1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng sản xuất giữa người dân xã hải lệ và công ty tnhh mtv lâm nghiệp triệu hải

84 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 835,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở thu thập thông tin từ các cơ quan liên quan kết hợp với điều tra phỏng vấn, đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng sản x

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực

và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Phạm Thúy Lan

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để hoàn thành bản luận văn này

Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Huy Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm; Ban Lãnh đạo

và cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên và môi trường, Trạm Kiểm Lâm, Chi cục Thống kê và UBND xã Hải Lệ - thị xã Quảng Trị đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương

Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả Luận văn

Phạm Thúy Lan

Trang 3

TÓM TẮT

Xã Hải Lệ nằm về phía Tây Nam của thị xã Quảng Trị, diện tích đất lâm nghiệp của xã tương đối lớn (chiếm 73,33% diện tích tự nhiên), trong đó Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải và BQL rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn lại quản lý tới 79,1% đất lâm nghiệp toàn xã Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp buộc nhiều người dân phải sống dựa vào nghề rừng Thiếu đất, người dân đành làm liều lấn chiếm

để trồng rừng kinh tế Thống kê từ năm 2010 đến nay, trên địa bàn xã có 148,2 ha đất rừng bị lấn chiếm Tình trạng mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng sản xuất trên địa bàn

xã xảy ra gay gắt, kéo dài qua nhiều năm mà chưa giải quyết được

Trên cơ sở thu thập thông tin từ các cơ quan liên quan kết hợp với điều tra

phỏng vấn, đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng sản xuất giữa người dân xã Hải Lệ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải” đã đánh giá được tình hình cơ bản của xã Hải

Lệ; hiện trạng quản lý, sử dụng rừng và đất rừng sản xuất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải; các hoạt động dựa vào rừng của các thôn được nghiên cứu; xác định được phương thức quản lý rừng đang tồn tại tại xã Hải Lệ là quản lý Nhà nước do các chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải, BQL RPH lưu vực sông Thạch Hãn và chính quyền địa phương quản lý và quản lý hộ gia đình Từ đó đã tìm ra được 2 hình thức mâu thuẫn chính trong sử dụng rừng và đất rừng sản xuất ở xã Hải

Lệ là: mâu thuẫn giữa các hộ gia đình và mâu thuẫn giữa hộ gia đình và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải Trong đó mâu thuẫn cần được tập trung giải quyết là mâu thuẫn giữa các hộ gia đình và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải Trong đó vai trò trách nhiệm của chủ sử dụng đất là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải, đối tượng vi phạm là hộ gia đình và cơ quan giải quyết tranh chấp là chính quyền địa phương rất quan trọng để giải quyết mâu thuẫn

Từ đó đề tài đã đưa ra được 3 nhóm giải pháp chính để hạn chế/giảm thiểu mâu thuẫn trong sử dụng rừng và đất rừng sản xuất tại xã Hải Lệ là nhóm giải pháp đối với Công ty (công tác tuyên truyền, công tác quản lý, cắm mốc, bàn giao đất cho địa phương, liên kết sản xuất với người dân), nhóm giải pháp về chính sách (hỗ trợ nâng cao đời sống cho người dân, có các chính sách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các chủ rừng) và nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện (rà soát, cắm mốc; cổ phần hóa rừng trồng; đánh giá tình hình sử dụng đất của Công ty )

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

III Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1.1 Tài nguyên rừng và tầm quan trọng của rừng 4

1.1.2 Quản lý, sử dụng đất/rừng 6

1.1.3 Tranh chấp, mâu thuẫn trong sử dụng đất/ rừng 7

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 9

1.2.1 Cơ sở pháp lý 9

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 10

1.2.3 Lịch sử các công trình nghiên cứu có liên quan 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 21

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 22

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

3.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA XÃ HẢI LỆ 23

3.1.1 Điều kiện tự nhiên– tài nguyên và môi trường 23

Trang 5

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội……… …….25

3.1.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế- xã hội gây áp lực đối với đất đai……… 25

3.1.4 Tình hình quản lý sử dụng đất đai và tiềm năng đất đai……….……29

3.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG RỪNG VÀ ĐẤT RỪNG SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY TNHH MTV LÂM NGHIỆP TRIỆU HẢI……… ….36

3.2.1 Đặc điểm tình hình chung ……….………36

3.2.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ……… ……….…………33

3.2.3 Những tồn tại cần khắc phục 38

3.3 CÁC HOẠT ĐỘNG DỰA VÀO RỪNG CỦA CÁC THÔN NGHIÊN CỨU 40

3.3.1 Tình hình cơ bản của thôn nghiên cứu……… … 40

3.3.2 Hoạt động sinh kế và an toàn lương thực 42

3.3.3 Các hoạt động sinh kế dựa vào rừng 43

3.4 CÁC PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ RỪNG TẠI XÃ HẢI LỆ 45

3.4.1 Quản lý Nhà nước 45

3.4.2 Quản lý hộ gia đình 46

3.5 CÁC HÌNH THỨC, THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN MÂU THUẪN TRONG SỬ DỤNG RỪNG VÀ ĐẤT RỪNG SẢN XUẤT………… … 47

3.5.1 Các hình thức mâu thuẫn 47

3.5.2 Thực trạng mâu thuẫn 48

3.5.3 Nguyên nhân mâu thuẫn 50

3.6 VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG MÂU THUẪN VỀ SỬ DỤNG RỪNG VÀ ĐẤT RỪNG SẢN XUẤT 54

3.6.1 Đối với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải 54

3.6.2 Đối với người dân địa phương 55

3.6.3 Đối với chính quyền địa phương 56

3.7 CÁC CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN 56

3.7.1 Tách diện tích lấn chiếm giao trả cho địa phương 56

3.7.2 Tuyên truyền, vận động, thuyết phục các hộ lấn chiếm giao trả đất 57

3.7.3 Lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính 57

Trang 6

3.8 CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ/ GIẢM THIỂU MÂU THUẪN……….57

3.8.1 Cơ chế giải quyết mâu thuẫn đất đai hiện hành 57

3.8.2 Các giải pháp hạn chế/ giảm thiểu mâu thuẫn 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

KẾT LUẬN 61

KIẾN NGHỊ 62

Trang 7

6 Nông nghiệp và phát triển nông thôn NN&PTNT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 : Tình hình dân số xã Hải Lệ 21

Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 của xã Hải Lệ……… ……… 26

Bảng 3.3: Hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng sản xuất năm 2017 31

Bảng 3.4: Phân loại rừng và đất rừng sản xuất theo mục đích sử dụng năm 2018 của Công ty LN Triệu Hải……… ………32

Bảng 3.5: Phương án quản lý tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị năm 2015……… ……….…… 32

Bảng 3.6: Phương án phân loại rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị năm 2015……….35

Bảng 3.7: Hoạt động sinh kế tại địa bàn nghiên cứu 37

Bảng 3.8: Tình trạng thu nhập hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu 37

Bảng 3.9: Các hoạt động sinh kế dựa vào rừng thôn Như Lệ 38

Bảng 3.10: Các hoạt động sinh kế dựa vào rừng thôn Tân Mỹ 39

Bảng 3.11: Các hình thức mâu thuẫn 40

Bảng 3.12: Tình hình mâu thuẫn giữa các hộ dân thôn Như Lệ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải 42

Bảng 3.13: Tình hình mâu thuẫn giữa các hộ dân thôn Tân Mỹ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải 42

Bảng 3.14: Nguyên nhân lấn chiếm/tranh chấp tại thôn Như Lệ 43

Bảng 3.15: Nguyên nhân lấn chiếm/tranh chấp tại thôn Tân Mỹ 44

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Cơ cấu kinh tế của xã Hải Lệ năm 2018 22 Hình 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 của xã Hải Lệ………… ………….…26 Hình 3.3: Biểu đồ so sánh tình trạng thu nhập hộ gia đình của 2 thôn Như Lệ và Tân Mỹ 38 Hình 3.4 Các hình thức mâu thuẫn 41 Hình 3.5: Bản đồ diện tích lấn chiếm đất rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp tại địa bàn xã Hải Lệ………43 Hình 3.6: Sơ đồ giải quyết tranh chấp đất đai……….…58

Trang 10

MỞ ĐẦU

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đời sống của con người Rừng vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành Lâm nghiệp (LN) Rừng có tác dụng về nhiều mặt, không những là nguồn sản xuất ra gỗ, củi, lương thực thực phẩm và các lâm sản khác, mà còn có tác dụng to lớn về cải tạo, bảo vệ môi trường sống, điều hoà nguồn nước và có vai trò quan trọng đối với quốc phòng Bên cạnh đó, rừng còn có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, phong cảnh,

du lịch…

Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Một trong những đòi hỏi để thực hiện thành công nhiệm vụ này là phải có những cơ chế thích hợp thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Ngoài ra, với việc thực hiện đổi mới mô hình hoạt động từ lâm trường quốc doanh sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các công ty lâm nghiệp được

kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển biến mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như góp phần quản lý bảo vệ rừng hiệu quả Tuy nhiên, sau đổi mới có không ít doanh nghiệp lâm nghiệp rơi vào bế tắc, hoạt động không hiệu quả, phát sinh tranh chấp Mâu thuẫn giữa người dân với công ty lâm nghiệp ngày càng phức tạp

Rừng không chỉ đóng vai trò to lớn về mặt môi trường mà đang là ngành kinh tế chủ đạo của nhiều địa phương tỉnh Quảng Trị Tuy nhiên, cùng với giá trị về rừng được khẳng định thì tình trạng phá rừng, tranh chấp, lấn chiếm đất rừng để trồng rừng trái phép đã gia tăng cả về quy mô lẫn mức độ vi phạm Có một thời đất rừng ít ai màng đến và sự phân chia quản lý lâm phần thời đó còn theo hình thức “khoán trắng” Ngược lại, những năm trở lại đây, khi giá trị về rừng tăng lên, mỗi tấc đất, tấc rừng là tấc vàng và nguyện vọng được làm “lâm dân” của nhiều người thì tình trạng phá, tranh chấp, lấn chiếm đất rừng trở nên phức tạp

Thị xã Quảng Trị có diện tích rừng và đất rừng sản xuất chiếm 4.760,31 ha tổng diện tích đất tự nhiên thì đã có 2 đơn vị là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) Lâm nghiệp Triệu Hải và Ban quản lý rừng phòng hộ (BQL RPH) lưu vực sông Thạch Hãn quản lý 3.751,16 ha chiếm 78,8% diện tích rừng của thị xã Trong lúc đó, toàn thị xã có đến 2.646 lao động sản xuất nông lâm nghiệp (chiếm 71% tổng số lao động) đang cần đất sản xuất Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp buộc nhiều người dân phải sống dựa vào nghề rừng Thiếu đất, người dân đành làm liều lấn chiếm để trồng rừng kinh tế Thống kê từ năm 2010 đến nay, thị xã Quảng Trị có 148,2 ha đất rừng bị lấn chiếm [6]

Trang 11

Hải Lệ là một xã thuộc thị xã Quảng Trị Xã có tổng diện tích tự nhiên là 6.467,0

ha Nền kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp Hiện tại đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp 5.510,35 ha, chiếm 85,2% diện tích tự nhiên [13] Trong những năm qua, thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới bộ mặt nông thôn xã Hải Lệ ngày càng được khang trang, hệ thống cơ sở hạ tầng từng bước được nâng lên Tuy nhiên vẫn chưa hoàn thiện và chưa đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của người dân Đặc biệt, trong thời gian gần đây, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang có chiều hướng diễn ra nhanh chóng cùng với tốc độ gia tăng dân số tương đối cao trên địa bàn xã gây ra nhiều khó khăn và phức tạp trong vấn đề sử dụng đất

Xuất phát từ nhu cầu thực tế của địa phương, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu

đề tài sau: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý mâu thuẫn trong

sử dụng đất rừng sản xuất giữa người dân xã Hải Lệ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải” nhằm đưa ra những kiến nghị, đề xuất góp phần cho việc quản lý,

sử dụng rừng và đất rừng sản xuất có hiệu quả ở địa bàn

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1 Mục tiêu chung

Đánh giá được thực trạng các khu vực đất rừng sản xuất xảy ra mâu thuẫn và đề xuất các giải pháp giảm thiểu mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng sản xuất giữa người dân địa phương và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải

- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng sản xuất giữa người dân địa phương và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải

III Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần nghiên cứu cơ sở lý luận trong việc quản lý các mâu thuẫn về sử dụng đất rừng sản xuất tại Việt Nam nói chung và thị xã Quảng Trị nói riêng

Trang 12

2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ giúp cho chính quyền địa phương nắm rõ thực trạng sử dụng rừng và đất rừng sản xuất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải; các mâu thuẫn giữa người dân và Công ty Để từ đó có các giải pháp giải quyết mâu thuẫn, nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai nói chung và đất rừng sản xuất nói riêng

- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các địa phương có bối cảnh tương tự

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Tài nguyên rừng và tầm quan trọng của rừng

1.1.1.1 Tài nguyên rừng

* Khái niệm tài nguyên rừng

Theo Khoản 3 điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên.[8]

* Phân loại rừng: rừng được phân thành 03 loại:

- Rừng đặc dụng: Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; cung ứng dịch vụ môi trường rừng bao gồm:

+ Vườn quốc gia

+ Khu dự trữ thiên nhiên

+ Khu bảo tồn loài - sinh cảnh

+ Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao

+ Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia [8]

- Rừng phòng hộ: được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng; được phân theo mức độ xung yếu bao gồm:

Trang 14

+ Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư; rừng phòng hộ biên giới;

+ Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển [8]

- Rừng sản xuất: được sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng [8]

1.1.1.2 Tầm quan trọng của rừng [10]

* Môi trường

- Khí hậu: Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm đáng

kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đất mà nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu

Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớn carbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu và ổn định khí hậu

- Đất đai: Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có

đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa

và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốt tạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt

- Tài nguyên khác: Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng có vai trò điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa) Rừng

có vai trò rất lớn trong việc: chống cát di động ven biển, che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, cung cấp gỗ, lâm sản, Rừng nơi cư trú của rất nhiều các loài động vật: Động vật rừng nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, da lông, sừng thú là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị

- Đa dạng sinh học: Rừng Việt Nam rất phong phú Với đặc trưng về khí hậu, có gió mùa đông nam thổi tới, gió lạnh đông bắc tràn về, gió từ cao nguyên Tây Tạng và

Trang 15

sườn đông dãy Hymalaya, gió tây nam từ Ấn Độ Dương đi qua đem các loại hạt giống của các loài cây di cư đến nước ta Vì vậy, thảm thực vật nước ta rất phong phú

- Du lịch sinh thái: là một dịch vụ của rừng cần sử dụng một cách bền vững Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt Du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng them thu nhập cho dân địa phương Thông quá đó, người dân đã gắn bó với rừng hơn, tham gia tích cực hơn trong công tác bảo vệ và xây dựng rừng

* Xã hội

- Ổn định dân cư: Cùng với rừng, người dân được nhà nước hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn cùng với các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho người dân Giúp dân thấy được lợi ích của rừng, gắn bó với rừng hơn Từ đó người dân

1.1.2.2 Quản lý, sử dụng rừng

* Quản lý rừng:

Trang 16

Theo Khoản 3 điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017: Quản lý rừng là phương thức quản trị rừng bảo đảm đạt được các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, không làm suy giảm các giá trị và nâng cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh [8]

* Sử dụng rừng:

Theo Khoản 3 điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017: Sử dụng rừng là quyền của chủ

rừng được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ rừng [8]

1.1.3 Tranh chấp, mâu thuẫn trong sử dụng đất/ rừng

1.1.3.1 Khái niệm tranh chấp, mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng

Theo Khoản 26 điều 4 Luật đất đai 2013: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai [7]

Như vậy tranh chấp đất rừng được hiểu là những xung đột, bất đồng, mâu thuẫn

về quyền và nghĩa vụ trong quản lý, sử dụng đất rừng

Tính phức tạp, gay gắt của tranh chấp đất đai không chỉ dừng lại ở khía cạnh tranh chấp dân sự mà còn có thể dẫn đến các vụ án hình sự, thậm chí còn mang tính chính trị, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội

1.1.3.2 Các dạng tranh chấp quyền sử dụng đất rừng: gồm có 4 dạng

- Tranh chấp về ranh giới sử dụng đất rừng

- Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất rừng, tài sản gắn liến với quyền sử dụng đất cho cá nhân hoặc ho những người thân trong gia đình trước đây đã từng khai hoang nhưng đã được Nhà nước giao, cấp cho các cá nhân, tổ chức khác

- Tranh chấp quyền sử dụng đất rừng và tài sản gắn liền với quyền sử đụng đất rừng khi vợ chồng ly hôn

- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất rừng và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất rừng

Hoặc tranh chấp quyền sử dụng đất rừng còn có thể được chia làm 2 dạng tranh chấp:

- Tranh chấp Quyền sử dụng đất rừng mà một trong các bên đương sự có GCNQSD đất

- Tranh chấp Quyền sử dụng đất rừng mà đương sự không có GCNQSD đất rừng hay một số giấy tờ khác theo quy định

1.1.3.3 Khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất rừng

Trang 17

Tranh chấp quyền sử dụng đất rừng là loại tranh chấp dân sự giữ những người sử dụng đất rừng hay nói cách khác là tranh chấp giữa các bên với nhau về quyền sử dụng đất hợp pháp một diện tích đất rừng nào đó

Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất rừng có thể được hiểu là việc tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết kịp thời, đúng đắn những mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên xảy ra trong quá trình sử dụng đất rừng

1.1.3.4 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai

- Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Để giải quyết một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp như tự thương lượng, thỏa thuận với nhau Pháp luật đất đai không quan tâm cách thức họ thỏa thuận thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc giải quyết đó mà thôi Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí,

tự do định đoạt của các chủ thể và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho họ nếu như họ không có được sự thống nhất Một khi đã có sự tham gia của

cơ quan nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp là cần thiết, bởi

lẽ có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như chính cơ quan nhà nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và giải quyết theo trình tự, thủ tục gì

- Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp là tranh chấp đất đai, trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước xác định rõ những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với khu đất đang bị tranh chấp

- Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật

- Đề cao hòa giải, huy động đoàn thể địa phương tham gia

- Liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, như: nhà, xây dựng

- Cần phải hiểu phong tục, tập quán địa phương để có cách giải quyết thỏa đáng

1.1.3.5 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai

- Đảm bảo đất đai thuộc sở hữ toàn dân, Nhà nước là người đại diện cho chủ sở hữu, Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai

- Đảm bảo lợi ích cho người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự hòa giải, thương lượng trong nội bộ quần chúng nhân dân

- Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự

Trang 18

- Ổn định kinh tế, xã hội gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi

cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa

1.1.3.6 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai

* Nguyên nhân khách quan:

- Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất lâu đời chưa xác định rõ ranh giới, việc quản lý

và sử dụng trải qua từng giai đoạn phát triển của lịch sử đất nước

- Quy định về quản lý và sử dụng đất đai chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa thiết lập mặt bằng pháp lý

- Sự hiểu biết về pháp luật của người dân còn kém

- Sự biến động về dân số làm cho nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng

* Nguyên nhân chủ quan:

- Giải quyết các mâu thuẫn trong nhân dân chưa triệt để và thỏa đáng

- Công tác quản lý đất đai một số nơi còn yếu, không thường xuyên kiểm tra, rà soát trong nhân dân

- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân chưa được chú trọng

1.1.3.7 Mục đích, ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp đất đai

- Tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu

thuẫn trong nội bộ nhân dân, phục hồi quyền lợi hợp pháp cho bên bị hại, đồng thời bắt buộc bên vi phạm phải gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra

- Làm cho pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội Điều chỉnh quan

hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước, xã hội và người sử dụng đất Giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân để ngăn ngừa vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra

Trang 19

- Nghị định số 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 quy định về giao khoán rừng, vườn cây và diện tích mặt nước trong các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ

và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp nhà nước

- Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai

- Nghị đinh số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai

- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về quy định

xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

- Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các Công ty nông, lâm nghiệp

- Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg ngày 01/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ

về ban hành quy chế quản lý rừng sản xuất

- Quyết định số 146/2005/QĐ-TTg ngày 15/6/2005 về chính sách thu hồi đất sản xuất của các nông, lâm trường để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

- Thông tư số 70/2007/TT-BNN ngày 01/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc hướng dẫn và tổ chức thực hiện Quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.2.1 Trên Thế giới

Theo FAO, đến năm 1991 tổng diện tích rừng trên thế giới chỉ còn khoảng 3.717 triệu ha, trong đó 1.867 triệu ha ở rừng Bắc Cực và Địa Trung Hải ổn định hoặc tăng lần một ít, còn 1.850 triệu ha rừng nhiệt đới lại bị giảm bình quân 1%/năm Từ năm 1981- 1991, tỉ lệ rừng bị giảm đã tăng 80% so với thời kỳ 10 năm trước Nguyên nhân chủ yếu làm cho rừng bị suy giảm là sự can thiệp vô ý thức của con người như chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy, săn bắt chim thú rừng quá mức…những điều này

đã dẫn đến những tác hại vô cùng to lớn đến hệ sinh thái rừng, đến cuộc sống các sinh vật trong rừng, đến nguồn nước, đất, không khí, hàm lượng O2 và CO2 trong khí quyển… Mặt khác, do dân số ngày càng tăng nhanh, kéo theo nhu cầu về vật chất và

xã hội ngày càng tăng lên nhất là nguồn năng lượng Trong khi đó, công tác quản lý bảo vệ rừng chưa chặt chẽ, chưa có những chính sách phù hợp Tất cả những vấn đề

Trang 20

trên dẫn đến nguồn tài nguyên rừng ngày càng suy giảm, biểu hiện là diện tích rừng và đất rừng liên tục bị giảm sút [12]

Mâu thuẫn đất rừng sản xuất không phải chỉ có ở Việt Nam mà phổ biến tại nhiều nước Trong báo cáo về xung đột đất rừng sản xuất tại một số quốc gia, Yasmi và cộng

sự (2010) chỉ ra rằng cạnh tranh đất đai vì mục tiêu phát triển, khai thác tài nguyên và bảo tồn ngày càng nóng bỏng và điều này đã làm cho mâu thuẫn đất đai giữa cộng đồng và người ngoài (bao gồm các công ty, cơ quan Nhà nước) ngày càng trầm trọng,

cả về số vụ mâu thuẫn lẫn quy mô Mâu thuẫn đất rừng sản xuất gây ra các tác động tiêu cực cả về mặt xã hội (gây bất ổn xã hội, mất lòng tin giữa Nhà nước và người dân, chia rẽ các hộ trong và bên ngoài cộng đồng), về kinh tế (gây tốn thời gian và chi phí, giảm cơ hội đầu tư) và môi trường (mất rừng, suy thoái rừng) Mâu thuẫn do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm tranh chấp về quyền hưởng dụng, sự phối hợp hạn chế và không đồng bộ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liênquan, do thiên vị về chính sách (ví dụ ưu tiên phát triển kinh tế quốc gia thay vì lợi ích của cộng đồng).[12]

1.2.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006- 2020, ngành Lâm nghiệp được Nhà nước giao quản lý hơn 16.24 triệu ha rừng và đất rừng Nhìn lại hơn nửa thế kỷ qua có thể thấy, diện tích đất có rừng giảm liên tục từ năm 1943 đến

1990 (từ 14 triệu ha năm 1943 xuống 9,3 triệu ha năm 1990) Từ năm 1990, thực hiện chương trình 327/CP và tiếp đó là chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, diện tích rừng

đã liên tục tăng lên Tuy diện tích rừng có tăng lên song chất lượng còn thấp; trong 13,5 triệu ha rừng hiện có, bao gồm 10,3 triệu ha rừng tự nhiên, nhưng rừng già chỉ chiếm 6

% diện tích, phần còn lại chủ yếu rừng non mới phục hồi hay rừng nghèo và nghèo kiệt với giá trị kinh tế và tác dụng dịch vụ thấp và 3,2 triệu ha là rừng trồng, chủ yếu các loài

như Thông, Bạch đàn và một số loài Keo [2]

Tài nguyên đất lâm nghiệp

Theo Quyết định 1482 ngày 10/9/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), tính đến hết ngày 1/1/2012 tổng diện tích đất lâm nghiệp của cả nước là 15.373.063 ha, trong đó đã có 12.134.259 ha (chiếm 78,9% tổng diện tích đất lâm nghiệp) đã được giao cho các nhóm đối tượng sử dụng khác nhau Phần còn lại (3.238.804 ha, tương đương 21,1% tổng diện tích đất lâm nghiệp) vẫn chưa được giao

và hiện vẫn đang được quản lý bởi Uỷ Ban Nhân Dân (UBND) xã và cộng đồng (tạm giao để quản lý) [3]

Đối với diện tích đất lâm nghiệp chưa giao, hiện cộng đồng đang quản lý 524.713

ha, chiếm 16,2% diện tích chưa giao Phần còn lại (2.714.091 ha, tương đương 83,8%) hiện vẫn đang được UBND xã trực tiếp quản lý [3]

Trang 21

Tài nguyên rừng

Theo Quyết định 2089 ngày 30/8/2012 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), tính đến hết năm 2011 tổng số diện tích có rừng của cả nước là 13.515.064 ha, được chia làm 3 loại theo chức năng chính, bao gồm: rừng sản xuất (6.677.105 ha, chiếm 50% trong tổng số diện tích rừng), rừng phòng hộ (4.644.404 ha, 34%) và rừng đặc dụng (2.011.261 ha, 15%) Phần còn lại (182.294 ha, tương đương 1%) chưa được phân loại Diện tích rừng trong cả nước được giao cho 7 nhóm chủ rừng chính: hộ gia đình , ban quản lý, công ty lâm nghiệp, UBND, cộng đồng, tổ chức Quân đội, tổ chức khác.[1]

Từ hơn một thập kỷ qua, Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo trên phạm vi toàn quốc Mục tiêu tổng quát của chương trình là đảm bảo an ninh lương thực, vật chất và điều kiện tinh thần cho người dân sinh sống ở các xã khó khăn trên cơ sở quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn một cách bền vững

Chính sách giao đất khoán rừng được thực hiện từ những năm cuối của thế kỷ trước tạo ra sự phong phú và đa dạng về chủ sử dụng và quản lý rừng (trước đây rừng chủ yếu là do Nhà nước quản lý và sử dụng, nay số lượng chủ quản lý tăng lên đến hàng triệu hộ gia đình và các thành phần kinh tế khác nhau)

- Tuy nhiên, tình hình xâm hại rừng trong những năm qua và hiện nay vẫn còn diễn ra hết sức phức tạp, tính chất vi phạm ngày càng tinh vi, đặc biệt là các hành vi chặt phá rừng, khai thác gỗ bất hợp pháp, lấn chiếm đất lâm nghiệp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái phép vẫn tiếp tục xảy ra, tình trạng chống người thi hành công vụ diễn ra ở nhiều địa phương, gây hậu quả nghiêm trọng, trong đó nhiều nhất là ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, Ðông Nam Bộ và ven biển Miền Trung

Bên cạnh tình trạng rừng tự nhiên bị chặt phá trái pháp luật, rừng tự nhiên còn bị suy giảm do yêu cầu phát triển kinh tế xã hội phải chuyển mục đích sử dụng hoặc chuyển đổi sang trồng cây cao su (chuyển đổi theo qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất)

- Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2009, cả nước

đã bị mất 489 ha rừng, tăng 77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị

cháy là 244 ha (tăng 68%), còn diện tích rừng bị chặt phá là 245 ha Như vậy, trung

bình một ngày, có 5,5 ha rừng bị tàn phá [11]

- Qua những số liệu nêu trên, chỉ trong vài năm qua ở một số tỉnh cũng cho thấy tình hình chặt phá rừng đã diễn ra hết sức nghiêm trọng Qua đó cũng cho thấy những

số liệu thống kê báo cáo hàng năm của các địa phương đã không phản ánh đúng thực

tế Tính đến 12.2008, diện tích rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn 10.323.078 ha, chất lượng rừng tự nhiên đã bị giảm sút nghiêm trọng, hơn 90% diện tích rừng tự nhiên đã

Trang 22

bị tác động trong suốt thời gian dài làm phá vỡ cấu trúc rừng, suy thoái các hệ sinh thái

tự nhiên, suy giảm đa dạng sinh học, tác động lớn đến sự phát triển bền vững về kinh

tế – xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ và kinh tế trọng điểm phía Nam [11]

- Nguyên nhân sâu xa của thực trạng nêu trên mà trong Chỉ thị số TTg ngày 16/5/2003 và Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng; ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép là: Các ngành, các cấp chính quyền từ xã, huyện, tỉnh chưa thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 1998 về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, chưa thể hiện rõ vai trò trách nhiệm của các cấp chính quyền đối với việc trấn áp bọn tội phạm phá rừng [9]

12/2003/CT Ngoài những nguyên nhân nêu trên, những nguyên nhân khác nữa là do năng lực quản lý và bảo vệ rừng của nhiều chủ rừng còn hạn chế; lực lượng bảo vệ rừng ở

cơ sở chưa kiểm soát được tình hình ở một số nơi; công tác kiểm tra, kiểm soát, tuần tra truy quét lâm tặc chưa được tiến hành thường xuyên; công tác quy hoạch đất lâm nghiệp chưa ổn định, ranh giới ba loại rừng chưa được xác định và cắm mốc ở thực địa Bên cạnh đó, nhu cầu thị hiếu sử dụng gỗ và lâm sản ngày càng có xu hướng tăng lên, đời sống của nhân dân ở vùng có rừng còn nhiều khó khăn dẫn đến người dân phải phá rừng để mưu sinh

- Trong 10 năm qua, kinh tế xã hội nước ta đã có nhiều thay đổi, tăng trưởng về kinh tế không ngừng tăng Cơ cấu ngành nông lâm nghiệp đã có những bước chuyển dịch mạnh mẽ, từ sản xuất nông lâm nghiệp độc canh chuyển sang đa dạng hóa các loài cây trồng Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cùng với việc Nhà nước đã đầu tư nhiều chương trình, dự án cho ngành lâm nghiệp đã làm cho diện tích rừng và đất lâm nghiệp có sự biến động lớn so với 10 năm trước đây, sự biến động đã diễn ra theo hai chiều trái ngược nhau: tăng lên và suy giảm

- Hơn nữa, 10 năm qua, dân số cả nước đã tăng thêm gần 10 triệu người, trong đó dân số tăng nhiều ở các vùng nông thôn miền núi Cùng với việc tăng dân số tự nhiên,

di dân tự do giữa các vùng, miền cũng khiến cho dân số ở các địa phương có tài nguyên đẩt đai màu mỡ tăng lên Dân số tăng lên, nhu cầu cho sinh tồn và phát triển cũng tăng lên, cùng với đó là phương thức canh tác lạc hậu, kém hiệu quả, và với tập quán du canh chưa được xóa bỏ của đồng bào các dân tộc ở miền núi đã là nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng trong nhiều năm qua

Trang 23

- Từ những nguyên nhân nêu trên, sự suy giảm tài nguyên rừng, mà đặc biệt là số lượng và chất lượng rừng tự nhiên là rất lớn Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan của công tác quản lý bảo vệ rừng như đã nêu ở trên, nên số liệu công

bố về diện tích rừng hiện nay chưa được cập nhật một cách đầy đủ, chính xác

* Tình hình quản lý rừng ở các lâm trường quốc doanh

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh, đến nay tình trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của các lâm trường quốc doanh vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là mâu thuẫn đất đai giữa lâm trường và người dân địa phương Thực tế cho thấy, các lâm trường được giao quản lý nhiều đất rừng nhưng hiệu quả sử dụng thấp, trong khi đó người dân sống gần rừng lại thiếu đất sản xuất

Sau quá trình đổi mới, sắp xếp, các lâm trường được chuyển tên thành các công

ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên Nhưng việc này chỉ có ý nghĩa về mặt hành chính

mà vấn đề cốt lõi vẫn chưa được giải quyết là mâu thuẫn về đất rừng giữa lâm trường

và người dân

Theo báo cáo tại Hội nghị tổng kết NQ28 ngày 6 tháng 1 năm 2012 diện tích tranh chấp lấn chiếm đến hết năm 2011 là gần 76.000 ha, diện tích đất tranh chấp giữa lâm trường và người dân có xu hướng tăng cao hơn so với trước, lên tới hơn 30.600 ha diễn biến ngày càng phức tạp

Theo nghiên cứu của Viện Tư vấn phát triển, con số trên chỉ là phần nhỏ của

“tảng băng chìm” về tình trạng tranh chấp trong thực tế, khi người dân không có đất để đảm bảo sinh kế, mà lâm trường thì thừa đất đem cho thuê

Số liệu thống kê mới đây cho thấy, cả nước có 148 công ty lâm nghiệp, trung bình mỗi công ty sử dụng khoảng 14.000 ha đất rừng nhưng sử dụng lại không hiệu quả Không ít địa phương cắt đất của lâm trường cho các công ty tư nhân thuê để phát triển cây công nghiệp vì mục đích lợi nhuận, thay vì phải chia đất cho người dân để bà con có sinh kế làm ăn, vươn lên thoát nghèo Sự bất ổn còn thể hiện trong trường hợp lâm trường giao hợp đồng khoán và bảo vệ rừng cho người ngoài cộng đồng, thường là những người giàu mà không giao cho người dân tại chỗ, từ đó làm mất cơ hội về thu nhập và việc làm của những người dân nghèo sống gần rừng

Hiện 4.463.241 ha đất lâm nghiệp đã được giao cho khoảng 1,4 triệu hộ gia đình [4], trong đó chỉ có 3.120.377 ha là đất rừng sản xuất Tính bình quân, mỗi hộ gia đình hiện đang quản lý và sử dụng khoảng 2,6 ha đất rừng sản xuất Với bình quân 4-5 khẩu/hộ như hiện nay thì mỗi khẩu chỉ có dưới 0,5 ha đất rừng sản xuất Tuy nhiên, trong đất rừng sản xuất được giao cho hộ có một số diện tích không phù hợp cho canh

Trang 24

tác, và một số diện tích đã có rừng tự nhiên là rừng sản xuất, và cho đến nay Nhà nước vẫn chưa có cơ chế để đảm bảo hộ có thể được hưởng lợi từ diện tích này

Tại nhiều nơi ở miền núi, diện tích canh tác lúa nước của các hộ rất hạn chế và hiện có xu hướng bị thu hẹp bởi nguồn nước tưới hạn chế và bị thu hồi đất cho các dự

án phát triển

Trong bối cảnh như vậy và trong điều kiện dân số ngày gia tăng thì sức ép lên đất lâm nghiệp càng ngày càng lớn Mâu thuẫn đất đai đặc biệt giữa các Công ty lâm nghiệp, nơi có các diện tích đất tiếp giáp với địa bàn dân cư và các hộ dân xảy ra ở hầu hết các địa phương, với quy mô càng ngày càng phổ biến, không chỉ đơn thuần là ở mức độ cá thể từng hộ gia đình mà nhiều nơi có sự tham gia của cả cộng đồng

Trong khi đó, theo thống kê của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giai đoạn

2009-2011, có trên 347.000 hộ thiếu đất với chiều hướng ngày càng gia tăng Thiếu đất cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo cao tại các địa phương có rừng [15] Hiện nay, vẫn còn khoảng 132.000 ha đất rừng thuộc quyền quản lý của các lâm trường quốc doanh nhưng vẫn chưa được sử dụng cho thấy sự lãng phí tài nguyên quý giá này Tính trung bình một cán bộ của lâm trường quản lý tới 100 ha rừng

Những mâu thuẫn giữa lâm trường và người dân nếu kéo dài và phức tạp sẽ có tác động tiêu cực về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, làm căng thẳng mối quan

hệ giữa người dân, lâm trường, chính quyền địa phương Hiện nay, cơ chế giải quyết mâu thuẫn đất đai giữa lâm trường và người dân ở một số địa phương đang rơi vào tình trạng bế tắc

Vì thế, để tháo gỡ những mâu thuẫn giữa lâm trường và người dân, Nhà nước cần thực hiện tổng điều tra đánh giá, rà soát lại một cách kỹ lưỡng về sử dụng đất của lâm trường, cũng như tình trạng thiếu đất và nhu cầu đất canh tác tối thiểu của các hộ dân Trên cơ sở đó, những phần đất lâm trường hiện sử dụng không hợp lý, kém hiệu quả

để giao lại cho người dân dựa trên nhu cầu Phần đất còn lại (nếu còn), Nhà nước tiến hành cho thuê đất dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa các đối tượng tham gia

1.2.2.3 Ở Quảng Trị

Tỉnh Quảng Trị hiện có tổng diện tích đất, rừng lâm nghiệp hơn 300.000 ha Hầu hết diện tích đất, rừng lâm nghiệp đã giao cho các công ty lâm nghiệp, Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ, các địa phương quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất Tuy vậy,

do đất rừng ngày càng có giá trị và một số đơn vị, địa phương còn buông lỏng trong công tác quy hoạch, quản lý nên đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhất là tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất rừng đang xảy ra phổ biến

Tính đến năm 2017, tỉnh Quảng Trị đã giao cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải (Công ty Lâm nghiệp Bến Hải) quản lý 8.600 ha, Công ty Lâm nghiệp

Trang 25

Đường 9: 7.002,5 ha, Công ty Lâm nghiệp Triệu Hải: 5.194 ha; BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa-Đakrông hơn 26.227 ha, BQL rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải: 25.800 ha, BQL rừng lưu vực sông Thạch Hãn: 8.400 ha; số diện tích đất, rừng còn lại được giao cho các địa phương quản lý, sử dụng

Để nâng cao hiệu quả mang lại từ công tác quản lý, bảo vệ rừng, tỉnh Quảng Trị

đã tiến hành quy hoạch 3 loại rừng, đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, địa phương và người dân phát triển lâm nghiệp bền vững Nhờ tranh thủ tối đa các chương trình, dự án như: Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, 327, 661, 773…nên đến nay trên toàn tỉnh đã có 330.000 ha rừng, phủ kín diện tích đất lâm nghiệp, nâng độ che phủ rừng đạt xấp xỉ 50% Người dân rất phấn khởi tham gia trồng rừng, trồng cây phân tán và mở rộng diện tích rừng tập trung, đặc biệt là rừng được cấp chứng chỉ FSC để mang lại giá trị kinh tế cao

Tuy nhiên thực trạng xâm lấn đất rừng lâu nay đã xảy ra khá phổ biến ở nhiều địa phương, đặc biệt trong mấy năm trở lại đây do gỗ rừng trồng có giá trị nên người dân ở vùng gò đồi, miền núi đổ xô đi trồng rừng Ngoài diện tích đất được nhà nước giao có không ít hộ dân đã ngang nhiên xâm lấn đất mà phổ biến nhất là tình trạng chặt phá rừng để chiếm đất trồng rừng, gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, tạo

ra xung đột gay gắt với các đơn vị được giao quản lý, bảo vệ rừng BQL rừng phòng

hộ Hướng Hóa- Đakrông hiện đang quản lý 26.227 ha rừng, đất rừng trải dài trên địa bàn 15 xã, thị trấn thuộc hai huyện miền núi Hướng Hóa, Đakrông

Diện tích rừng và đất rừng phòng hộ nằm xen kẻ với các khu dân cư và đất sản xuất, đất nương rẫy của người dân địa phương Hiện nay, tại khu vực rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp ở các xã Hướng Phùng, Tân Thành (Hướng Hóa) đang bị một số người dân vào chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy Từ đầu năm 2017 đến nay,

ở tiểu khu 695P, xã Hướng Phùng và tiểu khu 693, xã Tân Thành do BQL rừng phòng

hộ Hướng Hóa-Đakrông quản lý đã có 7,59 ha đất lâm nghiệp, rừng bị chặt phá Ngoài

2 tiểu khu trên, ở khu vực giáp ranh do địa phương quản lý còn xảy ra tình trạng khai thác trái phép cây rừng

Từ nhiều năm qua, công ty đã phối hợp với chính quyền địa phương vận động người dân sau khi khai thác hết phần cây, tự nguyện trả lại đất cho công ty nhưng vẫn chưa được người dân chấp thuận Riêng đối với các địa phương, mặc dù đã có sự tăng cường quản lý về đất đai nhưng trong thực tế vẫn còn một số bất cập Chẳng hạn như ở huyện Triệu Phong qua rà soát cho thấy có 13 tổ chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật đất đai ở 15 khu đất, trong đó 8 tổ chức không sử dụng 9 khu đất, 3 tổ chức sử dụng 3 khu đất không đúng mục đích, 3 tổ chức lấn chiếm đất đai 3 khu đất

Trang 26

Không chỉ riêng Cam Lộ, Gio Linh mà các huyện khác như Vĩnh Linh, Gio Linh, Hướng Hóa, Đakrông hiện nay vẫn đang xảy ra hàng trăm vụ người dân phá, lấn chiếm rừng và đất rừng Riêng tại huyện Đakrông, từ đầu năm đến nay có trên 100 vụ phá, lấn chiếm rừng và đất rừng với diện tích 63,16 ha Phần lớn diện tích rừng bị phá, lấn chiếm là rừng tự nhiên của các chủ rừng lớn như BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa-Đakrông, BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông và rừng tự nhiên do các xã quản lý Thực trạng này là minh chứng rõ nét về sự xung đột về đất, rừng giữa các chủ rừng với người dân địa phương, đặt ra bài toán vô cùng nan giải đối với công tác quản lý, bảo

Mâu thuẫn đất đai giữa Công ty và các hộ dân xảy ra ở tất cả các thôn nơi Công

ty được giao đất lâm nghiệp để sử dụng và quản lý Tổng diện tích đất bị các hộ dân lấn chiếm lên tới 17.095 ha, chiếm 78,3% diện tích đất công ty hiện đang được giao quản lý

* Nguyên nhân mâu thuẫn

- Tình trạng thiếu đất sản xuất không được quan tâm giải quyết

- Bất công trong quản lý sử dụng đất của Công ty

- Mâu thuẫn giữa quyền truyền thống và quyền hợp pháp

* Cơ chế giải quyết mâu thuẫn

Hiện vẫn chưa có cơ chế giải quyết mâu thuẫn đất đai tại địa bàn Vai trò của UBND xã trong việc giải quyết tranh chấp rất hạn chế, chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ hòa giải UBND huyện có vai trò lớn hơn so với cấp xã, nhưng do thiếu cơ sở và nguồn lực giải quyết tranh chấp (thiếu bản đồ thực tế, thiếu mốc giới trên thực địa, thiếu cán bộ và ngân sách) các tranh chấp đất đai khi lên đến cấp huyện thì thường rơi vào bế tắc Bên cạnh đó, về mặt quản lý Công ty không trực thuộc Chính quyền địa phương mà do Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam quản lý, vai trò của Chính quyền huyện và xã trong việc chỉ đạo Công ty giải quyết tranh chấp đôi với người dân là không khả thi Bên cạnh đó, do không phải là đơn vị chủ quản của Công ty, UBND

Trang 27

tỉnh cũng không ưu tiên phân bổ tài chính nhằm giúp Công ty giải quyết tranh chấp, trong đó bao gồm kinh phí thực hiện việc rà soát, đo đạc và chia đất cho các hộ

1.2.3.2 Tranh chấp đất giữa Công ty Long Đại và người dân tại xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình [12]

Diện tích đất đai của Công ty được giao quản lý 100.035 ha, trong đó có 71.000

ha là rừng tự nhiên, khoảng 17.000 ha rừng trồng và 11.500 ha đất chưa có rừng

Trường Sơn là một xã thuộc huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình Đến nay, hầu hết (96,4%) diện tích đất lâm nghiệp của xã là đất do các Lâm trường và Ban quản lý rừng phòng hộ quản lý, với tổng diện tích trên 70.000 ha Xã Trường Sơn có tổng số

15 bản đồng bào dân tộc Mâu thuẫn đất đai giữa Công ty và người dân xảy ra ở tất cả

15 bản của xã

Tại Trường Sơn, mâu thuẫn thường mang tính tập thể, bao gồm cả cộng đồng cùng tham gia Tranh chấp thường thể hiện ở các hình thức sau:

- Công ty khai thác rừng trồng đến đâu thì các hộ trồng sắn đến đấy

- Tất cả hộ dân của bản (như trường hợp bản Khe Cát) ngăn cản không cho công

ty tiếp tục trồng rừng sau khi Công ty khai thác

- Cả cộng đồng bao vây, không cho công ty khai thác phần diện tích rừng trồng Công ty giao khoán cho dân trong khuôn khổ Chương trình 661

- Các hộ phát rừng trồng sắn, trồng keo ở khu vực gần khu dân cư, trên đất của

công ty

* Nguyên nhân mâu thuẫn đất đai

- Người dân thiếu đất canh tác

- Bất công trong sử dụng đất

- Sự kém hiệu quả trong cơ chế giải quyết mâu thuẫn

* Cơ chế giải quyết mâu thuẫn

Để giải quyết tình trạng thiếu đất cho các hộ dân, từ năm 2010, chính quyền xã đã

tổ chức nhiều đợt điều tra khảo sát nhu cầu đất sản xuất của các hộ, rà soát diện tích đất đai có thể thu hồi giao lại cho người dân và trình lên cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết Kết quả đến tháng 11/2012 UBND tỉnh đã có quyết định thu hồi 2.112 ha của Công ty trả về địa phương để giao lại cho người dân thiếu đất Tuy nhiên, diện tích này chưa được rà soát thu hồi Bên cạnh đó, diện tích này cũng chỉ đáp ứng được 1/3 diện tích theo đề nghị của UBND xã, trong số diện tích thu hồi này chỉ khoảng gần

900 ha có khả năng sản xuất, còn lại là ở vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn, ngay cả

Trang 28

Công ty lâm nghiệp cũng không sử dụng hiệu quả được phần diện tích này, bởi vậy mới quyết định trả lại cho địa phương

1.2.3.3 Mâu thuẫn đất đai giữa Công ty M’Đrắk và người dân địa phương tại Đắk Lắk [12]

Công ty lâm nghiệp M’Đrắk được giao quản lý 26.769 ha đất lâm nghiệp (diện tích rà soát và đã trả về địa phương khoảng hơn 3.000 ha), trong đó rừng tự nhiên 15.643 17 ha (rừng phòng hộ 1.763 ha, rừng sản xuất 13.879 ha), rừng trồng 2.903 ha (khoán cho khoảng 1.000 hộ)

Xã Krông Jing của huyện M’Đrắk là 1 trong 5 xã có đất lâm nghiệp của Công ty Tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là 7.452 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 1.949

ha (đất có rừng tự nhiên 819 ha, rừng trồng 861 ha)

Mâu thuẫn về đất đai giữa Công ty M’Đrắk và người dân xảy ra tại tất cả 5 xã của huyện, bao gồm xã Krông Jing Tại xã này, người dân của 6 buôn (trên 15 buôn của cả xã) đã canh tác trên phần diện tích đất của Công Thực tế, phần diện tích đất khoảng gần 3.000 ha mà Công ty đã trả về địa phương sau thực hiện rà soát chủ yếu là diện tích đã bị các hộ lấn chiếm mà Công ty đã mất khả năng thu hồi Đối với đất rừng trồng của Công ty, năm 2012 diện tích có tranh chấp, lấn chiếm khoảng 250 – 300 ha

và có nguy cơ gia tăng khi công ty khai thác rừng trồng

* Nguyên nhân

- Người dân thiếu đất sản xuất

- Sử dụng đất của Công ty không hiệu quả

- Mở rộng thị trường nông sản

- Sự lạm quyền của chính quyền địa phương

* Cơ chế giải quyết mâu thuẫn hiện tại

Hình thức tuyên truyền vận động thuyết phục các hộ trả lại đất lấn chiếm hoặc tuân thủ hợp đồng nhận khoán với công ty (không trồng cây nông nghiệp) hiện đang được Công ty và Chính quyền áp dụng là không hiệu quả Lý do bởi cơ chế này chưa giải quyết được cốt lõi của vấn đề Chính vì vậy cho đến nay hầu hết các vụ tranh chấp, mâu thuẫn vẫn chưa được giải quyết Năm 2012 tại Buôn Tai (xã Krông Jing) có

17 hộ xâm lấn đất rừng trồng của Công ty nhưng Công ty và chính quyền cơ sở chỉ vận động được 6 hộ đồng ý ký hợp đồng và trồng rừng Các hộ còn lại vẫn tiếp tục canh tác trên phần diện tích đã lấn chiếm

1.2.3.4 Những xung đột trong việc quản lý, sử dụng đất giữa người dân và BQLRPH Khu Đông – huyện Ba Tơ – tỉnh Quảng Ngãi [9]

Trang 29

Xung đột về đất đai trên địa bàn huyện nói chung và xung đột giữa người dân với các tổ chức sử dụng đất lâm nghiệp nói riêng trong thời gian qua là rất gay gắt và phức tạp; cụ thể như vụ xung đột giữa người dân xã Ba Bích với Công ty Cổ phần Huyền Trang; xung đột giữa người dân xã Ba Nam với Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Ba Tô; xung đột giữa người dân xã Ba Thành, Ba Vinh với Công ty TNHHMTV Lâm nghiệp Ba Tơ và xung đột giữa người dân xã Ba Thành, Ba Cung, Ba Khâm với BQLRPH Khu Đông … Đây đều là những vụ xung đột có tính chất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Chính vì vậy mà trong thời gian qua Huyện ủy, UBND huyện đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung phối hợp giải quyết dứt điểm các vụ xung đột này, không để xảy ra điểm nóng; có thể nói chưa khi nào mà cả hệ thống chính trị của huyện đặc biệt quan tâm đến vấn đề giải quyết các xung đột về đất đai như trong thời điểm hiện nay Tuy nhiên, việc giải quyết vẫn chưa đem lại hiệu quả Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này; qua nghiên cứu thực tế điển hình tại một số xã có diện tích đất của BQLRPH Khu Đông, thì việc phát sinh xung đột vì các nguyên nhân chính như: Do công tác bồi thường, thu hồi đất có nhiều bất cập, do công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đất rừng sản xuất do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải quản lý

- Các mâu thuẫn trong sử dụng đất rừng sản xuất giữa người dân địa phương và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: diện tích đất rừng sản xuất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải nằm trên địa giới hành chính của xã Hải Lệ

- Phạm vi thời gian: từ năm 2010 - 2018

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Tình hình cơ bản của xã Hải Lệ - thị xã Quảng Trị, các hoạt động sinh kế dựa vào đất rừng sản xuất của các thôn nghiên cứu

- Hiện trạng quản lý và sử dụng đất rừng sản xuất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải

- Các phương thức quản lý rừng tại xã Hải Lệ

- Các hình thức, thực trạng mâu thuẫn trong sử dụng rừng và đất rừng sản xuất ở địa bàn nghiên cứu, vai trò của các bên liên quan trong mâu thuẫn

- Các nguyên nhân gây nên mâu thuẫn trong sử dụng rừng và đất rừng sản xuất và các cơ chế giải quyết mâu thuẫn đã thực hiện

- Các giải pháp hạn chế/giảm thiểu mâu thuẫn

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu

Nghiên cứu này sẽ chọn 2 thôn để làm điểm nghiên cứu, trong đó:

- Thôn Như Lệ: đại diện cho thôn ít xảy ra mâu thuẫn

- Thôn Tân Mỹ: đại diện cho thôn xảy ra mâu thuẫn nhiều

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

Trang 31

- Thu thâp thông tin thứ cấp từ các cơ quan liên quan như Công ty TNHH MTV

Lâm nghiệp Triệu Hải, Trạm kiểm lâm thị xã, Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND xã ; từ các báo cáo khoa học và các tài liệu khác

- Thu thập thông tin sơ cấp thông qua:

+ Thảo luận nhóm kết hợp với phỏng vấn chuyên sâu: phương pháp này được tiến hành với 3 nhóm đối tượng khác nhau: nhóm hộ gia đình/nông dân; nhóm lãnh đạo thôn (trưởng thôn/ban điều hành thôn, chi hội trưởng phụ nữ, chi hội trưởng nông dân, bí thư chi đoàn thôn, già làng…), và nhóm cán bộ (cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải, Hạt kiểm lâm, UBND xã), cụ thể:

Thôn Như Lệ:

- Có 2 nhóm cán bộ là cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải, cán

bộ UBND xã Hải Lệ

- Có 1 nhóm lãnh đạo thôn là trưởng thôn Như Lệ

- Có 30 hộ gia đình trong thôn Như Lệ

Thôn Tân Mỹ:

- Có 2 nhóm cán bộ là cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải, cán

bộ UBND xã Hải Lệ

- Có 1 nhóm lãnh đạo thôn là trưởng thôn Tân Mỹ

- Có 30 hộ gia đình trong thôn Tân Mỹ

+ Điều tra ngẫu nhiên 60 hộ gia đình bằng bảng câu hỏi (30 hộ đại diện cho mỗi thôn; bao gồm cả hộ có tranh chấp và không có tranh chấp đất rừng sản xuất)

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin

- Thống kê, tổng hợp và phân tích các thông tin thu thập được theo từng chủ đề

- Phân tích cây vấn đề

- Phân tích SWOT

- Sử dụng các bảng biểu, sơ đồ để minh họa cho kết quả nghiên cứu

Trang 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA XÃ HẢI LỆ

3.1.1 Điều kiện tự nhiên– tài nguyên và môi trường

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Xã Hải Lệ nằm về phía Tây Nam của thị xã Quảng Trị, có ranh giới hành chính tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp xã Triệu Thượng - huyện Triệu Phong

- Phía Nam giáp xã Hải Lâm - huyện Hải Lăng

- Phía Đông giáp phường 1 - thị xã Quảng Trị và xã Hải Phú - huyện Hải Lăng

- Phía Tây giáp xã Ba Lòng, xã Hải Phúc - huyện Đakrông

Diện tích tự nhiên 6.467,0 ha, số hộ: 1.118 hộ; dân số 4.781 người gồm có 5 thôn: thôn Tích Tường, Như Lệ, Phước Môn, Tân Lệ, Tân Mỹ [14]

b) Địa hình, địa mạo

Là một xã có đồi núi thấp xen kẽ các dải đất bằng hẹp ven sông, địa hình có hướng dốc từ Tây sang Đông theo hướng dòng chảy của sông Thạch Hãn và được chia làm hai dạng địa hình rõ rệt:

- Dạng địa hình đồng bằng và đồi thấp: đoạn tư ngang thôn Tân Xuân (xã Triệu Thượng) tách qua sông Thạch Hãn đến thôn Tân Mỹ, Tân Lệ, Phước Môn trở về phía bắc có địa hình khá bằng phẳng Đây là khu vực tập trung các khu dân cư, khu vực sản xuất đất nông nghiệp và bố trí sản xuất công nghiệp

- Dạng địa hình núi thấp: bao gồm phần đất còn lại về phía Tây và phía Nam Địa hình chủ yếu là đồi núi có độ cao từ 30 đến 200m, cá biệt có những đồi núi cao trên 200m

c) Khí hậu

Xã Hải Lệ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt Mùa khô bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 23 – 25 độ C, nhiệt độ cao nhất (tháng 6 đến tháng 7) khoảng 35 độ C, tháng thấp nhất là (tháng 1 và tháng 12) khoảng 18 độ C d) Thuỷ văn

Trang 33

Do đặc điểm địa hình của xã thuộc bán sơn địa, dốc và bị chia cắt nhiều sông suối đồng thời bị chi phối bởi chế độ mưa, nên khu vực này chế độ thủy văn diễn biến phức tạp, dễ xảy ra lũ cục bộ, lũ quét và sạt lỡ đất, ảnh hưởng đến mùa màng và đời sống nhân dân

3.1.1.2 Các nguồn tài nguyên

a) Tài nguyên đất

Trên địa bàn xã có một số nhóm đất chính sau:

- Đất đồng bằng: Gồm các loại đất phù sa bồi, phù sa không được bồi, phù sa Gơ lây, hiện đang sử dụng trồng lúa, thành phần cơ giới thịt nhẹ và trung bình, độ phì cao

và trung bình, tưới chủ động và bán chủ động, không bị ngập úng, phù sa tầng loang

lỗ

- Đất gò đồi và núi: chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến, đất đai

bị thoái hóa, xói mòn diễn ra khá mạnh, độ sâu tầng dày thấp, hiện tượng kết vón khá phổ biến, đất nghèo dinh dưỡng, chỉ phát triển trồng rừng và màu lương thực

Nhìn chung tài nguyên đất của xã Hải Lệ khá đa dạng về loại đất

b) Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: khá phong phú và được cung cấp bởi các hệ thống sông, hồ trong vùng, đây là nguồn cung cấp tưới chủ yếu cho phát triển sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn xã như:

- Sông Thạch Hãn chảy qua địa bàn với nhiều phụ lưu

- Hồ Phước Môn, Hồ Đập Trấm, Hồ Tích Tường

- Một số ao hồ, bàu có trữ lượng nước tương đối lớn

Nguồn nước ngầm: mực nước ngầm được chia thành hai loại theo đặc điểm địa hình:

- Vùng đồng bằng: mực nước ngầm tương đối cao và chất lượng tương đối tốt (mùa mưa cách mặt đất 2 – 4m, mùa khô từ 8 – 10m)

- Vùng địa hình đồi núi: mực nước khá sâu và biến động theo độ dốc (nơi sâu nhất cách mặt đất từ 10 – 15m, nơi cạn nhất từ 4 – 6m), chất lượng nước nhìn chung tốt

c) Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản ở xã Hải Lệ không nhiều, chủ yếu là đất sét làm gạch ngói phân bổ ở những vùng ruộng lúa trữ lượng không lớn, phân bố rãi rác, không cho phép

Trang 34

xây dựng cơ sở sản xuất quy mô lớn Cát sạn xây dựng trên sông Thạch Hãn đoạn chảy qua thị xã, trữ lượng hạn chế, chỉ phù hợp với kiểu khai thác thủ công và bán thủ công

3.1.1.3 Thực trạng môi trường

Là một xã có nền sản xuất chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, nên nhìn chung chất lượng môi trường không khí ở Hải Lệ còn khá tốt Nguồn nước sinh hoạt đa số người dân sử dụng nước giếng, nước mưa, nước ao hồ, nước sông có chất lượng

* Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

- Đất đai khá màu mỡ, nguồn nước dồi dào, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

- Khó khăn

+ Thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán khô nóng vào mùa hè, mưa lớn lũ lụt vào mùa mưa gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Thực trạng về dân số và lao động

a) Dân số

Qua số liệu điều tra, tình hình dân số xã Hải Lệ năm 2018 được thể hiện qua bảng sau:

Trang 35

Bảng 3.1 : Tình hình dân số xã Hải Lệ

1

Nguồn: UBND xã Hải Lệ, năm 2018

b) Thực trạng lao động và việc làm

Nguồn lao động của xã khá dồi dào, cơ bản đáp ứng nhu cầu lao động cho các ngành kinh tế xã Số lao động đi xuất khẩu lao động và lao động đi làm ngoại tỉnh tăng hơn so với những năm trước Tuy nhiên trình độ chưa đồng đều, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ khá lớn, lao động đã qua đào tạo còn ít Mặt khác, ngành sản xuất nông nghiệp của xã còn dừng lại ở năng suất, chưa tạo mô hình, chưa tính đến giá trị sản xuất và hàng hóa nông nghiệp; việc phát triển, mở mang các nhóm nghề chưa tập trung nên hiệu quả còn thấp Trong thời gian tới cần có biện pháp tạo việc làm ngay tại địa phương cho người lao động, nhất là lao động đối với thanh niên tốt nghiệp phổ thông [15]

Trang 36

Trong giai đoạn 2010- 2018, cán bộ và nhân dân toàn xã tăng cường đoàn kết, phát huy nội lực và tranh thủ quan tâm lãnh đạo cấp trên, vượt khó khăn cho nên đến năm 2018 đạt được những kết quả quan trọng sau:

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng/người/năm

- Tỷ lệ phát triển dân số trên 1,39%

- Tỷ lệ hộ đói nghèo theo chuẩn mới còn 3,13%

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện là 100%

94%

4%2%

Nông nghiệpCông nghiệpDịch vụ

Hình 3.1: Cơ cấu kinh tế của xã Hải Lệ năm 2018

a) Về kinh tế nông nghiệp

* Trồng trọt

- Diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân năm 2017-2018 là 390,1 ha Trong đó, diện

tích gieo cấy lúa 221,4 ha với năng suất bình quân cây lúa đạt hơn 57 tạ/ha, sản lượng 1.262 tấn; diện tích trồng màu 168,7 ha; chủ yếu một số loại cây trồng như sắn, ngô, lạc

Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 1.486,7 tấn

- Diện tích gieo trồng vụ Hè – Thu năm 2018 là 388 ha Các Hợp tác xã đã thực hiện

tốt việc chăm sóc và phòng chống sâu bệnh hại cây lúa vụ Hè – Thu Đến nay đã tiến hành thu hoạch lúa và cây hoa màu vụ Hè – Thu năm 2018 với tiến độ đạt 100% Trong

đó, diện tích gieo cấy lúa: 211,5 ha với năng suất 53 tạ/ha; cây màu (đậu xanh): 7,5 ha với năng suất 254 tạ/ha; sắn: 119 ha với năng suất 254 tạ/ha [15]

* Chăn nuôi

Trang 37

Tổng đàn gia súc, gia cầm toàn xã có 673 con trâu; 641 con bò, trong đó bò lai 86 con; 6.651 con lợn, trong đó lợn nái 2.724 con; gà, vịt, ngan trên 14.560 con; hươu 86 con; dê 54 con

* Lâm nghiệp

Chỉ đạo công tác trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng, khai thác, vận chuyển gỗ rừng trồng trên địa bàn được kiểm soát chặt chẻ, đến nay trên địa bàn xã không có trường hợp cháy rừng nào xảy ra Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng và PCCCR cho nhân dân đã được triển khai tích cực Trong 9 tháng đầu năm

Hoạt động công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp ổn định, tiếp tục giữ vai trò đóng góp quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đóng góp vào nguồn thu ngân sách địa phương, nhất là các dịch vụ chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ, cơ khí

Hoạt động thương mại, dịch vụ có những chuyển biến mới với nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ trên địa bàn Duy trì hoạt động chợ trung tâm xã ở thôn Như Lệ và

01 điểm họp chợ ở khu vực thôn Tân Mỹ tạo điều kiện trong việc trao đổi mua bán trên địa bàn xã [15]

c) Về Văn hóa - Xã hội

* Lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo

Công tác giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục đã được đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học Việc huy động và duy trì

số lượng được triển khai tích cực Năm học 2018-2019 có tổng số 607 em học sinh, trong đó: THCS có 174 em, Tiểu học 273 em, Mầm non: 180 học sinh, trong đó: Mẫu giáo: 160 cháu, nhà trẻ 22 cháu Chất lượng dạy và học từng bước được duy trì và nâng cao [15]

* Lĩnh vực Văn hóa - thông tin, Thể dục thể thao

Thường xuyên duy trì, tổ chức tốt các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng các ngày Tết, lễ lớn của đất nước cũng như tham gia các phong trào ở thị xã Công tác tuyên truyền trực quan cũng được quan tâm, nhất là tại các trụ sở, các nhà họp dân, các hộ gia đình đều có treo cờ Tổ quốc, cờ Đảng Phong trào vệ sinh môi

Trang 38

trường, chỉnh trang cơ quan, công sở, đường làng ngỏ xóm được cán bộ và nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện tốt [15]

3.1.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế- xã hội gây áp lực đối với đất đai

Qua thực trạng phát triển kinh tế- xã hội của xã Hải Lệ cho thấy trong giai đoạn tới sự phát triển về cơ cấu kinh tế vẫn là nông lâm nghiệp kết hợp với ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đồng thời xây dựng và phát triển hơn nữa hệ thống cơ sở

hạ tầng kỹ thuật phục vụ đời sống nhân dân Điều này gây nên một áp lực đối với đất đai của xã:

- Để tiếp tục phát triển kinh tế nông lâm nghiệp cần tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây phù hợp với điều kiện đất đai cũng như thị trường tiêu thụ, tăng diện tích đất nông nghiệp bằng thâm canh tăng vụ, tăng diện tích cây công nghiệp và cây trồng có hiệu suất kinh tế cao, phát triển rừng kinh tế, phát triển đàn trâu bò, ao cá

- Tỷ lệ phát triển dân số xã trung bình của xã trên 1,39%, nhưng trong tương lai cũng sẽ tạo ra một áp lực đối với đất ở và đất sản xuất Vì vậy, xã cần đẩy mạnh hơn nữa công tác kế hoạch hóa gia đình, đồng thời cũng cần mở mang ngành nghề để thu hút số lao động nhàn rỗi, nâng cao thu nhập cho người dân

- Cơ sở hạ tầng của xã hiện nay tương đối đầy đủ song để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn cần hình thành khu trung tâm xã mang dáng dấp đô thị, cũng như các khu thương mại dịch vụ Đây là áp lực lớn cho quỹ đất của xã cũng như rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội xã

3.1.4 Tình hình quản lý sử dụng đất đai và tiềm năng đất đai

3.1.4.1 Tình hình quản lý đất đai

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: UBND xã thường xuyên tăng cường công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn đảm bảo phù hợp các quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt

- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất: UBND xã đã tăng cường công tác quản lý, giám sát các trường hợp được giao, được cho thuê đất đất theo đúng đối tượng, đúng mục đích sử dụng; quản lý việc chuyển mục đích sử dụng đất đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt

- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ: Phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong việc quản lý bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi để xây dựng các công trình, dự án theo đúng quy định nằm đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người dân

Trang 39

- Thống kê, kiểm kê đất đai: UBND xã đã tổ chức thực hiện tốt công tác thống

kê, kiểm kê đất đai theo định kỳ

- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai: UBND xã đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai thông qua các buổi họp dân ở thôn, lồng ghép trong các buổi họp của các ban ngành đoàn thể hoặc qua hệ thống phát thanh của

xã Đồng thời khi Luật đất đai, các Nghị định mới về đất đai có hiệu lực UBND xã đều

tổ chức các buổi Hội nghị nhằm tuyên truyền, giáo dục cho người dân chấp hành pháp luật về đất đai

- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất: UBND xã đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật như: quyền chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và nghĩa vụ của người sử dụng đất như

kê khai thuế đất phi nông nghiệp, sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới

- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Đây là công tác thường xuyên của xã, hàng năm UBND xã đều thực hiện công tác cập nhập các thông tin, biến động về đất đai, lưu trữ các hồ sơ địa chính, thực hiện công tác cấp GCNQSD đất cho người dân và tổ chức

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

UBND xã thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng đất, kiểm tra việc xây dựng của các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất trên địa bàn nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp lấn chiếm đất công, chuyển mục đích trái pháp luật Trong năm 2014 – 2016, trên địa bàn xã đã có 08 trường hợp lấn chiếm đất đai, 07 trường hợp chuyển mục đích trái pháp luật Hình thức xử lý vi phạm: lập biên bản vi phạm, buộc tháo dỡ, trả lại hiện trạng như ban đầu; ra quyết định đình chỉ thi công; một số trường hợp ra quyết định xử phạt

- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai: UBND xã đã thành lập tổ hòa giải tại từng thôn do Trưởng ban công tác mặt trận của từng thôn làm tổ trưởng để tổ chức hòa giải các tranh chấp về đất đai Những trường hợp tổ hòa giải ở thôn không giải quyết được thì UBND xã sẽ tiến hành hòa giải theo thẩm quyền

Từ 2015 – 2018 UBND xã đã tiến hành giải quyết 19 trường hợp tranh chấp đất đai, trả lời 02 đơn kiến nghị của công dân có liên quan đến đất đai

Trang 40

3.1.4.2 Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2018

a) Hiện trạng sử dụng quỹ đất đai

Theo kết quả thống kê đất đai ngày 01/01/2019, tổng diện tích đất đai trong ranh giới hành chính của xã Hải Lệ là 6.467,0 ha, là xã có diện tích lớn so với các phường khác trên địa bàn thị xã, bao gồm các loại đất chính sau:

- Đất nông nghiệp có diện tích 5510,35 ha chiếm 85,21% diện tích tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp có diện tích 825,58 ha chiếm 12,77% diện tích tự nhiên

- Đất chưa sử dụng có diện tích 131,07 ha chiếm 2,02% diện tích tự nhiên [14]

85%

13% 2%

Đất nông nghiệpĐất phi nông nghiệpĐất chưa sử dụng

Hình 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 của xã Hải Lệ

b) Hiện trạng sử dụng các loại đất theo mục đích sử dụng

Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 của xã Hải Lệ

Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 27/06/2021, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012), Dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2012 – 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2012 – 2015
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2012
[7] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Luật Đất đai năm 2013, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2013
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2013
[8] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2017), Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Lâm nghiệp năm 2017
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2017
[9] Huỳnh Văn Chương, Lê Hoàng Vũ, Nguyễn Ngọc Thanh (2018), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất tại BQL RPH Khu Đông – Huy ện Ba Tơ – Tỉnh Quảng Ngãi. Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, tr. 663 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp
Tác giả: Huỳnh Văn Chương, Lê Hoàng Vũ, Nguyễn Ngọc Thanh
Năm: 2018
[10] Nguy ễn Thị Tường Hạnh, Trần Thị Ngọc Yến, Đinh Văn Quang (2015), Rừng và tầm quan trọng của rừng, Trường Đại học Nông Lâm, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng và tầm quan trọng của rừng
Tác giả: Nguy ễn Thị Tường Hạnh, Trần Thị Ngọc Yến, Đinh Văn Quang
Năm: 2015
[1] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012), Quyết định số 2089/QĐ- BNN-TCLN ngày 30/8/2012 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2011 Khác
[3] Bộ Tài nguyên và môi trường (2012), Quyết định số 1482/QĐ-BTNMT ngày 10/9/2012 về việc phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2011 Khác
[4] Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải (2018), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019 Khác
[5] Phòng Tài nguyên và môi trường thị xã Quảng Trị (2018), Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 Khác
[6] Phòng Thống kê thị xã Quảng Trị (2018), Niêm giám thống kê thị xã Quảng Trị năm 2018 Khác
[11] Thủ tướng Chính phủ (2003), Chỉ thị số 12/2003/CT-Ttg ngày 16/5/2003 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng Khác
[12] Thủ tướng Chính phủ (2006), Chỉ thị số 08/2006/CT-Ttg ngày 8/3/2003 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng Khác
[13] Tổng cục Thống kê (2009), Đánh giá bổ sung kết quả năm 2008, tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2009 và dự báo thực hiện một số chỉ tiêu năm 2009 Khác
[14] Tô Xuân Phúc và cộng sự (2013), Mâu thuẫn đất đai giữa Công ty lâm nghiệp và người dân địa phương Khác
[15] Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị (2007), Quyết định số 08/2007/QĐ-UBND ngày 17/5/2007 về việc phê duyệt Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
[16] Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị (2010), Quyết định số 2172/QĐ-UBND ngày 17/11/2010 về việc giao trả đất cho địa phương quản lý Khác
[17] Ủy ban nhân dân xã Hải Lệ (2018), Báo cáo thuyết minh thống kê đất đai năm 2018 Khác
[18] Ủy ban nhân dân xã Hải Lệ (2018), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2018 Khác
[19] Ủy ban thường vụ Quốc hội (2012), Báo cáo số 252/BC-UBTVQH13 ngày 16/10/2012 về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm