Lời Mở ĐầuNgày 7/11/2006, tại Geneve Thụy Sĩ đã diễn ra trọng thể Lễ ký Nghị định thư vềviệc Việt Nam được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đượcđánh giá là sự kiện qua
Trang 1BÀI THẢO LUẬN
CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH NHỮNG THAY ĐỔI TRONG NỀN KINH TẾ
KỂ TỪ KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO Lớp: Kinh tế quốc tế(214)_04_TL1
NHÓM 3 Thành viên
1 Nguyễn Phương Linh ( NT)
Trang 23 Nguyên tắc hoạt động và bộ máy tổ chức
CHƯƠNG II: Thực trạng của Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO
1 Chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam
2 Thực trạng Việt Nam trước khi gia nhập WTO
3 Thực trạng Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Được và Mất
3.1 Về tình hình thương mại và đầu tư tăng trưởng kinh tế
3.2 Về kinh tế vĩ mô và tài chính
3.3 Về kinh tế
3.4 Văn hóa- xã hội
4 Những khó khăn thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO
CHƯƠNG III: Giải pháp, kiến nghị để Việt Nam phát triển vững mạnh trong tổ chứcWTO
1 Giải pháp
2 Kiến nghị
LỜI KẾT
Trang 3Lời Mở Đầu
Ngày 7/11/2006, tại Geneve (Thụy Sĩ) đã diễn ra trọng thể Lễ ký Nghị định thư vềviệc Việt Nam được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đượcđánh giá là sự kiện quan trọng nhất có tác động cực kì to lớn tới kinh tế Việt Nam.Sự kiệnnày mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải vượtqua khi Việt Nam được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu
Như đã biết , Việt Nam chúng ta được đánh giá là 1 nước đang phát triển và thực
sự , chúng ta mới chỉ thoát khỏi khủng hoảng và lệ thuộc kinh tế hơn chục năm.Đối vớiđấu trường kinh tế giới , các sân chơi dường như còn quá xa vời và cao lớn với tầm vócnền kinh tế Việt Nam.Việc chúng ta gia nhập WTO ko mang ý nghĩa thúc đẩy ngay việcphát triển kinh tế những năm đầu này mà mang ý nghĩa quyết định cho tương lai của nềnkinh tế Việt Nam mai sau.Vậy để chuẩn bị tốt cho sân chơi WTO , sẵn sang hội nhập vàobiển kinh tế thế giới mà vẫn giữ cho chúng ta “ hòa nhập chứ ko hòa tan “ , tránh bị khủnghoảng và lệ thuộc kinh tế cũng như giữ vững được lập trường chính trị , thể chế ; chúng tacần 1 lộ trình dài và chắc chắn nhằm giúp kinh tế Việt Nam tránh sock và có thể hòa nhậptrong ổn định với thị trường thương mại lớn nhất Thế Giới này
Thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước Việt Nam.Khi gia nhập WTO ,điều kiện tiên quyết là phải gỡ bỏ gần như hoàn toàn hệ thống thuế với hàng nhập khẩucủa các nước thành viên WTO.Chúng ta không thể đi ngược lại quy định chung củaWTO, 1 mình 1 luật được , đã chấp nhận gia nhập WTO là chúng ta phải chấp nhận luậtchơi của họ , không ưu đãi , không nhượng bộ.Với 1 sân chơi như vậy , việc gia nhập quánhanh sẽ khiến nguồn ngân sách nhà nước Việt Nam có thể sẽ bị ảnh hưởng nặng nề , gâyxáo trộn toàn bộ nền kinh tế vốn bị chi phối bởi ngân sách nhà nước.WTO đã chấp nhậncho chúng ta được phép có 1 khoảng thời gian ổn định và cắt giảm dần hàng rào thuếquan để gia nhập 1 cách toàn diện vào hệ thống WTO.Trước khó khăn và thác thức nhưvậy , Việt Nam chúng ta đã làm gì và cần làm gì để có 1 lộ trình gỡ bỏ hàng rào thuế quan
1 cách an toàn và chắc chắn đối với nền kinh tế của mình
Trang 4CHƯƠNG I: Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức thương mại thế giới
WTO
1 Quá trình hình thành
Tổ chức thương mại thế giới ﴾World Trade Organization - WTO﴿ ra đời trên cơ sở
kế tục tổ chức tiền thân là hiệp định chung về thuế quan và thương mại ﴾ The GeneralAgreement on Tariffs and Trade – GATT ﴿ Đây là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra nhữngnguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính là các
hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và kí kết.
2 Quá trình phát triển
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương
mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước.Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Việclàm tại Havana tháng 3 năm 1948 Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phêchuẩn hiến chương này Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giớidoanh nghiệp Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng đểkiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ(Lisa Wilkins, 1997)
ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương
mại quốc tế vẫn tồn tại Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trongsuốt gần 50 năm sau đó Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, ký kếtthêm nhiều thỏa ước thương mại mới Vòng đám phán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay,kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thếcho GATT Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và
mở rộng Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổchức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể WTO chính thức được thành lập vào ngày 1tháng 1 năm 1995
CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA WTO:
Thương mại không có sự phân biệt đối xử
Trang 5 Tạo dựng môi trường kinh doanh dễ dự đoán.
Bảo đảm thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán
Tạo môi trương cạnh tranh ngày càng bình đẳng
Dành một số ưu đãi thương mại cho các nước đang phát triển
CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA WTO
Trang 6CHƯƠNG II: Thực trạng của Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO
1 Chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam
04-01-1995: Đơn xin gia nhập WTO được Đại hội đồng tiếp nhận
31-01-1995: Ban xem xét công tác gia nhập ﴾WP﴿ của Việt Nam được thànhlập với chủ tịch là ông Eiril Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO
24-08-1995: Việt Nam nộp bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam vàgửi tới ban thư kí WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác.Năm 1998-1999: Các phiên hỏi và trả lời với ban xem xét công tác xét duyệt.Đầu năm 2002: Việt Nma gửi bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ tới WTO
và bắt đầu tiến hành đàm phán song phương với một số thành viên trên cơ sở bảnchào ban đầu về thuế quan và dịch vụ
09-10-2004: Việt Nam và EU đạt thỏa thuận về việc Việt Nam gia nhập WTO
09-06-2005: Việt Nam và Nhật Bản đạt được thỏa thuận cơ bản về vấn đề mởđường cho Việt Nam sớm gia nhập WTO
12-06-2005: Việt Nam cử một phái đoàn đàm phán hùng hậu sang Wshingtontrước thềm chuyến thăm Mỹ chính thức của thủ tướng Phan Văn Khải với quyếttâm đi đến kết thúc đàm phán song phương
18-07-2005: Việt Nam và Trung Quốc đạt thỏa thuận về việc mở cửa thịtrường để Việt Nam gia nhập WTO
31-05-2006: Kí thỏa thuận kết thúc đàm phán song phương với Mỹ - nướccuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương
26-10-2006: Việt Nam hoàn tất đàm phán đa phương tốt đẹp với các nước.Cuộc đàm phán trước đó diễn ra căng thẳng và tưởng chừng không thể kết thúcđược cho đến phút chót
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, nước ta đã chính thức được kết nạp vào tổ chứcnày
2 Thực trạng của Việt Nam trước khi gia nhập WTO
Tổng quan nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 – Đổi mới: “luồng gió mát cho nền kinh tế Việt Nam.
Trang 7Thời kỳ 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn:
lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Đặc biệt, các thành phần kinh tếngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận và bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động Nềnkinh tế dần dần được thị trường hóa.Từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô,đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn Lạm phát được kiềm chế dần dần 6-1991 Phát triển nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước" và "phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa" Thời kỳ 1993-1997 là thời kỳ kinh tế Việt Nam kiềm chế thànhcông lạm phát đồng thời lại tăng trưởng nhanh chóng Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậmlại trong 2 năm 1998-1999 Tuy bắt đầu tăng tốc dần từ năm 2000, nhưng nền kinh tế cólúc rơi vào tình trạng giảm phát và thiểu phát
Xuất khẩu trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 bình quân tăng 50% mỗi năm Tỉ lệnhập siêu so với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gầnnhư cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990
Song song với những nỗ lực tăng sản lượng nông nghiệp.Việt nam đã tìm cáchtăng cường sản phẩm công nghiệp Sản phẩm công nghiệp không những nhiều gấp bội về
số loại mà còn gấp nhiều về sản lượng.Công nghiệp chiếm 32.5 % GDP năm 1999.Tínhđến đầu năm 2005, cả nước có 23.2 nghìn doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động vớitổng số gần 3.2 triệu lao động , tổng số vốn gần 677,2 nghìn tỉ đồng, tài sản cố định 400nghìn tỉ đồng Về thương mại việc mua bán ở trong nước được tự do hóa, nhiều sản phẩm
Trang 8cung đã vượt cầu Hiện Việt Nam có quan hệ với hơn 220 quốc gia và nền kinh tế, kimngạch xuất khẩu tăng 20% /năm liên tục trong nhiều năm qua, giá trị kim ngạch xuất khẩunăm 2006 tương đương trên 60% GDP cả nước.
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng tới 60 lần, từ mức 789 triệu USD năm 1986 lênhơn 48,5 tỷ USD năm 2007 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triểnchính thức (ODA) liên tiếp lập những kỷ lục mới trong năm 2007 với mức cam kết lầnlượt là 21,3 tỷ USD và 5,4 tỷ USD
Kể từ 1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc trên hầu hết các lĩnhvực, tạo nên thế và lực mới, và mở ra rất nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển cho đấtnước Liên tục trong vòng 20 năm, tăng trưởng kinh tế khá cao, GDP tăng bình quân 7%/năm, riêng năm 2005 và 2006 tăng trưởng trên 8%/năm Đất nước đã chuyển mạnh sangnền kinh tế thị trường và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới Chính phủ ViệtNam đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Cùng với Trung Quốc, Nam Phi, và Vê-nê-zu-ê-la, đầu tháng 5/2007, tổ chức ASEAN đã chính thức ra tuyên bố công nhận ViệtNam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ Theo số liệu của IMF, tổng sản phẩm quốc dâncủa Việt Nam tăng từ 45 tỷ USD năm 2004 lên hơn 60 tỷ USD năm 2006, kim ngạch xuấtkhẩu trung bình hàng năm đạt 40 tỷ USD, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vượttrên 10 tỷ USD.riêng năm 2006 đã thu hút được 10,2 tỷ USD
Những thành tựu kinh tế chung của đất nước đã góp phần cải thiện đời sống cáctầng lớp nhân dân Công cuộc xoá đói giảm nghèo đạt kết quả nổi trội, Việt Nam đã hoànthành mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa nghèo trước thời hạn 10 năm, tỷ
lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 19% năm 2006
Chỉ số phát triển con người của Việt Nam do UNDP công bố đứng ở mức khá cao
so với các nước đang phát triển cùng mức thu nhập bình quân đầu người
3 Thực trạng của Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Được và mất.
3.1 Về thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế:
Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 và 2008 tương ứng đạt 48,6 tỷ và 62, 9 tỷ USD, tăngtương ứng 21,9% và 29,5%; Riêng năm 2008 nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt thép, vàng và
Trang 9yếu tố tăng giá thì xuất khẩu hàng hoá chỉ tăng 13,5%; Như vậy có thể nói, xuất khẩu vẫnchưathể hiện mức độ bứt phá so với các năm trước.
Tổng đầu tư xã hội năm 2007 đạt tới 44% GDP và năm 2008 ước khoảng 43,1% GDP.FDI bùng phát kể từ năm 2007 FDI đăng ký tới 21,3 tỷ USD mức cao nhất kể từ khi cóLuật Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1987 thực hiện đạt trên 8 tỷ USD riêng phần vốnnước ngoài là 6,7 tỷ USD Các con số về vốn cam kết và thực hiện giải ngân tương ứngnăm 2008 là 60.3 tỷ USD, 11,5 tỷ USD Vốn đầu tư nhà nước năm 2007 vẫn chiếm tỷtrọng tới 47,2% tổng vốn đầu tư xã hội; đặc biệt, đầu tư của khu vực DNNN năm 2007tăng rất mạnh Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước trong tổng vốn đầu tư xãhội đã giảm đáng kể, từ 37-38% giai đoạn 2004-2006 xuống còn 31,6% năm 2007 Sangnăm 2008, vốn đầu tư nhà nước năm chiếm tỷ trọng 41,3% tổng vốn đầu tư xã hội; trongkhi đó khu vực ngoài nhà nước chiếm 41,3% và khu vực đầu tư nước ngoài chiếm 29,8%.Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 tiếp tục đà tăng trưởng của những năm trước đó vàđạt 8,5% Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chậm cải thiện Tăng trưởng GDP năm 2008 chỉ đạt6.23%
3.2 Về ổn định kinh tế vĩ mô và tài chính:
Lạm phát (tốc độ thay đổi chỉ số giá tiêu dùng CPI so với tháng 12 năm trước) năm
2007 là 12,6% và năm 2008 – 19,98% Đây là 2 năm có lạm phát cao kỉ lục có sự leothang kể từ năm 1995 Có nhiều nguyên nhân, song sự lúng túng, bất cập trong điều hànhchính sách kinh tế vĩ mô, nhất là trong năm 2007 và quí I/2008 đã làm xấu thêm tình hình
Do nhập khẩu tăng quá nhanh, nên thâm hụt thương mại hàng hoá năm 2007 và 2008tương ứng lên tới 14,1 tỷ USD và 17,5 tỷ USD (dù đã có xu hướng giảm theo tháng).Năm 2007, nhờ các khoản tiền kiều hối và lao động từ nước ngoài chuyển về, FDI, ODA,
và đầu tư gián tiếp,… tăng mạnh nên cán cân thanh toán quốc tế tổng thể có thặng dư hơn
10 tỷ USD Trong nửa năm đầu năm 2008, khả năng tài trợ cho thâm hụt thương mại trởnên thiếu bền vững hơn; cán cân thanh toán tổng thể vẫn có thặng dư, song thấp chỉkhoảng 0,5 tỷ USD
Năm 2006-2007 chứng kiến sự bùng nổ thị trường chứng khoán, các hoạt động tàichính, ngân hàng Các chỉ số đo độ sâu tài chính (như tín dụng/GDP và M2/GDP) và qui
Trang 10mô thị trường chứng khoán (như mức độ vốn hoá, số doanh nghiệp niêm yết, số công tychứng khoán,…) đều tăng cao Hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam đã
có bước phát triển nhất định Tuy nhiên, rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro bất ổn hệ thốngngân hàng tăng lên Một số ngân hàng đã và đang phải đối mặt với các vấn đề kém thanhkhoản và tỷ lệ nợ xấu tăng
Thu Ngân sách nhà nước năm 2007 và 2008 tăng đáng kể; riêng thu từ hoạt động xuấtnhập khẩu năm 2007 tăng 15,4% so với năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2008 tăng 53,7%(do nhập khẩu hàng hoá bùng nổ) Tuy nhiên, tính bất định của thu NSNN trong thời còncao, trong khi sức ép tăng chi thường xuyên và chi đầu tư, nhất là cho phát triển kết cấu
hạ tầng vẫn rất lớn
3.3 Về kinh tế
Tác động đến cơ cấu kinh tế
Tăng trưởng kinh tế sau một năm gia nhập WTO đã đạt mức cao nhất trong vòng hơn
10 năm vừa qua Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng khai thác lợi thế so sánh với tốc
độ tăng trưởng của khu vực sử dụng nhiều lao động cao hơn so với khu vực sử dụng ít laođộng
Nền kinh tế chịu tác động không lớn từ những biến động kinh tế thế giới Đầu tư trongnước và tiêu dùng là những nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao
Về kim ngạch xuất khẩu
5 năm tham gia WTO, các hoạt động kinh tế đối ngoại là lĩnh vực đạt được nhữngbước phát triển mạnh mẽ nhất Độ mở của nền kinh tế Việt Nam ngày càng rộng, với tổngkim ngạch xuất - nhập khẩu hàng năm gấp khoảng 1,5 lần GDP thông qua sự "bùng nổ"
về xuất khẩu Theo số liệu của Bộ Công Thương, tốc độ tăng của xuất khẩu Việt Namtrung bình trong 5 năm ở mức 19,52%/năm Đáng chú ý, dù kinh tế đất nước gặp nhiềukhó khăn nhưng trong năm 2010 xuất khẩu vẫn đạt 72,2 tỷ USD (tăng 26,4%) và năm
2011 tăng lên 96,3 tỷ USD (tăng 33%) Bên cạnh đó, thị trường thương mại được mởrộng, đến năm 2010 đã có 19 thị trường Việt Nam xuất khẩu đạt từ 1 tỷ USD trở lên,trong đó đầu bảng là Mỹ, đạt 14, 2 tỷ USD, tiếp đến là Nhật Bản và Trung Quốc Tăngtrưởng trong lĩnh vực xuất khẩu đã thúc đẩy các lĩnh vực dịch vụ phân phối, bán lẻ phát
Trang 11triển mạnh Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã hình thành và khẳng định tên tuổi trênthị trường quốc tế.
Tác động đến nguồn thu ngân sách
Việt Nam không gặp phải vấn đề nghiêm trọng đối với nguồn thu ngân sách như nhiềuquốc gia khác Thâm hụt ngân sách vẫn nằm trong tầm kiểm sóat của Chính phủ cho dù tỷtrọng nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm Lý do chủ yếu là việc giảm thuế suất của ViệtNam diễn ra theo lộ trình; đồng thời kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh đã làm tăng diệnthu thuế và bù đắp cho việc giảm thuế suất
Khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa Việt Nam vẫn được duy trì, chủ yếu do sựmất giá của đồng đô la Mỹ với các đồng tiền của các bạn hàng thương mại chính của ViệtNam và do việc gắn đồng nội tệ với đô la Mỹ Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu việctrung hòa hóa lượng tiền phát hành thêm không thực hiện hiệu quả và lạm phát vẫn ở mứccao, Việt Nam sẽ mất khả năng cạnh tranh về giá đối với các đối thủ chính trong khu vực,đặc biệt khi đồng đô la Mỹ phục hồi giá trị so với các ngoại tệ mạnh khác
Tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký lên mức kỷ lục hơn 20 tỷ đô la Mỹ trong năm
2007 và đã đóng góp quan trọng vào phát triển các ngành công nghiệp Tuy nhiên, cácngành công nghiệp nhẹ, nơi Việt Nam có lợi thế so sánh, chỉ thu hút được khối lượngkhiêm tốn vốn đầu tư Thu hút đầu tư vào những ngành có giá trị gia tăng cao như tàichính, ngân hàng, viễn thông và công nghệ cao vẫn còn hạn chế
Sau 5 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã thu hút mạnh mẽ FDI nhờ có môi trường ổnđịnh, minh bạch Nếu như năm 2006, vốn FDI đăng ký đạt trên 10 tỷ USD thì tới năm
2008 đã tăng lên 64 tỷ USD, năm 2010 và năm 2011 mức thu hút có giảm hơn chủ yếu do