1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng quản lý sử dụng đất tại các mỏ khai thác đá xây dựng, đất san lấp và đất sét trên địa bàn huyệnthạch hà, tỉnh hà tỉnh

102 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 5,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích đánh giá hiện trạng quản lý sử dụng đất tại một số mỏ khai thác đá xây dựng, đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề xuất các giải pháp nâng c

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN THỊ THANH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT

TẠI CÁC MỎ KHAI THÁC ĐÁ XÂY DỰNG, ĐẤT SAN LẤP VÀ ĐẤT SÉT

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

HUẾ - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN THỊ THANH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT

TẠI CÁC MỎ KHAI THÁC ĐÁ XÂY DỰNG, ĐẤT SAN LẤP VÀ ĐẤT SÉT

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8850103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HOÀNG THỊ THÁI HÒA

HUẾ - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Các số liệu sử dụng, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của địa bàn nghiên cứu Các kết quả này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Huế, ngày 25 tháng 02 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp cùng những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông Lâm Huế

Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến PGS.TS Hoàng Thị Thái Hoà - Trường Đại học Nông Lâm Huế, người trực tiếp giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý thầy giáo, cô giáo, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình giúp đỡ, tạo những điều kiện tốt nhất để cho tôi thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ủy ban nhân dân huyện Thạch

Hà, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh, các sở, ban ngành, các xã trên địa bàn huyện Thạch Hà và các tổ chức, cá nhân có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi gặp gỡ, điều tra khảo sát, thu thập số liệu và các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đã cộng tác, đóng góp những thông tin quý báu, cùng những ý kiến xác đáng để hoàn thành luận văn này

Huế, ngày 25 tháng 02 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh

Trang 5

TÓM TẮT

Thạch Hà là một huyện duyên hải, nằm về 2 phía của thành phố Hà Tĩnh, cách

thành phố Hà Tĩnh 5 km với nguồn tài nguyên khoáng sản khá đa dạng, phong phú

Bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng kinh tế xã hội của huyện, trong thời gian qua thì khai thác khoáng sản lại gây ra nhiều tác động tiêu cực đến đất đai, môi trường

Với mục đích đánh giá hiện trạng quản lý sử dụng đất tại một số mỏ khai thác

đá xây dựng, đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất trong hoạt động khai thác

khoáng sản, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng quản lý sử dụng đất

tại các mỏ khai thác đá xây dựng, đất san lấp và đất sét trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh” bằng các phương pháp nghiên cứu như: Điều tra, thu thập số liệu (số

liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo, tài liệu từ các phòng, ban thuộc huyện Thạch Hà

và Sở, ban ngành tỉnh Hà Tĩnh; số liệu sơ cấp từ quá trình điều tra khảo sát, quan sát

và phỏng vấn tại 06 xã Thạch Hải, Thạch Bàn, Ngọc Sơn, Phù Việt, Thạch Kênh, Thạch Điền - nơi diễn ra nhiều hoạt động khai thác đá xây dựng, đất đồi, đất sét trên địa bàn); phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu thu thập được qua đó thiết lập các bảng biểu, biểu đồ để phân tích, đánh giá các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu, phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong huyện nhằm đưa

ra những đánh giá chung về tình hình phát triển nông nghiệp cũng như tình hình sử dụng đất hiện nay

Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã thu được một số kết quả chủ yếu đó là:

- Xác định được đặc điểm điều kiện tự nhiên, phát triển KT-XH, đặc điểm phân

bố, hiện trạng khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện:

Nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện Thạch Hà chủ yếu là vật liệu xây dựng thông thường như đá xây dựng, đất san lấp, đất sét, cát sỏi, ngoài ra còn có các khoáng sản kim loại khác như sắt, mangan, titan Tính đến cuối năm 2016, trên địa bàn huyện

đã có 30 mỏ khoáng sản được UBND tỉnh cấp phép khai thác (14 mỏ đã hoàn thành khai thác và 16 mỏ còn hiệu lực đang khai thác), trong đó đất san lấp chủ yếu phân bố

ở các xã Ngọc Sơn, Thạch Ngọc, Thạch Điền, đất sét chủ yếu ở xã Phù Việt, Thạch Kênh, Thạch Điền, đá xây dựng chủ yếu ở xã Thạch Bàn, Thạch Hải, Thạch Đỉnh, cát xây dựng và cát san lấp phân bố ở xã Thạch Hải, Thạch Vĩnh Bên cạnh các mỏ được cấp phép, trên địa bàn huyện cũng diễn ra hiện tượng khai thác khoáng sản trái phép tại một số khu vực

- Phân tích được thực trạng công tác quản lý đất đai trong khai thác đá xây dựng, đất sét, đất san lấp trên địa bàn huyện:

Trang 6

Công tác quản lý đất đai trong khai thác đá xây dựng, đất sét, đất san lấp trên địa bàn huyện Thạch Hà chưa được quan tâm đúng mức, các cơ quan quản lý chủ yếu quan tâm đến công tác quản lý khai thác khoáng sản hơn là công tác quản lý đất đai trong khai thác khoáng sản Đất sử dụng cho hoạt động khai thác khoáng sản chiếm 1,45% tổng diện tích đất tự nhiên và 5,41% tổng diện tích đất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Công tác thu hồi đất trước khi cho thuê đất để khai thác khoáng sản chỉ mới thực hiện nghiêm túc từ năm 2013 trở về sau Hoạt động khai thác khoáng sản đã tác động tiêu cực đến tài nguyên đất đai, làm suy giảm diện tích đất nông lâm nghiệp, suy giảm chất lượng đất, đất mất khả năng canh tác, tác động xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp và gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng cuộc sống người dân Công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường sau khai thác chưa được quan tâm, phần lớn các khu vực mỏ chưa hoàn thành việc hoàn thổ, đất sau khai thác bị bỏ hoang không đưa vào

sử dụng, gây lãng phí tài nguyên đất đai, tác động xấu đến cảnh quan môi trường và vô hình chung làm giảm nhu cầu sử dụng đất của người dân

- Đề xuất được các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Thạch Hà:

Cần triển khai đồng bộ các giải pháp: Tăng cường công tác quản lý nhà nước

của các cấp, các ngành gắn với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; Nâng cao

chất lượng công tác điều tra, thăm dò địa chất về tài nguyên khoáng sản; Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, nâng cao chất lượng công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch khoáng sản; Chấn chỉnh việc cấp giấy phép hoạt động khoáng sản và tổ chức tốt việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản; Tăng cường công tác bảo vệ môi trường; Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản và xử lý nghiêm các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Tài nguyên đất và tầm quan trọng của đất đai đối với phát triển kinh tế xã hội 3

1.1.2 Tài nguyên khoáng sản và tác động của khai thác khoáng sản đến tài nguyên đất và sự phát triển kinh tế xã hội 6

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 24

1.2.1 Khái quát tình hình hoạt động khai thác và sử dụng các loại tài nguyên trên cả nước 24

1.2.2 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý sử dụng đất trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 27

2.2 HIỆN TRẠNG CHẾ BIẾN, SỬ DỤNG 32

1.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 33

1.3.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới 33

1.3.2 Các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam 35

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 37

2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 37

Trang 8

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 37

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu 37

2.4.2 Phương pháp chuyên gia 40

2.4.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê so sánh và xử lý số liệu 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH 41

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 49

3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI CÁC MỎ KHAI THÁC ĐÁ XÂY DỰNG, ĐẤT SAN LẤP VÀ ĐẤT SÉT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH 53

3.2.1 Công tác ban hành văn bản quản lý và tuyên truyền phổ biến pháp luật về khoáng sản 53

3.2.2 Công tác lập, phê duyệt quy hoạch khoáng sản 54

3.2.3 Công tác cấp phép hoạt động khoáng sản 55

3.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản 57

3.2.5 Công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác 58

3.2.6 Công tác điều tra, đánh giá địa chất về tài nguyên khoáng sản 58

3.2.7 Công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản 59

3.2.8 Công tác thu hồi mỏ và đóng cửa mỏ khoáng sản 59

3.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT CHO HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC MỎ ĐÁ XÂY DỰNG, ĐẤT SAN LẤP VÀ ĐẤT SÉT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH 59

3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2016 59

3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất cho hoạt động khai thác khoáng sản tại huyện Thạch Hà năm 2016 61

3.3.3 Hiệu quả sử dụng đất tại các mỏ khai thác đá xây dựng, đất san lấp và đất sét trên địa bàn huyện thạch hà, tỉnh hà tĩnh 65

Trang 9

3.3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý sử dụng đất tại các mỏ khai thác đá xây

dựng, đất san lấp và đất sét trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh 74

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ SAU KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH 76

3.4.1 Tăng cường công tác quản lý nhà nước của các cấp, các ngành gắn với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật 76

3.4.2 Nâng cao chất lượng công tác điều tra, thăm dò địa chất về tài nguyên khoáng sản 76

3.4.3 Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, nâng cao chất lượng công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch khoáng sản 77

3.4.4 Chấn chỉnh việc cấp giấy phép hoạt động khoáng sản và tổ chức tốt việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản 77

3.4.5 Tăng cường công tác bảo vệ môi trường 78

3.4.6 Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản và xử lý nghiêm các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép 79

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

4.1 KẾT LUẬN 82

4.2 KIẾN NGHỊ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 88

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt

CPTG CXD ĐTM ĐSL ĐXD GTSX GTGT HĐKS KT-XH QCVN

QL SGN TCVN UBND VLXD

VLXDTT

Tên kí hiệu viết tắt

Chi phí trung gian Cát xây dựng Báo cáo đánh giá tác động môi trường Đất san lấp

Đá xây dựng Giá trị sản xuất Giá trị gia tăng Hoạt động khoáng sản Kinh tế - Xã hội Quy chuẩn Việt Nam Quốc lộ

Sét gạch ngói Tiêu chuẩn Việt Nam

Ủy ban nhân dân Vật liệu xây dựng

Vật liệu xây dựng thông thường

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diễn biến sử dụng tài nguyên đất giai đoạn 2000 đến 2016 25

Bảng 1.2 Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp khai thác mỏ 2007-2016 26

Bảng 1.3 Tổng hợp tiềm năng tài nguyên các mỏ khoáng sản làm VLXDTT 28

Bảng 2.1 Các mỏ đá xây dựng điển hình trên địa bàn huyện Thạch Hà chọn phân tích đánh giá thực trạng 38

Bảng 2.2 Các mỏ đất đồi điển hình trên địa bàn huyện Thạch Hà chọn phân tích đánh giá thực trạng 38

Bảng 2.3 Các mỏ đất sét điển hình trên địa bàn huyện Thạch Hà chọn phân tích đánh giá thực trạng 39

Bảng 3.1 Tổng dân số và cơ cấu dân số phân theo giới tính và khu vực 50

Bảng 3.2 Thuế các loại khoáng sản trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh 55

Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thạch Hà năm 2016 60

Bảng 3.4 Diện tích của các mỏ đất, đá xây dựng điển hình trên địa bàn huyện Thạch Hà được điều tra 62

Bảng 3.5 Sản lượng của một số loại khoáng sản trên địa bàn toàn huyện giai đoạn 2013 đến 2016 66

Bảng 3.6 Quy mô khai thác khoáng sản của Thạch Hà so với các huyện khác trong tỉnh Hà Tĩnh 67

Bảng 3.7 Tình hình thực hiện nghĩa vụ tài chính của các tổ chức cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản 68

Bảng 3.8 Thu nhập bình quân/người ở các loại hình hoạt động khai thác khác nhau 69 Bảng 3.9 Số lao động sử dụng trong các ngành khai thác khoáng sản 70

Bảng 3.10 Thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường từ các hoạt động khai thác khoáng sản 71

Bảng 3.11 Số tiền ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác 72

Bảng 3.12 Khảo sát tình trạng phục hồi đất sau khai thác khoáng sản 72

Bảng 3.13 Đánh giá của người dân về chất lượng môi trường không khí ở các mỏ khai thác 73

Bảng 3.14 Tình hình ô nhiễm tiếng ồn tại các mỏ khai thác khoáng sản 73

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ bản đồ quy hoạch sản xuất VLXD tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 29Hình 3.1 Vị trí huyện Thạch Hà trong tỉnh Hà Tĩnh 41Hình 3.2 Cơ cấu hiện trạng mục đích sử dụng đất cho khai thác khoáng sản, VLXD trên địa bàn huyện Thạch Hà 62Hình 3.3 Biến động diện tích đất dành cho khai thác khoáng sản giai đoạn

2013 -2016 63Hình 3.4 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất khai thác khoáng sản kỳ đầu (2011-2015) 64Hình 3.5 Diện tích đất khai thác khoáng sản đến năm 2020 so với chỉ tiêu cấp trên phân bổ 65

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn để phân bố khu dân cư, xây dựng các công trình kinh

tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Không những thế trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất đai tạo nguồn vốn và thu hút cho đầu tư phát triển Thực tế cho thấy nền kinh tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng xã hội được thay đổi diện mạo mới mẻ hơn cho đất nước, thu dần khoảng cách đối với các nước phát triển Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định nước

ta chỉ có một hình thức sở hữu về đất đai, đó là chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai trên phạm vi cả nước, Nhà nước giao đất cho tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Thông qua đó hoạt động của Nhà nước phải nắm và quản lý tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương của Nhà nước, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình

sử dụng đất đai Đặc biệt là trong vấn đề quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên đất

đai quan trọng

Tỉnh Hà Tĩnh có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú và đa dạng, nhất

là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, đủ điều kiện để phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng quy mô lớn Trong đó, huyện Thạch Hà là địa phương có nhiều nguồn vật liệu xây dựng, nhất là đá xây dựng, đất san lấp và đất sét làm gạch ngói Chính việc khai thác những nguồn tài nguyên khoáng sản này đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển nền kinh tế của huyện

Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường, cảnh quan xung quanh, làm phá vỡ cân bằng sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm Các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản chưa chấp hành nghiêm túc các quy định của luật hiện hành, không thực hiện đúng cam kết môi trường và báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt; một

số doanh nghiệp do chạy theo lợi nhuận nên chưa thực sự chú trọng đến việc bảo vệ môi trường, gây bức xúc trong nhân dân Đặc biệt, sau khi kết thúc hoạt động khai thác khoáng sản thường chưa có biện pháp phục hồi môi trường hiệu quả và chưa định hướng sử dụng đất hợp lý sau khai thác dẫn đến lãng phí nguồn tài nguyên đất đai Chính vì vậy, việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản hiệu quả, vừa thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa bảo vệ được môi trường, hướng đến phát triển bền vững là vấn đề quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

Xuất phát từ lý do trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý sử

dụng đất tại các mỏ khai thác đá xây dựng, đất san lấp và đất sét trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh”

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

a Mục tiêu chung

Đánh giá được thực trạng quản lý sử dụng đất tại các mỏ khai thác đá xây dựng,

đất san lấp và đất sét trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Trên cơ sở đó, đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất tại các khu vực này

- Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu cho các khu vực khác trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Tài nguyên đất và tầm quan trọng của đất đai đối với phát triển kinh tế xã hội

Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng: "đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy, ) Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền,

hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )" Học thuyết Mac - Lênin đã khẳng định: "Đất là đối tượng lao động và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được" Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế-xã hội, là điều kiện lao động Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nếu không có đất đai thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất Luật Đất đai 2013 cũng khẳng định: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng" [22], [26], [29]

Đất đai là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác nhau trên trái đất Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai ngày càng gắn liền chặt chẽ với nhau Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào đó tạo nên của cải nuôi sống mình Đất đai luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống Không có đất đai thì không có bất kì một ngành sản xuất nào, không có một quá trình lao động nào diễn ra, không thể có sự tồn tại của loài người [29]

1.1.1.1 Chức năng của đất đai đối với con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế -

xã hội

- Chức năng sản xuất: Đất đai là cơ sở cho rất nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống con người Qua quá trình sản xuất, đất đai cung cấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp cho trồng trọt, chăn nuôi [22]

- Chức năng môi trường sống: Đất đai là môi trường sống của hầu hết các sinh vật, là nơi diễn ra tất cả các hoạt động của chúng [22]

Trang 16

- Chức năng cân bằng sinh thái: Đất đai giúp hình thành một trạng thái cân bằng về năng lượng thông qua sự phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lượng phóng xạ

từ mặt trời và tuần hoàn khí quyển địa cầu [22]

- Chức năng chứa đựng và cung cấp các loại tài nguyên khác: Đất đai chứa chuyển đựng các loại tài nguyên như khoáng sản, rừng, nước Từ đó, nó cung cấp các loại tài nguyên này cho con người khai thác, sử dụng trong quá trình sống [22]

- Chức năng đệm và điều hoà các chất độc hại: Đất đai có khả năng tiếp nhận, gạn lọc, là môi trường đệm và làm thay đổi hình thái của các chất độc hại [22]

- Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử: Đất đai là trung gian để bảo vệ, bảo tồn các chứng tích lịch sử, văn hoá của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết trong quá khứ và cả về sử dụng đất đai trong quá khứ [22]

- Chức năng vật mang sự sống: Đất đai tạo ra không gian cho sự vận chuyển của con người, cho đầu tư, sản xuất, cho sự dịch chuyển của động, thực vật ở các vùng khác nhau trên trái đất [22]

- Chức năng phân dị lãnh thổ: Sự thích hợp của đất đai về các chức năng chủ yếu nói trên thể hiện rất khác nhau ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn trái đất nói chung nên mỗi phần lãnh thổ sẽ mang những đặc tính tự nhiên, kinh tế, xã hội rất đặc thù [22]

1.1.1.2 Vai trò của tài nguyên đất đối với con người, sinh vật và sự phát triển kinh

- Mặt gián tiếp: Đất là nơi tạo môi trường sống cho con người và sinh vật trên trái đất Đồng thời thông qua cơ chế điều hoà của đất, nước, khí hậu, khí quyển, đã tạo ra các điều kiện môi trường khác nhau giúp cho con người và sinh vật tồn tại, phát triển

Trên quan điểm sinh thái và môi trường, đất được xem như là một vật thể sống

vì nó chứa nhiều loại sinh vật sống, từ sinh vật bậc thấp đến sinh vật bậc cao Cũng vì bản tính "sống" của đất mà đất được xem như nguồn tài nguyên tái tạo và vô cùng quý giá Đất là một vật thể sống vì vậy nó cũng tuân theo quy luật của sự sống, phát sinh, phát triển, thoái hoá và già cỗi Cũng như vậy, tùy vào cách ứng xử của con người đối với đất mà làm cho đất có thể trở nên phì nhiêu, màu mỡ, cho năng suất cây trồng cao hoặc ngược lại

Trang 17

Cũng trên quan điểm nhìn nhận vấn đề các nhà khoa học cũng cho rằng đất là vật mang Đất luôn mang trên nó các hệ sinh thái, khi con người tác động vào đất là khi các hệ sinh thái này bị tác động Do đó muốn đất có khả năng sản xuất cao thì hệ sinh thái trong nó phải bền vững, muốn vậy con người phải có cách khai thác nguồn lực đất đai một cách hợp lý

Đất là một vật mang, lại được đặc trưng bởi tính chất độc đáo mà không vật thể

tự nhiên nào có được, đó là độ phì nhiêu Độ phì nhiêu của đất được thể hiện qua hàm lượng chất dinh dưỡng chứa trong đất (NPK, các hợp chất mùn, khả năng giữ nước của đất ), đây là các tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đất đai Đối với các hệ sinh thái, độ phì nhiêu giúp cho chúng tồn tại và phát triển

Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên đất cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng [23], [24]:

- Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt: Trong những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người thì đất đai là điều kiện đầu tiên

và là nền tảng tự nhiên của bất kì một quá trình sản xuất nào Đất là tư liệu sản xuất chính không thể thay thế được của một số ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp Mác cho rằng, đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể

- Đất đai là nguồn nguyên liệu của một số ngành: Đất đai là nguyên liệu sản xuất của một số ngành như làm gạch ngói, đồ gốm, xi măng Đất đai là địa điểm để đặt máy móc, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng và là chỗ đứng cho người công nhân trong sản xuất công nghiệp

- Đất đai là môi trường sống: Đối với đời sống, đất là nơi trên đó con người xây dựng nhà cửa, các công trình làm chỗ ở và nơi tiến hành các hoạt động văn hoá, là nơi phân bố các vùng kinh tế, khu dân cư hầu hết mọi của cải của con người đều lấy từ đất

- Đất đai là một bộ phận quốc gia: Dưới góc độ chính trị - pháp lý, đất đai là một bộ phận không thể tách rời khỏi lãnh thổ quốc gia, gắn liền với lãnh thổ quốc gia Tôn trọng chủ quyền quốc gia trước hết thể hiện ở tôn trọng lãnh thổ quốc gia [29] Như vậy, đất đai có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sống của con người

và sinh vật, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và gián tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của con người Do đó, chúng ta phải có những giải pháp phù hợp trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hiện nay

(Nguồn: Nguyễn Xuân Lý, Luận văn Thạc sĩ, 2016)

Trang 18

1.1.2 Tài nguyên khoáng sản và tác động của khai thác khoáng sản đến tài nguyên đất và sự phát triển kinh tế xã hội

1.1.2.1 Khái niệm khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên

tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày [27]

Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường sống Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v ) [27]

Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:

- Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng)

- Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên

bề mặt trái đất)

- Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy) [27], [28]

1.1.2.2 Khái niệm về khai thác khoáng sản

Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than Các vật liệu được khai thác từ

mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu

mỏ, khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước) [2]

Khoảng 40.000 năm trước công nguyên, con người đã biết sử dụng mọi thứ xung quanh mình, kể cả đá cũng được dùng làm công cụ khai thác các khoáng sản Sau một thời gian sử dụng hết những đá tốt trên bề mặt trái đất, con người bắt đầu đào bới

để tìm những thứ họ cần Những cái mỏ đầu tiên chỉ là những cái hố nông nhưng rồi những người khai mỏ sau buộc phải đào sâu thêm để tìm kiếm Một trong những khoáng sản họ cần lúc bấy giờ là Hoàng Thổ, được dùng như sắc tố cho các mục đích

Trang 19

lễ nghi và vẽ tranh trong hang động Khu mỏ Hoàng Thổ được khai thác xưa nhất được tìm thấy là ở Bomvu Ridge thuộc Swaziland, châu Phi [21]

Quá trình khai thác mỏ bắt đầu từ giai đoạn phát hiện thân quặng đến khâu chiết tách khoáng sản và cuối cùng là trả lại hiện trạng của mặt đất gần với tự nhiên nhất gồm một số bước nhất định Đầu tiên là phát hiện thân quặng, khâu này được tiến hành thông qua việc thăm dò để tìm kiếm và sau đó là xác định quy mô, vị trí và giá trị của thân quặng Khâu này cung cấp những số liệu để đánh giá tính trữ lượng tài nguyên để xác định kích thước và phân cấp quặng Việc đánh giá này là để nghiên cứu tiền khả thi và xác định tính kinh tế của quặng Bước tiếp theo là nghiên cứu khả thi để đánh giá khả năng tài chính để đầu tư, kỹ thuật và rủi ro đầu tư của dự án Đây là căn cứ để công ty khai thác mỏ ra quyết định phát triển mỏ hoặc từ bỏ dự án Khâu này bao gồm

cả quy hoạch mỏ để đánh giá tỷ lệ quặng có thể thu hồi, khả năng tiêu thụ, và khả năng chi trả để mang lại lợi nhuận, chi phí cho kỹ thuật sử dụng, nhà máy và cơ sở hạ tầng, các yêu cầu về tài chính và equity và các phân tích về mỏ như đã đề xuất từ khâu khai đào cho đến hoàn thổ Khi việc phân tích xác định một mỏ có giá trị thu hồi, phát triển

mỏ mới bắt đầu và tiến hành xây dựng các công trình phụ trợ và nhà máy xử lý Vận hành mỏ để thu hồi quặng bắt đầu và tiếp tục dự án khi mà công ty khai thác mỏ vẫn còn thu được lợi nhuận (khoáng sản vẫn còn) Sau khi tất cả quặng được thu hồi sẽ tiến hành công tác hoàn thổ để làm cho đất của khu mỏ có thể được sử dụng vào mục đích khác trong tương lai [21]

Công nghệ khai thác mỏ chủ yếu gồm 2 nhóm là khai thác mỏ lộ thiên và khai thác hầm lò Đối tượng khai thác cũng được chia thành 2 nhóm tùy theo loại vật liệu:

sa khoáng bao gồm các khoáng vật có giá trị nằm lẫn trong cuội lòng sông, cát bãi biển

và các vật liệu bở rời khác; và quặng mạch hay còn gọi là quặng trong đá gốc, ở đây các khoáng vật có giá trị được tìm thấy trong các mạch, các lớp hoặc các hạt khoáng vật phân bố rải rác trong khối đá Cả hai loại này đều có thể khai thác theo phương pháp lộ thiên và hầm lò [21]

1.1.2.3 Các giai đoạn của dự án khai thác

a) Thăm dò [1], [2]

Một dự án khai thác mỏ chỉ có thể bắt đầu khi hiểu biết đầy đủ về qui mô và giá trị của quặng Thông tin về vị trí, giá trị của quặng được thu thập thông qua khảo sát, nghiên cứu thực địa, khoan kiểm tra và khai đào

Trước tiên phải loại bỏ thực vật để cho các xe cơ giới có giàn khoan có thể tiến vào Nhiều nước yêu cầu thành lập một báo cáo ĐTM riêng cho giai đoạn thăm dò Vì các tác động của giai đoạn này có thể là đáng kể và vì các giai đoạn tiếp theo của khai thác có thể không được thực hiện khi việc thăm dò cho thấy lượng quặng không đáp ứng cho khai thác

Trang 20

b) Giai đoạn phát triển [2], [3]

Nếu giai đoạn thăm dò cho thấy một lượng quặng đủ lớn thì có thể bắt đầu lên

kế hoạch cho giai đoạn phát triển khai thác mỏ gồm:

i) Xây dựng đường vào mỏ

Đường vào mỏ để đưa các thiết bị nặng, vật tư cho khu mỏ hoặc để vận chuyển kim loại và quặng đã được xử lý ra bên ngoài Việc này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu đường giao thông đi qua khu vực sinh thái nhạy cảm hoặc gần các cộng đồng đã có trước đó Đánh giá tác động môi trường đường vào mỏ phải thực hiện đầy đủ khi đánh giá tác động dự án khai thác mỏ

ii) Chuẩn bị mặt bằng

Dự án phải bắt đầu với việc giải phóng mặt bằng cho diện tích khai thác, tập kết thiết bị, khu hành chính Hoạt động này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu dự án ở trong hoặc lân cận với khu vực sinh thái nhạy cảm ĐTM phải được đánh giá một cách riêng rẽ cho các tác động liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng

iii) Hoạt động khai thác

Tất cả các loại hoạt động khai thác đều có chung một qui trình: khai thác và làm giàu quặng kim loại Thông thường, các thân quặng nằm dưới dưới một lớp đất hoặc

đá phủ, chúng phải được lấy đi trước khi khai thác

- Khai thác mỏ lộ thiên

Là loại hình khai thác dải (strip mining), trong đó quặng phân bố sâu xuống lòng đất, đòi hỏi phải loại bỏ lớp phủ bên trên quặng Việc sử dụng các máy móc cơ giới nặng, thường là xe ủi đất và xe tải, để đổ đất đá thải Khai thác lộ thiên thường liên quan đến việc loại bỏ thảm thực vật bản địa, việc này được xem là một trong những hoạt động hủy hoại môi trường lớn nhất của khai thác quặng, đặc biệt là đối với các khu rừng nhiệt đới

- Khai thác mỏ sa khoáng

Xe ủi đất, thiết bị nạo vét, hoặc bơm thủy lực được dùng để khai thác quặng Khai thác mỏ sa khoáng thông thường nhằm mục đích tách vàng từ trầm tích sông, suối và đồng bằng ngập lụt Khai thác sa khoáng thường ở lòng suối, phải loại bỏ một lượng lớn trầm tích nên có thể ảnh hưởng đến nước mặt ở hạ lưu các mỏ

- Khai thác hầm lò

Trong khai thác ngầm, một lượng tối thiểu lớp đất phủ được lấy đi để tiếp cận thân quặng Các đường hầm hoặc giếng được thực hiện để tới thân quặng Một trong các phương pháp khai thác ngầm được gọi là cắt tầng (stoping) và phá sập toàn khối

Trang 21

(block caving), các phần cắt hoặc các khối đá được loại bỏ theo dải đứng, để lại một khoang ngầm thông nhau, sau đó được lấp đầy bằng bê tông và đá thải

Mặc dù khai thác dưới lòng đất là một dạng ít phá huỷ môi trường, nhưng thường tốn kém hơn và chứa đựng rủi ro về an toàn lớn hơn khai thác mỏ lộ thiên

- Khai thác lại vật liệu thải từ các mỏ ngừng hoạt động

Một số dự án khai thác lại các đống đá thải (đuôi quặng) từ các mỏ bỏ hoang hoặc ngừng hoạt động đã được triển khai Thông thường, hoạt động này được đề xuất khi các phương pháp làm giầu kim loại mới có hiệu quả hơn Các vật liệu thải có thể được chuyển đến các cơ sở chế biến tại chỗ hoặc bên ngoài Dự án tái khai thác vật liệu thải để tránh những tác động môi trường của các mỏ khai thác lộ thiên và mỏ sa khoáng, nhưng vẫn gây ra các tác động môi trường do việc làm giàu kim loại từ các đống vật liệu thải

iv) Xử lý đất phủ và đá thải

Trong hầu hết các dự án, quặng kim loại thường nằm dưới lớp đất hoặc đá (gọi

là lớp phủ và đá thải) mà phải lấy đi khi khai thác Đá thải phát sinh trong khai thác

mỏ là rất lớn Tỷ lệ giữa lượng đất, đá thải và lượng quặng còn gọi là “tỷ lệ dải” (strip ratio) thường hơn một hoặc lớn hơn nhiều Ví dụ, nếu một dự án khai thác 100 triệu tấn quặng thì có thể tạo ra hơn một tỷ tấn đất, đá thải

Những đất, đá thải này đôi khi có chứa hàm lượng đáng kể các chất độc hại, thường lắng đọng tại chỗ, hoặc trong các đống trên bề mặt hoặc trong vật liệu lấp hố lộ thiên, hoặc trong hầm mỏ Do đó, ĐTM phải được thực hiện, đánh giá cẩn thận các tác động môi trường của đất, đá thải

v) Khai thác quặng

Sau khi loại bỏ đất, đá phủ; khai thác quặng bắt đầu sử dụng thiết bị nặng chuyên dùng như máy xúc, xe tải, xe goòng để vận chuyển quặng đến cơ sở chế biến thông qua tuyến đường vận chuyển vật liệu Hoạt động này tạo ra một tập hợp các tác động môi trường, chẳng hạn như phát thải bụi trên đường vận chuyển, vì vậy cần có sự đánh giá thành mục riêng trong ĐTM

vi) Làm giàu quặng

Mặc dù quặng kim loại chứa hàm lượng kim loại cao, chúng cũng tạo ra một lượng lớn chất thải Ví dụ, hàm lượng đồng của một quặng giàu đồng chỉ chiếm một phần tư của một phần trăm Hàm lượng vàng của một quặng giàu vàng chỉ là một vài phần trăm của một phần trăm Vì vậy bước tiếp theo trong khai thác là “làm giàu quặng” gồm nghiền và tách kim loại

Trang 22

Nghiền là một trong những công đoạn tốn kém nhất của làm giàu quặng, tạo ra các hạt rất mịn giúp cho việc chiết tách kim loại tốt hơn Tuy nhiên, nghiền cũng gây ô nhiễm môi trường khi các hạt này trở thành đuôi quặng

Làm giàu quặng bao gồm các kỹ thuật tách vật lý và/hoặc hóa học như trọng lực, từ, điện phân, tuyển nổi, chiết dung môi, hấp dẫn điện tử (electrowinning), tách lọc, kết tủa và hỗn hống (dùng thủy ngân trong tách vàng) Chất thải từ các quá trình này bao gồm các bãi đá thải, đuôi quặng, vật liệu lọc quặng (trong khai thác mỏ vàng, bạc hoặc đồng)

Tách lọc (leaching) liên quan đến sử dụng xyanua trong quá trình làm giàu quặng, thường là quặng vàng, bạc, và đồng Quá trình này được đặc biệt chú ý do những tác động nghiêm trọng về an toàn cộng đồng và môi trường Với việc tách lọc, quặng được nghiền mịn đổ thành đống lớn (gọi là “đống vật liệu tách lọc”) trên tấm đệm không thấm nước, và dung dịch có chứa xyanua được phun lên đống vật liệu đó Dung dịch xyanua hòa tan các kim loại và tạo ra dung dịch “mang” (pregnant solution) chứa các kim loại được thu lại từ đáy đống vật liệu qua hệ thống đường ống

vii) Xử lý đuôi quặng

Quá trình làm giàu quặng tạo ra chất thải với khối lượng lớn gọi là “đuôi quặng”, là lượng quặng còn lại sau khi tuyển quá nghèo không thể xử lý tiếp

Làm thế nào để một công ty khai thác khoáng sản xử lý một khối lượng lớn đuôi quặng độc hại này là một trong những câu hỏi hàng đầu, quyết định liệu một dự

án có thể chấp nhận được hay không Mục tiêu dài hạn và quan trọng của xử lý và quản lý đuôi quặng là ngăn chặn việc rò rỉ các thành phần độc hại của đuôi quặng vào môi trường

Các lựa chọn xử lý đuôi quặng gồm:

Lựa chọn đầu tiên là hồ đuôi quặng (xử lý ướt) là lựa chọn thông dụng nhất vì ít tốn kém nhưng rủi ro vỡ đập cao

Lựa chọn thứ hai là xử lý đuôi quặng khô, khá tốn kém nhưng là biện pháp an toàn Lựa chọn thứ ba là bỏ đuôi quặng xuống biển đối với các khu mỏ nằm gần biển sâu Tuy nhiên, thải bỏ phế liệu xuống biển được ghi nhận là làm môi trường suy giảm chất lượng

Trước khi áp dụng luật và các tiêu chuẩn môi trường, nhiều công ty khai thác

mỏ chỉ đơn giản là đổ đuôi quặng ở vị trí thuận tiện, gần nhất, bao gồm cả sông suối gần đó gây ra các hậu quả môi trường tồi tệ

Trang 23

viii) Cải tạo và đóng cửa mỏ

Khi hoạt động khai thác kết thúc, các cơ sở mỏ được thu hồi và đóng cửa Mục tiêu của cải tạo và đóng cửa mỏ là để chúng trở lại tình trạng tương tự như điều kiện trước khi khai thác Các mỏ có tác động đáng kể đến môi trường thường là trong giai đoạn đóng cửa, khi hoạt động khai thác chấm dứt Những tác động này có thể tồn tại trong nhiều thập kỷ và thậm chí cả thế kỷ Do đó, ĐTM cho từng dự án khai thác mỏ phải được thảo luận chi tiết Kế hoạch Đóng cửa và phục hồi mỏ bởi những người đề xuất khai thác

Các kế hoạch cải tạo và đóng cửa mỏ phải mô tả đầy đủ và chi tiết làm thế nào

để khôi phục lại khu mỏ tương tự như môi trường trước khai thác; làm thế nào ngăn chặn vĩnh viễn sự phát tán của các chất ô nhiễm độc hại từ các công trình mỏ khác nhau và làm thế nào tiền ký quỹ được trích ra để đảm bảo các chi phí cải tạo và đóng cửa mỏ sẽ được chi trả

1.1.2.4 Nguyên tắc cấp giấy phép và hoạt động khai thác khoáng sản

Căn cứ theo Luật Khoáng sản, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 Nguyên tắc cấp giấy phép và hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện như sau [5], [7], [8], [10], [27]:

* Việc cấp Giấy phép khai thác khoáng sản phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Giấy phép khai thác khoáng sản chỉ được cấp ở khu vực không có tổ chức, cá nhân đang thăm dò, khai thác khoáng sản hợp pháp và không thuộc khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia;

b) Không chia cắt khu vực khoáng sản có thể đầu tư khai thác hiệu quả ở quy

mô lớn để cấp Giấy phép khai thác khoáng sản cho nhiều tổ chức, cá nhân khai thác ở quy mô nhỏ

* Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò, phê duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch quy định tại các điểm b, c và d Khoản 1, Điều 10 của Luật này

Tại Khoản 1 Điều 10 Luật Khoáng sản quy định Quy hoạch khoáng sản bao gồm:

b) Quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả nước;

Trang 24

c) Quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng

cả nước và quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản khác cả nước;

d) Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh, thành phố trực thuộc

trung ương)

Dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ, phương pháp khai thác tiên tiến phù hợp; đối với khoáng sản độc hại còn phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép bằng văn bản;

b) Có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;

c) Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng số vốn đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản

* Giấy phép khai thác khoáng sản phải có các nội dung chính sau đây:

a) Tên tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản;

b) Loại khoáng sản, địa điểm, diện tích khu vực khai thác khoáng sản;

c) Trữ lượng, công suất, phương pháp khai thác khoáng sản;

d) Thời hạn khai thác khoáng sản;

đ) Nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ khác có liên quan

* Giấy phép khai thác khoáng sản có thời hạn không quá 30 năm và có thể được gia hạn nhiều lần, nhưng tổng thời gian gia hạn không quá 20 năm

Trường hợp chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản cho tổ chức, cá nhân khác thì thời hạn khai thác là thời gian còn lại của Giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp trước đó

* Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có các quyền sau đây:

a) Sử dụng thông tin về khoáng sản liên quan đến mục đích khai thác và khu vực được phép khai thác;

b) Tiến hành khai thác khoáng sản theo Giấy phép khai thác khoáng sản;

c) Được thăm dò nâng cấp trữ lượng khoáng sản trong phạm vi diện tích, độ sâu được phép khai thác, nhưng phải thông báo khối lượng, thời gian thăm dò nâng cấp cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép trước khi thực hiện; d) Cất giữ, vận chuyển, tiêu thụ và xuất khẩu khoáng sản đã khai thác theo quy định của pháp luật;

đ) Đề nghị gia hạn, trả lại Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc trả lại một phần diện tích khu vực khai thác khoáng sản;

Trang 25

e) Chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản;

g) Khiếu nại, khởi kiện quyết định thu hồi Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

h) Thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai phù hợp với dự án đầu tư khai thác khoáng sản, thiết kế mỏ đã được phê duyệt;

i) Quyền khác theo quy định của pháp luật

* Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, lệ phí cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, thuế, phí và thực hiện các nghĩa vụ về tài chính khác theo quy định của pháp luật;

b) Bảo đảm tiến độ xây dựng cơ bản mỏ và hoạt động khai thác xác định trong

dự án đầu tư khai thác khoáng sản, thiết kế mỏ;

c) Đăng ký ngày bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ,ngày bắt đầu khai thác với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép và thông báo cho Ủy ban nhân dân các cấp nơi có mỏ trước khi thực hiện;

d) Khai thác tối đa khoáng sản chính, khoáng sản đi kèm; bảo vệ tài nguyên khoáng sản; thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động và các biện pháp bảo vệ môi trường; đ) Thu thập,lưu giữ thông tin về kết quả thăm dò nâng cấp trữ lượng khoáng sản

và khai thác khoáng sản;

e) Báo cáo kết quả khai thác khoáng sản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

g) Bồi thường thiệt hại do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra;

h) Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học được Nhà nước cho phép trong khu vực khai thác khoáng sản;

i) Đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường và đất đai khi Giấy phép khai thác khoáng sản chấm dứt hiệu lực;

k) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

1.1.2.5 Vai trò của hoạt động khai thác khoáng sản

Công nghiệp khai thác khoáng sản có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế

- xã hội Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của ngành khai khoáng không chỉ dựa trên những đóng góp vào sự phát triển kinh tế, mà còn phải xét đến những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống xã hội Ở Việt Nam, ngành khai khoáng là ngành

Trang 26

kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng GDP lớn, và cũng là một trong những ngành công

nghiệp gây nhiều tác động nhất đến môi trường và xã hội [19]

Nước ta có hơn 5000 điểm mỏ với khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau Nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu (bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (Apatít, cao lanh, cát thuỷ tinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát) [18]

Tỷ lệ xuất khẩu khoáng sản ở Việt Nam tương đối cao Tính riêng 7 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu quặng và khoáng sản tăng trưởng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm trước, tăng lần lượt 100,86% và tăng 3,11% tương đương với 1,4 triệu tấn, trị giá 140,5 triệu USD Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính, chiếm 91,2% lượng quặng và khoáng sản, với 1,2 triệu tấn, trị giá 101,7 triệu USD, tăng 129,29% về lượng và tăng 28,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012 Kế đến là thị trường Nhật Bản, với 20,7 nghìn tấn, trị giá 12,1 triệu USD, giảm 17,88% về lượng

và giảm 36,85% về trị giá Thị trường xuất khẩu chủ yếu đứng thứ ba là Malaysia với 15,9 nghìn tấn, trị giá 4,3 triệu USD, tăng 61,97% về lượng và tăng 31,59% về trị giá

so với cùng kỳ [18]

Các số liệu trên cho thấy, công nghiệp khai thác khoáng sản của Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc gia

1.1.2.6 Tác động xã hội của hoạt động khai khoáng

Ngân hàng Thế giới (WB) đã từng tuyên bố rằng: Công nghiệp khai thác khoáng sản là phương tiện đi đến xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững Như vậy, về lý thuyết, khai thác khoáng sản góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện cơ sở hạ tầng Những yếu tố này chính là động lực cho xóa đói, giảm nghèo [21]

Qua rất nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đều chỉ ra rằng: Hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam hiện nay bên cạnh những tác động tích cực còn có rất nhiều tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội như [20], [21]:

Thứ nhất, việc phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên sẽ làm cho nền kinh tế

dễ bị tổn thương hơn trước những biến động của tình hình kinh tế thế giới Đơn cử như, xuất khẩu dầu thô đem lại nguồn ngân sách lớn cho quốc gia nhưng giá dầu thô trên thế giới bất ổn định, điều này đem lại quan ngại lớn Thực tế hiện nay, số liệu tăng trưởng GDP không tính đến các giá trị mất đi mà chỉ tính đến các giá trị nhận được

Trang 27

Do đó, số liệu GDP không phản ánh được trung thực sự đóng góp của ngành khai khoáng đối với nền kinh tế

Thứ hai, về vấn đề việc làm, ngành công nghiệp khai thác khoáng sản chưa làm được như lý thuyết đề ra, thậm chí còn có tác động ngược lại Các mỏ khoáng sản hiện nay thường nằm ở vùng sâu, vùng xa nơi người dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp Hoạt động khai khoáng sử dụng chủ yếu tài nguyên đất, rừng, nước

mà cuộc sống người dân lao động lại trực tiếp phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên đó Mặt khác, công nghiệp khai thác khoáng sản không có tính ổn định và bền vững Hoạt động này chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên không tái tạo, có nghĩa là, hoạt động này sẽ chấm dứt và công nhân sẽ mất việc làm khi mỏ cạn kiệt Đó là còn chưa

kể đến, sự hạn chế về trình độ và kỹ năng lao động, người nghèo sẽ ít có cơ hội hưởng lợi từ hoạt động này

Thứ ba, ngành khai khoáng có tác động rất lớn đến môi trường sống Bụi, khí độc, nước thải của ngành khai khoáng đang là thủ phạm trực tiếp khiến cho môi trường sống đang bị suy thoái nghiêm trọng

Thứ tư, đời sống dân cư, an ninh trật tự của khu vực có khoáng sản bị biến động Bởi, các mỏ khai khoáng thường thu hút nguồn lao động từ nhiều địa phương khác đến, việc nhập cư với số lượng lớn lao động dẫn đến nhiều hệ lụy Giá cả thị trường tăng, đời sống văn hóa, truyền thống địa phương bị tác động, tình hình xã hội phức tạp

Vì vậy, để cho hoạt động này đạt hiệu quả, cơ quan chức năng cần đối chiếu giữa lý thuyết và thực tiễn Cần cân nhắc “lợi, hại” mỗi khi cấp giấy phép khai thác

1.1.2.7 Khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản bền vững

Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nêu rõ: Chính sách phát triển ngành công nghiệp khai khoáng của nước ta là quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên khoáng sản, nhằm đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế-xã hội trước mắt, lâu dài và đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường [3]

Đến nay nước ta đã điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên 5.000 điểm khoáng và mỏ, đánh giá được một số loại khoáng sản có trữ lượng và tài nguyên dự báo lớn như dầu khí 1,2-1,7 tỷ m3; than 240 tỷ tấn; titan 600 triệu tấn khoáng vật nặng;

bô xít 10 tỷ tấn; đất hiếm 11 triệu tấn; các khoáng sản làm vật liệu xây dựng 52 tỷ m3

và một số loại khoáng sản khác [18]

Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng đã đóng vai trò quan trọng và tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và nền kinh tế đất

Trang 28

nước, cơ bản đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liệu cho nền kinh tế quốc dân Cụ thể là ngành than cung ứng đầy đủ và kịp thời nguyên liệu cho ngành điện, xi măng, hóa chất, giấy Còn khoáng sản thiếc, chì kẽm, sắt đã cung cấp đầy đủ cho ngành luyện kim; khoáng sản apatit cũng cung ứng đủ cho ngành hóa chất, phân bón Đồng thời có một phần khoáng sản dành để xuất khẩu, trong đó có 2 loại khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là dầu khí và than, riêng năm 2012 đạt khoảng 10 tỷ USD [18] Theo Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng Nguyễn Mạnh Quân (Bộ Công Thương):

Để khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản bền vững, xác định đến năm 2020 phải chấm dứt các cơ sở chế biến khoáng sản manh mún, công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh

tế thấp, gây ô nhiễm môi trường, ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam sẽ phải hình thành các khu công nghiệp chế biến tập trung với công nghệ tiên tiến, có quy mô tương xứng với tiềm năng của từng loại khoáng sản; khai thác gắn với chế biến, tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao Thực hiện việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo quy định của Luật Khoáng sản

Mặt khác, Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp thu khoa học hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến trong điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản; khuyến khích hợp tác điều tra, thăm dò, khai thác, Hiện một số dự án mà Việt Nam đang rất quan tâm hợp tác đầu tư, đó là thăm dò, khai thác than tại Đồng bằng sông Hồng đồng bộ với đầu tư xây dựng tổ hợp nhà máy nhiệt điện chạy than tại khu vực này; hợp tác đầu tư đồng bộ tổ hợp nhà máy điện-nhà máy điện phân nhôm trong nước; hợp tác đầu tư nhà máy điện phân nhôm tại nước ngoài, nơi có nguồn điện và giá cả hợp lý sử dụng alumin sản xuất tại Việt Nam Cũng như hợp tác đầu tư nhà máy chế biến sâu quặng titan; làm giàu quặng apatit loại 2 và loại 4

1.1.2.8 Những vấn đề môi trường liên quan đến khai thác khoáng sản

Các vấn đề môi trường phát sinh do khai thác và sử dụng khoáng sản thể hiện trong các hoạt động cụ thể sau: [20], [21]

Khai thác khoáng sản làm mất đất, mất rừng, ô nhiễm nước, ô nhiễm bụi, khí độc, lãng phí tài nguyên

Vận chuyển, chế biến khoáng sản gây ô nhiễm bụi, khí, nước và chất thải rắn

Sử dụng khoáng sản gây ra ô nhiễm không khí (SO2, bụi, khí độc ), ô nhiễm nước, chất thải rắn

Do đó, hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường trong khai thác và sử dụng khoáng sản Việt Nam đòi hỏi phải quan tâm đến các khía cạnh:

Hạn chế tổn thất tài nguyên và tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác, chế biến

Trang 29

Điều tra chi tiết, quy hoạch khai thác và chế biến khoáng sản, không xuất thô các loại nguyên liệu khoáng, tăng cường tinh chế và tuyển luyện khoáng sản

Đầu tư kinh phí xử lý chất ô nhiễm phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng khoáng sản như xử lý chống bụi, chống độc, xử lý nước thải, quy hoạch xây dựng các bãi thải

Tài nguyên khoáng sản thế giới và khai thác khoáng sản thế giới đang tạo ra các nguy cơ đối với con người:

Trữ lượng hạn chế, đang cạn kiệt trong tương lai

Khai thác khoáng sản tàn phá môi trường

Sử dụng khoáng sản gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước

1.1.2.9 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi

là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia và quá trình sản xuất nông nghiệp [23]

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: Xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, tức là phải tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và phải bảo vệ được môi trường Điều đó có nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [24]

* Hiệu quả kinh tế:

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”

- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý luận hệ thống

- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người

Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phải trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi xuất tiền cho vay vốn

Trang 30

ngân hàng Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong, ngoài nước, hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai, sâu bệnh

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh

tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu qủa nghiệp phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động tiết kiệm nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội

Theo quan điểm tính hiệu quả của C.Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề

“Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động giữa các ngành” Theo quan điểm này thì đó là quy luật “Tiết kiệm”, là “Tăng năng suất lao động xã hội”, hay

đó là “Tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu

cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy, theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội

Theo các nhà khoa học kinh tế Simmerman – Nordthuas cho rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội,

“Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này

mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó”

Nếu xét trên phương diện so sánh thì hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu tư, chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào

Trang 31

Như vậy, chúng ta thấy rằng, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất nhau ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn…So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, sẽ là hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hóa kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hóa chi phí để đạt được một kết quả nhất định

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội

Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hóa, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện thông qua các chỉ tiêu

* Hiệu quả xã hội:

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất

Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc

sử dụng đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không được người dân ủng hộ

Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp [23]

Từ những quan điểm trên cho thấy, hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, định canh, định cư, xây dựng xã hội lành mạnh, nâng cao mức sống của toàn dân

* Hiệu quả môi trường:

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 32

Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài

Trong thực tế tác động của môi trường diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường

Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường

Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo

vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao

mà không gây ô nhiễm môi trường đất

Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đặt ra Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào

Đây là loại hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không có những tác động xấu đến vấn đề môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học Hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá trình sản xuất đó còn đem lại cho môi trường tốt hơn, làm cho môi trường xanh, sạch đẹp hơn trước

Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: Hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường

Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng được quan tâm

Như vậy, sử dụng đất hợp lý hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba loại hiệu quả, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế không

có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường hiệu quả kinh tế sẽ không vững chắc

1.1.2.10 Khái niệm về phát triển bền vững

Trang 33

Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã trở thành

cơ sở cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của con người Trước đây khi dân số còn ít để đáp ứng yêu cầu của con người thì việc khai thác từ đất là quá dễ dàng

và chưa có những ảnh hưởng lớn đến tài nguyên đất đai Trong một vài thập kỷ gần đây, khi dân số thế giới đã trở lên ngày một đông hơn, đặc biệt là những nước đang phát triển, thì vấn đề đảm bảo lương thực cho con người đã trở thành sức ép ngày càng mạnh mẽ đối với đất đai Những diện tích đất canh tác thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, do đó con người phải mở mang thêm diện tích canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất Hậu quả đã gây ra các quá trình thoái hóa, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng [19], [20], [34]

Tác động của con người vào đất đai ngày càng một lớn đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng suy giảm và cuối cùng đã dấn đến sự thoái hóa Khi đất đã bị thoái hóa nó rất khó có khả năng phục hồi, hoặc phải chi phí rất tốn kém mới có thể hồi phục được Theo De Kimpe &Warkentin (1998) [33], đất có 5 chức năng chính trợ giúp rất cần thiết cho các hệ sinh thái: Duy trì vòng tuần hoàn sinh hóa và địa hóa học; phân phối nước; tích trữ và phân phối vật chất; mang tính đệm; phân phối năng lượng Mục đích sản xuất và tạo ra lợi nhuận luôn chi phối các hoạt động của con người lên đất đai và môi trường tự nhiên, những giải pháp sử dụng và quản lý đất không thích hợp chính là những nguyên nhân dẫn đến sự phá vỡ cân bằng lớn trong các chức năng của đất và chúng sẽ là hậu quả làm cho nó bị thoái hóa

Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại

và tương lai phát triển của loài người, chính vì vậy việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà nghiên cứu đất và các tổ chức quốc tế rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện theo sự phát triển của khoa học Thuật ngữ

“sử dụng đất bền vững” đã trở thành khá thông dụng trên thế giới hiện nay Nội dung của sử dụng đất bền vững bao hàm một vùng trên bề mặt trái đất với tất cả các đặc trưng: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, thực vật và động vật và cả những vấn đề liên quan đến các yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng, để tránh khỏi những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác hại đối với môi trường sinh thái [32]

* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về các sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng Mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp

do bị trưng dụng sang mục đích khác Vì vậy sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu

Trang 34

phát triển kinh tế, xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản, cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý” [33]

* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững:

Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” được dựa trên các quan điểm sau:

- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất

- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất

- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước

- Có hiệu quả lâu bền

- Được xã hội chấp nhận

Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững, nếu sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc nêu trên thì đất đai được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững

Để duy trì sự sống còn của con người, nhân loại đang phải đương đầu với nhiều vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, sự bùng nổ dân số, nạn ô nhiễm và suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái, Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng và phát triển nông nghiệp theo quan điểm nông nghiệp bền vững

Nông nghiệp bền vững là những vấn đề và điều kiện cho định cư lâu dài Một trong những cơ sở quan trọng bặc nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các

hệ thống sử dụng đất hợp lý Vấn đề này nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ

đa canh cây trồng với các lợi thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro, Quan điểm đa canh và đa dạng hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích ở các nước nghèo

Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai Một quan niệm khác cho rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học

Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu

Trang 35

Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện

và liên tục

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước

Chú ý đầu tư có trọng điểm để tạo ra các vùng kinh tế làm động lực lôi cuốn nhưng không lãng quên đầu tư diện rộng nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa thành thị

và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư

1.1.2.11 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [20], [24]:

+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp + Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp

Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: + Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc + Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn

+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu

+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:

* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế [24]

Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp:

+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm)

Trang 36

+ Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa GTSX và chi phí trung gian (CPTG),

là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

GTGT= GTSX - CPTG

- Hiệu quả kinh tế tính trên một đồng CPTG, bao gồm GTSX /CPTG và GTGT /CPTG đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả Nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ

- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ và GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội [24]

Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:

- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân

- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng

- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân

- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

- Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu

* Các chỉ tiêu hiệu quả môi trường [24],

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá ảnh hưởng của sản xuất cây trồng tới đất đai, việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho các loại hình sử dụng đất hiện tại

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Khái quát tình hình hoạt động khai thác và sử dụng các loại tài nguyên trên

cả nước

1.2.1.1 Khai thác và sử dụng tài nguyên đất

Trang 37

Trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2016, diện tích đất nông nghiệp tăng từ gần 6,9 triệu ha lên 9,3 triệu ha (từ 21% lên 28% diện tích đất tự nhiên) Diện tích đất nông nghiệp tăng thêm chủ yếu thuộc các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long

Diện tích đất lâm nghiệp tăng từ 9,6 triệu ha năm 2000 lên 11,5 triệu ha năm

2016 (trong đó đất rừng tự nhiên 9 triệu 440 nghìn ha, đất rừng trồng 1,5 triệu) Đáng chú ý diện tích đất có rừng chỉ tăng mạnh từ sau những năm nhà nước ban hành Luật đất đai và Luật bảo vệ môi trường

Diện tích đất chuyên dùng tăng từ 972 nghìn ha năm 2005 lên 1,3 triệu ha năm

2016, diện tích đất chuyên dùng tăng ở tất cả các vùng trong cả nước cho mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, khu công nghiệp Diện tích đất chuyên dùng tăng thêm đã góp phần làm giảm tốc độ tăng diện tích đất nông nghiệp Một điều quan trọng trong những năm qua diện tích đất chưa sử dụng cả nước đã giảm mạnh, từ hơn 14 triệu ha năm 2000 đã giảm xuống còn 10 triệu ha năm 2016

Hệ số sử dụng đất cây trồng hàng năm tăng lên (từ 1,4 năm 2010 tăng lên 1,6 năm 2016) Trong cơ cấu diện tích đất chuyên lúa, diện tích lúa 2 đến 3 vụ tăng do đẩy mạnh công tác thủy lợi, tiến bộ kỹ thuật về thâm canh, tăng vụ và đa dạng hoá giống lúa Sản xuất nông nghiệp đã dần biến chuyển theo hướng bền vững, biểu hiện qua việc tăng diện tích cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao, giảm diện tích các loại cây hàng năm trồng thuần trên đất dốc Tuy nhiên, trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp

tỷ lệ diện tích cây hàng năm vẫn còn chiếm trên 60%, mặt khác khả tăng diện tích đất canh tác từ diện tích đất chưa sử dụng sẽ khó khăn trong thời gian tới, vì phần lớn diện tích đất này thuộc vùng núi cao, hiểm trở, vùng sâu vùng xa chi phí tốn kém và hiệu quả thấp

Bảng 1.1 Diễn biến sử dụng tài nguyên đất giai đoạn 2000 đến 2016

Đơn vị: nghìn ha

Đất nông nghiệp 6.942 6.993 7.367 9.345 Trong đó:

- Đất cây hàng năm 5.615 5.338 5.403 5.607

- Đất cây lâu năm 804 1.045 1.418 2.182 Đất lâm nghiệp 9.641 9.395 10.795 11.580 Đất chuyên dụng … 972 1.271 1.533 Đất chưa sử dụng 14.827 14.925 12.843 10.022

Trang 38

Quặng crôm (1000 tấn)

Quặng Apatit (1000 tấn)

Đá (1000 m 3 )

Trang 39

nghiệp khai thác mỏ phát triển đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp đủ nguyên liệu, nhiên liệu cho hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân, xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước

b Khai thác và sử dụng tài nguyên sạch

Do đặc điểm nước ta thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, rất dồi dào về trữ lượng tài nguyên sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng nhiệt địa Ưu điểm của năng lượng này là loại tài nguyên có thể tái tạo và loại năng lượng sạch, ít gây ra ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác và sử dụng các loại tài nguyên này mới đang còn trong giai đoạn thử nghiệm Theo số liệu điều tra cơ bản cho thấy tiềm năng gió ở Việt Nam là rất lớn, năng lượng gió có thể tận dụng cho mục đích chạy tuốc bin gió để phát điện Hiện nay đã có một số chương trình hợp tác với nước ngoài để triển khai dự án xây dựng nhà máy điện chạy gió ở đảo Bạch Long Vĩ công suất lên đến 1200 KWh và một số địa phương khác công suất nhỏ hơn, chủ yếu cung cấp điện sinh hoạt cho cụm dân cư vùng sâu điện lưới chưa có khả năng vươn tới vì lý

do dân cư ít, cự ly xa, chi phí điện lưới cao và kém hiệu quả Về năng lượng mặt trời,

do nước ta có số giờ nắng trung bình năm từ 2000-2500 giờ với tổng bức xạ trung bình khoảng 100-175 Kcal/cm2/năm và diện tích bức xạ mặt trời nước ta khoảng 300 ngàn

km2 có thể cho ta khối lượng nhiệt năng lý thuyết lên đến 44 tỷ TOE năm Hiện nay nước ta đã có một số dự án ứng dụng năng lượng mặt trời cho việc sấy nông sản, đun nước nóng và phát điện nhưng do giá thành sản xuất pin mặt trời cao nên khả năng khai thác còn rất hạn chế Về năng lượng địa nhiệt, theo nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học địa chất và năng lượng thì nước ta có khả năng hiện thực để xây dựng được một số nhà máy điện nhiệt địa có công suất từ 5-200 MW

1.2.2 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý

sử dụng đất trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Khoáng sản Hà Tĩnh nằm rải rác ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, từ vùng ven biển đến vùng trung du miền núi, tập trung vào các nhóm: khoáng sản nhiên liệu bao gồm than đá chủ yếu tại huyện Hương Khê và than nâu Chợ Trúc (xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê) Nhóm kim loại chủ yếu Quặng sắt, có 10 điểm quặng sắt đã được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, gồm Thạch Khê, Hương Thụ, Hói Trươi, Hoà Duyệt, Hòn Bàn, Khe Lấp, Kỳ Liên, Mộc Bài, Văn Cù; Các điểm khoáng sản sắt - mangan Phú Lộc, Thượng Lộc (huyện Can Lộc), Núi Bạc xã Đức Lập (huyện Đức Thọ) và các biểu hiện khoáng sản sắt - mangan Đồng Kèn (xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà), Vũng Chùa (xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân), Hàm Sơn (xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà) đang được Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ tổ chức đánh giá triển vọng

Trang 40

Ngoài ra trong nhóm kim loại còn có thiếc khe Bún ở xã Sơn Kim, Hương Sơn đã được Liên đoàn Địa chất bắc Trung Bộ tìm kiếm tỷ lệ 1:10.000 (1995) trên diện tích

21 km2 và Titan (Ilmenite) tại các xã Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và

Kỳ Anh và một số điểm quặng vàng Nhóm khoáng chất công nghiệp gồm phosphorit, than bùn, kaolin, cát thuỷ tinh, thạch anh

- Về khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phong phú và đa dạng, quy mô khá lớn, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế Trên địa bàn Hà Tĩnh đã điều tra khảo sát 121 khu vực mỏ khoáng sản làm VLXDTT kể cả đất san lấp có tổng diện tích 6.198 ha, tài nguyên khoảng 1.526.135 ngàn m3, trong đó có 31 khu vực đá xây dựng, 23 khu vực sét gạch ngói, 31 khu vực cát xây dựng và 36 khu vực đất san lấp (Bảng I.1) Hầu hết các điểm mỏ nằm lộ thiên, dễ nhận biết chất lượng và nhiều điểm mỏ phân bố gần các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, thuận tiện cho khai thác sử dụng

Bảng 1.3 Tổng hợp tiềm năng tài nguyên các mỏ khoáng sản làm VLXDTT

(ha)

Tiềm năng (ngàn m 3 )

(Nguồn: Phòng Khoáng sản, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh, năm 2017)

- Ngoài ra Hà Tĩnh còn có nguồn nước khoáng nóng Sơn Kim (Nậm Chốt) ở xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn được phát hiện trong điều tra địa chất tỷ lệ 1:200.000 (1979), Công ty Kinh doanh tổng hợp đầu tư Sản xuất Nhập khẩu khai thác (1994) và điều tra đánh giá (1995) Nguồn nước lộ thành nhiều mạch từ những khe nứt của đá granit bên bờ phải suối Nậm Chốt, trên độ dài gần 100 m từ chân cầu về phía hạ lưu, tại đây nước bốc hơi mù mịt

Ngày đăng: 27/06/2021, 08:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[26] Sở Xây dựng (2017),“Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Sở Xây dựng
Năm: 2017
[27] Sở Xây dựng (2017),“Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Sở Xây dựng
Năm: 2017
[33] Ngô Thế Dần và Trần An Phong (1993). Khai thác và giữ gìn đất tốt vùng trung du, miền núi nước ta. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và giữ gìn đất tốt vùng trung du, miền núi nước ta
Tác giả: Ngô Thế Dần và Trần An Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
[34] Đỗ Nguyên Hải (1999). Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
[35] Phạm Hoàng Hải (1997). Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh. Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam. Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1997
[36] Lê Văn Khoa (2004). Đất và môi trường. Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2004
[37] Nguyễn Duy Tính và cs (1995). Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Duy Tính và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
[42] Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007). Giáo trình quản lý nhà nước về đất đai. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về đất đai
Tác giả: Nguyễn Khắc Thái Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
[45] McGregor, R.J. and McRae, T. (2000). Driving forces affecting the environmental sustainability of agriculture. Pages 21-28 in McRae, T., C.A.S.Smith, and L.J. Gregorich (eds). Environmental Sustainability of Canadian Agriculture Sách, tạp chí
Tiêu đề: Driving forces affecting the environmental sustainability of agriculture
Tác giả: McGregor, R.J. and McRae, T
Năm: 2000
[46] Nguyen Manh Ha, Nguyen Van Dung, Hoang Huyen Ngoc (2013). Application of usle and gis tool to predict soil erosion potential and proposal land cover solutions to reduce soil loss in Tay Nguyen. Vietnam Journal of Earth Sciences, ISSN: 0866 – 7187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of usle and gis tool to predict soil erosion potential and proposal land cover solutions to reduce soil loss in Tay Nguyen
Tác giả: Nguyen Manh Ha, Nguyen Van Dung, Hoang Huyen Ngoc
Năm: 2013
[47] De Kimpe, C.R. and Warkentin, B.P. (1998). Soil functions and the future of natural resources. Adv. In GeoEcology, 31: 3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soil functions and the future of natural resources
Tác giả: De Kimpe, C.R. and Warkentin, B.P
Năm: 1998
[48] De Kimpe, C.R. (2002). Future perspectives on the environment and human health interactions. In A. Violante, P.M. Huang, J.-M. Bollag and L. Gianfreda (Eds.), Soil Mineral-organic MatterMicroorganism Interactions and Ecosystem Health. Developments in Soil Science, Elsevier Sách, tạp chí
Tiêu đề: Future perspectives on the environment and human health interactions
Tác giả: De Kimpe, C.R
Năm: 2002
[49] Wan-Shu Wu and R. James Purser. Three-Dimensional Variational Analysis with Spatially Inhomogeneous Covariances. Monthy weather review. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: and "R. James Purser. "Three-Dimensional Variational Analysis with Spatially Inhomogeneous Covariances
[1] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013), Thông tư 02/2013/TT-BTNMT ngày 01 tháng 3 năm 2013 quy định việc lập bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác khoáng sản, thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản Khác
[3] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản Khác
[4] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường Khác
[5] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Khác
[6] Bộ Tài nguyên và Môi trường (1997), Quyết định số 1456/QĐ-ĐCKS ngày 04 tháng 9 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành “Quy chế đóng cửa mỏ các khoáng sản rắn Khác
[7] Chính phủ (2013), Nghị định số 158/2016/NĐ - CP ngày 29/11/2016 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản Khác
[8] Chính phủ (2013), Nghị định 203/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w