi đối tượng nộp thuế phải tự nộp tờ khai thuế và trả đủ số thuế đó một cách tự nguyện thì được coi là trung thực nên chính sách cơ bản của Công tác thanh tra ở Hàn Quốc là thanh tra những đối tượng nộp thuế không trung thực thực hiện trên nguyên tắc không thanh tra hai lần đối với đối tượng nộp thuế về cùng một loại thuế của cùng năm tính thuế Nếu kiểm tra lại đối với cùng đối tượng nộp thuế bằng cách thay đổi loại thuế trong
Trang 35phạm vi của năm mà ngày kết thúc cuộc thanh tra trước cũng thuộc năm đó cũng bị coi là vi phạm
1.2.1.4 Kinh nghiệm của Mỹ
Hệ thống thuế Mỹ chia thành hai cấp độ là thuế liên bang (thuế trung ương)
và thuế bang (thuế địa phương) Chính sách thuế cũng như quản lý thuế liên bang và thuế bang hoàn toàn độc lập, tách biệt Chính sách thuế liên bang do Quốc hội ban hành Cục thu nội địa Mỹ chịu trách nhiệm thực thi trong toàn nước Mỹ Là một cơ quan độc lập trực thuộc Bộ Ngân Khố Mỹ chịu trách nhiệm quản lý các sắc thuế liên bang Trong công tác quản lý thuế, Cục thu nội địa Mỹ có mục tiêu “Lấy đối tượng nộp thuế là trung tâm” Công tác thanh tra kiểm tra của Cục thu nội địa được chia làm nhiều cấp độ, trong đó chú trọng tới việc nghiên cứu mô hình, nghiên cứu
xu hướng phát triển các ngành công nghiệp cũng như xu hướng gia tăng của đối tượng nộp thuế để lựa chọn công tác thanh tra, kiểm tra Để tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra có kết quả, hàng năm Cục Thuế nội địa thực hiện công tác đánh giá rủi ro để lựa chọn đối tượng được thanh tra, kiểm tra Đây là bước tất yếu cần phải thực hiện để tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra và dựa trên các tiêu chí: Tiêu chí 1: Đảm bảo tính công bằng; Tiêu chí 2: Tính điểm DIF là hệ thống tính điểm dựa trên phương pháp phân tích thống kê sử dụng nhiều biến số có liên quan đến nhau (Ví dụ: thu nhập, quy mô tài sản, và một số đặc tính của tờ khai) để ra các kết quả logic là số thuế phải nộp sẽ dao động trong khoảng bao nhiêu; Tiêu chí 3: Chương trình ưu tiên thanh tra để chú trọng vào thanh tra đối với những đối tượng
có nhiều nghi ngờ; Tiêu chí 4: Kết quả chương trình nghiên cứu quốc gia sau đó đối chiếu với các thông tin lưu trữ về đối tượng nộp thuế để từ đó phân tích và phân loại các nghi vấn để ra các quyết định thanh tra, kiểm tra theo nguồn lực cán bộ hiện có
Chương trình thanh tra kiểm tra: Là chương trình phổ biến nhất và huy động nhiều cán bộ nhất Công tác thanh tra kiểm tra được thực hiện dưới hai hình thức:
Thư từ trao đổi: Trong trường hợp vấn đề nghi vấn, cần kiểm tra đơn giản và
phạm vi hẹp, có thể đưa ra kết luận trong vài giờ, không cần xem kỹ số sách chứng
từ
Trang 36Thanh tra, kiểm tra trực tiếp: Trong trường hợp vấn đề phức tạp, phạm vi
kiểm tra rộng, có thể mất vài tuần Khi thực hiện hình thức này cần sử dụng nguồn lực cán bộ có trình độ cao hơn các cán bộ thực hiện kiểm tra qua thư từ trao đổi
Để hỗ trợ cho công tác thanh tra thuế, tại cục thu nội địa Mỹ còn hình thành Ban điều tra hình sự chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm về thuế mang tính hình
sự, cưỡng chế thuế và điều tra các vụ việc liên quan đến rửa tiền và làm tiền giả, Ban cưỡng chế thu nợ về thuế của các đối tượng nộp thuế
1.2.1.5 Kinh nghiệm của Anh
Khi chuyển sang cơ chế tự khai tự nộp, Luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ
và quyền hạn cơ quan thuế được quyền kiểm tra bất kỳ một đối tượng nộp thuế nào
mà không cần phải nêu lý do Cơ quan thuế phải tiến hành bắt đầu việc thanh tra trong vòng 12 tháng kể từ ngày hết hạn nộp tờ khai.Sau 12 tháng, cơ quan thuế chỉ thanh tra khi có thông tin từ các nguồn khác về việc cần phải tiến hành thanh tra Khi nhận được thông báo thanh tra doanh nghiệp không có quyền từ chối thanh tra
và phải cung cấp sổ sách tài liệu và trả lời các câu hỏi có liên quan Cơ quan thuế không được xuống doanh nghiệp yêu cầu doanh nghiệp cung cấp sổ sách tài liệu kế toán mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm gửi sổ sách tài liệu lên cơ quan thuế và đến cơ quan thuế giải trình khi có thông báo của cơ quan thuế đến làm việc liên quan tới nội dung thanh tra Khi doanh nghiệp thấy việc thanh tra kéo dài hoặc gây phiền hà cho doanh nghiệp thì có quyền đề nghị Uỷ ban giải quyết khiếu nại xem xét dừng cuộc thanh tra Khi xem xét nếu thấy đề nghị của doanh nghiệp là hợp lý
Uỷ ban giải quyết khiếu nại quy định trong vòng 30 ngày sau cơ quan thuế phải kết thúc thanh tra
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
1.2.2.1 Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra, kiểm tra thuế
Hầu hết các nước đều có hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc gắn với mô hình tổ chức cơ quan thuế (Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh…) Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ
Trang 37chức, chủ yếu được thực hiện ở cấp trung gian (Cục thuế vùng, tỉnh) Tại các quốc gia có tổ chức bộ phận thanh tra cấp trung ương thì chủ yếu là thực hiện công tác chỉ đạo, hỗ trợ thanh tra Hoạt động thanh tra nội bộ tại một số quốc gia được tách
ra khỏi hoạt động thanh tra và được thành lập tại cấp trung ương như Mỹ, Hàn Quốc, Anh, Hoạt động thanh tra đối tượng nộp thuế được chuyên môn hoá cao Các phòng thanh tra tại cơ quan thuế được tổ chức với chức năng chuyên biệt, chỉ thực hiện một giai đoạn của hoạt động thanh tra như: Phòng thanh tra chịu trách nhiệm thu thập, xử lý phân tích rủi ro, lập kế hoạch thanh tra; Phòng Thanh tra thực hiện thanh tra và xác định thuế; Phòng thanh tra đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích ở những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm (Hàn Quốc, Anh) Hầu hết các cơ quan thuế các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn thuế và bộ phận điều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương
1.2.2.2 Về công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ thanh tra, kiểm tra
Các nước đều có yêu cầu cao đối với việc tuyển chọn thanh tra viên Người được tuyển chọn thường phải đào tạo qua Đại học Riêng Anh yêu cầu phải có 2 bằng đại học (1 bằng đại học Kinh tế hoặc đại học Thuế và 1 bằng đại học Luật) Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần phải có gồm:
- Có kiến thức chuyên sâu về thuế;
- Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và quốc tế và mối liên kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế;
- Có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế;
- Có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc;
- Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy tính (bao gồm kiến thức cơ bản về
hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng chuyên ngành sử dụng cho thanh tra);
- Có khả năng giao tiếp ngoại ngữ
Ngoài việc tuyển chọn, các nước còn chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng viên chức thuế Nhiều trung tâm được đầu tư hiện đại xếp hạng quốc tế hoặc
Trang 38khu vực như Trung tâm đào tạo của Nhật Bản, Malaysia, Pháp…Thanh tra viên khi mới được tuyển dụng đều được dự các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ và đào tạo cơ bản
1.2.2.3 Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm
Công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm được tập trung thống nhất theo chỉ đạo cấp trung ương căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch thanh tra tập trung vào đối tượng, ngành, nghề nhất định, phê duyệt điều chỉnh tỷ lệ đối tượng thanh tra giữa ngành nghề Theo kinh nghiệm của cơ quan thuế Anh, thông thường kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế được xây dựng theo
cơ cấu:
- 40% do cơ quan thuế trung ương xây dựng;
- 10% lựa chọn ngẫu nhiên;
- 50% do Cục thuế và Chi cục thuế xây dựng
1.2.2.4 Về kiểm soát chất lƣợng thanh tra, kiểm tra
Các nước đều xây dựng hệ thống chuẩn mực thanh tra, kiểm tra để kiểm soát chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra Hệ thống chuẩn mực từng nước có sự khác biệt nhất định nhưng đều bao gồm các nhóm chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực 1: Kế hoạch thanh tra, kiểm tra
- Chuẩn mực 2: Bằng chứng thanh tra, kiểm tra và thu thập bằng chứng thanh tra, kiểm tra
- Chuẩn mực 3: Kết luận, kiến nghị thanh tra, kiểm tra
- Chuẩn mực 4: Tài liệu làm việc và Báo cáo thanh tra, kiểm tra
Theo qui mô và tính chất của từng vụ thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế có thể thành lập các bộ phận riêng chịu trách nhiệm rà soát kết quả thanh tra, kiểm tra theo các chuẩn mực trên trước khi ban hành quyết định cuối cùng hoặc có thể đưa vào quy trình thanh tra nội bộ Ví dụ, tại Malaysia các thanh tra cao cấp hoặc trưởng phòng thanh tra có nhiệm vụ rà soát lại toàn bộ các kết quả thanh tra tại cơ sở có liên quan đến giao dịch quốc tế hoặc các vụ việc lớn trước khi gửi kết quả chính thức cho người nộp thuế
Trang 391.2.2.5 Về chiến lƣợc xử lý rủi ro
Các nước đều xây dựng chiến lược xử lý rủi ro theo hướng ưu tiên giải quyết các rủi ro ở mức cao (là những rủi ro không thể chấp nhận được) và giải quyết các rủi ro ở mức thấp tuỳ theo nguồn lực cho phép (ví dụ: có thể lựa chọn rủi ro ở mức thấp bằng phương pháp ngẫu nhiên để đánh giá khả năng kiểm soát hoặc “tích luỹ” các rủi ro này để giải quyết trong tương lai) Phạm vi xem xét, phân tích khi nhận dạng rủi ro bao gồm cả những thông tin được thể hiện ở cấp vĩ mô như xu hướng phát triển kinh tế, đặc tính ngành nghề và các tác động của chính sách kinh tế, thương mại và đầu tư
1.2.2.6 Về ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra, kiểm tra thuế
Nhóm các nước phát triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế cao và tại cấp trung ương thường thành lập bộ phận “Thanh tra máy tính” (Thanh tra tin học, thanh tra thuế bằng máy tính) Thanh tra máy tính được thực hiện thông qua hệ thống ứng dụng tin học hỗ trợ công tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử dụng hệ thống dữ liệu của NNT để xác định rõ số liệu thực
về sổ sách kế toán và các giao dịch điện tử
Trang 40Chương 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tổng quan về cơ quan thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế trong
bộ máy quản lý thuế ở Việt Nam
2.1.1 Cơ cấu và chức năng nhiệm vụ của cơ quan thanh tra, kiểm tra thuế trong bộ máy quản lý Thuế ở Việt Nam
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của thanh tra, kiểm tra Thuế
Nguồn: Tổng cục thuế, Bộ Tài chính
BỘ TÀI CHÍNH
- Các VP đại diện
- Các cục, trường