Chính vì thế việc đặt ra yêu cầu phân tích đánh giá thường xuyên để đưa ra các quyết định, điều hành một cách nhanh nhất, kịp thời nhất là vô cùng quan trọng.Tuy nhiên với hệ thống báo c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
PHAN THỊ NGỌC TÚ
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ PHỤC VỤ KINH DOANH – TÌNH HUỐNG TẠI TRUNG TÂM BÁN LẺ - CÔNG TY THƯƠNG MẠI
VÀ XNK VIETTEL
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
PHAN THỊ NGỌC TÚ
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ PHỤC VỤ KINH DOANH – TÌNH HUỐNG TẠI TRUNG TÂM BÁN LẺ - CÔNG TY THƯƠNG MẠI
VÀ XNK VIETTEL
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG ĐỨC SƠN
Hà Nội, 2014
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 5
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị 5
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị 5
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị 6
1.1.3 Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị 7
1.1.4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu kế toán quản trị 9
1.2 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp 11
1.2.1 Quyết định quản trị 11
1.2.2 Tổ chức kế toán quản trị (KTQT) trong doanh nghiệp 14
1.3 Phân loại chi phí trên các báo cáo và phân bổ chi phí cho các bộ phận 17
1.3.1 Phân loại chi phí trên các báo cáo 17
1.3.2 Phân bổ chi phí cho các bộ phận 17
1.4 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp thương mại 20
1.4.1 Hệ thống các báo cáo dự toán 20
1.4.2 Hệ thống báo cáo trách nhiệm 28
1.4.3 Báo cáo thực hiện 32
1.4.4 Báo cáo phân tích 34
TOÁN QUẢN TRỊ PHỤC VỤ KINH DOANH– TÌNH HUỐNG TẠI
Trang 42.1 Tổng quan về Công ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel 36
2.1.1 Lịch sử hình thành 36
2.1.2 Mô hình tổ chức của Trung tâm 38
2.1.3 Công tác tổ chức kế toán tại Trung tâm 40
2.1.4 Hệ thống kế toán tại Trung tâm 41
2.2 Thực trạng áp dụng báo cáo kế toán quản trị tại doanh nghiệp 42
2.2.1 Về tổ chức kế toán quản trị của doanh nghiệp 42
2.2.2 Báo cáo kế toán trách nhiệm tại Trung tâm bán lẻ 42
2.2.3 Hệ thống báo cáo dự toán đang áp dụng 45
2.2.4 Hệ thống báo cáo thực hiện 46
2.2.5 Báo cáo phân tích 49
2.2.6 Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xây dựng báo cáo kế toán quản trị 51
2.3 Đánh giá chung 51
2.3.1 Ưu điểm 51
2.3.2 Nhược điểm 52
2.3.3 Nguyên nhân: 53
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ PHỤC VỤ KINH DOANH –TÌNH HUỐNG TẠI TRUNG TÂM BÁN LẺ - CÔNG TY THƯƠNG MẠI VÀXNK VIETTEL 55
3.1 Quan điểm xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị 55
3.2 Mục tiêu của doanh nghiệp từ nay đến năm 2015 55
3.3 Các quyết định và nhu cầu thông tin của doanh nghiệp 55
3.4 Giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị 56
3.4.1 Một số yêu cầu trong việc xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị 56 3.4.2 Xây dựng các Trung tâm trách nhiệm tại Trung tâm bán lẻ 57
3.4.3 Tổ chức bộ máy báo cáo và phân tích kế toán quản trị 58
Trang 53.4.4 Tăng cường ứng dụng CNTT cho kế toán quản trị 59
3.4.5 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị 59
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu thế hội nhập, phát triển toàn cầu như hiện nay, ngành kinh doanh bán lẻ đang ngày càng phát triển đặc biệt với các nước đang phát triển như Việt Nam
Cũng nằm trong xu thế đó, Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại và XNK Viettel, một trong những doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ thiết
bị đầu cuối viễn thông đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức trước sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường và đối thủ
Chính vì thế việc đặt ra yêu cầu phân tích đánh giá thường xuyên để đưa ra các quyết định, điều hành một cách nhanh nhất, kịp thời nhất là vô cùng quan trọng.Tuy nhiên với hệ thống báo cáo kế toán tài chính sẽ không đáp ứng được yêu cầu của điều hành trong doanh nghiệp.Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống báo cáo quản trị cho doanh nghiệp này là cấp thiết
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị đã được áp dụng nhiều trong các doanh nghiệp nước ngoài, tuy nhiên với doanh nghiệp trong nước nói chung và Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel nói riêng thì vẫn còn manh mún, chưa được coi trọng phát triển, tất cả chỉ mới ở giai đoạn sơ khai Trong quá trình làm việc trực tiếp tại Phòng Kế hoạch – Trung tâm bán lẻ - Công
ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel, tác giả đã kịp thời nhận ra những ưu điểm cũng như các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống báo cáo quản trị của doanh nghiệp Chính vì lẽ đó, với mong muốn doanh nghiệp ngày càng phát triển, dựa vào những kiến thức tài chính đã được học trong bộ môn: Kế toán quản trị và
phân tích tài chính doanh nghiệp, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống
báo cáo kế toán quản trị phục vụ kinh doanh – Tình huống tại trung tâm bán lẻ
- Công ty thương mại và XNK Viettel” làm luận văn thạc sỹ của mình Tác giả hy
vọng, nghiên cứu của mình sẽ đóng góp thêm vào hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị cho Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại và xuất nhập khẩu Viettel giúp cho doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện hơn và hiểu rõ tầm quan trọng
Trang 10của hệ thống báo cáo này, giúp cho việc kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng
phát triển và đạt được các mục tiêu đặt ra
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều bài viết, đề tài luận văn nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị của các doanh nghiệp như:
“Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Công ty cổ phần may 10”,
luận văn của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung hoàn thành năm 2009 đã hệ thống hóa được các vấn đề lý thuyết liên quan đến hệ thống báo cáo kế toán quản trị, trình bày được thực trạng vận dụng báo cáo kế toán quản trị tại Công ty cổ phần may 10 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế quản quản trị cho Công ty cổ phần may 10
“Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty vận tải quốc tế I.T.I”,
luận văn của Dương Thị Cẩm Nhung hoàn thành năm 2007, luận văn tập trung vào
phân tích thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty
“Hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty phân bón miền Nam”, luận
văn của Nguyễn Bích Liên hoàn thành năm 2007 đã hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết kế toán quản trị, ngoài ra trình bày được thực trạng vận dụng báo cáo của Công ty phân bón miền Nam trong đó tập trung vào hoàn thiện hệ thống dự toán và
hệ thống kế toán trách nhiệm
“Xây dựng hệ thống báo cáo quản trị cho hệ thống Siêu thị Mediacare”,
luận văn của Hoàng Kim Sơn hoàn thành năm 2007 cũng nêu được các lý luận chung về các vấn đề lý luận liên quan đến hệ thống báo cáo kế toán quản trị, trình bày được thực trạng kế toán và hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại hệ thống Siêu thị Mediacare và từ đó cũng đề xuất xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị cho
hệ thống Siêu thị Mediacare
Các luận văn trên đều đã khái quát được lý luận chung về báo cáo kế toán quản trị, trình bày thực trạng vận dụng hệ thống báo cáo quản trị tại doanh nghiệp từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại doanh nghiệp đó Tuy nhiên với ba luận văn đầu tiên là công ty sản xuất khác hẳn với mô hình của chuỗi kinh doanh bán lẻ mà luận văn đang hướng tới do vậy
Trang 11hệ thống báo cáo kế toán quản trị sẽ tập trung chủ yếu vào các báo cáo phân tích chi phí chưa đi sâu vào phân tích doanh thu và các vấn đề liên quan khác
Trong khi đó luận văn của tác giả Hoàng Kim Sơn cũng đề cập đến nội dung tương tự, đi sâu vào hoàn thiện báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ theo chuỗi – Hệ thống Siêu thị Mediacare tuy nhiên khoảng thời gian phân tích tương đối xa (từ năm 2007) đồng thời quy mô không lớn (10 Siêu thị tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh)
Việc lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị phục vụ
kinh doanh – Tình huống tại trung tâm bán lẻ - Công ty thương mại và XNK Viettel” vừa cần phải cập nhật theo đúng nhu cầu thông tin thời điểm hiện tại của
doanh nghiệp đồng thời phải đề xuất các báo cáo quản lý phù hợp quy mô rất rộng của doanh nghiệp với 172Siêu thị trải dài trên toàn quốc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trả lời câu hỏi nghiên cứu: Các báo cáo kế toán quản trị có đáp
ứng nhu cầu quản lý tài chính của doanh nghiệp?
Nhiệm vụ: Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu trên luận văn tập trung nghiên
cứu 03 vấn đề chính:
- Hệ thống hóa lý luận về hệ thống báo cáo kế toán quản trị nói chung
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel
- Đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống báo cáo kế toán quản trị của Trung tâm
bán lẻ - Công ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel
Phạm vi nghiên cứu: Do nội dung của kế toán quản trị rất đa dạng và phong
phú nên phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các báo cáo kế toán quản trị của Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel đang sử dụng trong năm 2012, 2013, đầu năm 2014
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong luận văn là phương pháp nghiên cứu case study: Nhằm có thể đạt được những yêu cầu mà đề tài đã đặt ra, tác giả đã trực tiếp làm việc thực tế tại doanh nghiệp, những kiến thức thực tế cộng với thu thập, thống kê, chọn lọc, tổng hợp thông tin từ hoạt động thực tiễn của Trung tâm bán
lẻ - Công ty Thương mại & Xuất nhập khẩu Viettel và tham khảo thêm các nguồn
dữ liệu khác (các giáo trình, đề tài luận văn tương tự )
6 Những đóng góp của luận văn
Trong sự cạnh tranh gay gắt của các chuỗi bán lẻ trên thị trường, việc đưa ra quyết định nhanh, hiệu quả đòi hỏi phải có các báo cáo kịp thời, chính xác, phù hợp với quyết định của các nhà quản trị Thông qua luận văn, tác giả mong muốn góp phần hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán quản trị cho doanh nghiệp, giúp lãnh đạo đưa ra các quyết định chính xác và đúng đắn cho doanh nghiệp, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của doanh nghiệp
Việc hoàn thiện báo cáo quản trị đòi hỏi phải cập nhật thường xuyên theo nhu cầu của lãnh đạo doanh nghiệp tuy nhiên với việc hoàn thiện các yếu tố nền tảng: hệ thống phần mềm; hoàn thiện hệ thống nhân sự và các loại báo cáo trách nhiệm được đề cập trong luận văn, việc hoàn thiện hệ thống báo cáo sau này sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn
7 Bố cục luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về báo cáo kế toán quản trị
- Chương 2: Thực trạng tình hình áp dụng báo cáo kế toán quản trị phụ vụ kinh doanh -Tình huống tại Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại và XNK Viettel
- Chương 3: Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị phục vụ kinh doanh – Tình huống tại Trung tâm bán lẻ - Công ty Thương mại vàXNK Viettel
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Lịch sử phát triển của kế toán gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người, qua các hình thái kinh tế xã hội Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa
và kinh tế thị trường ngày nay, kế toán ngày càng hoàn thiện và phát triển trên mọi phương diện, nó thực sự trở thành công cụ không thể thiếu trong quản trị, kiểm tra, kiểm soát và điều hành các hoạt động kinh tế tài chính của bất kỳ đơn vị nào
Chức năng của kế toán nói chung là cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của một số tổ chức cho các đối tượng sử dụng thông tin với các mục tiêu: Cung cấp các báo cáo kế toán theo quy định phục vụ cho các đối tượng bên ngoài
và bên trong đơn vị, hoạch định các chính sách dài hạn, ngắn hạn của đơn vị phục
vụ các đối tượng bên trong tổ chức; kiểm soát hoạt động của các đơn vị phục vụ các đối tượng bên trong tổ chức
Trong đó, kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp, còn kế toán quản trị đáp ứng nhu cầu thông tin bên trong doanh nghiệp (nhà quản trị các cấp) phục vụ cho các hoạt động, đề ra quyết định nhằm đạt được các mục tiêu tối ưu
Như vậy, kế toán quản trị chính là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin
kế toán nói chung trong các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, nguyên nhân sự phát triển của kế toán quản trị là do sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tập đoàn, quốc gia của tổng thể nền kinh tế Nhưng trong bất kỳ một doanh nghiệp nào thì thông tin kế toán quản trị với chức năng cơ bản là công cụ hữu hiệu để các cấp lãnh đạo đưa ra quyết định điều hành mọi hoạt động nhằm hướng tới các mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Việc nghiên cứu kế toán quản trị được xem xét từ nhiều quan điểm và góc độ khác nhau
Theo GS.Robert S.Kaplan, trường đại học Havard, trường phái kế toán quản trị của Mỹ: “Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong
Trang 14các tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”
Như vậy theo quan điểm này, kế toán quản trị là công cụ gắn liền với hoạt động quản trị của các tổ chức Nó có vai trò quan trọng cho các tổ chức xây dựng các dự toán, hoạch định các chính sách và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức
Theo GS H.BOUQUIN, đại học Paris Dauphin, trường phái kế toán quản trị của Pháp: “Kế toán quản trị là một hệ thống thông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao”
Với trường phái này, kế toán quản trị là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị, dựa vào thông tin đó các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các hoạt động nhằm đạt hiệu quả kinh tế tối ưu
Theo luật kế toán Việt Nam “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu của quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Theo quan điểm này, ngoài việc nhấn mạnh vai trò của kế toán quản trị là thông tin hữu ích phục vụ các cấp quản lý khi đưa ra các quyết định còn cho biết quy trình nhận diện thông tin kế toán quản trị trong các tổ chức hoạt động
Từ các phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị lả bộ môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với các định tính về hoạt động của một đơn vị cụ thể Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị
Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của kế toán nói chung trong các tổ chức kinh tế, đặc biệt các doanh nghiệp kinh doanh
Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh Các cấp quản trị
Trang 15từ tổ trưởng tổ sản xuất, quản đốc phân xưởng, trưởng các phòng ban đến Ban Giám đốc và hội đồng quản trị của doanh nghiệp
Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính chất định lượng nhiều
vì gắn liền với các hoạt động kinh doanh cụ thể cuả doanh nghiệp
Thông tin kế toán quản trị được cụ thể hóa thành các chức năng cơ bản của các nhà quản trị như xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, phân tích, đánh giá và ra quyết định
Như vậy bản chất thông tin kế toán quản trị chính là hệ thống thông tin quản
lý của doanh nghiệp Thông tin kế toán quản trị có chức năng quan trọng nhằm tăng cường hoạt động quản lý hoạt động SXKD trong môi trường kinh doanh luôn luôn biến động và phức tạp.Thực chất đó là một hệ thống thông tin quản trị hữu ích, một
hệ thống thông tin quan hệ lợi ích, trách nhiệm trong nội bộ doanh nghiệp
1.1.3 Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị
1.1.3.1 Điểm giống nhau
Kế toán tài chính và kế toán quản trị có nhiều điểm giống nhau và là hai bộ phận không thể tách rời của kế toán doanh nghiệp Những điểm giống nhau cơ bản là:
Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn sở hữu, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp Một bên phản ánh tổng quát và một bên phản ánh chi tiết, tỉ mỉ của các vấn đề đó
Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để kế toán tài chính soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng ở bên ngoài Đối với kế toán quản trị, hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng, xửlý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị Kế toán quản trị sử dụng rộng rãi các ghi chép hàng ngày của kế toán tài chính, mặc dù có khai triển và tăng thêm
số liệu cũng như nội dung của các thông tin
Kế toán quả trị và kế toán tài chính đều biểu hiện trách nhiệm của người quản
Trang 16thể hiện trách nhiệm của nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp Nói cách khác kế toán tài chính và kế toán quản trị đều dự phần vào quản lý doanh nghiệp
1.3.3.2 Điểm khác nhau
Do đối tượng sử dụng thông tin khác nhau, mục đích sử dụng thông tin khách nhau nên giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính có nhiều điểm khác biệt
- Đối tượng sử dụng thông tin:
Với kế toán quản trị đối tượng sử dụng thông tin là các thành viên bên trong doanh nghiệp: các chủ sở hữu, Ban giám đốc, Quản lý viên, Giám sát viên vv Trong khi thông tin kế toán tài chính chủ yếu lại cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như cổ đông, người cho vay, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ (các cơ quan thuế, cơ quan quản lý tài chính)
- Nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin:
Thông tin kế toán tài chính phải tuân thủ nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia, kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về kế toán được các quốc gia công nhận Trái lại,trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên thông tin kế toán quản trị cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể của nguời quản
lý, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực của kế toán chung Các quy định của Nhà nước về kế toán quản trị (nếu có) cũng chỉ mang tính chất hướng dẫn
- Tính pháp lý của kế toán:
Kế toán tài chính có tính pháp lệnh (và tới đây sẽ tuân thủ theo luật kế toán), nghĩa là hệ thống sổ, ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tài chính đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận Ngược lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với các đặc thù quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp
- Đặc điểm thông tin:
Thông tin của kế toán tài chính chủ yếu dưới hình thức giá trị Còn thông tin của kế toán quản trị được biểu hiện cả hình thái hiện vật và hình thái giá trị
Trang 17Thông tin của kế toán tài chính là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, đã xảy ra Trong khi đó, thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án, đề án cho một sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra
Thông tin kế toán tài chính chủ yếu là các thông tin kế toán thuần túy, được thu thập từ các chứng từ ban đầu về kế toán Trong kế toán quản trị, thông tin được thu thập nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản lý và thường không có sẵn, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, kế toán quản trị còn phải kết hợp với nhiều ngành khoa học khác như thống kê hạch toán nghiệp vụ, kinh tế học, quản lý để tổng hợp, phân tích và sử lý thông tin thành dạng có thể sử dụng được
- Hình thức báo cáo sử dụng:
Báo cáo được sử dụng trong kế toán tài chính là các báo cáo kế toán tổng hợp (gọi là các báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ (gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính)
Báo cáo của kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh nghiệp (như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo nhập xuất tồn kho vv )
- Kỳ báo cáo:
Kỳ báo cáo của kế toán quản trị thường xuyên hơn và ngắn hơn kỳ báo cáo của kế toán tài chính Báo cáo của kế toán tài chính được soạn thảo theo định kỳ, thường là năm, còn báo cáo của kế toán quản trị được soạn thảo thường xuyên theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp
1.1.4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu kế toán quản trị
1.1.4.1 Đối tượng
Kế toán quản trị là một phân hệ của kế toán trong các tổ chức hoạt động, được thể hiện rõ nét nhất trong các doanh nghiệp kinh doanh, các đơn vị tự chủ tài chính, do vậy kế toán quản trị cũng có đối tượng nghiên cứu chung của kế toán là tài sản, nguồn vốn gắn với các quan hệ tài chính của tổ chức hoạt động Sư vận
Trang 18động của tài sản, nguồn vốn gắn với các quan hệ tài chính vì mục tiêu lợi nhuận của
kế toán quản trị coi trọng hàng đầu
Bên cạnh đó, kế toán quản trị còn nghiên cứu những đối tượng đặc thù và cụ thể hóa nhằm cung cấp các thông tin nhanh, chính xác cho các cấp quản trị đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận:
- Nghiên cứu sâu hơn về chi phí của doanh nghiệp theo các góc độ khác nhau như phân loại chi phí, dự toán chi phí, xây dựng định mức chi phí, phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng, lợi nhuận… nhằm mục tiêu kiểm soát và quản lý chi phí chặt chẽ và dự toán chi phí chính xác để tối thiểu hóa chi phí
- Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất như lao động, hàng tồn kho và tài sản cố định nhằm khai thác tối đa các yếu tố sẵn có, đảm bảo chi phí thấp nhất
và lợi nhuận cao nhất, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của thị trường
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu, lợi nhuận thông qua hệ thống báo cáo kết quả kinh doanh trong việc hình thành các quyết định điều hành hoạt động của doanh nghiệp
- Xây dựng các trung tâm trách nhiệm, phân tích chi phí, doanh thu, lợi nhuận theo yêu cầu quản trị của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định cần đầu tư thêm hay thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động cuả từng bộ phận nhằm phát triển và bảo đảm an toàn vốn kinh doanh Đồng thời xác định trách nhiệm cá nhân, bộ phận trong tổng thể doanh nghiệp
- Kiểm soát việc thực hiện từng khâu công việc, làm rõ các nguyên nhân gây ra sự biến động giữa chi phí theo dự toán và thực tế, từ đó phát huy những thế mạnh trong hoạt động kinh doanh và có các biện pháp ngăn chặn những điểm yếu nhằm nâng cao hiệu quả từng hoạt động kinh doanh
- Cung cấp các thông tin cần thiết nhằm sáng tỏ việc đưa ra các quyết định kinh doanh hiện tại và tương lai Xây dựng các dự toán chi phí, doanh thu và kết quả tài chính nhằm dự báo các kết quả kinh doanh diễn ra theo kế hoạch
- Phân tích và lựa chọn các phương án đầu tư ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo an toàn và phát triển vốn trong hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất
Trang 191.1.4.2 Phương pháp hỗ đoán
Để xử lý các thông tin phục vụ việc ra quyết định kinh doanh, kế toán quản trị ngoài việc sử dụng các biên pháp truyền thống tương tự như kế toán tài chính như: Phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán
Ngoài ra, kế toán quản trị còn sử dụng một số phương pháp đặc thù để làm sáng tỏ thông tin kế toán phục vụ nhu cầu quản lý:
- Phương pháp phân loại chi phí: Phân chia thành biến phí, định phí; Hoặc chi phí có thể kiểm soát, không thể kiểm soát…
- Phương pháp mô hình: Để đánh giá trách nhiệm của các trung tâm đầu
tư cũng thường sử dụng mô hình Dupont để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu ROI từ đó có quyết định thích hợp và xác định trách nhiệm của nhà quản trị
- Phương pháp đồ thị: Phương pháp này cũng được sử dụng khá thông dụng Đồ thị là cách thể hiện dễ thấy nhất, chính xác nhất cho thấy mối quan hệ
và xu hướng biến động của các thông tin do kế toán quản trị cung cấp và xử lý
1.2 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp
Một trong các yếu tố quan trọng tác động đến xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị của 1 doanh nghiệp chính là hệ thống Quyết định của nhà quản trị và
tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Trang 20- Các quyết định ngắn hạn thường bao gồm:
+ Quyết định nên tự sản xuất hay mua ngoài?
+ Quyết định chấp nhận hay từ chối đơn hàng?
+ Quyết định duy trì hoạt động đầu tư hay chấm dứt đầu tư?
+ Các quyết định trong trường hợp doanh nghiệp bị chi phối bởi các yếu tố giới hạn
- Tiêu chuẩn lựa chọn các quyết định ngắn hạn:
+ Tiêu chuẩn về kinh tế: Mục tiêu lựa chọn và ra quyết định ngắn hạn trong sản xuất kinh doanh là mang lại lợi ích kinh tế cao nhất Bởi vậy, khi ra quyết định ngắn hạn trong điều hành, nhà quản trị cần phải cẩn trọng, đắn đo xem xét nhiều phương án Phải tính đến việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm vốn và sử dụng vốn cho hợp lý nhất
+ Tiêu chuẩn về tính kịp thời của các quyết định ngắn hạn: Tiêu chuẩn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc ra quyết định Điều đó thể hiện ở chỗ: Khi thời cơ đến, quản trị doanh nghiệp phải biết chớp lấy thời cơ, giải quyết các vấn đề kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất phải nhanh, chính xác và đúng thời điểm, có như vậy mới đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp
+ Ngoài những tiêu chuẩn trên, khi đưa ra quyết định nhà quản trị cần phải quan tâm đến tiêu chuẩn phi kinh tế như: Bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động, đạo đức nghề nghiệp
- Đối với doanh nghiệp thương mại, các quyết định ngắn hạn thường liên quan đến: Các quyết định có nên nhập hàng hay dừng nhập hàng, nhập hàng khi nào ; Các quyết định về chính sách giá bán, về chương trình xúc tiến bá hàng; Các quyết định có nên tiếp tục kinh doanh cửa hàng đó hay ngừng khi cửa hàng hoạt động lỗ
1.2.1.2 Quyết định dài hạn
- Khái niệm: Là những quyết định mang tính chất kế hoạch, thể hiện những mục tiêu phát triển chiến lược diễn ra trong nhiều kỳ kế toán, thường là liên quan đến vốn đầu tư lớn và làm thay đổi khả năng sản xuất của doanh nghiệp
Trang 21- Quyết định dài hạn có nhiều cách thức phân loại nhưng tác giải tập trung phân tích theo 1 tiêu chí là nội dung kinh tế, các quyết định dài hạn bao gồm:
+ Quyết định cắt giảm chi phí: Có nên trang bị máy móc thiết bị mới để giảm chi phí lâu dài hay không?
+ Quyết định mở rộng sản xuất kinh doanh: Các quyết định này thường liên quan đến việc tăng quy mô của quá trình SXKD, có nên mở rộng thêm kho tàng, thêm văn phòng, thêm máy móc thiết bị không?
+ Quyết định về lựa chọn máy móc thiết bị: Máy móc, thiết bị sản xuất hay quy trình công nghệ tiên tiến có trình độ kỹ thuật cao có thể có nhiều loại, vậy nhà quản trị phải có thông tin để tính toán và lựa chọn loại nào để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
+ Quyết định nên mua sắm hay thuê máy móc thiết bị sản xuất có lợi hơn:
+ Quyết định nên thay đổi quy trình công nghệ sớm hay chờ thêm một thời gian nữa
- Đối với doanh nghiệp thương mại, các quyết định dài hạn chủ yếu là việc lựa chọn có mở rộng sản xuất kinh doanh hay không: Có mở thêm ngành hàng hay ngừng kinh doanh 1 ngành hàng trong tương lai, dự kiến cách thức tổ chức bán hàng thế nào trong điều kiện doanh nghiệp bị đối thủ cạnh tranh khốc liệt
1.2.1.3 Mô hình ra quyết định
Ra quyết định là một quá trình bao gồm nhiều bước có liên quan đến việc hình thành vấn đề, xác định và lựa chọn phương án thông qua và văn bản hóa quyết định Mô hình thể hiện quá trình ra quyết định được thể hiện như sau:
Sơ đồ1.1: Mô hình ra quyết định (DECIDE)
tố ảnh hưởng đến quyết định
Thu thập thông tin
có liên quan
Quyết định giải pháp
Thực hiện quyết định
Đánh giá kết quả thực hiện
Trang 22Việc hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị càng đầy đủ thông tin, chính xác sẽ giúp các nhà lãnh đạo sẽ đưa ra quyết định đúng, hiệu quả cao cho doanh nghiệp Ngược lại, báo cáo quản trị không đầy đủ thông tin hoặc thông tin sai lệch sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.4 Nguyên tắc của việc ra các quyết định
Những nguyên tắc chung về quản trị cũng là những nguyên tắc về việc ra quyết định, tuy nhiên trong việc ra quyết định người ta thường đặc biệt chú trọng thực hiện các nguyên tắc sau:
- Quyết đoán
- Khoa học
- Khách quan
- Thống nhất
- Gắn chặt quyền lợi, quyền hạn và trách nhiệm
- Tạo ra sự năng động sáng tạo trong tổ chức
1.2.2 Tổ chức kế toán quản trị (KTQT) trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Tổ chức KTQT trong doanh nghiệp theo chức năng thông tin kế toán
Trong các DN, thông tin kế toán quản trị thường được tổ chức theo 2 nội dung: Thu nhận thông tin, phân tích và xử lý thông tin
- Thu nhận thông tin thường được tiến hành tại các bộ phận: phân xưởng, Siêu thị, tổ sản xuất… Thông tin kế toán gồm có thông tin hiện tại và thông tin tương lai Thông tin hiện tại chính là các chi phí kinh tế, tài chính chi tiết thuộc các
bộ phận như hàng tồn kho, chi phí, doanh thu và kết quả đang xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin tương lai là hệ thống thông tin quan trọng mà các nhà quản trị cần phải dự đoán, phán đoán những hoạt động kinh doanh
Trang 23sắp xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học hiện tại và quá khứ Độ tin cậy của thông tin tương lai phụ thuộc vào trình độ quản lý của các cấp quản trị và ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp
- Tổ chức phân tích thông tin kế toán quản trị Trên cơ sở những thông tin thu nhận được ở trên, các chuyên gia kế toán tiến hành so sánh, đối chiếu giữa thực té
và định mức, dự toán, kế hoạch để từ đó xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến các chiều hướng tích cực và tiêu cực từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động Mặt khắc quá trình phân tích cũng thường sử dụng các công cụ hiện đại để dự đoán những hoạt động kinh doanh có khả năng xảy ra, từ đó các quyết định ứng xử kịp thời
1.2.2.2 Tổ chức KTQT trong doanh nghiệp theo chu trình kế toán
Chu trình thông tin kế toán thường được thể hiện qua những khâu cơ bản: tổ chức hạch toán thông tin ban đầu thông qua hệ thống chứng từ, tổ chức tài khoản kế toán, tổ chức tính giá và tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị
- Tổ chức hạch toán thông tin KTQT ban đầu thông qua hệ thống chứng
từ Chứng từ là phương tiện ghi nhận và phản ánh toàn bộ các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh trong doanh nghiệp Tổ chức chứng từ thường dựa vào hệ thống chứng từ bắt buộc và hướng dẫn của Bộ Tài chính quy định Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu quản trị khi tổ chức chứng từ ta có thể bổ sung thêm các chỉ tiêu phù hợp với tình hình thực tế của các doanh nghiệp Mặt khác có thể thiết
kế mới những mẫu chứng từ phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin nhanh và chính xác cho từng cấp quản trị
- Tổ chức tài khoản kế toán quản trị Tài khoản kế toán và sổ kế toán có mối quan hệ mật thiết với nhau Thực chất sổ kế toán là phương tiện thể hiện tài khoản kế toán Do vậy khi tổ chức tài khoản kế toán cần xuất phát từ nhu cầu của các nhà quản trị gắn với thực tiễn kinh doanh để mở các tài khoản, hệ thống sổ cho phù hợp
- Tổ chức hệ thống báo cáo quản trị Báo cáo kế toán quản trị chính là sản phẩm cuối cùng của các chuyên gia kế toán trong quá trình thu thập, xử lý
Trang 24thông tin cung cấp cho nhà quản lý Báo cáo kế toán quản trị cũng đa dạng và phong phú, xuất phát từ nhu cầu, sự am hiểu thông tin của các nhà quản trị để
từ đó xây dựng chỉ tiêu, thiết kế mẫu biểu cho phù hợp với từng cấp quản trị nhằm đảm bảo phân tích, đánh giá đưa ra quyết định hiệu quả cao trong các tình huống hoạt động kinh doanh hàng ngày
Một hệ thống báo cáo kế toán quản trị tốt sẽ giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết đinh đúng đắn, do vậy tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị phải đảm bảo yêu cầu:
- Hệ thống báo cáo kế toán quản trị cần xây dựng phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản lý nội bộ của từng nhà quản trị cụ thể
- Thông tin của báo cáo kế toán quản trị phải đầy đủ, đảm bảo tính so sánh được phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành và ra quyết định của nhà quản trị các cấp
- Các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo kế toán quản trị phải đảm bảo tính phù hợp, trung thành, nhất quán giữa các báo cáo định hướng, báo cáo kết quả thực hiện và báo cáo phân tích biến động giữa số liệu dự toán và số liệu thực hiện
Để phục vụ cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản trị thực hiện chức năng qu ản trị doanh nghiệp, hệ thống báo cáo kế toán quản trị phải thiết kế bao gồm các loại báo cáo sau:
- Hệ thống báo cáo dự toán, kế hoạch, các chỉ tiêu kế hoạch để chuẩn bị các điều kiện đảm bảo và tổ chức triển khai trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, là thước đo đánh giá kết quả thực hiện
- Hệ thống báo cáo thực tế: Hệ thống báo cáo cung cấp thông tin về tình hình thực hiện của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên các lĩnh vực hoạt động kinh doanh là cơ sở để nhận định, kiểm soát, đánh giá, điều chỉnh tình hình thực hiện
- Hệ thống báo cáo phân tích kết quả và nguyên nhân của các hoạt động kinh doanh: hệ thống báo cáo biến động kết quả và nguyên nhân của các hoạt động kinh doanh phản ánh các thông tin chênh lệch giữa thực hiện với dự toán và các
Trang 25nguyên nhân gây nên sự chênh lệch để giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm doát, đánh giá tình hình, xác định được nguyên nhân dẫn đến sự biến động
1.3 Phân loại chi phí trên các báo cáo và phân bổ chi phí cho các bộ phận
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động trong doanh nghiệp thương mại:
1.3.1 Phân loại chi phí trên các báo cáo
1.3.1.1 Chi phí mua hàng
Chi phí mua hàng là những chi phí liên quan đến quá trình thu mua hàng hóa như chi phí vận chuyển, bốc dỡ bảo quản hàng hóa từ nơi mua về đến kho của doanh nghiệp; các khoản hao hụt tự nhiên trong định mức phát sinh trong quá trình thu mua hàng hóa; chi phí thuê kho, thuê bến bãi; chi phí bảo hiểm hàng hóa…
1.3.1.2 Chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ bao gồm những chi phí về chào hàng, giới thiệu, quảng cáo sản phẩm; chi phí phải trả cho nhân viên bán hàng;các chi phí liên quan đến việc bảo quản, đóng gói, vận chuyển; chi phí khuyến mãi; chi phí khấu hao các tài sản cố định có liên quan…
1.3.1.3 Chi phí quản lý doanh nghiệp (quản lý hành chính)
Chi phí quản lý hành chính là những chi phí phát sinh trong họat động quản
lý chung của doanh nghiệp như chi phí phải trả cho nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (lương, phụ cấp, các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…); chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi; các dịch vụ mua ngoài (như điện, nước, điện thọai, fax, internet, bảo hiểm tài sản, chi phí phòng cháy chữa cháy…) và các dịch vụ bằng tiền khác (như công tác phí, tiếp khách, hội nghị…)
1.3.2 Phân bổ chi phí cho các bộ phận:
1.3.2.1 Các bộ phận trong doanh nghiệp
Các bộ phận trong một doanh nghiệp có thể được chia thành hai nhóm:
Trang 26- Nhóm bộ phận hoạt động chức năng: là những bộ phận trực tiếp thực hiện hoạt động chức năng của doanh nghiệp, hay nói một cách khác là các bộ phận thực hiện mục tiêu trọng tâm của doanh nghiệp.Trong một công ty thương mại bộ phận này là các Siêu thị, quầy hàng của nó
- Nhóm bộ phận phục vụ: là những đơn vị không trực tiếp thực hiện hoạt động chức năng của doanh nghiệp nhưng hoạt động của nó rất cần thiết cho các bộ phận chức năng, phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận này hoạt động.Ví dụ như phòng tài chính, phòng thu mua hàng hoá, phòng hành chính nhân sự…
1.3.2.2 Phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ cho các bộ phận chức năng
Tuy các bộ phận phục vụ không gắn trực tiếp với các hoạt động chức năng của doanh nghiệp nhưng hoạt động của chúng phục vụ cho các bộ phận chức năng,
do đó chi phí của các bộ phận này phải được phân bổ cho các bộ phận chức năng
- Phân bổ trước khi hoạt động sẽ cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch còn phân bổ sau khi hoạt động sẽ giúp cho đánh giá chênh lệch thực tế với kế hoạch
Trang 27nguồn gốc chung do vậy cần chọn tiêu chức phân bổ cho phù hợp
b) Yêu cầu của các tiêu thức phân bổ
Khi thực hiện việc phân bổ chúng ta cần phải xác định các tiêu thức phân bổ cho hợp lý.Thông thường mỗi loại chi phí cần phân bổ sẽ có những tiêu thức phân
bổ riêng.Tuy nhiên các tiêu thức này cần phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Tiêu thức đó phải đảm bảo tính đại diện của chi phí cần phân bổ, có nghĩa
là khi sử dụng tiêu thức đó độ chính xác của chi phí sẽ cao hơn lựa chọn của các tiêu thức khác Do vậy cần phải hiểu bản chất của chi phí phát sinh từ đâu, nhân tố nào ảnh hưởng tới, khi đó mới lựa chọn tiêu chí phân bổ
- Tiêu thức phân bổ cần thuận tiện cho quá trình tính toán và thống nhất trong
cả kỳ hạch toán.Ngoài ra còn phải xem xét mối quan hệ giữa chi phí cố định với từng bộ phận và định phí chung
- Hình thức phân bổ nhiều bước: Theo phương pháp này chi phí được phân
bổ từ bộ phận có mức độ hoạt động nhiều nhất đến bộ phận hoạt động ít nhất Như vậy các chi phí luân chuyển nội bộ được thừa nhận cho các bộ phận tiếp theo trừ bộ phận phục vụ đầu tiên Trong quá trình tính toán cần loại trừ chi phí của các bộ phận có thu nhập tương ứng để tránh trùng số liệu Phương pháp này có ưu điểm là chính xác hơn nhưng công việc tính toán phức tạp
- Hình thức phân bổ lẫn nhau: Theo phương pháp này kế toán phải phân bổ chi phí của các bộ phận phục vụ lẫn nhau, không phân biệt mức phát sinh chi phí
Trang 28của các bộ phận Để xác định mức chi phí phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận ta co thể sử dụng phương pháp đại số để giải bài toán chi phí Sau đó xác định chi phí ở các bộ phận phục vụ và xác định phần phục vụ cho bộ phận chính Phương pháp này giúp cho nhà quản trị phân bổ chính xác chi phí của bộ phận phục vụ cho bộ phận sản xuất chính song công việc tính toán cũng phức tạp
1.4 Hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp thương mại
Hệ thống báo cáo kế toán quán trị trong doanh nghiệp thương mại chủ yếu báo gồm hai loại báo cáo chính là báo cáo dự toán và báo cáo trách nhiệm, ngoài
ra theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp còn có thể lập thêm 1 số loại báo cáo chi tiết thực hiện để đánh giá trách nhiệm quản lý ở các trung tâm trách nhiệm hay còn gọi là báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp như báo cáo công
nợ, báo cáo tồn kho,… (là 2 mảng cần quan tâm trong loại hình doanh nghiệp bán lẻ) và các báo cáo phân tích mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí, lợi nhuậ, phân tích các biến động các biến động khác của doanh nghiệp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.1 Hệ thống các báo cáo dự toán
1.4.1.1 Khái niệm của dự toán
Dự toán là những dự kiến, những phối hợp chi tiết chỉ rõ cách huy động và
sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và được biểu diễn bằng một
hệ thống chỉ tiêu dưới dạng số lượng và giá trị
Dự toán phải được gắn liền với điều kiện về thời gian cụ thể trong tương lai,
do vậy dự toán thường được lập theo tháng, quý, năm
1.4.1.2 Tác dụng của dự toán
Các doanh nghiệp dù hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì việc lập dự toán sản xuất kinh doanh vẫn là công việc quan trọng hàng đầu Dự toán giúp các nhà qu ản trị có được nhiều thời gian để hoạch định chiến lược kinh doanh trước khi hoạt động của doanh nghiệp bắt đầu Khi các mục tiêu đã được xác lập các nhà quản trị sẽ đánh giá được kết quả thực hiện với kế hoạch đưa ra và kiểm soát được sự phát sinh nguồn lực trong doanh nghiệp Do đó, dự toán có ý nghĩa quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, được thể hiện qua những điểm sau:
Trang 29- Xác định mục tiêu phát triển của doanh nghiệp làm căn cứ đánh giá việc thực hiện kế hoạch sau này Bản dự toán đã cụ thể hóa kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành con số cụ thể Việc so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch đề
ra, nhà quản trị sẽ dễ dàng thấy được bộ phận nào trong doanh nghiệp không hoàn thành chỉ tiêu đề ra, từ đó tìm hiểu nguyên nhân vì sao hoạt động của bộ phận không hiệu quả và có biện pháp hữu hiệu để khắc phục Ngoài ra từ việc xây dựng mục tiêu, xác định các điều kiện để đảm bảo để đạt được các mục tiêu đặt ra
- Kết hợp hoạt động của toàn doanh nghiệp bằng các kế hoạch hoạt động của các bộ phận phối hợp nhịp nhàng đạt mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp thường có những quyền hạn, năng lực riêng khác nhau Quá trình lập dự toán đã tăng cường dự hợp tác, tham gia trao đổi công việc giữa các thành viên trong doanh nghiệp Nhờ đó dự toán đảm bảo hoạt động của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp
- Dự toán giúp các nhà quản trị phát hiện điểm mạnh, điểm yếu từ đó sẽ có những cơ sở phân tích, lường trước được khó khăn trước khi chúng xảy ra để có những biện pháp đúng đắn khắc phục kịp thời
- Dự toán là cơ sở xây dựng và đánh giá trách nhiệm quản lý của các cấp quản trị doanh nghiệp Qua kết quả thực hiện so với dự toán sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận cũng như nhà quản lý bộ phân Từ đó sẽ có mức thưởng, phạt theo quy định dựa trên kế quả thực hiện dự toán của các bộ phận Dự toán là bức tranh tổng thể về hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, thông qua dự toán các nhà quản trị sẽ có trách nhiệm hơn trong công tác quản lý của mình
1.4.1.3 Hệ thống dự toán hàng năm của một doanh nghiệp thương mại
Bản thân mỗi một doanh nghiệp đều đặt ra những mục tiêu mà doanh nghiệp của mình cần đạt được Để đạt được những mục tiêu đã đề ra đó thì doanh nghiệp cần phải thực hiện theo các bước và công việc cụ thể của mình Đối với một doanh nghiệp thuộc loại hình thương mại để đạt được mục tiêu lợi nhuận ngày càng cao thông qua hoạt động mua bán hàng hoá thì hệ thống dự toán của nó sẽ bao gồm những nội dung và trình từ lập thể hiện ở sơ đồ sau:
Trang 30Sơ đồ 1.2: Dự toán sản xuất kinh doanh
Nguồn:Giáo trình Kế toán quản trị, Nguyễn Ngọc Quang (2009), Nxb Kinh tế quốc dân
- Dự toán doanh thu tiêu thụ: là dự toán quyết định được lập đầu tiên
và sẽ là căn cứ để lập các dự toán tiếp theo Khi lập dự toán thường dựa vào những cơ sở sau:
+ Kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của kỳ trước, nhằm xác định giới hạn hoạt động của doanh nghiệp
+ Dự toán tiêu thụ kỳ trước
Dự toán tiền
Dự toán BC
KQKD
Dự toán bảng CĐKT
Trang 31+ Căn cứ vào kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trường về sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp
+ Căn cứ vào thị phần tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh + Căn cứ vào các chương trình quảng cáo, khuyến mại
+ Căn cứ thu nhập dự kiến trong tương lai
+ Căn cứ chính sách, chế độ của Nhà nước…
Dự toán tiêu thụ = Sản lượng x đơn giá bán dự kiến
Bảng 1.1: Ví dụ về dự toán doanh thu tiêu thụ sản phẩm (ĐVT: đồng)
Nguồn:Giáo trình Kế toán quản trị, Nguyễn Ngọc Quang (2009), Nxb Kinh tế quốc dân
- Dự toán thu tiền bán hàng: là dự toán xác định các phương thức và
khả năng thu tiền hàng.Nó là căn cứ để xác định luồng tiền thu dự kiến và tình hình công nợ sẽ phát sinh trong quá trình bán hàng.Dự toán này được lập trên
cơ sở dự toán doanh thu, thông tin thực tế và dự báo về các đối tượng mua hàng cũng như những quy định về thanh toán của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp thuộc loại hình kinh doanh bán lẻ do đặc điểm kinh doanh là bán hàng thu tiền ngay nên dự toán này được bỏ qua không lập
Trang 32- Dự toán mua hàng và tồn kho: Dự toán này được lập dựa trên dự
toán doanh thu để xác định giá trị cũng như lượng hàng hoá cần phải mua vào
và tồn kho cần thiết để đảm bảo thực hiện các mục tiêu doanh thu đề ra một cách thuận lợi Khi lập dự toán này cần phải chú ý đến định mức tồn trữ, quy trình mua hàng của doanh nghiệp cũng như xem xét đến các yếu tố chi phí đặt hàng, lưu kho, vận chuyển cũng như sự biến động của thị trường
Sản lượng sp cần mua = Sản lượng tiêu thu dự kiến + Sản lượng tồn cuốikỳ - Sản lượng tồn đầu
Nguồn:Giáo trình Kế toán quản trị, Nguyễn Ngọc Quang (2009), Nxb Kinh tế quốc dân
- Dự toán giá vốn hàng bán: được lập dựa trên dự toán tiêu thụ, dự
toán mua hàng Khi lập dự toán này cần chú ý đến phương pháp xác định giá hàng tồn kho Dự toán này sẽ là cơ sở để xác định dự toán kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Giá vốn hàng bán = Sản lượng sp cần mua x đơn giá đơn vị sản phẩm
Trang 33- Dự toán thanh toán tiền mua hàng: Trên cơ sở dự toán mua hàng và
tồn kho được lập ở trên, dự toán thanh toán tiền mua hàng để xác định khả năng và tiến độ thanh toán từ đó tính được luồng tiền dự kiến chi để thanh toán cho các khoản công nợ phát sinh do quá trình thu mua hàng hoá và dự trữ tồn kho.Khi lập dự toán này cần chú ý đến quy trình thanh toán, khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng như chính sách bán hàng của các nhà cung cấp để cân đối cho phù hợp
- Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Đây là
các dự toán cho các khoản chi phí ước tính sẽ phát sinh trong kỳ kế hoạch ở lĩnh vực bán hàng và quản lý doanh nghiệp
+ Chi phí bán hàng: ước tính được dựa trên dự toán doanh thu, chính sách bán hàng, định mức chi phí và đặc điểm của doanh nghiệp.Nó là những chi phí sẽ phát sinh trong quá trình bán hàng hoá và là cơ sở để xác định luồng tiền dự kiến chi cho hoạt động này
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: dự kiến sẽ phát sinh nhằm phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp cũng sẽ là căn cứ để xác định luồng tiền chi
ra cho hoạt động này.Dự toán này được lập trên cơ sở mục tiêu hoạt động và doanh thu của doanh nghiệp, các định mức có liên quan cũng như các dự toán hoạt động khác.Lưu ý khi xây dựng dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp cũng cần chú ý đến những điều kiện và khả năng tiết kiệm chi phí đối với hai loại khoản mục chi phí này
Bảng 1.4: Ví dụ về dự toán CPBH và CPQL doanh nghiệp
Trang 34TT Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Cả năm
quản lý(đồng)
-Lương nhân viên
-Chi quảng cáo
-Bảo hiểm tài sản
Nguồn:Giáo trình Kế toán quản trị, Nguyễn Ngọc Quang (2009), Nxb Kinh tế quốc dân
- Dự toán cân đối thu chi tiền:dự toán này được lập trên cơ sở các dự
toán thu tiền bán hàng, dự toán thanh toán tiền mua hàng, dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.Mục đích của dự toán này là nhằm cân đối các khoản thu chi trong kỳ kế hoạch, nhu cầu dự trữ cuối kỳ từ đó có thể xác định được nhu cầu vay vốn phát sinh nếu có hoặc đầu tư ngắn hạn để cân đối tốt nhất kế hoạch thu chi của doanh nghiệp
- Dự toán kết quả kinh doanh: nhằm xác định kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp dự kiến trong kỳ kế hoạch.Dự toán này được lập dựa trên cơ sở các bảng dự toán doanh thu, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán mua hàng và tồn kho, dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, các bảng
dự toán khác và dựa trên những quy định về chế độ quản lý tài chính, kế toán cũng như thuế hiện hành Đây là một tài liệu làm cơ sở so sánh đánh giá quá trình thực hiện sau này của doanh nghiệp
Trang 35- Dự toán bảng cân đối kế toán: Dự toán này được lập từ các bảng dự
toán kể trên nhằm cân đối tài sản của doanh nghiệp, xác định tổng số tài sản cần thiết và các nguồn hình thành của chúng nhằm đảm bảo nhu cầu vốn để thực hiện được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra và cần phải đạt được
Để đạt được hiệu quả khi xây dựng dự toán ngân sách thì hệ thống các
dự toán ngân sách thì hệ thống các dự toán kể trên cần được thực hiện ở mọi cấp trong doanh nghiệp theo nguyên tắc xây dựng từ cấp cơ sở đến cấp quản
lý cao nhất dựa trên mục tiêu chiến lược đã xác định và khả năng của từng cấp
cơ sở
Bảng 1.5: Dự toán bảng cân đối kế toán(ĐVT: đồng)
Định mức chi phí được hiểu là chi phí đơn vị ước tính được sử dụng làm tiêu chuẩn cho việc thực hiện của yếu tố chi phí
Trang 36Định mức chi phí là căn cứ để xây dựng dự toán sản xuất kinh doanh Định mức chi phí và dự toán cùng giống nhau là ước tính hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.Nếu định mức chi phí được xây dựng để xác định chi phí tiêu hao cho sản xuất một sản phẩm thì dự toán được xây dựng trên tổng sản lượng sản phẩm của từng
bộ phận và toàn doanh nghiệp Do đó định mức và dự toán có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, định mức chi phí là cơ sở để xây dựng dự toán Nếu định mức chi phí không được xây dựng chính xác thì dự toán của doanh nghiệp cũng không có tính khả thi.Dự toán là cơ sở đánh giá, kiểm tra xem xét định mức đã được xây dựng hợp lý hay chưa
từ đó có những biện pháp hoàn thiện định mức trong tương lai
Định mức chi phí có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, giúp các nhà quản trị ước tính trước sự biến độ chi phí trong tương lai, chủ động trong việc định hướng phát triển, sử dụng điều kiện sản xuất một cách tối ưu Căn cứ vào định mức chi phí các bộ phận thực hiện tốt trong việc kiểm soát và tiết kiệm chi phí
Các loại định mức chi phí trong doanh nghiệp:
- Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Định mức chi phí nhân công trực tiếp
- Định mức chi phí sản xuất chung
- Định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp thương mại, định mức chi phí chủ yếu là Định mức chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
1.4.2 Hệ thống báo cáo trách nhiệm
Hệ thống báo cáo thực hiện trong kế toán quản trị chủ yếu thực hiện dưới dạng báo cáo trách nhiệm Để tìm hiểu về hệ thống báo cáo trách nhiệm trước hết ta tìm hiểu về trung tâm trách nhiệm:
1.4.2.1 Các trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức mà nhà quản lý của
nó chịu trách nhiệm đối với kết quả hoạt động của chính bộ phận do mình phụ trách Trong một doanh nghiệp có 4 loại trung tâm trách nhiệm là:
Trang 37- Trung tâm doanh thu: Trung tâm doanh thu thường phát sinh tại các
bộ phận bán hàng như Siêu thị, Siêu thị, phòng kinh doanh… Trung tâm trách nhiệm doanh thu gắn với trách nhiệm của các Siêu thị trưởng, trưởng bộ phận bán hàng, trưởng phòng kinh doanh Mục tiêu của trung tâm doanh thu là tối
đa hóa doanh thu trên các thị trường Đầu vào của Trung tâm doanh thu đó là
số lượng và chất lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ chuẩn bị mang đi tiêu thụ Đầu ra của Trung tâm đó là các chỉ tiêu doanh thu bán hàng, tổng số tiền thu
về thể hiện bằng thước đo giá trị
- Trung tâm chi phí:là bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện việc chi
tiêu cho kinh doanh.Kết quả hoạt động của nó được xác định bởi mức thực hiện và dư toán của các khoản chi phí có liên quan Được xếp vào loại trung tâm này là các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp
- Trung tâm lợi nhuận: là bộ phận chịu trách nhiệm cả về chi phí lẫn
doanh thu.Lợi nhuận chính là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí thực hiện trong kỳ.Kết quả hoạt động của trung tâm này được đánh giá trên cơ sở mức lợi nhuận mà từng trung tâm đạt được so với dự toán đã đề ra Các bộ phận bán hàng trong doanh nghiệp, Phòng Tài chính, Phòng Kinh doanh được xếp vào loại trung tâm trách nhiệm này
- Trung tâm đầu tư:là bộ phận mà ngoài việc chịu trách nhiệm về
doanh thu, chi phí, lợi nhuận thì nó còn phải chịu trách nhiệm về vốn đầu tư để tạo ra lợi nhuận đó.Việc đánh giá kết quả hoạt động và trách nhiệm của trung tâm đầu tư được thực hiện trên mức lợi nhuận đạt được và mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn đầu tư bỏ ra để đạt được mức lợi nhuận đó
1.4.2.2 Đánh giá kết quả và hiệu quả của Trung tâm trách nhiệm
Kết quả và hiệu quả hoạt động của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp trên các báo cáo kết quả Báo cáo trình bày một cách hệ thống các chỉ tiêu dự toán
và thực tế của mỗi trung tâm Như trung tâm chi phí tập trung các chi phí thực tế phát sinh và chi phí dự toán, trung tâm doanh thu phản ánh tình hình kinh doanh so với các chỉ tiêu doanh số đề ra
Trang 38Báo cáo kết quả chú trọng vào việc thực hiện các dự toán và phân tích chênh lệch
Vì thế để so sánh đánh giá các khoản chênh lệch một cách phù hợp, đúng đắn, kế toán trách nhiệm cần sử dụng dự toán linh hoạt nhằm cung cấp một mức chuẩn cho việc so sánh, đánh giá tình hình thực hiện dự toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận
1.4.2.3 Các báo cáo trách nhiệm của doanh nghiệp thương mại
Kế toán quản trị trung tâm trách nhiệm rất cần thiết đối với các nhà quản trị doanh nghiệp thương mại nhằm kiểm soát và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, cá nhân trực thuộc Hệ thống báo cáo trách nhiệm được thiết lập để so sánh các chỉ tiêu đã dự toán với kết quả thực hiện của các bộ phận và các biến động được xác định sẽ là căn cứ cho sự đánh giá sự quản lý của các nhà quản trị
a) Đối với trung tâm chi phí
Báo cáo trách nhiệm về chi phí của các bộ phận giúp xác định được mức độ hoàn thành dự toán chi phí một cách chính xác nhằm giúp cho các nhà quản trị có
cơ sở đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của các bộ phận và có thể đề ra các biện pháp tiết kiệm chi phí trong hoạt động kinh doanh
Các chi phí được xác định trong báo cáo chi phí trong doanh nghiệp thương mại là:
- Báo cáo thực hiện chi phí so với dự toán: Báo cáo bao gồm dự toán chi phí, thực hiện chi phí trong tháng, quý, năm đó và tỷ lệ % thực hiện Báo cáo cho một bức tranh toàn diện về các khoản chi của Trung tâm, từ đó nhận biết được chi phí nào đang sử dụng vượt so với kế hoạch từ đó có giải pháp điều chỉnh cho tháng sau
- Báo cáo chi tiết về giá vốn hàng bán: Đây là báo cáo chi tiết về giá vốn của hàng hóa Giá vốn ảnh hưởng đến lợi nhuận gộp của Trung tâm, giá vốn càng thấp thì lợi nhuận gộp càng cao, do vậy các doanh nghiệp đều cần thiết phải theo dõi tình hình thực hiện giá vốn, từ đó để điều chỉnh giá mua cho phù hợp
- Báo cáo chi tiết về chi phí bán hàng: Báo cáo chi tiết về chi phí bán hàng cho doanh nghiệp nhìn thấy các chi phí phục vụ bán hàng của doanh nghiệp như thế nào, qua đó sẽ điều chỉnh cao hoặc thấp hơn để phù hợp với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 39- Báo cáo chi tiết về chi phí quản lý doanh nghiệp: Báo cáo cung cấp thông tin về chi phí quản lý cho doanh nghiệp, từ đó để biết đang sử dụng chi phí cao hay thấp, chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí không thực tiếp tạo ra doanh thu,
do vậy chi phí này càng thấp càng tốt
b) Đối với trung tâm doanh thu
Báo cáo theo doanh thu có thể tiếp cận nhiều cách khác nhau Doanh thu có thể phân chia theo phạm vi hay mức độ hoạt động, theo khu vực tiêu thụ, từng loại sản phẩm, dây chuyền sản xuất, thời gian tiêu thụ Mục đích chính của việc phân chia này là giúp các nhà quản lý thấy rõ được mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu
và lợi nhuận ở từng mức hoạt động hay từng phạm vi kinh doanh khác nhau Từ đó các nhà quản lý này đưa ra quyết định đúng đắn trong kinh doanh như mở rộng thị trường, chấm dứt hoạt động của một bộ phận nào đó, duy trì hoạt động như ban đầu, tiếp tục đầu tư…
c) Đối với Trung tâm lợi nhuận
Báo cáo kế toán trách nhiệm về lợi nhuận hay báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp cho nhà quản trị cơ sở để đánh giá hoạt động của các bộ phận cũng như toàn bộ doanh nghiệp một cách chính xác thông qua chỉ tiêu lợi nhuận thực hiện, từ
đó nhằm giúp doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định phù hợp cho từng bộ phận cụ thể trong doanh nghiệp của mình
d) Đối với Trung tâm đầu tư
Báo cáo trách nhiệm về đầu tư của các trung tâm thì ngoài việc xác định được mức lợi nhuận thực hiện được nó còn cung cấp cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào từng trung tâm.Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử dụng các thước đo:
- Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI - Return on Investments): là tỷ số giữa lợi nhuận bộ phận và vốn sử dụng bình quân (tài sản được đầu tư) của bộ phận đó
ROI = Thu nhập bộ phận/Vốn sử dụng bình quân
- Lợi nhuận còn lại:là phần còn lại của lợi nhuận hoạt động sau khi trừ
đi lợi nhuận mong muốn tối thiểu từ tài sản hoạt động của trung tâm đầu tư
Trang 40RI = Thu nhập hiện tại – Thu nhập mong muốn
= (ROI hiện tại - ROI mong muốn) x Vốn bình quân
Sự vận động thông tin trong hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm như sau: Trình tự báo cáo thông tin trong hệ thống kế toán trách nhiệm bắt đầu từ cấp quản trị thấp nhất trong tổ chức cho đến cấp cao nhất trong tổ chức.Mức độ chi tiết giảm dần theo sự gia tăng của các cấp quản lý trong tổ chức Mỗi nhà quản trị trong tổ chức nhận được báo cáo của chính bộ phận mình quản lý và báo cáo của bộ phận dưới quyền.Bằng cách này, nhà quản trị có thể đánh giá được hiệu quả công việc của bộ phận mình và bộ phận trực thuộc
Bảng 1.6: Tính toàn ROI của Trung tâm đầu tư
Nguồn:Giáo trình Kế toán quản trị, Nguyễn Ngọc Quang (2009), Nxb Kinh tế quốc dân
1.4.3 Báo cáo thực hiện
1.4.3.1 Báo cáo hàng tồn kho
- Báo cáo này được lập nhằm mục đích đưa ra được nhu cầu sản xuất, mua vào, nhu cầu bán ra, sử dụng sản phẩm hàng hóa trong kỳ về mặt số lượng và giá trị
Từ các số liệu trên so sánh với kế hoạch để xác định biến động như thế nào, xác định số lượng tồn kho cuối kỳ Sau khi xác định được các chỉ tiêu của báo cáo, đưa
ra các đánh giá và những biện pháp nhằm khắc phục tình hình cụ thể nhằm tạo cho doanh nghiệp tránh được tình trạng dự trữ quá nhiều làm ứ đọng vốn hoặc tồn quá ít
so với nhu cầu, làm khan hiếm hàng hóa