Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin; là “khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát tri
Trang 1I Lời mở đầu:
Bộ môn triết học Mác – Lê-nin có vai trò rất quan trọng đối với nhận thức, quan điểm của mỗi người Không ai có thể phủ nhận vai trò của triết học Mác – Lênin và tầm quan trọng của việc vận dụng các lý luận, quy luật của nó trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động lao động sản xuất của mỗi người
Khi nắm được những kiến thức cơ bản của triết học Mác – Lênin, chúng ta sẽ
dễ dàng hơn trong quá trình tương tác, làm việc cũng như quản lý tốt hơn các hoạt động của chúng ta trong thực tiễn Bởi như Lênin đã nhận xét, triết học Mác như “là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị”1 và là “một công cụ nhận thức vĩ đại”2 Ý
thức được tầm quan trọng này, tôi mong muốn tìm hiểu về các nội dung của thế giới
quan duy vật và phép biện chứng duy vật, từ đó vận dụng các quan điểm của thế giới
quan duy vật và áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng cho công tác chuyên môn của bản thân
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan
và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin; là “khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển; là những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của
tự nhiên, xã hội và tư duy”3
Trong phạm vi của quyển tiểu luận này, tôi xin được trình bày các cơ sở lý luận
chung về thế giới quan duy vật và phép biện chứng duy vật, trên cơ sở đó sẽ trình bày
các nguyên tắc phương pháp luận duy vật biện chứng và vận dụng các nguyên tắc này vào trong hoạt động quản lý công tác chuyên môn tôi đang phụ trách
Bằng phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh với một số sách tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, mong rằng những cơ sở lý luận đó sẽ được vận dụng vào thực tiễn và cuộc sống, tỏng côngt ác quản lý chuyên môn nhà trường
1 ,2 V.I.Lênin, Toàn tập, t.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.54
2
3 Nguyễn Văn Tài – Phạm Văn Sinh, Giáo trình Triết học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2019, tr.110
Trang 2II Thế giới quan duy vật:
1 Thế giới quan duy vật:
Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế
giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó Thế giới quan đóng vai trò định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, từ thực tiễn đến hoạt động nhận thức thế giới cũng như tự nhận thức bản thân để từ đó xác định lý tưởng, hệ giá lối sống, nếp sống của mình
Thế giới quan duy vật cho rằng giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có
trước, cái quyết định ý thức Thế giới vật chất là “thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con người, và được ý thức con người phản ánh”4 Triết học Mác – Lênin chứng minh bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất và được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới
vật chất có trước, tồn tại khách quan và độc lập với ý thức con người
Ví dụ: Từ trường của Trái Đất là dạng vật chất đã xuất hiện cùng với sự hình thành của Trái Đất và hiện hữu cùng Trái Đất mà ý chí của con người không thể quyết định được sự tồn tại và biến mất của nó
Hai là, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với
nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, do vật chất sinh ra và chịu sự chi phối của các quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất
Ví dụ: Có những vật chất hữu hình, có hình dạng và quan sát được như những vật rắn, được cấu tạo từ các hạt vi mô như nguyên tử, phân tử Bản thân nguyên tử, phân tử lại được cấu tạo từ những hạt nhỏ hơn như electron, proton, nơtron Bên cạnh
đó, vật chất còn tồn tại dưới dạng trường như trọng trường tồn tại xung quanh các vật thể, điện trường tồn tại xung quanh các điện tích, dạng vật chất này không quan sát được bằng thị giác nhưng những biểu hiện của chúng giúp con người nhận thức được
nó Bản thân các vật chất dạng trường này lại tồn tại phụ thuộc vào các vật chất dưới dạng hạt và ngược lại
4 V.I.Lênin, Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.322.
Trang 3Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận Vật chất không được
sinh ra và không bị mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác
Ví dụ: Vũng nước sau một thời gian thì không còn nữa, tuy nhiên vũng nước không phải bị mất đi mà nó đã bay hơi và vì vậy trở thành những phân tử hơi nước lơ lửng trong không khí
Tóm lại, theo Ăngghen thì “tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó”5 mà “tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó”6
2 Phạm trù vật chất và ý thức:
Phạm trù vật chất được Lênin định nghĩa như sau: “Vật chất là phạm trù triết
học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”7 Qua định nghĩa vật chất của Lênin, ta có thể rút ra những nội dung cơ bản như sau:
Một là: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan:
* Khi nói vật chất là một phạm trù triết học - nó là sự trừu tượng
* Song, sự trừu tượng này lại chỉ rõ cái đặc trưng nhất, bản chất nhất mà bất kỳ mọi sự vật hiện tượng cụ thể nào cũng có đó là: tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người Đặc tính này là tiêu chuẩn cơ bản duy nhất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất
Do đó, khi nghiên cứu nội dung này cần phải chú ý cả hai khía cạnh phân biệt nhau nhưng lại gắn bó với nhau: đó là tính trừu tượng và tính cụ thể của vật chất
+ Nếu chỉ thấy tính trừu tượng, thổi phồng tính trừu tượng, mà quên mất biểu hiện cụ thể của vật chất thì không thấy vật chất đâu cả, rơi vào chủ nghĩa duy tâm
+ Ngược lại: nếu chỉ thấy tính cụ thể của vật chất sẽ đồng nhất vật chất với vật thể
Hai là: Thực tại khách quan được đem lại cho con người ta trong cảm giác và
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Với nội dung này, V.I Lênin muốn chỉ rõ:
5 ,7 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995, tr.67.
6
7 V.I.Lênin, Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.151.
Trang 4* Thực tại khách quan (tức vật chất) là cái có trước ý thức, không phụ thuộc vào
ý thức, còn cảm giác (tức ý thức) của con người có sau vật chất, phụ thuộc vào vật chất
* Vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách quan của tri thức, là nguyên nhân phát sinh ra ý thức, không có cái bị phản ánh là vật chất thì sẽ không có cái phản ánh
là ý thức
* Ý nghĩa của nội dung này: nó chống lại mọi luận điệu sai lầm của chủ nghĩa
duy tâm (cả khách quan và chủ quan và nhị nguyên luận) là những trường phái triết học cố luận giải tinh thần là cái quyết định mọi sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh
Ba là: thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh Với nội dung này, Lênin muốn chứng minh rằng:
* Vật chất tồn tại khách quan, dưới dạng các sự vật hiện tượng cụ thể mà con người bằng các giác quan có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận biết được
* Ngoài dấu hiệu tồn tại khách quan, vật chất còn có một dấu hiệu quan trọng khác là tính có thể nhận thức được Vì vậy, về nguyên tắc, không có đối tượng nào không thể nhận biết được, chỉ có đối tượng chưa nhận thức được mà thôi
* Ý nghĩa của nội dung này: thứ nhất, hoàn toàn bác bỏ thuyết không thể biết;
thứ hai, cổ vũ động động viên các nhà khoa học đi sâu vào thế giới vật chất, phát hiện
ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới cũng như những quy luật vận động và phát triển của thế giới, từ đó, làm giàu thêm kho tàng tri thức của nhân loại
Phạm trù ý thức: Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào trong
bộ óc con người Khẳng định ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan có nghĩa là nói ý thức không phải là vật chất nhưng ý thức lại có nguồn gốc từ vật chất và thuộc về thế giới vật chất Do đó, Lênin đã viết: “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động”8
Tuy nhiên, ý thức không phải là bản sao giản đơn, thụ động, máy móc của sự vật Ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng tạo Do đó,
ý thức con người là sự phản ánh có tính năng động, sáng tạo, ý thức “chẳng qua chỉ là
8 V.I.Lênin, Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.209 – 210.
Trang 5vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”9 Quá trình ý thức là một quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, sự trao đổi này
mang tính chất hai chiều, có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết
Hai là, mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực
chất đây là quá trình “sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hoá các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất
Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện
thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến cái ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình Điều đó càng nói lên tính năng động sáng tạo của ý thức Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh,
mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức Ý thức - trong bất cứ trường hợp nào - cũng là sự phản
ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động sáng tạo của bộ óc.
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm rằng giữa vật chất và ý thức vừa đối lập với nhau vừa thống nhất với nhau Hay nói cách khác sự đối lập giữa vật chất và ý thức vừa có ý nghĩa tuyệt đối, vừa có ý nghĩa tương đối
Vai trò quyết định của nhân tố vật chất:
- Vật chất có trước, độc lập với ý thức và quyết định ý thức
- Ý thức có sau, phụ thuộc vào vật chất, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người
- Ý thức không thể tồn tại ngoài vật chất, ý thức chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người
9 C.Mác và P.Ăngghen, Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995, tr.67
Trang 6 Vai trò và tác dụng của ý thức:
Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động
thực tiễn của con người Ý thức đúng đắn dựa trên quy luật khách quan của con người
có tác dụng tích cực, làm biến đổi hiện thực, biến đổi hoàn cảnh khách quan theo nhu cầu của mình Ý thức sai lầm, trái quy luật khách quan của con người, có tác dụng tiêu cực, thậm chí phá hoại các điều kiện khách quan, hoàn cảnh khách quan kéo lùi lịch sử
Nói tới vai trò của ý thức về thực chất là nói tới vai trò con người, bởi ý thức là
ý thức của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả Theo Mác, “lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất”10, cho nên muốn thực hiện được tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn
Bởi vậy, vai trò của ý thức, tư tưởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức các quy luật của thế giới khách quan, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, từ đó có ý chí và có phương pháp để tổ chức hành động Cho nên vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người hình thành nên kế hoạch, ý chí, biện pháp cho hoạt động của con người Ở đây ý thức, tư tưởng có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên
cơ sở những điều kiện khách quan nhất định
4 Ý nghĩa phương pháp luận:
Vì vật chất có trước, quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn “phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan” Cụ thể:
+ Phải xuất phát từ điều kiện vật chất khách quan đã và đang có làm cơ sở cho mọi hành động của mình; không được lấy ý muốn chủ quan làm điểm xuất phát
+ Khi đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và các biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cho tổ/nhóm chuyên môn thì cần nắm chắc tình hình thực tế khách quan thì mới nêu ra mục đích, chủ trương đúng từ đó mới đạt kết quả tốt trong các hoạt động thực tiễn
10 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995, tr.580.
Trang 7Vật chất là nguồn gốc khách quan sản sinh ra ý thức, ý thức chỉ là sản phẩm, là phản ánh thế giới khách quan
+ Vì vậy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, biết tạo điều kiện và phương tiện vật chất tổ chức lực lượng thực hiện biến khả năng thành hiện thực
+ Mặt khác, cần nhận rõ vai trò tích cực của nhân tố ý thức, tinh thần trong việc
sử dụng một cách có hiệu quả nhất những điều kiện phương tiện vật chất hiện có
+ Cần phải khái quát, tổng kết hoạt động thực tiễn để thường xuyên nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chỉ đạo thực tiễn, chống tư tưởng thụ động ngồi chờ, ỷ lại vào hoàn cảnh, vào điều kiện vật chất
III Phép biện chứng duy vật:
1 Khái niệm phép biện chứng duy vật:
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ăngghen cho rằng: “Phép
biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
2 Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật:
Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học
Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận hiện chứng duy vật, do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới
Với những đặc trưng cơ bản trên, phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chú nghĩa Mác - Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan vả phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn
3 Các nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật:
Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật bao gồm:
Trang 8a) Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý này khái quát những tính chất chung của các mối liên hệ; nghiên cứu khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; đó là các mối liên hệ: cái chung và cái nêng, tất nhiên
và ngẫu nhiên, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức, khả năng và hiện thực
Nguyên lý về sự phát triển
Nguyên lý này khái quát những tính chất chung của mọi sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời cũng nghiên cứu chỉ
ra những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển; đó là các quy luật: những thay đổi về lượng dẫn tới những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và quy luật phủ định của phủ định Đó là các quy luật về phương thức, nguồn gốc, động lực và khuynh hướng cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên,
xã hội và tư duy
b) Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật:
Phạm trù cái riêng, cái chung
Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất
định; còn phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố,
những quan hệ, lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng
Trong mỗi sự vật, hiện tượng ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất, đó là những đặc tính, những tính chất, chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
Phạm trù nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự
vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất
Trang 9định Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các
mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng
Phạm trù tất nhiên, ngẫu nhiên
Phạm trù tất nhiên dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của
kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định, nó phải xảy ra như thế,
không thể khác Phạm trù ngẫu nhiên dùng để chỉ cái do các nguyên nhân bên ngoài,
do sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định, do đó nó có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc như thế khác
Phạm trù nội dung và hình thức:
Phạm trù nội dung dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những
quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng Phạm trù hình thức dùng để chỉ phương thức tồn
tại và phát triển của sự vật, hiện tượng đó, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó
Phạm trù bản chất và hiện tượng
Phạm trù bản chất dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất
nhiên, tương đối ổn định ở bên trong, quy định sự tồn tại, vận động, phát triển của sự
vật, hiện tượng đó Phạm trù hiện tượng dùng để chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của
những mặt, những mối liên hệ đố trong những điều kiện xác định
Phạm trù khả năng, hiện thực
Phạm trù khả năng dùng để chỉ cái chưa xuất hiện, chưa tồn tại trong thực tế,
nhưng sẽ xuất hiện và tồn tại thực sự khi có các điều kiện tương ứng Phạm trù hiện
thực dùng để chỉ những cái đang tồn tại trong thực tế và trong tư duy.
c) Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật:
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các
quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo quy luật này thì phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự thay đôi về lượng của sự vật, hiện tượng và ngược lại, những sự thay đổi về chất của sự vật,
Trang 10hiện tượng lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp
đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là “hạt nhân” của phép
biện chứng Theo V.I.Lênin “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm”11 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển Theo quy luật này, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển chính là mâu thuẫn khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng
Quy luật phủ định của phủ định là quy luật về khuynh hướng cơ bản, phổ biến
của mọi vận động, phát triển diễn ra trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy: đó là khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mang tính chu kỳ “phủ định của phủ định”
Lý luận nhận thức duy vật biện chứng: Trong chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận nhận thức (hay nhận thức luận) là một nội dung cơ bản của phép biện chứng
Đó là lý luận nhận thức duy vật biện chứng, tức là học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn;
lý giải bản chất con đường và quy luật chung của quá trình con người nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn của con người
d) Ý nghĩa phương pháp luận:
- Từ tính khách quan và phổ biển của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt
11 V.I Lênin, Toàn tập, tập 29, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.240