1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tối đa nguồn gây ônhiễm môi trường nhưng vẫn đảm bảo duy trì sản xuất cho các cơ sở

13 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 54,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường trong làng nghề đang ở mức “báo động đỏ” gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống sinh hoạt, sản xuất của người dân nơi đây: không chỉ là khói bụ

Trang 1

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài:

Là địa phương có diện tích nhỏ nhất, nhưng Bắc Ninh là một trong những tỉnh có nhiều làng nghề nhất cả nước Toàn tỉnh có hơn 61 làng nghề, trong

đó có 31 làng nghề truyền thống, thu hút gần 80 nghìn lao động, tiêu biểu như: làng nghề tái chế giấy Phong Khê, đúc nhôm chì Văn Môn, sản xuất sắt thép tái chế Đa Hội, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, làm bún Khắc Niệm Làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Ninh phát triển từ lâu đời, đa dạng về ngành, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Từ cảnh khó khăn của một làng nghề làm giấy dó thủ công, Phong Khê (thuộc phường Phong Khê, tỉnh Bắc Ninh) đã trở thành đầu tàu về phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh Phong Khê nối tiếng là nơi sản xuất và tái chế giấy lớn nhất miền Bắc, mỗi năm đóng góp vào ngân sách địa phương khoảng 50 – 60 tỷ đồng

Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường trong làng nghề đang ở mức “báo động đỏ” gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống sinh hoạt, sản xuất của người dân nơi đây: không chỉ là khói bụi độc hại thải ra môi trường hàng ngày, rác thải tràn ngập đường làng ngõ xóm, thậm chí các ao hồ đặc biệt là dòng sông Ngũ Huyện Khê chảy qua địa phương đang phải chịu một lượng lớn nước thải độc hại chưa qua xử lý, dẫn đến tình trạng chất lượng môi trường càng ngày càng tồi tệ Bên cạnh đó, sản xuất tại làng nghề còn thủ công, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu còn thấp, hóa chất độc hại được sử dụng hàng ngày nhằm mục đích hạ giá thành sản phẩm; ý thức của người dân trong bảo

vệ môi trường và sức khỏe còn chưa cao Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến sức

Trang 2

khỏe và đời sống của người lao động làng nghề cũng như môi trường sống của các khu lân cận

Trước phản ánh về tình trạng ô nhiễm nặng nề ở phường Phong Khê,

TP Bắc Ninh do nhà máy sản xuất giấy gây ra, ông Lưu Xuân Hùng, Chi cục trưởng Bảo vệ môi trường (Sở TN&MT tỉnh Bắc Ninh) cho biết, làng nghề giấy Phong Khê là 1 trong 5 cơ sở thuộc danh mục cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng phải xử lý Với tất cả các lý do nêu trên, việc giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề giấy Phong Khê là rất quan trọng Để có cơ sở giải quyết tình trạng này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu những vấn đề còn tồn tại xung quanh việc sản xuất và tái chế giấy ở Phong Khê, Bắc Ninh

1.2. Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài của chúng tôi nhằm những mục tiêu sau:

- Nêu lên thực trạng môi trường (mức độ ô nhiễm), đời sống của người dân trong khu vực bị tác động bởi quá trình sản xuất và tái chế giấy ở Phong Khê

- Chỉ ra các vấn đề còn tồn tại ở địa phương trong công cuộc giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường

- Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tối đa nguồn gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn đảm bảo duy trì sản xuất cho các cơ sở

1.3. Giới hạn nghiên cứu:

- Địa điểm: nghiên cứu được tiến hành tại làng nghề giấy Phong Khê, Bắ Ninh

- Thời gian:

Trang 3

1.4. Nội dung nghiên cứu:

- Phân tích hiện trạng sản xuất và tái chế giấy của làng nghề

- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề

- Xác định các nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường

- Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm

1.5. Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp kế thừa:

 Thu thập các tài liệu khoa học, các tạp chí khoa học, đề tài nghien cứu, số liệu về vấn đề nghiên cứu

 Tham khảo, kế thừa các tài liệu, các đề tài đã được tiến hành trước đó có liên quan đến khu vực nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp, phân tích: từ các cơ quan, tờ báo, bài nghiên cứu có độ tin cậy

PHẦN 2: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ GIẤY PHONG KHÊ, BẮC NINH.

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lý luận.

1.1. Làng nghề truyền thống là gì?

Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại đa số bộ phận dân

số làm nghề cổ truyền Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời, được lưu giữ qua nhiều thế hệ (kiểu cha truyền con nối) hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm

1.2. Đặc điểm làng nghề thủ công truyền thống:

- Tồn tại ở nông thôn và gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

- Thường sử dụng nguyên liệu tại chỗ

- Công nghệ sản xuất thường thô sơ, đơn giản, lạc hậu với kỹ thuật thủ công

là chủ yếu

- Lao động trong các làng nghề chủ yếu là lao động thủ công

- Sản phẩm mang tính đơn chiếc, có tính mĩ thuật cao, đậm đà bản sắc dân tộc

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm thường mang tính địa phương, tại chỗ, nhỏ hẹp

- Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một số làng nghề

đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân

1.3. Môi trường là gì?

Theo Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2005 chương 1, điều 1 xác định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

Một định nghĩa rõ ràng hơn: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố

tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế

Trang 5

1.4. Chức năng của môi trường:

- Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật Trong quá trình tồn tại

và phát triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, nhà ở cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác Tất cả các nhu cầu này đều

do môi trường cung cấp Tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và ở từng thời kì

- Môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã hội

- Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường Các tài nguyên sau khi hết hạn

sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải Các chất thải này

bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người Tuy nhiên chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường

1.5. Ô nhiễm môi trường là gì:

- Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường"

- Theo từ điển OXFORD: Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận

Trang 6

1.6. Phân loại ô nhiễm môi trường:

- Ô nhiễm môi trường không khí là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần và tính chất dưới bất kỳ hình thức nào

- Có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, gây hại đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh

- Khí quyển có khả năng tự làm sạch để duy trì sự cân bằng giữa các quá trình Những hoạt động của con người vượt quá khả năng tự làm sạch, có

sự thay đổi bất lợi trong môi trường không khí thì được xem là ô nhiễm môi trường không khí

(Theo giáo trình “Ô nhiễm môi trường” - Trường đại học Nông Lâm - Thái Nguyên )

- Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hóa học

- sinh học của nước

- Các chất lạ xuất hiện ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước

(Hoàng Văn Hùng giáo trình ô nhiễm môi trường - Trường đại học Nông Lâm - Thái Nguyên)

- Ô nhiễm đất là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất

- gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và những phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp

lý các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất

- do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất

Trang 7

Ô nhiễm tiếng ồn:

- Tiếng ồn là tổng hợp của nhiều thành phần khác nhau được tổng hợp trong

sự cân bằng biến động

- Tiếng ồn là âm thanh không mong muốn hay âm thanh được phát ra không đúng lúc, đúng chỗ

- Mỗi thành phần có vai trò riêng trong việc gây ồn Nó khác nhau với những người khác nhau, ở những chỗ khác nhau và trong thời điểm không giống nhau

- Ô nhiễm tiếng ồn như một âm thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi làm ảnh hưởng đến con người và môi trường sống của con người bao gồm đất đai, công trình xây dựng và động vật nuôi ở trong nhà (Theo giáo trình

ô nhiễm môi trường - Trường đại học Nông Lâm - Thái Nguyên)

1.7. Suy thoái môi trường:

- Là sự suy giảm khả năng đáp ứng các chức năng của môi trường: mất nơi

cư trú an toàn, cạn kệt tài nguyên, xả thải quá mức, ô nhiễm

- Nguyên nhân gây suy thoái môi trường rất đa dạng: Sự biến động của tự nhiên theo hướng không có lợi cho con người, sự khai thác tài nguyên quá mức cho phép, do mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng dân số, nghèo đói, bất bình đẳng

1.8. Các khái niệm chất thải rắn:

- Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình ( bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và sự duy trì tồn tại của cộng đồng )

- Chất thải rắn sinh hoạt: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng

- Thu gom chất thải rắn: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói, lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom

- Lưu giữ chất thải rắn: là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý

Trang 8

- Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng

- Xử lý chất thải rắn: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn và tái chế lại các thành phần có ích

- Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp

Chương 2: Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề tái chế giấy Phong Khê, Bắc Ninh và đề xuất giải pháp.

2.1. Thực trạng môi trường làng nghề tái chế giấy Phong Khê, Bắc Ninh:

Hiện nay, Bắc Ninh có 6 làng nghề được liệt kê trong danh sách ô nhiễm trầm trọng: làng nghề tái sản xuất giấy Phong Khê (TP Bắc Ninh); làng bún Khắc Niệm (xã Khắc Niệm, TP Bắc Ninh); làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá (Yên Phong); làng nghề đúc đồng Đại Bái (Gia Bình); làng nghề tái chế thép Đa Hội (thị xã Từ Sơn); làng đúc đồng Quảng Bố (Lương Tài) Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch của nhiều làng nghề ở Bắc Ninh đã dẫn đến tình trạng

ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng tại khu vực

Công nghệ sản xuất giấy các loại ở Phong Khê có nhiều biến động từ khi hình thành cho đến thời điểm hiện tại Trước đây, Phong Khê sản xuất giấy dó

là chính (nguồn cung cấp giấy cho làng tranh Đông Hồ) Hiện nay, sản phẩm của Phong Khê rất đa dạng: giấy dó, giấy vệ sinh, giấy ăn, giấy vàng mã, giấy bao gói, bìa cát tong (chủ yếu được làm từ giấy phế liệu) Theo số liệu của UBND phường Phong Khê (tháng 8/2015), địa phương hiện có 95% hộ dân làm nghề,

Trang 9

với 203 DN trên địa bàn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và tái chế giấy sinh hoạt Tuy nhiên, chỉ có một vài cơ sở áp dụng công nghệ xử lý nước thải, còn lại hầu hết đều thải trực tiếp ra ngoài môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái của địa phương cũng như cuộc sống của người dân khu vực lân cận

Hình 2.1 Doanh Nghiệp và cơ sở sản xuất giấy trong làng nghề Phong Khê

từ 2010-2016

(Nguồn: Đinh Công Tuấn, Tạp chí VHNT số 353)

Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy số doanh nghiệp và số cơ sở sản xuất giấy đang ngày càng tăng lên trong giai đoạn từ năm 2010-2016 (tăng

33 doanh nghiệp và 69 cơ sở) Nghề giấy đã khẳng định sức hút đối với các doanh nghiệp cả trong nưuớc và ngoài nước; góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương; duy trì, phát triển và nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm giấy.[1]

Trang 10

Theo số liệu của cơ quan chức năng tỉnh Bắc Ninh, mỗi ngày làng nghề tái chế giấy Phong Khê thải ra môi trường khoảng 4.500 - 5.000 m3 nước thải chứa lượng độc tố cao gấp hàng chục lần, thậm chí là hàng trăm lần tiêu chuẩn cho phép Cụ thể là: hàm lượng chất rắn lơ lửng cao hơn từ 4,5 - 11 lần; hàm lượng COD cao hơn từ 8 - 500 lần; hàm lượng Pb cao hơn 5,5 lần… Hơn nữa, trong quá trình sản xuất, các loại hoá chất như phèn, nhựa thông, phẩm màu được pha lẫn vào trong nước; cộng với việc người dân thải ra một cách bừa bãi, thiếu ý thức, dẫn đến việc những con mương quanh làng bị ô nhiễm, nồng nặc mùi hôi thối [2, 3]

Đường vào làng nghề giấy Phong Khê (huyện Yên Phong) đầy những ổ gà, ổ voi do hàng trăm chuyến ô tô chở giấy phế liệu qua lại mỗi ngày

Từ đầu làng đến cuối phố, xe cộ chở hàng nườm nượp, khói bụi xám xịt bầu trời Người dân còn khổ sở bởi khói thải từ các nhà máy Họ luôn phải đóng kín cửa để tránh khói và bụi bay vào nhà Máy móc của các nhà máy liên tục hoạt động gây nên tiếng ồn rất khó chịu Trong làng, những khối bìa, giấy vụn đang chờ được tái chế chất cao ngất Khắp làng nồng nặc mùi hóa chất, tạp chất thải ra trong quá trình sản xuất Bụi giấy và khói than ở khắp nơi Suốt chiều dài khoảng 2km từ địa phận xã Phú Lâm (huyện Tiên Du) đến phường Phong Khê (TP Bắc Ninh), dòng sông Ngũ Huyện Khê chỉ một màu đen đặc, được ví von như “Thị Vải 2” hay “dòng sông chết” bởi tình trạng ô nhiễm trầm trọng của nó Dọc hai bên bờ, hàng trăm nhà máy giấy thường xuyên hoạt động, ống khói xả lên trời, đường ống nước thải xả thẳng ra sông, tạo ra một hiện tượng kinh hoàng Kết quả phân tích

đã chỉ ra: hầu hết các chỉ số ô nhiễm môi trường trong mẫu bùn ở đáy sông Ngũ Huyện Khê, đoạn đi qua làng nghề Phong Khê đều cao hơn so với đoạn trước khu vực làng nghề từ 1 - 2 lần, có đoạn vượt từ 6,8 - 8 lần

Trang 11

Lâu nay người dân ở khu vực ngày đêm phải sống khổ sở vì nhiều loại ô nhiễm chồng chất: từ bầu không khí đến nguồn nước Tình trạng xuống cấp

và ô nhiễm của dòng sông Ngũ Huyện Khê đang ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống của người dân quanh khu vực Thậm chí nguồn nước ngầm còn xuất hiện váng và có mùi tanh khó chịu khiến người dân lo sợ, nhưng họ vẫn phải nhắm mắt sử dụng vì không có sự lựa chọn khác Nguồn nước sinh hoạt của người dân

bị ô nhiễm nặng, đồng ruộng không thể trồng trọt, ao hồ khổng thể nuôi trồng thủy sản và mất chức năng điều tiết

Nguồn nước ô nhiễm còn là mầm mống cho nhiều bệnh tật phát sinh

Từ trẻ con cho đến người lớn trong làng thường xuyên bị mắc các bệnh về đường

hô hấp như ho, viêm phổi… Có một thực tế đau lòng: “Tỷ lệ người dân địa phương bị mắc bệnh hô hấp lên đến 40% và bệnh ngoài da hơn 30%, cao gấp nhiều lần so với địa phương lân cận” Theo thống kê, tỷ lệ người mắc bệnh trong vùng cao hơn hẳn so với các địa phương khác và cao hơn rất nhiều so với những năm trước Số ca ung thư trung bình từ 10-13 người/năm (ước tính trung bình mỗi tháng có một ca)

Để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ở Phong Khê, tháng 3/2013 UBND tỉnh đã khởi công xây dựng Nhà máy xử lý nước thải tập trung tại làng nghề này với tổng kinh phí là 397 tỷ đồng (từ nguồn kinh phí hỗ trợ từ Trung ương, ngân sách của tỉnh và nguồn vốn đóng góp của các doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn) Đến tháng 7/2016, công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 với công suất xử lý đạt 5.000 m3 nước thải/ngày Giai đoạn 2, nhà máy sẽ nâng công suất lên 10.000 m3/ngày nhằm đáp ứng toàn bộ lượng nước thải của làng nghề và một số khu vực lân cận

Ngày đăng: 27/06/2021, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w