Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bước đầu đã làm thay đổi mô hình hoạt động, phương thức quản lý của các nông trường quốc doanh phù hợp hơn với sự phát triển chung của nền
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN XUÂN TÍNH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC CÔNG TY LÂM NGHIỆP CÓ NGUỒN GỐC TỪ NÔNG, LÂM TRƯỜNG QUỐC DOANH TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
HUẾ - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN XUÂN TÍNH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC CÔNG TY LÂM NGHIỆP CÓ NGUỒN GỐC TỪ NÔNG, LÂM TRƯỜNG QUỐC DOANH TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Huỳnh Văn Chương, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn ''Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh tại tỉnh Quảng Trị” Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trong suốt thời gian thực tập
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ hoặc chưa được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Huế, ngày 17 tháng 04 năm 2019
Tác giả luận văn
Đoàn Xuân Tính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn ''Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ
nông, lâm trường quốc doanh tại tỉnh Quảng Trị” Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
này, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Huế, Khoa Tài nguyên đất
và Môi trường nông nghiệp, Phòng Đào tạo và các khoa, phòng, đơn vị có liên quan thuộc Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo, PGS.TS Huỳnh Văn Chương, là người hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi hoàn thành Luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị, Thanh tra tỉnh Quảng Trị, Cục Thuế tỉnh Quảng Trị; Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện: Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh; UBND thị xã Quảng Trị và thành phố Đồng Hà; Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Triệu Hải, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Bến Hải; Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đường 9, Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn có liên quan và các hộ gia đình, cá nhân trong vùng nghiên cứu đã tận tình hợp tác, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Tôi xin chân thành cám ơn đến cơ quan, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi hoàn thành Luận văn này
Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những sự giúp đỡ qúy báu đó./
Huế, ngày 17 tháng 04 năm 2019
Tác giả luận văn
Đoàn Xuân Tính
Trang 5TÓM TẮT Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá được tình hình quản lý và sử dụng đất
có nguồn gốc tại các nông trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và đề xuất được các giải pháp để quản lý, sử dụng đất phù hợp đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân địa phương Các mục tiêu cụ thể của đề tài là:
- Đánh giá được thực trạng quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc tại các nông
trường quốc doanh sử dụng qua từng thời kỳ sắp xếp, đổi mới
- Đánh giá được kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng đất có nguồn
gốc tại các nông trường quốc doanh
- Đề xuất được các giải pháp trong quản lý và sử dụng đất phù hợp nhằm đảm
bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân địa phương
Đối tượng nghiên cứu là tình hình quản lý và sử dụng đất có nguồn gốc tại các nông trường quốc doanh Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Cụ thể tại 03 Công ty tiền thân là các nông trường quốc doanh, gồm: Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Triệu Hải, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bến Hải và Công
ty TNHH MTV lâm nghiệp Đường 9
* Những kết quả chủ yếu đã thực hiện được gồm:
- Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Triệu Hải và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bến Hải và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đường 9 Trong đó đã đánh giá được quá trình hình thành và phát triển, vai trò,
vị trí của 03 Công ty đối với việc phát triển kinh tế xã hôi của tỉnh Quảng Trị; điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của 03 Công ty
- Đánh giá được tình hình quản lý nhà nước về đất đai của 03 Công ty qua quá trình sắp xếp, đổi mới Trong đó, đã nêu được tình hình biến động về diện tích đất của các công ty qua các thời kỳ; công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất; công tác đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn trước và sau khi sắp xếp, đổi mới Tình hình thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai; tình hình lấn chiến, tranh chấp đất đai và công tác
thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai tại 03 Công ty
- Đánh giá được tình hình sử dụng đất của 03 Công ty qua quá trình sắp xếp, đổi mới Trong đó, đã nghiên cứu đánh giá được kết quả rà soát, phân bổ sử dụng đất đai của 03 Công ty trước và sau rà soát, sắp xếp và đổi mới theo Nghị định 118/2014/NĐ-
CP của Chính phủ Kết quả hoạt động, sản xuất kinh doanh của 03 Công ty giai đoạn
từ năm 2014 đến nay
Trang 6- Từ kết quả nghiên cứu đã đề xuất được 14 nội dung cần xem xét thực hiện đối với công tác quản lý, sử dụng đất cụ thể tại 03 Công ty và 6 nhóm nội dung về chính sách của Nhà nước cần hỗ trợ thực hiện để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và
sử dụng đất tại của 03 Công ty hiện nay
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài: 2
2.1 Mục tiêu chung: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: 2
3.1 Ý nghĩa khoa học: 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn: 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Vai trò và chức năng của đất đai 7
1.1.3 Nguyên tắc quản lý, sử dụng đất 7
1.1.4 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta 8
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của một số quốc gia trên thế giới 12
1.2.2 Chính sách giao đất, giao rừng ở Việt Nam 15
1.2.3 Quá trình hình thành, phát triển của nông trường quốc doanh ở nước ta 20
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 23
Trang 81.3.1 Các công trình nghiên cứu phân vùng, quy hoạch, đánh giá đất; hệ thống nông
nghiệp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 23
1.3.2 Các công trình nghiên cứu khác có liên quan 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHAM VỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 27
2.3.3 Phương pháp minh họa bằng bản đồ 27
2.3.4 Phương pháp tham vấn chuyên gia 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 28 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường 31
3.1.3 Thực trạng kinh tế - xã hội 38
3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 43
3.2 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước và tình hình sử dụng đất của các Công ty qua quá trình sắp xếp, đổi mới 44
3.2.1 Đặc điểm chung của các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh tại tỉnh Quảng Trị 44
3.2.2 Quá trình hoạt động qua các thời 56
3.2.3 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai 59
3.2.4 Đánh giá tình hình sử dụng đất của các Công ty qua quá trình sắp xếp, đổi mới 69
3.3 Hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất tại các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 85
3.3.1 Những ưu điểm 85
Trang 93.3.2 Những tồn tại, hạn chế 86
3.4 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất tại các Công ty lâm nghiệp 88
3.4.1 Một số đề xuất đối với công tác quản lý, sử dụng đất 88
3.4.2 Đề xuất các chính sách 90
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 92
1 KẾT LUẬN 92
2 ĐỀ NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 10GCN
GTSX
GTGT
Giấy chứng nhận Giá trị sản xuất Giá trị gia tăng
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tổng GDP và thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2011 - 2015 38
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế các ngành qua các năm (Theo giá hiện hành) 39
Bảng 3.3: Giá trị xuất nhập khẩu của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2018 42
Bảng 3.4: Diện tích đất qua các thời kỳ trước khi sắp xếp đổi mới đến năm 2018 59
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả đo đạc địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất của các công ty đến năm 2014 62
Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các loại đất của 03 Công ty lâm nghiệp đến năm 2014 63
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai của 03 Công ty lâm nghiệp từ năm 2014 đến năm 2018 66
Bảng 3.8 Tổng hợp diện tích đất nông nghiệp bị lấn chiếm, tranh chấp của các công ty từ năm 2015 đến năm 2018 68
Bảng 3.9 Hiện trạng sử dụng đất trước khi sắp xếp, đổi mới của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Triệu Hải (năm 2014) 70
Bảng 3.10 Kết quả rà soát, sắp xếp và hiện trạng sử dụng đất sau khi sắp xếp đổi mới của Công ty TNHH MTV Triệu Hải (năm 2017) 72
Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu tài chính, lao động giai đoạn 2014-2018 của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Triệu Hải 74
Bảng 3.12 Hiện trạng sử dụng đất trước khi sắp xếp, đổi mới của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bến Hải (năm 2014) 75
Bảng 3.13 Kết quả rà soát, sắp xếp và hiện trạng sử dụng đất sau khi sắp xếp đổi mới của Công ty TNHH MTV Bến Hải (năm 2017) 77
Bảng 3.14: Một số chỉ tiêu tài chính, lao động giai đoạn 2014-2018 của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bến Hải 79
Bảng 3.15 Hiện trạng sử dụng đất trước khi sắp xếp, đổi mới của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đường 9 (năm 2014) 80
Bảng 3.16 Kết quả rà soát, sắp xếp và hiện trạng sử dụng đất sau khi sắp xếp đổi mới của Công ty TNHH MTV Đường 9 (năm 2017) 82
Bảng 3.17: Một số chỉ tiêu tài chính, lao động giai đoạn 2014-2018 của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đường 9 84
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Sơ đồ ranh giới hành chính tỉnh Quảng Trị 28
Hình 3.2 Sơ đồ hiện trạng quản lý rừng của Công ty Lâm nghiệp Triệu Hải 47
Hình 3.3 Sơ đồ hiện trạng quản lý rừng của Công ty Lâm nghiệp Bến Hải 51
Hình 3.4 Sơ đồ hiện trạng quản lý rừng của Công ty Lâm nghiệp Đường 9 54
Hình 3.5: Biểu đồ so sánh biến động diện tích đất của các Công ty qua các thời kỳ 61
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV Triệu Hải 46
Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV Bến Hải 50
Sơ đồ 3.3: Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV Đường 9 53
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Từ bao đời nay, đất đai và con người là hai yếu tố luôn gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình vận động và phát triển, đất là tư liệu đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Để khai thác tiềm năng, lợi thế đất đai nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng, ở nước ta đã hình thành nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau Đặc biệt, Nông, lâm trường quốc doanh ở nước ta đã hình thành và phát triển hơn 50 năm nay; trải qua nhiều bước thăng trầm, các nông, lâm trường có nhiều thay đổi cả về tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động
Những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các nông trường quốc doanh Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bước đầu đã làm thay đổi mô hình hoạt động, phương thức quản lý của các nông trường quốc doanh phù hợp hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế; thông qua đó công tác quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường quốc doanh cũng đã được rà soát, sắp xếp quản lý, sử dụng ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả hơn; nhiều mô hình sử dụng đất có hiệu quả với các phương thức giao khoán hợp lý, đã hình thành một số vùng chuyên canh hàng hóa tập trung, đáp ứng nhu cầu Nông lâm sản cho nền kinh tế và đời sống xã hội; đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên rừng và môi trường sinh thái
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai trong các Nông, lâm trường còn nhiều tồn tại, như: ranh giới sử dụng đất chưa được cắm mốc phân định rõ ràng; đất đai chưa được đo đạc lập bản đồ địa chính, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nhiều diện tích đất sử dụng không đúng mục đích, cho thuê, cho mượn trái pháp luật; tình trạng lấn chiếm, tranh chấp còn xảy ra nhiều nơi chưa được xử lý dứt điểm Hiệu quả sử dụng đất nói chung còn thấp; các hoạt động sản xuất liên doanh, liên kết liên vẫn còn tồn tại; việc sắp xếp, đổi mới và quản lý các Nông, lâm trường vừa qua vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong hoạt động và hiệu quả khai thác toàn diện rừng trồng và đất đai còn thấp, đời sống của người lao động còn gặp nhiều khó khăn Một số Nông, lâm trường chưa làm tốt vai trò nồng cốt trong sản xuất, trung tâm khoa học kỹ thuật trên địa bàn Hầu hết các Nông trường chỉ chú ý đến khai thác, lợi dụng tài nguyên mà chưa coi trọng việc bảo vệ, nuôi dưỡng Một số Nông, lâm trường được giao diện tích đất quá lớn so với khả năng của mình, trong khi người dân địa phương lại thiếu đất sản xuất dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 03 Công ty lâm nghiệp thuộc sở hữu 100% vốn Nhà nước, có nguốn gốc từ đất nông, lâm trường quốc doanh, gồm: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Triệu Hải), Công
Trang 14ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Bến Hải) và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9 (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Đường 9) Nhằm đánh tình hình quản lý và sử dụng đất trong quá trình sắp xếp, đổi mới tại các nông trường quốc doanh trước đây, nay là các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, tôi chọn đề tài: ''Đánh
giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh tại tỉnh Quảng Trị”
2 Mục tiêu của đề tài:
2.1 Mục tiêu chung:
Đánh giá được thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh tại tỉnh Quảng Trị, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được thực trạng quản lý và sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp
có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh tại tỉnh Quảng Trị qua từng thời kỳ sắp xếp, đổi mới
- Đánh giá được kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng đất các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh
- Đề xuất được các giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất phù hợp với điều kiện thực tế của các Công ty nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
lý, sử dụng đất trong tương lai
- Cung cấp nguồn thông tin làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho chính quyền địa phương và Giám đốc các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp về thực trạng quản lý sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị;
Trang 15- Từ kết quả nghiên cứu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ở tỉnh Quảng Trị điều chỉnh chính sách phù hợp nhằm quản lý chặt chẽ và khai thác có hiệu quả đất tại các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh;
- Đề xuất được các giải pháp phù hợp trong quản lý, sử dụng đất tại Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ trong việc sử dụng đất giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong vùng nghiên cứu
- Làm tài liệu tham khảo cho các địa phương khác trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng; đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người Nói cách khác, không
có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người Do vậy, để có thể sử dụng đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc
hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết Về mặt thuật ngữ khoa học “Đất” và
“Đất đai” có sự phân biệt nhất định Theo các nhà khoa học thì “Đất” tương đương với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó Còn “Đất đai” tương đương với từ “Land” trong tiếng Anh,
nó có nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ
Khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay về đất đai: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát
nước, đường sá, nhà cửa )” [12]
1.1.1.2 Khái niệm về đất lâm nghiệp
Điều 1, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 quy định: “Đất lâm nghiệp được xác định là đất có rừng và đất không có rừng hoặc đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp” Khoản 2, Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNTBTNMT quy định: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo
vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng nhưng chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ
trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”
Trang 171.1.1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp
Sau 13 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của
Bộ Chính trị và hơn 12 năm thực hiện Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ đến nay, các nông, lâm trường đã chuyển đổi thành các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; có nông, lâm trường thì giải thể Một số Công ty nông, lâm nghiệp đã chuyển từ sản xuất chuyên canh, độc canh sang kinh doanh tổng hợp
(nông lâm, lâm nông kết hợp) đổi mới cơ chế quản lý quản trị doanh nghiệp, gắn vùng
nguyên liệu với cơ sở chế biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn Các nông, lâm trường đã làm rõ hiện trạng sử dụng đất đai trên bản đồ; nhiều nông, lâm trường đã lập được phương án quy hoạch sử dụng đất gắn với phương
án sản xuất kinh doanh, quy hoạch 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất); chuyển
giao một phần diện tích đất về cho UBND các xã, góp phần giải quyết cơ bản về vấn
đề đất ở, đất sản xuất cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong khu vực; một số ít Công ty nông, lâm nghiệp thực hiện giao khoán đất cho các hộ gia đình, cá nhân để sản xuất, kinh doanh, đem lại hiệu quả trong việc sử dụng đất Sau khi sắp xếp, có nhiều Công ty nông nghiệp, lâm nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, duy trì và phát triển vùng sản xuất hàng hóa, hiệu quả sử dụng đất được nâng cao, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tiếp tục phát huy tốt vai trò doanh nghiệp trên địa bàn Việc thí điểm cổ phần hóa vườn cây, rừng trồng, gắn với cổ phần hóa cơ sở chế biến đã khẳng định được chủ trương cổ phần hóa nông, lâm trường quốc doanh là phù hợp, bước đầu tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, kết quả sản xuất kinh doanh tăng, nộp ngân sách nhà nước tăng, đời sống người lao động được cải thiện [3]
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém Cụ
thể là: Việc sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường chủ yếu mới là hình thức (tên gọi),
chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý và quản trị doanh nghiệp, nhiều công ty lâm nghiệp lúng túng, khó khăn khi chuyển sang hạch toán, sản xuất kinh doanh theo Luật doanh nghiệp Nhiều tồn tại về quản lý, sử dụng đất chậm được khắc phục, phần lớn diện tích đất và rừng chưa được rà soát, đo đạc trên thực địa, một số diện tích chưa lập được bản đồ địa chính và quy hoạch sử dụng đất; tỷ lệ đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển sang ký hợp đồng thuê đất còn ít Hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên rừng, vườn cây lâu năm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều công ty chưa cao; nhiều công ty nông, lâm nghiệp giao khoán đất cho người lao động nhưng buông lỏng, không quản lý được hợp đồng giao khoán khi công nhân nghỉ hưu hoặc chết, không thanh lý hợp đồng giao khoán Một số nơi có tình trạng khoán trắng, người nhận khoán tự chuyển nhượng hợp đồng khoán, xây dựng nhà ở trên đất giao khoán nhưng chậm được xử lý Một số công ty chưa gắn sản xuất với chế
Trang 18biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm, sản xuất kinh doanh tiếp tục khó khăn; chưa thực hiện được vai trò của doanh nghiệp nhà nước đối với nông dân trên địa bàn [3]
Nguyên nhân của tình trạng trên, ngoài nguyên nhân khách quan, thì nguyên nhân chủ quan là chính Nhận thức của các cấp từ Trung ương đến địa phương chưa đúng mức Cơ chế, chính sách không đồng bộ, không đầy đủ, chưa sát thực tiễn, chưa kịp thời tháo gỡ khó khăn cho đơn vị; tổ chức chỉ đạo thiếu kiên quyết, còn né tránh Theo bảng tin ngành lâm nghiệp cập nhật ngày 22/12/2015; trong tháng 8 năm
2015, Bộ nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) công bố: Số liệu hiện trạng rừng toàn quốc tính đến 31/12/2014 có 13.796.506,0 ha (bao gồm rừng tự nhiên 10.100.186 ha và rừng trồng 3.696.320,0 ha) Mục tiêu đề ra là đến năm 2015 độ che
phủ rừng đạt 42% - 43% Giai đoạn 2014-2015, tổng diện tích rừng cả nước bị mất là 773.000,0 ha, cá biệt có vùng rừng rậm như Tây Nguyên, diện tích rừng giảm khoảng 300.000,0 ha Do vậy, dù có trồng được thêm hơn 408.000,0 ha thì độ che phủ rừng cả
nước vẫn không đạt mục tiêu (đến cuối năm 2014, độ che phủ rừng mới đạt 40,43%, trong đó, cây rừng - 39,02% và cây cao su - 1,40%) Việc đưa đất trống, đồi núi trọc
để phát triển rừng không đồng đều giữa các vùng; chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn còn suy giảm ở một số địa phương Chưa phát triển được
mô hình sản xuất lâm nghiệp tập trung, chuyên nghiệp Dù có nông trường, doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp đạt được 30-40 triệu đồng/ha, thậm chí hàng trăm triệu đồng/ha nhưng đó vẫn chỉ là các mô hình đơn lẻ Nhìn chung, giá trị thu nhập từ đất rừng mới đạt trung bình 07 - 08 triệu đồng/ha, là rất thấp Nhiều nơi, người dân làm lâm nghiệp vẫn chưa sống được bằng nghề rừng dù mức khoán chi phí trồng và bảo vệ rừng đã tăng lên [5]
Chưa có cơ chế để thu hút doanh nghiệp đưa khoa học, kỹ thuật, vốn vào lâm nghiệp; chưa kêu gọi xã hội quan tâm đầu tư, phối hợp chặt chẽ hơn với người làm lâm nghiệp Hiện tượng người dân khai thác rừng để lấy đất trồng keo; lâm tặc khai thác gỗ
và sản vật quý hiếm, tàn phá rừng… vẫn còn xảy ra; rừng trồng mới và rừng phòng hộ chưa được bảo vệ triệt để Mục tiêu trong thời gian đến là nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, phát triển lâm nghiệp nhanh, bền vững cả
về kinh tế, xã hội, môi trường; nâng độ che phủ rừng lên trên 42% vào năm 2020, thích ứng yêu cầu giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu; tạo khoảng 4,5 - 5,0 triệu việc làm thường xuyên, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an ninh, quốc phòng [5]
Trang 191.1.2 Vai trò và chức năng của đất đai
1.1.2.1 Vai trò của đất đai
Đất là vật thể thiên nhiên hình thành lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 05 yếu tố gồm: Đá; thực vật, động vật; khí hậu; địa hình và thời gian Tất cả các loại đất đều được hình thành sau một quá trình thay đổi lâu đời trong thiên nhiên Chất lượng của đất phụ thuộc vào đá mẹ, khí hậu, cỏ cây và sinh vật sống trên đất và trong lòng đất [13]
Đất đai là tài nguyên được thiên nhiên cho không loài người, bản thân đất đai nguyên thủy, khi chưa có lao động của con người tác động vào thì nó không có giá trị
gì, đó chỉ như một yếu tố tự nhiên cùng với sự xuất hiện của sự sống nói chung và của loài người nói riêng Từ khi con người biết đầu tư vào đất đai để sản xuất ra của cải vật chất thì đất đai mới có giá trị Nói như vậy để thấy vai trò quan trọng của đất đai đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội [13]
1.1.2.2 Chức năng cơ bản của đất đai
Đất đai có 09 chức năng cơ bản sau, gồm:
- Chức năng sản xuất
- Chức năng môi trường sống
- Chức năng cân bằng sinh thái
- Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước
- Chức năng dự trữ
- Chức năng không gian sự sống
- Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử
- Chức năng vật mang sự sống
- Chức năng phân dị lãnh thổ
1.1.3 Nguyên tắc quản lý, sử dụng đất
1.1.3.1 Nguyên tắc quản lý đất đai
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Xuất phát từ quan điểm đó, nên
nhà nước có đầy đủ quyền năng về quản lý đất cụ thể như: [23]
- Nhà nước có quyền xác lập hình thức pháp lý cụ thể đối với người sử dụng đất
- Nhà nước thể hiện quyền năng thông qua xét duyệt và cải tạo sử dụng đất
Trang 20- Quy định về hạn mức giao đất, cho thuê đất, thời hạn sử dụng đất
- Quyết định cho thuê đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Quyết định giá đất, thông qua các khoản thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, các khoản phí và lệ phí từ đất đai Đây chính là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước
1.1.3.2 Nguyên tắc sử dụng đất đai
Theo quy định tại Điều 6, Luật Đất đai năm 2013 thì việc sử dụng đất phải:
- Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất
- Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh
- Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan [23]
1.1.4 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta
Cùng với lịch sử phát triển đất nước, công tác quản lý đất đai cũng dần được hoàn thiện Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống văn bản này cũng dần được hoàn thiện, từ chỗ chỉ là những văn bản dưới luật, có cả những văn bản chỉ quy định tạm thời đến khi Nhà nước ban hành Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật đất đai năm 1998 và 2001, Luật Đất đai 2003 và Luật Đất đai 2013
Có thể chia nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai của nước ta từ năm 1945 đến nay thành 5 giai đoạn như sau :
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987: Chưa có Luật Đất đai;
- Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993: Thực hiện theo Luật Đất đai 1987;
- Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003: Thực hiện theo Luật Đất đai 1993;
- Giai đoạn từ năm 2004 đến ngày 30 tháng 6 năm 2013: Thực hiện theo Luật Đất đai 2003;
- Giai đoạn từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến nay: Thực hiện theo Luật Đất đai 2013
Mỗi giai đoạn, nội dung quản lý nhà nước về đất đai có những điểm mới cơ bản, phù hợp với tình hình lịch sử và thực tiễn của đất nước, đáp ứng yêu cầu về phát triễn của đất nước Trong đó, những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 2003 (có hiệu lực từ 01-07-2004 đến 01-7-2014) và giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 2014 (có hiệu lực từ 01-07-2014) được quy định như sau:
Trang 21a, Những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 2003 (từ 01-07-2004 đến 01-7-2014)
Sau một giai đoạn đổi mới, nền kinh tế của chúng ta phát triển rất nhanh,đất nước ta bắt đầu chuyển sang một thời kỳ mới - tiến vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để khắc phục những tồn tại của Luật Đất đai 1993, đồng thời tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ về đất đai trong thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tại kỳ họp thứ 4, Khoá XI, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật đất đai lần thứ ba vào ngày 26 tháng 11 năm 2003 - đó
là Luật Đất đai 2003
Luật Đất đai 2003 đã chi tiết hoá, chuẩn lại và bổ sung một số nội dung quản lý nhà nước về đất đai so với Luật Đất đai 1993 Tại khoản 2, Điều 6, của Luật quy định
13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như sau:
1 - Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
2 - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;
3 - Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
4 - Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
5 - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
6 - Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
7 - Thống kê, kiểm kê đất đai;
8 - Quản lý tài chính về đất đai;
9 - Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;
10 - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và
xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
11 - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
12 - Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai [ 22]
b, Những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 2013 (từ 01-07-2014 đến nay)
Trang 22So với Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013 có một số điểm mới trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai nổi bật như sau:
Thứ nhất, Luật Đất đai sửa đổi đã quy định cụ thể hóa các quyền nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất như: Quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu
số, người trực tiếp sản xuất nông nghiệp; trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất đai cho người dân
Thứ hai, Luật sửa đổi đã bổ sung những nội dung cơ bản trong việc điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai để phục vụ cho kinh tế xã hội mà Luật Đất đai 2003 chưa có quy định cụ thể
Thứ ba, Luật quy định cụ thể rõ ràng từ nguyên tắc đến nội dung và mở rộng dân chủ, công khai trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định về đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch
Thứ tư, Luật quy định đầy đủ, rõ ràng các đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và điều kiện để triển khai thực hiện các dự án đầu tư để Nhà nước giao đất, cho thuê đất
Qua đó, có thể khắc phục một cách có hiệu quả việc giao đất, cho thuê đất một cách tràn lan chưa tính đến năng lực của các chủ đầu tư trong việc triển khai các dự án gây nên tình trạng sử dụng đất lãng phí, kém hiệu quả như trong thời gian vừa qua Thứ năm, Luật xác định rõ và quy định cụ thể những trường hợp mà Nhà nước phải thu hồi đất (như Hiến pháp vừa mới được thông qua) nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội
Thứ sáu, Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước là chủ sở hữu về đất đai, người sử dụng đất và nhà đầu tư
Thứ bảy, Luật đảm bảo quyền và lợi ích của những người sử dụng đất hợp pháp được cấp Giấy chứng nhận và bảo đảm thực hiện các quyền của người sử dụng đất Đồng thời khắc phục một cách cơ bản những trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đảm bảo
sự bình đẳng giữa những người sử dụng đất và ổn định chính trị xã hội ở nông thôn Thứ tám, Luật đã tiếp cận và thể hiện đầy đủ vấn đề về tài chính đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, quyền lợi của Nhà nước, chủ đầu tư và đảm
Trang 23bảo ổn định xã hội; phù hợp với quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thứ chín, Luật mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản suất nông nghiệp; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được nêu trong Nghị quyết 26 của BCH Trung ương Đảng
Thứ mười, Luật đã thể hiện một cách đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của người
sử dụng đất phù hợp với từng hình thức sử dụng đất cụ thể như giao đất không thu tiền
sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất
Mặt khác, Luật sửa đổi cũng đã quy định đầy đủ hơn sự bình đẳng về sử dụng đất giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới nhằm thu hút đầu tư của các Nhà đầu tư nước ngoài
Cuối cùng, điểm đặc biệt trong Luật sửa đổi, bổ sung lần này lã đã bổ sung các quy định mới về hệ thống thông tin, hệ thống giám sát, theo dõi, đánh giá một cách công khai, minh bạch và đảm bảo dân chủ trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai hiện nay đang áp dụng theo Luật Đất đai 2013, gồm có 15 nội dụng
1- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó
2 - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
3 - Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
4 - Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
6 - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
7 - Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
8 - Thống kê, kiểm kê đất đai
9 - Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
10 - Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
11 - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trang 2412 - Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
13 - Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
14 - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai
15 - Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai [23]
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của một số quốc gia trên thế giới
1.2.1.1 Chính sách đất đai của Trung Quốc
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, đó là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động [17] Vũ Văn Mễ (2000), Giáo trình giao đất lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp Mọi đơn vị và cá nhân không được xâm chiếm, mua bán hoặc chuyển nhượng phi pháp về đất đai Vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối với đất đai thuộc sở hữu tập thể Tiết kiệm đất, sử dụng đất đai hợp lý, bảo vệ thiết thực đất canh tác là quốc sách cơ bản của Trung Quốc
Nhà nước thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất đai và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và xây dựng Đất đai ở Trung Quốc được phân thành ba loại: đất dùng cho nông nghiệp, đất xây dựng và đất chưa sử dụng
Ở Trung Quốc hiện có khoảng 250 triệu hộ nông dân sử dụng trên 100 triệu ha đất canh tác, nghĩa là bình quân khoảng 0,4 ha/hộ gia đình [17] Vì vậy, Nhà nước bảo
hộ đặc biệt đất canh tác, khống chế nghiêm ngặt việc chuyển đất canh tác thành đất phi canh tác Nhà nước thực hiện chế độ đền bù đất canh tác khi được phê duyệt theo pháp luật để chuyển sang mục đích khác theo nguyên tắc "lấy bao nhiêu, khai hoang bấy nhiêu" và đơn vị chiếm đất canh tác thực hiện trách nhiệm khai khẩn theo quy định của tỉnh và phải chuyển số tiền đó vào tài khoản dùng cho đất canh tác mới
Giai đoạn từ năm 1979 - 1992, Trung Quốc đã ban hành 26 văn bản liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng [17] Đầu năm 1980, Trung Quốc ban hành Nghị định về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng, một trong những điểm nổi bật của Nghị định này là thực hiện chủ trương giao cho chính quyền các cấp từ Trung ương đến cấp tỉnh, huyện tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền chủ đất rừng cho tất cả các chủ rừng từ những tập thể và tư nhân Luật lâm nghiệp đã xác lập được các quyền của
người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền
không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi núi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ hợp đồng và được xử lý theo hợp đồng
Trang 25Trung Quốc đã thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa dạng, sau khi thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ đó các trang trại rừng kinh doanh hình thành bước đầu đã có hiệu quả Lúc đó ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ các dự án chống cát bay Mỗi năm Chính phủ trích 10% chi phí để đầu tư cho quá trình khai khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo, quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông, lâm nghiệp [17]
Hơn 96% đất nông nghiệp ở Trung Quốc được sử dụng dưới hình thức khoán hoặc cho thuê Các hội đồng nhân dân được thành lập để thực hiện những hợp đồng cho thuê đất với từng hộ gia đình, trong khoảng thời gian từ 10 đến 15 năm Trong hợp đồng vấn đề giá tiền thuê đất được xem xét có tính đến những điều kiện về mặt xã hội; vào những năm 20 của thế kỷ XX, Nhà nước cho nông dân thuê đất với giá rất thấp, hiện nay giá cho thuê phụ thuộc vào thị trường giá cả đất đai [17]
1.2.1.2 Chính sách đất đai ở Nhật Bản
Cũng như một số nước thuộc khu vực Châu Á, Nhật Bản đã ban hành Luật cải cách ruộng đất lần thứ nhất vào tháng 12 năm 1945 nhằm mục đích xác định quyền sở hữu ruộng đất cho người dân, bên cạnh đó, buộc địa chủ chuyển nhượng ruộng đất nếu
có trên 05 hecta Quá trình cải cách ruộng đất tại Nhật Bản đã mang lại kết quả đáng
kể Song lúc đó, vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với đất đai chưa chặt chẽ Do vậy, Nhật Bản tiến hành cải cách ruộng đất lần thứ hai nhằm xác lập vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với việc chuyển nhượng quyền sở hữu ruộng đất là thuộc thẩm quyền của Chính phủ; xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân nhằm giảm địa tô Nhà nước đứng ra mua và bán đất, phát canh của địa chủ nếu vượt quá 01 hecta Ngay cả với tầng lớp phú nông, có diện tích quá 03 hecta nếu sử dụng không hợp lý Nhà nước cũng thu hồi một phần [17]
Như vậy, qua hai lần cải cách ruộng đất bằng những chính sách cụ thể đã làm thay đổi quan hệ sở hữu cũng như kết cấu sở hữu ruộng đất ở Nhật Bản đó là: Nhà nước khẳng định được vai trò kiểm soát đối với việc quản lý, sử dụng đất đai, người dân thực sự làm chủ đất để yên tâm đầu tư phát triển sản xuất
1.2.1.3 Chính sách đất đai ở Thái Lan
Ở Thái Lan Hiến pháp quân chủ ra đời thay thế cho chế độ quân chủ được đánh
dấu bằng việc ban hành Luật ruộng đất (năm 1954) đã thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế, xã
hội của đất nước Luật ruộng đất đã công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân cư đều có thể được mua, tậu lại từ cá thể Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng,
cầm cố một cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trống (có khả năng trồng trọt được) và nhân dân trở thành người làm công trên đất ấy Tuy nhiên, trong
Trang 26giai đoạn này Luật ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh ngắn, chế độ luân canh vừa Bên cạnh đó, việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu thừa đất do việc phân hóa giàu nghèo, đã dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp [17]
Năm 1974 Chính phủ Thái Lan ban hành chính sách cho thuê đất lúa, quy định rõ việc bảo vệ người làm thuê, thành lập các tổ chức người địa phương làm việc theo sự điều hành của trại thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển Luật cải cách ruộng đất năm 1975 quy định các điều khoản với mục tiêu biến tá điền thành chủ sở hữu ruộng đất, trực tiếp sản xuất trên đất Nhà nước quy định hạn mức đối
với đất trồng trọt là 3,2 ha (50 rai), đối với đất chăn nuôi 6,4 ha (100 rai), đối với những
trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiến hành trưng thu để chuyển giao cho tá điền, với mức đền bù hợp lý [17]
Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng Bắt đầu từ năm 1979 Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi trong rừng
dự trữ quốc gia, theo chương trình này mỗi mảnh đất được chia làm hai miền Miền từ phía dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn nước thì lại hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác nhưng trước
đây những người dân đã chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy
chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Đến năm 1976 đã có 600.126 hộ nông dân có đất được cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Cùng với chương trình này, năm 1975 Cục lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã thực hiện chương trình làng lâm nghiệp và đã thành lập được 98 làng lâm nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia [17] Thái Lan tiến hành giao được trên 200.000 ha đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0,8 ha đến 8,0 ha [17]
Bước sang thời kỳ những năm 1990, Chính phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hóa và giải quyết việc làm Dự án này có sự thỏa thuận giữa Chính phủ, chủ đất, nông dân và giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng đất Theo dự án này Chính phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất nông nghiệp và giải quyết việc làm cho người dân [17]
1.2.1.4 Nhận xét và đánh giá chung
Lịch sử phát triển xã hội loài người gắn liền với lịch sử phát triển các quan hệ đất đai và phân chia lãnh thổ Các nước trong khu vực và trên thế giới có chế độ chính trị, cơ chế kinh tế và tổ chức xã hội khác nhau, nhưng với quá trình phát triển lâu đời đã có lịch sử lâu dài phát triển các hoạt động quản lý đất đai với một hệ thống pháp luật và chính sách đất đai ngày càng được hoàn thiện, nhất là đối với những nước tư bản phát triển
Trang 27Pháp luật và chính sách đất đai của các nước trên thế giới có những nét đặc trưng nổi bật là bảo vệ hết sức nghiêm ngặt nguồn đất canh tác, có chế độ khuyến khích và bảo hộ đất nông nghiệp bằng cách miễn giảm các loại thuế, kéo dài thời gian sử dụng, khuyến khích tập trung đất đai; nghiêm ngặt thực hiện quy hoạch, nhất là quy hoạch tổng thể - nhiều nước coi quy hoạch sử dụng đất đai là động lực của sự phát triển
Xã hội loài người đã trải qua những biến đổi sâu sắc, đem lại những tiến bộ to lớn về nhận thức, tư duy và hành động, đó chính là nguồn gốc phát triển những xu hướng cơ bản trong pháp luật và chính sách đất đai Ngày nay, pháp luật và chính sách đất đai của nhiều nước có xu hướng tăng nhanh sự can thiệp của Nhà nước đối với các quan hệ đất đai, trước hết là quan hệ sở hữu, dù đó là sở hữu của Nhà nước, của tư nhân, của toàn xã hội hay của tập thể quần chúng lao động Những đặc điểm nổi bật trong quan hệ sở hữu là các Nhà nước có xu hướng mở rộng phạm vi quản lý Nhà nước về đất đai bằng cách trưng thu, trưng mua, khuyến khích tập trung đất đai và khi
tư nhân không có điều kiện tập trung đất đai thì Nhà nước đứng ra mua Nhưng quan trọng nhất vẫn là sự thay đổi xu hướng trong nhận thức về đất đai mà trên thực tế nhiều nước trong nhiều năm qua đã bỏ qua đó là hiểu được bản chất của các quá trình khác nhau khi đất đai được tham gia như một đối tượng sở hữu và được xem xét như một thành phần kinh tế; khẳng định được khái niệm về sự ưu việt lớn của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi sự thống nhất và an toàn diện tích đất canh tác và cuối cùng điều quan trọng nhất không phải là các vấn đề về sở hữu, mà là quyền và nghĩa vụ của chủ
sở hữu đất đai
1.2.2 Chính sách giao đất, giao rừng ở Việt Nam
1.2.2.1 Chính sách giao đất Lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới (1968 - 1986)
Để thực hiện xây dựng miền Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội và thống nhất đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng, Đảng ta chủ trương đưa nhân dân vào làm ăn tập thể, đồng thời thành lập các Trạm trại nông nghiệp, các Nông trường Quốc doanh và Hợp tác xã, xây dựng vùng kinh tế mới, lâm nghiệp, tổ chức định canh định cư cho đồng bào dân tộc miền núi vùng cao Chính sách giao đất trong giai đoạn này được thể hiện rõ nét trong các văn bản sau:
- Thông báo số 18 TB-TW ngày 23/10/1968 của Ban Bí thư đã đề cập đến vấn đề: “Nhà nước cần giao cho Hợp tác xã sử dụng một số đất hoang hoặc rừng cây để kinh doanh nghề rừng, Hợp tác xã được hưởng lợi tùy theo công sức bỏ ra”.[18]
- Thực hiện chủ trương đó, ngày 12/11/1968, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 179/CP nhằm: “Đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng và giao đất lâm nghiệp cho Hợp tác xã kinh doanh”
Trang 28- Ngày 3/10/1979, Hội đồng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 272/CP quy định “chính sách đối với Hợp tác xã mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện chương trình định canh định cư” và ban hành điều lệ “Mẫu Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp”[5] Trong giai đoạn 1968 đến
1980 đã giao được 2.500.000 ha đất cho 3.998 Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất [18]
Do không giống nhau về trình độ quản lý, điều kiện kinh doanh nghề rừng, sự quan
tâm chỉ đạo không thống nhất (nơi tốt, nơi xấu), nên trong giai đoạn này đã hình thành
ba loại hình Hợp tác xã, gồm [18]:
+ Loại hình Hợp tác xã đã thực sự đưa rừng và đất rừng vào sản xuất dạng tự doanh, loại hình này đã thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư thích đáng cho nghề rừng Song loại hình này còn quá ít như ở Quảng Ninh có 28/98 Hợp tác xã, ở Lạng Sơn có 29/200 Hợp tác xã được giao đất triển khai [18]
+ Loại hình Hợp tác xã được giao đất, giao rừng nhưng vì nhiều lý do chưa đảm bảo tự doanh nên vẫn hợp đồng làm khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho Lâm trường Quốc doanh trên diện tích rừng và đất rừng được giao
+ Loại hình Hợp tác xã tuy nhận đất, nhận rừng nhưng chưa đưa vào sản xuất kinh doanh, do nhiều nguyên nhân: Phải tập trung lao động sản xuất lương thực hoặc phương hướng trồng rừng kinh doanh lâm nghiệp chưa rõ ràng, chưa có vốn hỗ trợ, trình độ quản lý còn hạn chế
Trong thời kỳ này ở miền Bắc hình thành 3 hình thức sở hữu ruộng đất được hiến pháp năm 1959 khẳng định đó là: Sở hữu toàn dân; sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Tại hội nghị Trung ương VI, khóa IV tháng 9 năm 1979 có một Nghị quyết đặc biệt như: "Thừa nhận sự tồn tại của kinh tế nhiều thành phần, nới lỏng cơ chế quản lý tập trung trong các Hợp tác xã nông nghiệp, cho phép hộ xã viên được mượn đất của Hợp tác xã để sản xuất thừa nhận sự tồn tại của kinh tế gia đình xã viên như là một bộ phận hợp thành của kinh tế XHCN " Nghị quyết này được xem như là một văn kiện
"tiền đổi mới" trong nông nghiệp, trong đó có vấn đề ruộng đất [18]
Từ đầu những năm 80 trở đi có nhiều thay đổi sâu sắc về quan hệ đất đai trong
cả nước mà đáng ghi nhận là sự kiện: Lần đầu tiên Hiến pháp năm 1980 quy định:
"Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa đều thuộc sở hữu toàn dân" "Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm Chỉ thị 100 của Ban Bí thư ngày 13/01/1981 về "cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong Hợp tác xã nông nghiệp" đã mở ra một khả năng mới cho người xã viên được quyền sử dụng ruộng đất trong khuôn khổ rộng rãi hơn và gắn bó hơn, là một bước chuyển có ý nghĩa về chính sách ruộng đất
Trang 29Ngày 18/01/1984, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 35 về khuyến khích phát triển kinh tế gia đình: “về đất, cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi nguồn lực đất đai
mà Hợp tác xã, nông, lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất”
Đối với miền núi, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 29/CT ngày 21/11/1983 và Chỉ thị 56/CT ngày 29/01/1985 về giao đất, giao rừng cho hộ nông dân và việc củng cố quan
hệ sản xuất ở miền núi Đối với vùng núi cao không nhất thiết tổ chức Hợp tác xã mà phát triển kinh tế hộ gia đình và thiết lập quan hệ Nhà nước - nông dân theo đơn vị bản, buôn; trong Hợp tác xã thực hiện cơ chế khoán gọn cho hộ xã viên
Riêng đối với nông nghiệp Miền nam, Ban Bí thư có Chỉ thị số 19/CT ngày 03/05/1983 "về hoàn thành điều chỉnh ruộng đất, đẩy mạnh cải tạo XHCN đối với nông nghiệp" và Thông báo số 44 ngày 13/07/1984 của Ban Bí thư "về ý kiến tiếp tục cải tạo XHCN đối với nông nghiệp Miền nam" Chỉ thị nêu rõ: "các tập đoàn sản xuất
và Hợp tác xã nông nghiệp đã thu hút 45,6% nông hộ; 38% diện tích đất đai; có nơi như Tiền Giang đã có đến trên 80% nông hộ tham gia lối làm ăn tập thể "[14]
Như vậy, trong vòng 5 năm thi hành Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và các Chỉ thị, Nghị quyết khác của Trung ương về cải tạo và quản lý nông nghiệp, có liên quan về chính sách ruộng đất, mặc dù vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn về vốn đầu tư, về vật tư cung ứng cho nông nghiệp nhưng sản lượng lương thực tăng 27%, năng suất lúa tăng 23,8%, diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, đàn trâu, bò tăng 33,2%, đàn lợn tăng 22,1% Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân hàng năm cao hơn hẳn các thời kỳ trước Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6%, thu nhập quốc dân trong nông nghiệp tăng 5,6%, lương thực bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước [14]
Nhìn chung, sau 10 năm kể từ khi thống nhất đất nước, những tàn tích chiếm hữu ruộng đất của chế độ thực dân phong kiến được xoá bỏ hoàn toàn Người dân được chia cấp ruộng đất và làm ăn tập thể theo mô hình Hợp tác xã nhưng đã bộc lộ một số hạn chế Chính sách khoán sản phẩm đến người lao động ra đời đã khắc phục được tình trạng kém hiệu quả trong sản xuất và từng bước phát triển sản xuất, cải thiện đời sống cho nhân dân Đây là một thành tựu lớn đáng ghi nhận của thời kỳ này
1.2.2.2 Chính sách giao đất Lâm nghiệp trong thời kỳ đổi mới (năm 1986 đến nay)
Tháng 12 năm 1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật theo hướng đổi mới, đã phân tích sâu sắc và toàn diện những thành tựu cũng như những sai lầm, khuyết điểm, để vạch ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cho những năm cuối thập kỷ 80 Đại hội đã đề ra 3 chương trình kinh tế lớn, nhấn mạnh vị trí đặc biệt của nông nghiệp, phát huy triệt để vai trò chủ động của hộ nông dân, phấn đấu đưa nông nghiệp nước ta trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
Trang 30Luật Đất đai đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987, là một đạo luật quan trọng trong bước khởi đầu đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội đất nước Luật đã căn cứ vào tinh thần của các Nghị quyết của Đại hội VI để thể chế hóa một phần rất quan trọng về chính sách đất đai đối với các thành phần và tổ chức kinh tế, đồng thời cũng tăng cường chế độ quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đất đai
Ngày 05/04/1988, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 10 về "đổi mới quản lý nông nghiệp" đã chỉ ra những khiếm khuyết trong lãnh đạo và chỉ đạo, trong đó đề cập đến vấn đề chủ quan, nóng vội trong cải tạo, gò ép nông dân vào Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, đưa Hợp tác xã lên quy mô lớn, trình độ cao, tập thể hóa triệt để tư liệu sản xuất trong khi chưa có đủ điều kiện, áp dụng máy móc những hình thức tổ chức quản lý giống nhau vào các vùng và các Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất khác nhau Trong các Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, việc phân chia ruộng đất quá manh mún, tệ rong công, phóng điểm, tình trạng phân phối lương thực và thu nhập bình quân, xã viên phải gánh chịu quá nhiều khoản bao cấp cho xã hội [14]
Về vấn đề ruộng đất, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII tháng 6/1991 đã ghi vào văn kiện: "ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân, giao cho nông dân quyền
sử dụng lâu dài"[4] Hiến pháp năm 1992 tại Điều 17 và Điều 18 khẳng định lại những quyết định cơ bản của Đại hội Đảng và của Trung ương về quan hệ ruộng đất trong tình hình mới Cho đến Hội nghị Trung ương 5 khóa VII tháng 6/1993 hội thảo về vấn
đề “tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế xã hội nông thôn” quyết định việc đổi mới kinh tế hợp tác, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước có chính sách đảm bảo kết hợp lợi ích trước mắt
và lợi ích lâu dài trong việc khai thác và sử dụng đất trống đồi núi trọc, đất khai hoang, lấn biển
Tiếp đến Luật Đất đai được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 14/7/1993 và
có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Đây là đạo luật quan trọng thể hiện ý chí của toàn Đảng, toàn dân về vấn đề quản lý và sử dụng đất đai Việc Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 1993 đã đánh dấu kết quả quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hóa các chính sách mới về đất đai, vừa đảm bảo được quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa phù hợp với cách vận hành của nền kinh tế hàng hóa bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị trường
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII tháng 12/1997 của Đảng có đoạn ghi “thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn khuyến khích sử dụng ruộng đất có hiệu quả thông qua tích tụ ở những nơi có điều kiện bằng chính sách hạn điền” Chính sách này
đã bảo vệ quyền lợi chính đáng của người nông dân có đất canh tác, không bị bần cùng hóa và nghiêm cấm các hành vi mua bán đất để kiếm lời Kinh tế trang trại được ghi nhận trong một văn kiện chính trị lần đầu tiên
Trang 31Tháng 11 năm 1998, Bộ chính trị có Nghị quyết VI về "một số vấn đề nông nghiệp và nông thôn" đã chỉ ra: " về tích tụ ruộng đất, việc chuyển nhượng quyền
sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa lớn việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước không để quá trình này diễn
ra tự phát làm cho người nông dân mất ruộng mà không tìm được việc làm, trở thành bần cùng hóa "
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 02/12/1998 đã sửa đổi 5 Điều và bổ sung 9 Điều vào Luật Đất đai năm 1993 Tiếp đến là Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 2001; bên cạnh đó Chính phủ đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn như: Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 quy định "giao đất nông nghiệp cho
hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích nông nghiệp'', được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999; Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 quy định “về việc giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”; đến năm 1999, được thay thế bằng Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999
Ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, đã thông qua Luật Đất đai năm 2003, thay thế cho Luật Đất đai năm
1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Việc ban hành Luật Đất đai năm 2003 là nhằm hoàn thiện chính sách quản lý đất đai của Nhà nước, tạo điều kiện cho người sử dụng đất với 6 quyền được mở rộng và thực sự làm chủ trên mảnh đất của mình Tuy nhiên, qua gần mười năm triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2003, đã bộc lộ những bất cập, chưa phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế của đất nước và hội nhập quốc tế
Ngày 29/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIII, đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và chính thức có hiệu lực kể
từ ngày 01/7/2014; Luật gồm 14 chương, 212 điều; tăng 7 chương, 66 điều so với Luật đất đai năm 2003 Luật Đất đai năm 2013 ra đời; cùng với các Nghị định hướng dẫn thi hành luật, đã thể chế hoá đúng và đầy đủ những quan điểm, định hướng của Nghị quyết số 19/NQ-TƯ tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, đồng thời khắc phục, giải quyết những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003
Trang 321.2.3 Quá trình hình thành, phát triển của nông trường quốc doanh ở nước ta
1.2.3.1 Các giai đoạn phát triển của nông trường quốc doanh ở nước ta
Các nông trường ở nước ta được thành lập với mục tiêu, nhiệm vụ để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong đó, nhiệm vụ chủ yếu của khai hoang, phục hóa đất đai, trồng rừng và phát triển kinh tế theo mô hình tập trung, tập thể Trong quá trình hình thành và phát triển nhiều nông trường quốc doanh đã trở thành nòng cốt phát triển một số ngành hàng nông sản quan trọng; tạo điều kiện để hình thành và phát triển các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, tạo thuận lợi cho xây dựng cơ sở chế biến nông sản Một số nông trường quốc doanh đã làm tốt vai trò trung tâm kinh tế -
kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi, dịch vụ kỹ thuật và tiêu thụ, chế biến nông, lâm sản cho nhân dân trong vùng; thực hiện sản xuất kinh doanh tổng hợp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ nông, lâm sản đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo được một số mô hình mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Các nông trường quốc doanh đã có những đóng góp tích cực trong xây dựng cơ sở hạ tầng, hình thành các thị trấn, thị tứ, trung tâm kinh tế - xã hội, góp phần làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc
Quá trình phát triển của nông trường quốc doanh trải qua nhiều giai đoạn, gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Giai đoạn 1955-1975, nhiệm vụ chủ yếu của nông trường là khai hoang, phục hóa đất đai, trồng rừng và phát triển kinh tế theo mô hình tập trung, tập thể
- Giai đoạn 1976-1986, là thời kỳ phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và số lượng Nông trường quốc doanh được hình thành, phân bố rộng khắp cả nước với 457 đơn vị Diện tích đất Nhà nước giao cho các nông trường là hơn 1,2 triệu ha [21]
- Giai đoạn 1987- 2003, các nông trường quốc doanh thực hiện đăng ký, sắp xếp, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo Nghị định 388/1991/HĐBT Từ
457 nông trường sắp xếp lại còn 314 nông trường [21]
- Giai đoạn 2004 - 2014, là giai đoạn thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh [1] Năm 2005, cả nước có 444 nông, lâm trường Đến cuối năm 2012, còn 387 nông, lâm trường, giải thể 38 đơn vị Đến tháng 12 năm 2012, tính cả 266 đơn vị, tổ chức không thuộc diện thực hiện sắp xếp theo Nghị quyết 28-NQ/TW, cả nước có 653 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên được Nhà nước giao quản lý, sử dụng 7.996.467 ha đất [21]
Thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới
và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp, đến tháng 12
Trang 33năm 2014, các công ty nông, lâm nghiệp đã bàn giao về cho địa phương 80.468 ha, tổng diện tích đất do các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên quản lý còn 7.915.999 ha Theo phương án sản xuất, dự kiến các công ty nông, lâm nghiệp sẽ bàn giao cho địa phương từ 15 - 20% diện tích đất hiện đang quản
lý và sử dụng [21]
1.2.3.2 Tình hình sắp xếp, đổi mới nông trường quốc doanh
Thực hiện sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị định 118/CP [6], sẽ có 06 hình thức cho các công ty nông, lâm nghiệp, Ban quản lý rừng, gồm: công ty 100% vốn nhà nước sản xuất kinh doanh; Công ty 100% vốn nhà nước sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên: đơn vị sự nghiệp - Ban quản lý rừng, vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên; và các đơn vị phải giải thể
Đối tượng thực hiện sắp xếp, đổi mới theo Nghị định 118/CP: Trước ngày Nghị định 118/CP có hiệu lực (01/2/2015) có 08 địa phương và đơn vị có công ty nông, lâm nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án sắp xếp, chuyển đổi phù hợp một trong các hình thức sắp xếp quy định tại điểm 2, Nghị định 118, đây là các đối tượng thuộc diện không phải sắp xếp lại; còn 41 địa phương và đơn vị thuộc diện đối tượng phải xây dựng phương án sắp xếp, đổi mới, trình Chính phủ phê duyệt [1] Tiến độ thực hiện việc lập hồ sơ, thẩm định phương án tổng thể sắp xếp, chuyển đổi các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng theo Nghị định 118/CP, đã có 34/41 địa phương, đơn vị trực thuộc Trung ương hoàn thành việc xây dựng đề án, gửi lên Bộ chủ quản và Ban chỉ đạo Trung ương Ban chỉ đạo đã thẩm định xong phương
án tổng thể cho 31 địa phương, đơn vị; trình Thủ tướng Chính phủ 26 địa phương, đơn vị; Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 5 địa phương, đơn vị (Quảng Ninh, Quảng Bình, Bình Định, Khánh Hòa, Sóc Trăng); còn 7 địa phương với 21 công ty chưa gửi
hồ sơ thẩm định: Nam Định (2 công ty), Tuyên Quang (5 công ty), Bắc Giang (5 công ty), TP Hà Nội (1 công ty), Thừa Thiên - Huế (4 công ty), TP Hồ Chí Minh (2 công ty), Ninh Thuận (2 công ty) [1]
Về cơ bản, các nông trường trường đã tiến hành việc rà soát chức năng, nhiệm
vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thực hiện việc sắp xếp, chuyển đổi thành các công ty nông nghiệp theo đề án được phê duyệt Một số đơn vị sản xuất, kinh doanh thua lỗ kéo dài, hoặc có nhiều vi phạm về quản lý đất đai đã thực hiện các thủ tục giải thể theo quy định Từ 186 nông trường (năm 2005), sắp xếp lại còn 145 công ty nông nghiệp (năm 2012); trong đó 105 công ty chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, 37 công ty cổ phần, 02 công ty chuyển đổi, thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, 01 công ty liên doanh (giảm 40 đơn vị, trong đó giải thể 22 đơn vị, hạ cấp 18 đơn vị) [1]
Trang 34Các công ty nông nghiệp đã rà soát, xác định nhu cầu quản lý đất đai, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất theo kế hoạch sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (theo đề án được phê duyệt) Các công ty từng bước triển khai thực hiện các phương án khai thác,
sử dụng đất thông qua các hình thức tự tổ chức sản xuất, khoán sử dụng đất, liên doanh, liên kết
Các công ty nông đã tiến hành rà soát, làm rõ nhu cầu lao động, vốn để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, cân đối thu, chi, các khoản nợ phải thu, phải trả Trừ diện tích giữ lại để tổ chức sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ, từng đơn vị đã rà soát, xác định cụ thể từng diện tích đất, giá trị vườn cây và cơ sở hạ tầng, làm các thủ tục bàn giao cho địa phương (đất chưa sử dụng, đất ở, đất sử dụng cho các mục đích công ích…)
Tính đến năm 2015, tổng giá trị tài sản của các công ty nông nghiệp là 39.773
tỷ đồng (trong đó tài sản của Tập đoàn Công nghiệp Cao su 32.326 tỷ đồng); vốn chủ
sở hữu 23.170 tỷ đồng (riêng các công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su là 17.607 tỷ đồng, chiếm 86,09%, các công ty thuộc Tổng công ty Cà phê 1.776 tỷ đồng, chiếm 8,68%); vốn điều lệ 10.970 tỷ đồng Bình quân, mỗi công ty nông nghiệp có giá trị tài sản 141 tỷ đồng; nếu tính cả đơn vị phụ thuộc, thì bình quân mỗi đơn vị có tài sản 90 tỷ đồng Tổng doanh thu là 2.478 tỷ đồng; tổng lợi nhuận là 182 tỷ đồng; tổng nộp ngân sách nhà nước trong 10 năm (2004-2014) là 276 tỷ đồng [1]
Sau sắp xếp, phần lớn các công ty nông nghiệp hoạt động ổn định Một số doanh nghiệp thực hiện thí điểm cổ phần hóa, đổi mới cơ chế quản lý, quản trị kinh doanh; chủ động trong sản xuất, kinh doanh, đa dạng hóa các nguồn vốn huy động, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước; tăng cường đầu tư khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập và điều kiện sống của người lao động; bước đầu có chuyển biến tích cực trong sản xuất, cải thiện thu nhập của người lao động; nhất là các đơn vị có vùng nguyên liệu và thuận lợi về thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.2.3.3 Một số tồn tại, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông trường quốc doanh ở nước ta
Chủ trương chính sách sắp xếp, đổi mới nông trường quốc doanh thời gian qua mới chủ yếu làm thay đổi hình thức tổ chức quản lý, chưa làm thay đổi căn bản cơ chế quản lý và quản trị doanh nghiệp nên chưa tạo được sự chuyển biến căn bản theo mục tiêu đề ra [17] Do buông lỏng quản lý, áp dụng không đúng chủ trương chính sách khoán nên một số nông trường không còn thực chất là doanh nghiệp nhà nước, nhưng vẫn áp dụng cơ chế chính sách sắp xếp, đổi mới như nhau là không phù hợp Những nông trường có phần lớn diện tích đất đai thực hiện khoán theo Nghị định 01-CP nhưng không có đầu tư, không quản lý được quy trình sản xuất thực chất là khoán
Trang 35trắng, phát canh thu tô, những đơn vị này không còn nguyên nghĩa là một doanh nghiệp nhà nước Quyền sử dụng đất đai của doanh nghiệp chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, giấy tờ, còn quyền sử dụng đất đai và tài sản trên đất thực sự thuộc về người nhận khoán với thời gian giao khoán là 50 năm
Mối quan hệ giữa nông trường với người nhận khoán không còn nguyên nghĩa
là mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động mà chuyển thành mối quan hệ hợp đồng kinh tế thông qua hợp đồng giao nhận khoán đất Có thể nói những nông trường này chỉ tồn tại trên danh nghĩa, bộ máy quản lý là một tổ chức phát canh, thu tô và tồn tại được là do nhà nước chưa thực hiện triệt để việc bắt buộc các doanh nghiệp này nộp tiền thuê đất hoặc tiền sử dụng đất
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.3.1 Các công trình nghiên cứu phân vùng, quy hoạch, đánh giá đất; h ệ th ố ng nông nghi ệ p, hi ệ u qu ả s ử d ụng đấ t nông nghi ệ p
Nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995) [32] Quan điểm của tác giả đưa ra quan điểm: Phát triễn nông nghiệp chỉ có thể thích hợp khi con người biết cách làm cho môi trường cùng phát triển, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
Nghiên cứu chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước “đánh giá hiện trạng
sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền’’ của Trần An Phong - Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (1995) [14] Theo đó, đề tài đã chỉ ra đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là tư liệu sản xuất đặc biệt là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm với giá thành thấp
là một nhân tố quan trọng hợp thành môi trường và trong nhiều trường hợp lại chi phối
sự phát triển hay hủy diệt các nhân tố khác của môi trường Chiến lược sử dụng đất hợp
lý tất yếu phải là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái lâu bền của tất cả các nước trên thế giới và của nước ta
Nghiên cứu Luận án “Đánh giá tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp của đất trống đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp phân loại đất thích hợp” của FAO của Nguyễn Đình Bồng (1995) Luận án đã đưa ra căn cứ cho quy hoạch sử dụng đất lâu dài, trung hạn, ngắn hạn; hỗ trợ triển khai các dự án khai thác đất trống, đồi núi trọc theo chương trình 327, định hướng cho việc lập kế hoạch điều tra đánh giá đất ở mức độ bán chi tiết; đóng góp kinh nghiệm thực tiễn trong việc ứng dụng phương pháp phân hạng thích hợp đất do FAO đề xuất
Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH của Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990) [16]; Tác giả đã đưa ra: Trong 3 loại đất là bạc màu, chua mặn, úng trũng, đã phân chia 8 vùng, 13 tiểu vùng, thể hiện trên bản đồ tỷ lệ1/250.000
Trang 36Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng của Đào Thế Tuấn (1987) [31]; theo đó, tác giả luận án đã đưa được các mục tiêu và xây dựng mô hình cho sự phát triễn
Ngoài ra, nghiên cứu các công trình về hệ thống nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, có: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hưng của Vũ Thị Bình (1993) [2]; Đánh giá kinh
tế đất lúa vùng ĐBSH của Quyền Đình Hà (1993) [12]; Nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Châu Giang, Hưng Yên của Hà Học Ngô và các cộng sự (1999) [19]
1.3.2 Các công trình nghiên cứu khác có liên quan
Phạm Quốc Doanh (1994), “Đổi mới Nông trường quốc doanh trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam” Luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế, trường Đại học Kinh tế
Quốc dân Luận án đã tổng kết, phân tích và đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống quá trình đổi mới Nông trường quốc doanh ở nước trong thời gian qua Nêu lên những mặt tốt, mặt tích cực đã đạt được, cũng như những mặt yếu kém, tồn tại của các nông trường quốc doanh Trên cơ sở quan điểm và những chính sách mới của Đảng với hệ thống doanh nghiệp nhà nước trong nông, ngư nghiệp nói chung, luận án đã nêu lên những quan điểm và phương hướng cụ thể đới với việc đổi mới nông trường quốc
doanh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Từ năm 1998, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI), nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế vì sự phát triển (CIRAD) và các thành viên khác như Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Viện Nghiên cứu vì sự phát triển (IRD) trong việc thực hiện dự án cho các hệ thống nông nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (dự án SAM), dự
án này đặc biệt chú trọng vào công tác nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các tiến bộ
kỹ thuật trên đất dốc bền vững như biện pháp gieo ủ hạt trực tiếp trên mặt đất, bảo vệ lớp
bề mặt đất, ruộng bậc thang có che phủ, biện pháp thâm canh, luân canh
Các hoạt động chủ yếu tập trung vào nghiên cứu và đưa ra các mô hình nông lâm kết hợp gồm các loại cây ngắn ngày, cây lưu niên (cây ăn quả, cây lâm nghiệp) và
cỏ chăn nuôi nhằm phục vụ cho sự phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Một số giống cỏ như cỏ voi đã được công nhận đưa vào hệ thống nông lâm nghiệp nhằm phát triển ngành chăn nuôi đồng thời tránh được sự khai thác chồng chéo giữa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp
Sách “Giao đất lâm nghiệp kinh tế hộ gia đình ở miền núi" của tác giải Vũ Văn
Mễ thực hiện năm 2000 Đây là tài liệu hữu ích cho ngành quản lý đất đai và lâm
Trang 37nghiệp, cuốn sách đã trình bày phương pháp giao đất lâm nghiệp theo nguyên tắc phù hợp với luật định tại thời điểm bấy giờ Tuy đến nay chính sách pháp luật về đất đai và lâm nghiệp đã có nhiều sự thay đổi,nhưng phương pháp giao đất của cuốn sách đưa ra cũng là nguồn tham khảo quý giá, có thể kế thừa để áp dụng một số nội dung trong giai đoạn hiện nay
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHAM VỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác thực trạng quản lý và sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh tại tỉnh Quảng Trị
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
2.1.2.1 Phạm vi không gian:
Đề tài thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
2.1.2.2 Phạm vi thời gian:
- Đề tài tiến hành từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 02 năm 2019
- Các số liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thu thập, tổng hợp từ năm
2014 đến hết tháng 6 năm 2018
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị
- Phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất của các công ty lâm nghiệp có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2014 đến hết tháng 6 năm 2018
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại các Công ty lâm nghiệp
có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thông tin, tài liệu, số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ các nguồn:
+ Thu thập các báo cáo, số liệu, bản đồ các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại các Sở, ban ngành có liên quan thuộc UBND tỉnh Quảng Trị
+ Thu thập các văn bản Quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp Trung ương và địa phương về công tác quản lý, sử dụng đất; các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, các bài báo có liên quan đến đề tài
+ Các công trình khoa học và các nghiên cứu liên quan quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
Trang 39- Thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu thứ cấp liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm:
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Trị
+ Số liệu về tài nguyên đất đai; số liệu kiểm kê và thống kê đất đai
+ Số liệu về kết luận Thanh tra, giải quyết tranh chấp đất đai tại Thanh tra tỉnh; số liệu về thực hiện nghĩa vụ tài chính tại Cục Thuế tỉnh; số liệu về tình hình đất đai, phương án sử dụng đất của các Công ty lâm nghiệp tại Sở Tài nguyên và Môi trường; số liệu về tranh chấp, lấn chiếm, chồng lấn đất đai với các hộ gia đình, cá nhân … tại Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thị xã, thành phố có liên quan; tình hình phát triển kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu; các phương án sắp xếp, đổi mới theo Nghị quyết 112/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ của các Công ty; các báo cáo sơ kết, tổng kết về tình hình sản xuất kinh doanh của các Công ty qua các năm
+ Số liệu về dân số, lao động, việc làm, thu nhập
2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Để có được những đánh giá khách quan và đúng thực tiễn nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp thu thập số liệu sơ cấp sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Điều tra, thu thập số liệu bằng cách quan sát, khảo sát thực địa
- Phương pháp điều tra phỏng vấn:
+ Phỏng vấn sâu 03 Giám đốc, một số cán bộ quản lý chuyên môn và 30 công nhân của Công ty theo hình thức ngẫu nhiên về tình hình quản lý, sử dụng đất và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của 03 Công ty
+ Phỏng vấn một số người dân trong khu vực phụ cận
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu thu thập được, qua đó thiết lập các bảng biểu, biểu đồ nhằm mô tả tình hình của địa bàn nghiên cứu, phân tích sự tác
động, trên cơ sở đó để đánh giá và đề xuất các hướng giải quyết
2.3.3 Phương pháp minh họa bằng bản đồ
Minh họa bằng các bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm góp phần làm sinh động hơn các nội dung nghiên cứu
2.3.4 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Tham vấn trực tiếp các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Trị là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ Toạ độ địa lý của tỉnh từ 16018' đến
17010' vĩ độ Bắc và 106032' đến 107034' kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình); phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế); phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp nước CHDCND Lào (với khoảng 206
km đường biên giới)
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2017, toàn tỉnh có tổng diện tích tự nhiên 4.737,44 km2 với 10 đơn vị hành chính, bao gồm thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị
và 8 huyện (Hướng Hóa, ĐaKrông, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng và huyện đảo Cồn Cỏ); thành phố Đông Hà là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh
Hình 3.1 Sơ đồ ranh giới hành chính tỉnh Quảng Trị