Với mục đích đánh giá hiện trạng quản lý sử dụng đất tại một số mỏ khai thác đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Các số liệu sử dụng, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của địa bàn nghiên cứu Các kết quả này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Huế, ngày 03 tháng 02 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Lý
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp cùng những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông Lâm Huế Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến PGS.TS Hoàng Thị Thái Hoà Trường Đại học Nông Lâm Huế, người trực tiếp giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý thầy giáo, cô giáo, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình giúp đỡ, tạo những điều kiện tốt nhất để cho tôi thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, các ban ngành, cá nhân, tổ chức trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, các xã trên địa bàn huyện Hòa Vang và các tổ chức, cá nhân có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi gặp gỡ, điều tra khảo sát, thu thập
số liệu và các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đã cộng tác, đóng góp những thông tin quý báu, cùng những ý kiến xác đáng để hoàn thành luận văn này
Trang 3TÓM TẮT
Huyện Hòa Vang là huyện ngoại thành và là huyện đất liền duy nhất, có diện tích chiếm gần 75% diện tích toàn thành phố Đà Nẵng với nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú Bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng kinh tế
xã hội của huyện trong thời gian qua thì khai thác khoáng sản lại gây ra nhiều tác động tiêu cực đến đất đai, môi trường
Với mục đích đánh giá hiện trạng quản lý sử dụng đất tại một số mỏ khai thác đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất trong hoạt động khai thác khoáng sản,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng quản lý đất đai tại các mỏ khai
thác đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”, bằng các
phương pháp nghiên cứu như: Điều tra, thu thập số liệu (số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo, tài liệu từ các phòng ban thuộc huyện Hòa Vang và Sở, ban ngành thành phố
Đà Nẵng; số liệu sơ cấp từ quá trình điều tra khảo sát, quan sát và phỏng vấn tại 03 xã Hòa Phú, Hòa Phong, Hòa Nhơn - nơi diễn ra nhiều hoạt động khai thác đất đồi, đất sét trên địa bàn); phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu thu thập được qua đó thiết lập các bảng biểu, biểu đồ để phân tích, đánh giá các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu, phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong huyện nhằm đưa ra những đánh giá chung về tình hình phát triển nông nghiệp cũng như tình hình sử dụng đất hiện nay
Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã thu được một số kết quả chủ yếu đó là:
- Xác định được đặc điểm điều kiện tự nhiên, phát triển KT-XH, đặc điểm phân
bố, hiện trạng khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện:
Nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện Hòa Vang chủ yếu là vật liệu xây dựng thông thường như đá, đất đồi, đất sét, cát sỏi sông, ngoài ra còn có các khoáng sản kim loại quý hiếm như vàng, vonfram, thạch anh hồng, thiếc, cao lanh phân bố rải rác Tính đến cuối năm 2015, trên địa bàn huyện đã có 60 mỏ khoáng sản được thành phố cấp phép khai thác (25 mỏ đã hoàn thành khai thác và 35 mỏ còn hiệu lực đang khai thác), trong đó đất đồi chủ yếu phân bố ở các xã Hòa Sơn, Hòa Nhơn, Hòa Ninh, đất sét chủ yếu ở xã Hòa Phú, Hòa Phong, Hòa Bắc Bên cạnh các mỏ được cấp phép, trên địa bàn huyện cũng diễn ra hiện tượng khai thác khoáng sản trái phép tại một số khu vực
- Phân tích được thực trạng công tác quản lý đất đai trong khai thác đất sét, đất đồi trên địa bàn huyện:
Trang 4Công tác quản lý đất đai trong khai thác đất sét, đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang chưa được quan tâm đúng mức, các cơ quan quản lý chủ yếu quan tâm đến công tác quản lý khai thác khoáng sản hơn là công tác quản lý đất đai trong khai thác khoáng sản Đất sử dụng cho hoạt động khai thác khoáng sản chiếm 0,18% diện tích đất tự nhiên và chiếm 1,71% diện tích đất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Công tác thu hồi đất trước khi cho thuê đất để khai thác khoáng sản chỉ mới thực hiện nghiêm túc từ năm 2013 trở về sau Hoạt động khai thác khoáng sản đã tác động tiêu cực đến tài nguyên đất đai, làm suy giảm diện tích đất nông lâm nghiệp, suy giảm chất lượng đất, đất mất khả năng canh tác, tác động xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp và gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng cuộc sống người dân Trong khi đó, nguồn thu từ khai thác khoáng sản chỉ chiếm chưa đến 5% tổng thu ngân sách huyện hằng năm Công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường sau khai thác chưa được quan tâm, phần lớn các khu vực mỏ chưa hoàn thành việc hoàn thổ, đất sau khai thác bị bỏ hoang không đưa vào
sử dụng, gây lãng phí tài nguyên đất đai, tác động xấu đến cảnh quan môi trường và vô hình chung làm giảm nhu cầu sử dụng đất của người dân
- Đề xuất được các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Hòa Vang:
Cần triển khai đồng bộ các giải pháp: Giải pháp về tăng cường công tác quản
lý, tuyên truyền, giám sát, thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính trong thực hiện pháp luật về đất đai, khoáng sản, môi trường trong khai thác khoáng sản Giải pháp về công nghệ, tăng cường đầu tư, đổi mới và nâng cao công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản nhằm hạn chế tối đa tổn thất tài nguyên và gây ảnh hưởng đến môi trường Giải pháp tăng cường quản lý, sử dụng đất đai trong khai thác khoáng sản từ khâu thẩm định, phê duyệt, thu hồi đất, cho thuê đất để khai thác khoáng sản đến giảm thiểu tác động đến đất đai, môi trường, con người trong quá trình khai thác và công tác hoàn thổ, đưa đất đai vào sử dụng hiệu quả sau khai thác Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh
tế - xã hội của hoạt động khai thác khoáng sản, thực hiện tốt chính sách đảm bảo quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác, phân cấp, điều tiết khoản thu từ khai thác khoáng sản phù hợp để phục vụ sự phát triển KT-XH của địa phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Tài nguyên đất và tầm quan trọng của đất đai đối với phát triển kinh tế xã hội 3
1.1.2 Tài nguyên khoáng sản và tác động của khai thác khoáng sản đến tài nguyên đất và sự phát triển kinh tế xã hội 6
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.2.1 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý sử dụng đất sau khai thác khoáng sản trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý sử dụng đất sau khai thác khoáng sản tại Việt Nam 15
1.2.3 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý sử dụng đất sau khai thác khoáng sản tại thành phố Đà Nẵng 19
1.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 24
Trang 61.3.1 Tình hình nghiên cứu biện pháp cải tạo, quản lý sử dụng đất sau khai thác
khoáng sản trên thế giới 24
1.3.2 Tình hình nghiên cứu biện pháp cải tạo, quản lý sử dụng đất sau khai thác khoáng sản tại Việt Nam 27
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 29
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 29
2.4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê so sánh 32
2.4.3 Phương pháp chuyên gia 32
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.4.5 Phương pháp minh họa bằng sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng 37
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Hòa vang, thành phố Đà Nẵng 41
3.2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 43
3.2.1 Đặc điểm phân bổ mỏ khoáng sản trên địa bàn huyện Hòa Vang 43
3.2.2 Tình hình khai thác khoáng sản và quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng 44
3.3 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CHO HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 48
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hòa Vang 48
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất cho hoạt động khoáng sản huyện Hòa Vang 51
Trang 73.3.3 Tình hình quản lý đất đai tại các mỏ đất đồi, đất sét trên địa bàn huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng 52
3.3.4 Hiệu quả sử dụng đất đai tại các mỏ đất đồi, đất sét trên địa bàn huyện Hòa Vang 63
3.3.5 Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng đất đai tại các mỏ đất đồi, đất sét trên địa bàn huyện Hòa Vang 72
3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ SAU KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG 73
3.4.1 Giải pháp về quản lý 73
3.4.2 Giải pháp về công nghệ 74
3.4.3 Giải pháp quản lý, sử dụng đất đai trong khai thác khoáng sản 75
3.4.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của các hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện 76
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
4.1 KẾT LUẬN 77
4.2 KIẾN NGHỊ 78
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD (Biochemical Oxygen Demand) Nhu cầu oxy hóa học COD (Chemical Oxygen Demand) Nhu cầu oxy hóa học
TSS (Total Suspended Solid) Tổng chất rắn lơ lửng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tải lượng các chất ô nhiễm thải vào môi trường không khí 11
Bảng 1.2 Diện tích rừng và đất rừng bị thu hẹp, thoái hoá ở một số mỏ 16
Bảng 1.3 Mức độ ô nhiễm đất nông nghiệp do khai thác mỏ 17
Bảng 1.4 Quy hoạch thăm dò, khai thác đất đồi thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020 21
Bảng 1.5 Tổng hợp quy hoạch khu vực khai thác đất sét giai đoạn 2016-2020 22
Bảng 2.1 Các mỏ đất đồi điển hình trên địa bàn huyện Hòa Vang chọn phân tích đánh giá thực trạng 30
Bảng 2.2 Các mỏ đất sét điển hình trên địa bàn huyện Hòa Vang chọn phân tích đánh giá thực trạng 31
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của huyện Hòa Vang
từ năm 2011 đến năm 2014 37
Bảng 3.2 Mật độ phân bố dân cư huyện Hòa Vang đầu năm 2015 39
Bảng 3.3 Cơ cấu lao động của huyện bình quân giai đoạn 2010 - 2014 41
Bảng 3.4 Các mỏ khoáng sản đang được UBND thành phố cấp phép khai thác trên địa bàn huyện Hòa Vang chia theo loại khoáng sản ở từng xã 45
Bảng 3.5 Cơ cấu tài nguyên đất huyện Hòa Vang chia theo mục đích sử dụng năm 2015 48 Bảng 3.6 Cơ cấu đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hòa Vang năm 2015 49
Bảng 3.7 Cơ cấu đất phi nông nghiệp huyện Hòa Vang năm 2015 50
Bảng 3.8 Diện tích đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản trên địa bàn
huyện Hòa Vang giai đoạn 2011-2015 51
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng đất tại một số mỏ đất đồi trên địa bàn huyện 53
Bảng 3.10 Tình hình sử dụng đất tại một số mỏ đất sét trên địa bàn huyện 59
Bảng 3.11 Đóng góp của hoạt động khai thác khoáng sản vào thu ngân sách huyện Hòa Vang từ năm 2010 đến năm 2015 64
Bảng 3.12 Kết quả quan trắc môi trường không khí tại một số mỏ đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang 68
Bảng 3.14 Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước ngầm tại các khu vực khai thác đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang 71
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Sơ đồ bản đồ hành chính huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng 33
Hình 3.2 Tổng thể khu vực các mỏ đất đồi thuộc Quy hoạch Cụm Công nghiệp vừa
và nhỏ Hòa Nhơn (hình chụp qua Google Earth, 2015) 58
Hình 3.3 Tổng thể khu vực các mỏ sét tại thôn An Châu, xã Hòa Phú,
huyện Hòa Vang (hình chụp qua Google Earth, 2015) 63
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ nhiệt độ - lượng mưa huyện Hòa Vang năm 2014 35
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Hòa Vang từ năm 2011 đến năm 2014 38
Biểu 3.3 Mật độ dân số huyện Hòa Vang đầu năm 2015 40
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ sử dụng các nhóm đất huyện Hòa Vang 48
Biểu đồ 3.5 Cơ cấu diện tích đất huyện Hòa Vang chia theo xã 49
Biểu đồ 3.6 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp huyện Hòa Vang 50
Trang 12MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, phong phú Đà Nẵng - một thành phố được xem là “đầu tàu kinh tế” của miền Trung, cũng là nơi có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, trong đó, huyện Hòa Vang là địa phương có nhiều tài nguyên khoáng sản nhất thành phố, đặc biệt là nhiều
mỏ đất sét làm vật liệu xây dựng và đất đồi làm vật liệu san lấp Việc khai thác tài nguyên khoáng sản đã đóng góp không nhỏ cho sự tăng trưởng kinh tế xã hội của huyện Hòa Vang trong những năm qua
Tuy nhiên, khi hoạt động khai thác khoáng sản bước vào giai đoạn tăng trưởng
về quy mô cũng xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng đến đất đai, môi trường, sức khỏe và đời sống của người dân Nhiều khu vực sau khai thác đã làm biến đổi nặng nề bề mặt địa hình, thảm thực vật bị suy thoái, tốc độ rửa trôi, xói mòn tăng nhanh, môi trường nước, đất bị xáo trộn, khối lượng chất thải rắn và chất thải lơ lửng khổng lồ phát sinh từ hoạt động khai thác, vận chuyển khoáng sản là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Hơn thế nữa việc sử dụng đất với mục đích khai trường, chứa bùn thải, đất đá thải làm mất đi một diện tích lớn đất nông nghiệp, lâm nghiệp, ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của nhân dân địa phương bị mất đất Công tác hoàn thổ, cải tạo phục hồi môi trường chưa được quan tâm, các mỏ đang khai thác chưa có định hướng sử dụng mặt bằng sau khai thác hữu hiệu, hoặc các mỏ đã ngừng khai thác vẫn chưa thực hiện cải tạo, phục hồi môi trường để đưa mặt bằng sau khai thác vào sử dụng dẫn đến lãng phí nguồn tài nguyên đất đai, mất
mỹ quan và tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro về tính mạng cho con người, sinh vật
Chính vì vậy, làm thế nào để việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản vừa mang lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế xã hội, vừa bảo vệ được môi trường, phát huy giá trị đất đai, hướng đến phát triển bền vững luôn là vấn đề nan giải đặt
ra cho các nhà lãnh đạo, các cấp có thẩm quyền của địa phương
Xuất phát từ lý do trên tôi đi đến nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý
đất đai tại các mỏ khai thác đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”
Trang 132 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được hiện trạng quản lý sử dụng đất tại một số mỏ khai thác đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất trong hoạt động khai thác khoáng sản
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xem xét đặc điểm phân bố và hiện trạng khai thác khoáng sản trên địa bàn huyên Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Đánh giá được hiện trạng quản lý sử dụng đất của một số mỏ đất sét, đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất trong khai thác khoáng sản tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần tạo cơ sở khoa học đề xuất, xây dựng các giải pháp quản lý khai thác khoáng sản gắn với cải tạo sử dụng đất, quản lý đất đai hiệu quả sau quá trình khai thác khoáng sản ở các mỏ đất sét, đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Thấy rõ thực trạng quản lý và sử dụng đất sau khi khai thác đất đồi, đất sét trên địa bàn huyện, từ đó góp phần đưa ra những chính sách hỗ trợ hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng đất để tránh lãng phí nguồn tài nguyên đất vừa phát triển kinh tế cho địa phương vừa chú trọng đến bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống người dân trong khu vực
- Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu cho các nơi khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tài nguyên đất và tầm quan trọng của đất đai đối với phát triển kinh tế xã hội
Khi cuộc sống con người phát triển, cũng là khi tài nguyên đất được khẳng định rõ ràng về chức năng và vai trò của nó Đất là vật thể tự nhiên có quá trình phát sinh và phát triển riêng, chịu tác động của nhiều yếu tố Đất không phải là một "vật chết" mà đất ở "thể sống", luôn biến đổi Học thuyết Mac - Lênin đã khẳng định:
"Đất là đối tượng lao động và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được" Luật Đất đai 1993 cũng khẳng định: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng" Đất đai là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác nhau trên trái đất Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai ngày càng gắn liền chặt chẽ với nhau Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào đó tạo nên của cải nuôi sống mình Đất đai luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống Không có đất đai thì không
có bất kì một ngành sản xuất nào, không có một quá trình lao động nào diễn ra, không thể có sự tồn tại của loài người (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) [19]
1.1.1.1 Chức năng của đất đai đối với con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế -
xã hội
- Chức năng sản xuất: Đất đai là cơ sở cho rất nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống con người Qua quá trình sản xuất, đất đai cung cấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp cho trồng trọt, chăn nuôi
- Chức năng môi trường sống: Đất đai là môi trường sống của hầu hết các sinh vật, là nơi diễn ra tất cả các hoạt động của chúng
- Chức năng cân bằng sinh thái: Đất đai giúp hình thành một trạng thái cân bằng về năng lượng thông qua sự phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyển địa cầu
- Chức năng chứa đựng và cung cấp các loại tài nguyên khác: Đất đai chứa
Trang 15đựng các loại tài nguyên như khoáng sản, rừng, nước Từ đó, nó cung cấp các loại tài nguyên này cho con người khai thác, sử dụng trong quá trình sống
- Chức năng đệm và điều hoà các chất độc hại: Đất đai có khả năng tiếp nhận, gạn lọc, là môi trường đệm và làm thay đổi hình thái của các chất độc hại
- Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử: Đất đai là trung gian để bảo vệ, bảo tồn các chứng tác lịch sử, văn hoá của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết trong quá khứ và cả về sử dụng đất đai trong quá khứ
- Chức năng vật mang sự sống: Đất đai tạo ra không gian cho sự chuyển vận của con người, cho đầu tư, sản xuất, cho sự dịch chuyển của động, thực vật ở các vùng khác nhau trên trái đất
- Chức năng phân dị lãnh thổ: Sự thích hợp của đất đai về các chức năng chủ yếu nói trên thể hiện rất khác nhau ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn trái đất nói chung nên mỗi phần lãnh thổ sẽ mang những đặc tính tự nhiên, kinh tế, xã hội rất đặc thù [17]
1.1.1.2 Vai trò của tài nguyên đất đối với con người, sinh vật và sự phát triển kinh
- Mặt gián tiếp: Đất là nơi tạo môi trường sống cho con người và sinh vật trên trái đất Đồng thời thông qua cơ chế điều hoà của đất, nước, khí hậu, khí quyển, đã tạo ra các điều kiện môi trường khác nhau giúp cho con người và sinh vật tồn tại và phát triển
Trên quan điểm sinh thái và môi trường, đất được xem như là một vật thể sống vì nó chứa nhiều loại sinh vật sống, từ sinh vật bậc thấp đến sinh vật bậc cao Cũng vì bản tính "sống" của đất mà đất được xem như nguồn tài nguyên tái tạo và vô cùng quý giá Đất là một vật thể sống vì vậy nó cũng tuân theo quy luật của sự sống, phát sinh, phát triển, thoái hoá và già cỗi Cũng như vậy, tùy vào cách ứng xử của con người đối với đất mà làm cho đất có thể trở nên phì nhiêu, màu mỡ, cho năng suất cây trồng cao hoặc ngược lại
Trang 16Cũng trên quan điểm nhìn nhận vấn đề các nhà khoa học cũng cho rằng đất là vật mang Đất luôn mang trên nó các hệ sinh thái, khi con người tác động vào đất là khi các hệ sinh thái này bị tác động Do đó muốn đất có khả năng sản xuất cao thì hệ sinh thái trong nó phải bền vững, muốn vậy con người phải có cách khai thác nguồn lực đất đai một cách hợp lý
Đất là một vật mang, lại được đặc trưng bởi tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được, đó là độ phì nhiêu Độ phì nhiêu của đất được thể hiện qua hàm lượng chất dinh dưỡng chứa trong đất (NPK, các hợp chất mùn, khả năng giữ nước của đất ), đây là các tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đất đai Đối với các hệ sinh thái, độ phì nhiêu giúp cho chúng tồn tại và phát triển
Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên đất cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng:
- Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt: Trong những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người thì đất đai là điều kiện đầu tiên
và là nền tảng tự nhiên của bất kì một quá trình sản xuất nào Đất là tư liệu sản xuất chính không thể thay thế được của một số ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp Mác cho rằng, đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các
tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể
- Đất đai là nguồn nguyên liệu của một số ngành: Đất đai là nguyên liệu sản xuất của một số ngành như làm gạch ngói, đồ gốm, xi măng Đất đai là địa điểm để đặt máy móc, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng và là chỗ đứng cho người công nhân trong sản xuất công nghiệp
- Đất đai là môi trường sống: Đối với đời sống, đất là nơi trên đó con người xây dựng nhà cửa, các công trình làm chỗ ở và nơi tiến hành các hoạt động văn hoá, là nơi phân bố các vùng kinh tế, khu dân cư hầu hết mọi của cải của con người đều lấy từ đất
- Đất đai là một bộ phận quốc gia: Dưới góc độ chính trị - pháp lý, đất đai là một bộ phận không thể tách rời khỏi lãnh thổ quốc gia, gắn liền với lãnh thổ quốc gia Tôn trọng chủ quyền quốc gia trước hết thể hiện ở tôn trọng lãnh thổ quốc gia (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) [12]
Như vậy, đất đai có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sống của con người
và sinh vật, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và gián tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của con người Do đó, chúng ta phải có những giải pháp phù hợp trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững trong mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội hiện nay
Trang 171.1.2 Tài nguyên khoáng sản và tác động của khai thác khoáng sản đến tài nguyên đất và sự phát triển kinh tế xã hội
1.1.2.1 Khái niệm về tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản: là nguồn liệu tự nhiên có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu
cơ và phần lớn nằm trong lòng đất Quá trình hình thành loại tài nguyên này có liên quan mật thiết đến lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong một thời gian dài hàng nghìn năm, có khi hàng trăm triệu năm
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “Khoáng sản là những thành tạo khoáng vật trong vỏ trái đất có thể sử dụng trong nền kinh tế quốc dân” [21]
Luật Khoáng sản năm 2010 quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất
có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ” [25]
Khoáng sản cũng có thể được hiểu là nguồn nguyên liệu tự nhiên có trong nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng trái đất và quá trình hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong thời gian dài từ hàng ngàn năm đến hàng chục năm, hàng triệu năm [12]
Như vậy, dù được hiểu bằng khái niệm nào thì khoáng sản đều là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất mà ở trong đó điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích, sử dụng trực tiếp chúng phục
vụ nền kinh tế quốc dân hoặc trong đời sống hàng ngày
1.1.2.2 Vai trò của tài nguyên khoáng sản trong phát triển kinh tế - xã hội
Tài nguyên khoáng sản là một yếu tố nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên, đất đai thì sẽ không
có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần và đủ Trên thực tế, nếu công nghệ là cố định thì lưu lượng tài nguyên sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về sản xuất vật chất trong ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như nhôm, thép Tài nguyên khoáng sản chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả Thực tế đã có nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng tài nguyên phong phú, đa dạng, điều kiện thuận lợi song vẫn là nước ngoài và kém phát triển Ngược lại nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành nước phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp
Trang 18Có thể nói, tài nguyên khoáng sản là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng, công nghiệp vật liệu xây dựng
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định Đối với hầu hết các nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên nên có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước Như trên chúng ta thấy, nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh
tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt về năng lược giúp cho một quốc gia ít lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và
có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới rơi vào tình thái bất ổn [20]
1.1.2.3 Tác động của khai thác khoáng sản đến tài nguyên đất và sự phát triển kinh tế - xã hội
a) Sự suy kiệt tài nguyên đất
Quá trình khai thác khoáng sản làm phá vỡ cấu trúc trạng thái ban đầu của đất, làm biến đổi bề mặt đệm trong đó nhất là xáo trộn bề mặt đất, phá hủy thảm thực vật kéo theo hiện tượng xói mòn rửa trôi, sạt lở đất, xói lở bờ sông,… từ đó gây ra suy thoái tài nguyên đất Những thay đổi về địa hình dẫn đến những biến đổi về điều kiện thủy văn, các yếu tố của dòng chảy mặt, chế độ thủy văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng, v.v… Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận Khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn
đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội (Sự kiện vỡ đập chắn nước thải công trình tuyển rửa quặng sắt đêm 5/11/2010 của Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng san Việt Nam ở Cao Bằng đã tạo nên một dòng lũ bùn đỏ tràn xuống hạ
lưu, làm cả một khu dân cư ngập sâu trong bùn đỏ là một minh chứng) [16]
Do đặc thù của khai thác mỏ là một hoạt động công nghiệp không giống các
Trang 19hoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất đá
ra khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu Một khối lượng lớn chất thải rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ của khối lượng quặng được khai thác Chính vì vậy, khai thác khoáng sản đã làm suy giảm, thu hẹp đáng kể diện tích đất nông lâm nghiệp và ảnh hưởng đến sản xuất như: Chiếm dụng đất nông, lâm nghiệp để làm khai trường, bãi thải, thải các chất thải rắn như cát, sỏi, bùn ra đất nông nghiệp, thải nước từ các hệ thống tuyển làm ô nhiễm đất nông nghiệp và giảm sút năng suất cây trồng
Ngoài ra, việc khai thác lộ thiên thường thải ra lượng đất đá rất lớn tạo thành những bãi thải khổng lồ Ví dụ như bãi thải Đèo Nai tại mỏ than Quảng Ninh có độ cao lên đến 200m, bãi thải Cao Sơn có độ cao tới 150m…Với độ cao như trên các bãi thải có độ dộc lớn, khi trời mưa hiện tượng sạt lở đất đá là không tránh khỏi, gần đây nhất là vụ sạt lở bãi thải mỏ than Phấn Mễ tại Đại Từ, Thái Nguyên đã làm chết 7 người và thiệt hại nặng về kinh tế [12]
Hoạt động khai thác, sàng tuyển và đổ thải đất đá tạo ra lượng lớn nước thải kèm theo lượng dầu mỡ từ các Phương tiện vận chuyển đổ thải vào môi trường đất từ
đó gây ô nhiễm về mặt lý hóa đất; bít kín các mao quản, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi ôxy, trao đổi chất trong đất và không hí Việc thiếu ôxy trong tầng đất thổ nhưỡng
sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống các loài vi sinh vật và các loài côn trùng có ích sống trong đất Các loài sinh vật này có khả năng làm tơi xốp và cải tạo đất Các tác động tiêu cực tới đời sống của các loài sinh vật này đã gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng đất trồng, khả năng canh tác nông nghiệp gần khu vực mỏ khai thác, ảnh hưởng đền năng suất cây trồng
Các tác nhân gây ô nhiễm như KLN phát sinh từ hoạt động của mỏ có tính bền, tính linh động và khả năng tích lũy trong đất gây ô nhiễm môi trường đất Các chất này không chỉ tác động với môi trường đất mà có thể theo dòng chảy xâm nhập vào nguồn nước ngầm, nước mặt, tích lũy qua chuỗi thức ăn ảnh hưởng tới sức khỏe công đồng Ngoài ra, trong hoạt động khai thác mỏ còn thải ra rất nhiều các phế thải công nghiệp có thành phần chủ yếu chứa PCBs có tính chất bền với nhiệt độ, ánh sáng và các quá trình phân hủy sinh học, hóa học; nhưng chúng có khả năng dễ bay hơi, phát tán đi xa, phá vỡ các tuyến nội tiết trong cơ thể sinh vật, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và hệ miễn dịch, gây rối loạn hệ thần kinh và là tác nhân gây ung thư Khi PCBs xâm nhập vào nguồn nước,
do tính không tan, tỷ trọng lớn và kị nước nó sẽ tích tụ trong bùn lắng của sông và ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước
Trang 20Có thể nói, hoạt động khai khoáng gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đất tại khu vực mỏ và xung quanh mỏ Quá trình khai thác, bốc xúc lượng lớn đất đá thải đã làm giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp, gây ô nhiễm lý hóa đất, làm khả năng giữ nước và các chất dinh dữỡng của đất bị suy giảm Bên cạnh đó một
số tác nhân gây ô nhiễm như KLN có khả năng tích lũy trong đất qua đó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nông sản và sức khỏe con người [4]
b) Sự ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước
Trong hoạt động khoáng sản, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho hầu hết công đoạn sản xuất Quá trình sản xuất, tháo khô mỏ, đổ thải, , đã gây những tác động tiêu cực tới nguồn nước sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt của người dân ở khu vực xung quanh khai trường
Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai trường bị
hạ thấp Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu
tố của dòng chảy trong khu mỏ như thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận
tốc dòng chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng,
Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước, biến đổi chất lượng nguồn nước và làm suy giảm công năng của các công trình thuỷ lợi nằm liền kề với các khu khai thác mỏ
Khi tiến hành các hoạt động khai thác khoáng sản sẽ hình thành các moong sâu đến hàng trăm mét, là nơi tập trung nước cục bộ Ngược lại, để đảm bảo hoạt động của
mỏ, phải thường xuyên bơm tháo khô nước ở đáy moong, hầm lò, hình thành các phễu hạ thấp mực nước dưới đất với độ sâu từ vài chục đến hàng trăm mét và bán kính phễu hàng trăm mét Điều đó dẫn đến tháo khô các công trình chứa nước trên mặt như hồ, ao, xung quanh khu mỏ [17]
Song song với những tác động cơ học đến nguồn nước nói chung và nguồn nước nông nghiệp nói riêng, những tác động hoá học đối với nguồn nước cũng rất đáng kể
Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản
lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mƣa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên, những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ Mức độ ô nhiễm hoá học các
Trang 21nguồn nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm thân quặng, thành phần thạch học
và độ bền vững của đất đá chứa quặng, Phương pháp và trình độ công nghệ khai thác, chế biến quặng, biện pháp quản lý và xử lý chất thải,
Trong các mỏ, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng Nước thải có hàm lượng TSS cao làm nước biến mầu, tăng độ đục và làm giảm độ hòa tan ôxy trong nước, gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng nước mặt, đến hệ sinh thái thủy vực và còn là nguyên nhân gây bồi lấp nguồn tiếp nhận Gây tác động gián tiếp tới nhu cầu sử dụng nước tưới tiêu Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa
Hg, CN-, ; ngoài ra, các nguyên tố kim loại nặng cộng sinh như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hoà tan vào nước Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng vàng là nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông nghiệp Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn sét và một số kim loại nặng và hợp chất độc như CN-, Hg, As, Pb v.v mà nguyên nhân chính là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển [19] Các kim loại nặng có trong nước thải có tác động rất lớn đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng Nước thải có thành phần trên nếu đổ thẳng vào nguồn nước tiếp nhận sẽ hủy diệt các loại động vật sống trong nước
Đối với khai thác khooáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường thì tác động đến môi trường nước phát sinh từ hoạt động của nhóm mỏ này là loại hình khai thác cát sỏi lòng sông, suối và loại hình khai thác sét gạch ngói Hoạt động nạo vét, hút cát đã làm tăng độ đục của nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái dưới nước và chế độ dòng chảy Hoạt động khai thác sét gạch ngói đã bóc hết lớp sét cách nước bề mặt với nước ngầm; đây là nguy cơ ô nhiễm nước ngầm khi nước mặt bị ô nhiễm ngấm xuống qua các vị trí thực hiện khai thác sét
c) Sự ô nhiễm môi trường không khí
Trong quá trình hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, vận chuyển, bốc xúc, san gạt, đều
sử dụng các loại động cơ, xe máy Việc ảnh hưởng của khí thải đến môi trường chủ yếu là
do xe vận chuyển đất từ mỏ, của các loại máy móc thiết bị chạy bằng dầu
Áp dụng hệ số tính toán nhanh do Cục Quản lý Môi trường Hoa Kỳ (USEPA)
và các hệ số của WHO thiết lập tính cho xe chạy dầu với tốc độ 25 km/h và trọng tải từ 3,5-16 tấn Có thể tính được tải lượng các chất ô nhiễm do hoạt động của các phương tiện vận tải như bảng sau:
Trang 22Bảng 1.1 Tải lượng các chất ô nhiễm thải vào môi trường không khí
(Nguồn: Bùi Thanh Hải, Luận văn thạc sỹ, 2010)
Với tải lượng khí thải tính toán từ hoạt động khai thác, khí SOx làm ảnh hưởng tới sự phát triển của cây cối khi có nồng độ trong không khí là 3 ppm, ở nồng độ cao hơn có thể gây rụng lá và chết cây; CO ở nồng độ 100 ppm - 10.000 ppm làm rụng lá hoặc gây bệnh xoắn lá làm cây cối chết yểu; bụi bám trên bề mặt lá cây làm giảm khả năng hô hấp và quang hợp của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
Bụi trong hoạt động khai thác là vấn đề phải được quan tâm thường xuyên và có trách nhiệm Bụi phát sinh trong quá trình phá bổ đất vận chuyển xúc ủi…
Bụi đất, đá gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người như gây các bệnh về phổi, da, mắt, làm giảm khả năng quang hợp và hô hấp của cây xanh Bụi đất phát sinh trên khai trường sẽ phát tán ra khu vực xung quanh
Theo số liệu phân tích thống kê thực tế có thể ước tính tải lượng ô nhiễm bụi đối với hoạt động khai thác như sau:
- Công đoạn phá bổ đất : 0,4 kg/tấn
- Công đoạn vận chuyển : 1,7 kg/tấn
d) Sự suy giảm tài nguyên sinh vật
Có ba yếu tố quyết định đến sự phát triển của sinh vật, đó là vùng cư trú, khí hậu và nguồn dinh dưỡng Việc ngày càng mở rộng các khu khai thác, nghiền sàng và tuyển luyện đã thu hẹp dần diện tích cư trú của các loài sinh vật hoang dã, mất dần thảm thực vật, nghèo kiệt nguồn thức ăn của sinh vật, với hậu quả cuối cùng là suy kiệt
hệ sinh thái
Trang 23Sự biến đổi về hình dạng địa hình, đặc biệt là sự hạ thấp độ cao cảu núi đá sau khai thác là nguyên nhân dẫn đến thay đổi vi khí hậu, hệ thống dòng chảy trên mặt đã tác động mạnh mẽ đến điều kiện sống của các loài sinh vật
Các vùng mỏ hay bãi khai thác khoáng sản vàng, đá quý…phần lớn nằm trong các vùng hẻo lánh, xa trục giao thông và các khu dân cư Hoạt động khai khoáng ở các khu vực này trước hết phải sử dụng đất để làm khai trường, mở đường giao thông và các hoạt động dịch vụ khác do đó diện tích rừng bị thu hẹp
Sự thu hẹp diện tích rừng, đồng nghĩa với nguyên nhân làm giảm số lượng và diện phân bố của các loài sinh vật Những thiệt hại về lâm sinh và giảm thiểu đa dạng sinh học do khai thác khoáng sản tự do phải có một thời gian dài và lượng kinh phí lớn ,ới có thể khắc phục được, và rất cỏ thể đối với một số loài sinh vật alf không thể phục hồi được
Theo thống kê của Ủy ban UNESCO Việt Nam, các loài thực vật rừng có nguy
cơ bị đe dọa do hoạt động khai thác khoáng sản như: Trắc vàng, Powmu, Hương, Gió bàu, Cẩm lai, Động vật gồm: Voi, hổ, báo gấm, báo hoa mai, bò xam, gấu ngựa…Một
số loài còn lại ít như: bộ Linh truowngrm (Khỉ vàng, khỉ nước, khỉ đuôi lợn, khỉ cọc đuôi, vượn má hung…), bộ Gặm nhấm (Sóc bay, sóc bay đen trắng), bộ Ăn thịt (chó sói, gấu ngựa, gấu chó, chồn mực), loài chim bao gồm: họ ưng, họ Trĩ, họ Cucu, hộ Hồng hoàng…
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý
sử dụng đất sau khai thác khoáng sản trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình khai thác khoáng sản trên thế giới
Hoạt động khai thác khoáng sản đã phát triển mạnh từ thập kỷ trước ở nhiều quốc gia giàu tài nguyên như Nga, Mỹ, Australia, Campuchia, Indonesia, Phillipines, Trung Quốc, Ấn Độ, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng nguyên liệu khoáng của thế giới như quặng sắt, chì, kẽm, thiếc, than đá, đồng và các loại khoáng sản khác, Mặc dù khai thác khoáng sản là nguồn thu quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, nhưng ngành này cũng gắn liền với những tác động môi trường và xã hội nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng mất đất canh tác, xói
lở, suy thoái tài nguyên rừng và nguồn nước Do đặc thù, nên ngành khai thác khoáng sản là ngành sử dụng diện tích đất rất lớn, mặt khác đa số các mỏ đều nằm dưới những cánh rừng và thủy vực có chức năng tạo sinh kế cho người dân Hoạt động khai thác khoáng sản dẫn đến suy thoái tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, là rất lớn [32]
Trang 24Các phương pháp khai mỏ hiện nay như nổ mìn hoặc khoan đều rất thô sơ và không hề có nỗ lực nào nhằm khôi phục lại những khu vực đã khai thác do chi phí hoàn nguyên thường cao hơn nhiều so với giá trị khoáng sản Tác động môi trường tiêu cực từ khai mỏ thường xảy ra ngay trong chính bản thân quá trình khai thác và các hoạt động liên quan như dọn mặt bằng mỏ, vận chuyển và chế biến quặng Suy thoái rừng và ô nhiễm nước do khai thác khoáng sản không chỉ tác động đến
hệ sinh thái mà còn tác động đến sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này
Điều đáng tiếc là các công ty khai khoáng ở các nước đang phát triển trên thế giới đều rất ít quan tâm đến tác động môi trường Trong khi đó, bản thân chính phủ các quốc gia này lại thiếu năng lực hành chính - kỹ thuật cũng như ý chí chính trị để quản lý và kiểm soát hiệu quả lĩnh vực này Vấn đề này lại càng trở nên trầm trọng hơn bởi một thực
tế là thoả thuận khai thác khoáng sản giữa chính phủ và các doanh nghiệp còn thiếu minh bạch và nỗ lực nhằm kiểm soát nghiêm minh các hoạt động khai khoáng còn bị làm ngơ
do sức hấp dẫn lợi nhuận mang lại Những khu vực bị tàn phá do khai thác thường bị bỏ quên và tổn hại môi trường hầu như không thể ngăn chặn được [12], [32]
1.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác khoáng sản một số nước trên thế giới [3], [5] a) Kinh nghiệm Philippines
Khi thế giới đang đứng trước thách thức cạn kiệt tài nguyên và xu thế cạnh tranh
toàn cầu về tài nguyên khoáng sản, nhiều quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển nhưng có lợi thế về tài nguyên đang trở thành đối tượng để các quốc gia và các tập đoàn khai khoáng có tiềm lực gây ảnh hưởng và giành quyền khai thác tài nguyên
Đông Nam Á, khu vực giàu tài nguyên khoáng sản vào loại bậc nhất thế giới, luôn là đích ngắm của nhiều công ty, tập đoàn khai thác lớn trên thế giới
Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã bắt đầu tiến hành cùng với việc điều chỉnh luật và các chính sách liên quan cho ngành công nghiệp khai khoáng để bảo đảm việc duy trì nguồn tài nguyên của mình cũng như loại bỏ dần vai trò độc tôn của các doanh nghiệp nước ngoài
Chính phủ Philippines vừa tuyên bố sẽ nâng thuế khai thác đối với việc khai khoáng của các công ty nước ngoài Tương tự nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, Philippines là quốc gia có trữ lượng tài nguyên địa chất vào loại nhiều nhất thế giới Ước tính, Philippines xếp thứ 3 thế giới về trữ lượng đồng, Quốc gia này cũng có rất nhiều mỏ vàng, niken và kẽm Đây hiện cũng đang là một trong những quốc gia có thị trường nóng nhất thế giới gần bằng với Trung Quốc
Trang 25Hiện tại, Philippines đang chuẩn bị điều chỉnh tăng thuế đối với các dự án khai thác khoáng sản, nhằm tăng cường chất lượng của ngành công nghiệp và thu thêm tiền
về cho chính phủ Quy định mới cũng sẽ loại bỏ những ưu đãi thuế mà các doanh nghiệp nước ngoài được hưởng trước đây khi tiến hành khai thác tại Philippines
Bộ trưởng Tài chính của Philippines phát biểu, "Luật khai thác khoáng sản của Philippines hiện vẫn còn quá tự do so với các quốc gia khác trên thế giới như Australia hay Canada Chúng tôi đang cố gắng duy trì việc bảo vệ môi trường trong khi khai thác cũng như tăng cường các khoản thu cho chính phủ Điều này sẽ giúp chúng tôi đầu tư nhiều hơn vào việc bảo vệ môi trường, giáo dục và đào tạo."
Bất chấp việc các doanh nghiệp nước ngoài tại Philippines tỏ ra không đồng tình và cho rằng quy định mới sẽ ảnh hưởng tới việc mở rộng các mỏ mới, ông Purisima khẳng định, dù quyết định này sẽ có thể gây ra một số tác động tiêu cực ngắn hạn cho ngành công nghiệp khai khoáng của Philippines, nhưng quốc gia này hiện đang hướng tới những mục tiêu dài hạn hơn và vẫn "ủng hộ việc khai khoáng"
b) Kinh nghiệm Indonesia
Indonesia - nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á hiện nắm giữ một số mỏ khoáng sản giàu nhất thế giới, như mỏ vàng Grasberg lớn nhất thế giới đang do tập đoàn Mỹ Freeport khai thác Lĩnh vực khai khoáng hiện đóng góp khoảng 12% GDP của Indonesia
Sức ép đòi Nhà nước kiểm soát nhiều hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước đã gia tăng ở Indonesia kể từ khi giá hàng hóa tăng mạnh trong thập kỷ vừa qua Chính phủ Indonesia đã tiến hành các quy định nhằm hạn chế xuất khẩu thiếc, đồng thời cấm xuất khẩu một số quặng kim loại chưa qua chế biến vào năm 2014, nhằm tạo điều kiện cho ngành khai khoáng trong nước phát triển và nâng cao giá trị gia tăng của các mặt hàng xuất khẩu
Hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững, nhiều nước Đông Nam Á đang thắt chặt dòng vốn đầu tư nước ngoài vào khai thác khoáng sản nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên của mình
Hành động này của Indonesia nằm nỗ lực gia tăng sự kiểm soát của Nhà nước cũng như nâng cao lợi nhuận từ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Chính phủ Indonesia vừa đưa ra quyết định buộc tất cả các công ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng ở nước này phải bán bớt cổ phần tại các cơ sở đã hoạt động 10 năm, với
số lượng sao cho sở hữu trong nước của Indonesia ít nhất là 51% Trong thời gian tiếp theo, Chính phủ Indonesia sẽ thực hiện việc giảm dần cổ phần của các doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực khai thác khoáng sản từ 80% xuống còn 49%
Trang 26Hiện tại, chính phủ Indonesia cũng đang tiến hành đàm phán lại hợp đồng với các công ty khai khoáng lớn của nước ngoài hiện đang hoạt động ở nước này, như Freeport McMoRan Copper & Gold Inc và Newmont Corp
Một số nhà phân tích cho rằng việc giới hạn sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực khai khoáng của Indonesia và Philippines có thể ảnh hưởng đến một số mỏ đang khai thác hiện nay, cũng như có thể gây tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào các mỏ khai thác có trữ lượng dồi dào của các quốc gia này [12]
1.2.2 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý
sử dụng đất sau khai thác khoáng sản tại Việt Nam
1.2.2.1 Tinh hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Hiện nay, các nhà địa chất đã phát hiện trên đất nước ta có gần 5.000 mỏ và điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau Những loại khoáng sản trữ lượng lớn đáng kể là dầu khí (tính về sản lượng khai thác hàng năm, Việt Nam đứng thứ ba ở Đông Nam Á sau Indonesia và Malaisia), than khoáng, urani, địa nhiệt, quặng nhôm, đất hiếm, titan, wolfram, crôm, sắt, mangan, đồng, vàng, bạc, nickel, thiếc Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 nước ta đã phát hiện nhóm đã quý ruby, saphia, peridot với trữ lượng không lớn Riêng ruby ở Yên Bái và Nghệ An được thế giới đánh giá có chất lượng cao đạt chất lượng quốc tế, tương đương với ruby nổi tiếng của Myanmar [19]
Nếu so sánh tiềm năng khoáng sản Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới thì có thể xếp nước ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt Nam Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn Kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam có tiềm năng khoáng sản khá phong phú, đa dạng Nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít,… chủng loại khoáng sản đa dạng
Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai thác lộ thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Các hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác quy mô nhỏ và khai thác quy
mô vừa
Trang 27Quá trình khai thác khoáng sản thường qua ba bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa mỏ Như vậy, tất cả các công đoạn khai thác đều tác động đến tài nguyên
và môi trường đất
Trong quá trình khai thác bằng cơ giới hoặc thủ công đòi hỏi các thiết bị cho hầm lò, cho sàng tuyển, xăng dầu cho các đầu máy điezel, toa goòng, các loại xe vận tải, các loại máy gạt hay hoá chất, đều có tác động đến môi trường đất Hơn nữa, công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, đặc biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi và trung du Vì vậy, việc khai thác khoáng sản trước hết tác động đến rừng và đất rừng xung quanh vùng mỏ
Bảng 1.2 Diện tích rừng và đất rừng bị thu hẹp, thoái hoá ở một số mỏ
1 Khu khai thác Antimoan
Mậu Duệ (Hà Giang) 25 Đất rừng bị đào phá và bỏ hoang hoá
2 Khai thác vàng antimoan
Chiêm Hoá (Tuyên Quang) > 720
Thu hẹp rừng tự nhiên và rừng trồng, đất rừng bị đào phá, xáo trộn
3 Khai thác man gan Chiêm
Hoá (Tuyên Quang) 2 Đất đồi bị đào phá, hoang hoá
4 Khai thác thiếc Bắc Lũng
Đất đồi bị đào phá, thu hẹp rừng nguyên sinh
5 Khai thác than Thái Nguyên 671 Rừng và đất rừng bị thu hẹp để
làm khai trường, bãi thải
6 Khai thác barit Ao
12 Khu khai thác Quỳ Châu 200 Rừng tự nhiên, rừng trồng bị phá,
đào bới
(Nguồn: Bùi Thanh Hải, 2010)
Trang 28Khai thác khoáng sản đã làm thu hẹp đáng kể diện tích đất nông lâm nghiệp
và ảnh hưởng đến sản xuất như: chiếm dụng đất nông, lâm nghiệp để làm khai trường
Bảng 1.3 Mức độ ô nhiễm đất nông nghiệp do khai thác mỏ
1 Mỏ than Núi Hồng 274 Chiếm dụng đất để làm khai trường, bãi
thải và thải nước thải làm ô nhiễm đất mông nghiệp
2 Mỏ than Khánh Hoà 100 Chiếm dụng đất để làm khai trường, bãi
thải và thải nước thải làm ô nhiễm đất mông nghiệp
Châu-Nghệ An 193.8 Đất nông nghiệp bị đào bới, bỏ hoang, thiếu nước
(Nguồn: Bùi Thanh Hải, 2010)
Do đặc thù của khai thác mỏ là một hoạt động công nghiệp không giống các hoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất đá
ra khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu Một khối lượng lớn chất thải rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ của khối lượng quặng được khai thác, dẫn đến nhiều khi khối lượng đất đá thải vượt khối lượng quặng nằm trong lòng đất Quá trình bốc xúc, tuyển rửa quặng, làm đất tơi xốp tạo điều kiện thuận lợi cho phong hoá và hoá tách các khoáng vật kim loại chứa trong đó Vì vậy, có ảnh hưởng lớn đến môi trường, không chỉ khi cơ sở đang hoạt động mà còn tiếp diễn về lâu dài sau khi cơ sở ngừng hoạt động Môi trường chịu ảnh hưởng lớn nhất trong khu mở moong khai thác là chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục đích khác, đã tạo nên trên bề mặt địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các
hố sâu và các đống đất đá Đặc biệt ở những khu vực khai thác "thổ phỉ", tình hình còn khó khăn hơn nhiều Một số diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt Các cồn đống cuội, đá thải trong quá trình khai thác vàng trên lòng sông ngăn cản, thay đổi dòng chảy gây sự xói lở đất bờ sông, đê điều, gây úng lụt cục bộ [17]
Trang 29Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận Quá trình san lấp mặt bằng, xây dựng nhà tạm hoặc thủ công, hoặc cơ giới đều gây tiếng ồn, gây bụi làm ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm nguồn nước cũng như làm đảo lộn môi trường đất tạo nên một vùng "đất mượn" Vùng "đất mượn" khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội
Việc dọn mặt bằng xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ việc mở mỏ cũng làm cho quỹ đất nông lâm nghiệp bị mất, hoặc thay đổi địa hình Cho đến nay việc giải quyết các hậu quả về môi trường một cách chủ động đối với các mỏ đã ngừng và sắp ngừng khai thác còn nhiều bất cập vì trước đây vấn đề bảo vệ và hoàn phục môi trường trong quá trình phát triển khoáng sản (từ khi mở mỏ đến khi ngừng khai thác) chưa được đặt ra một cách đúng mức trong các phương án khai thác mỏ Gần đây bắt đầu có một số mỏ đã ngừng khai thác thì ngoài việc san gạt một cách tương đối một số diện tích mỏ có thể san gạt được, các diện tích còn lại hầu như để nguyên hiện trường, chưa có phương án sử dụng đất đai có hiệu quả về kinh tế và môi trường Các hồ ở Bựu Long, Kiện Khê và sắp tới là các mỏ Ga Loi (Huế), Long Thọ, được thành tạo
do kết quả tất yếu của việc đào sâu moong khai thác so với bề mặt chung của địa hình Trước mắt, sự tồn tại của các hồ chứa nước này thể hiện sự thay đổi theo xu hướng tích cực về môi trường cảnh quan và điều kiện vi khí hậu khu vực [17]
1.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác khoáng sản tại Việt Nam
Chủ trương, đường lối và chính sách về công tác quản lý, khai thác khoáng sản đã được Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo và chỉ đạo rất sớm Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976 đã chỉ rõ, cần tập trung vào việc tăng cường công tác điều tra, ưu tiên phát triển công nghiệp khai khoáng gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Tiếp theo
đó, nhiều văn kiện, Nghị quyết của Đảng đã nêu ra các chủ trường, chính sách và chỉ đạo công tác quản lý, khai thác khoáng sản và BVMT
Năm 2011, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011
về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 Theo đó, mục tiêu của Nghị quyết là: “Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 và các diện tích biển ven bờ sâu đến 30m nước Xây dựng chuyên ngành điều tra cơ bản địa chất
về khoáng sản ở mức hiện đại,…; Nâng tỷ trọng ngành công nghiệp khai khoáng trong GDP từ khoảng 10% hiện nay lên 15-20% vào năm 2020 ….; Tăng dự trữ một số
Trang 30khoáng sản chiến lược vì lợi ích lâu dài của quốc gia”
Qua công tác quản lý, nhà nước ta đã đúc kết một số kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác khoáng sản đó là:
Thứ nhất, hạn chế khai thác khoáng sản trong nước, giữ nguyên hiện trạng, đóng cửa
các mỏ khi chưa đủ điều kiện khai thác hoặc gây ô nhiễm môitrường, đồng thời cải tiến công nghệ chế biến nhằm tận thu tối đa các sản phẩm khoáng sản có ích
Thứ hai, tăng cường nhập khẩu khoáng sản thô, các khoáng sản có nguy cơ cạn
kiệt, thực hiện dự trữ quốc gia về TNKS Để thực hiện hoạt động nhập khẩu khoáng sản thô cần tăng cường tiềm lực tài chính, khả năng đầu tư phát triển công nghệ hiện đại và hợp lý
Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức quản lý trong thăm dò, khai thác và chế biến;
khả năng bảo hộ và bao tiêu sản phẩm sau khai thác
Thứ tư, cần tận dụng và phát huy được tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia, áp
dụng tiến bộ khoa học công nghệ của thế giới nhằm đổi mới công nghệ khai thác khoáng sản, sử dụng tài nguyên lâu dài và bảo vệ tài nguyên của quốc gia
Thứ năm, khai thác khoáng sản cần gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái khu
vực mỏ khoáng sản và các vùng lân cận Hạn chế tới mức thấp nhất mức độ gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, không ảnh hưởng đến hoạt động của các ngành kinh tế khác đặc biệt là nông nghiệp, du lịch
Thứ sáu, thực hiện các biện pháp cải tạo đất, phát huy hiệu quả sử dụng mặt bằng
sau khai thác khoáng sản vào mục đích phát triển kinh tế xã hội, tái sử dụng nguồn tài nguyên đất sau khai thác khoáng sản, vừa không lãng phí tài nguyên đất, vừa thúc đẩy phát triển bền vững [33]
1.2.3 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý
sử dụng đất sau khai thác khoáng sản tại thành phố Đà Nẵng
1.2.3.1 Tiềm năng khoáng sản tại thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng tương đối đa dạng về khoáng sản nhưng nhìn chung các khoáng sản có giá trị công nghiệp tập trung vào một số ít nhóm chính, chủ yếu là nhóm vật liệu xây dựng Chia theo từng nhóm khoáng sản như sau:
- Khoáng sản nhiên liệu: Thuộc nhóm này có than bùn Nam Ô (Bàu Tràm, Bàu Sấu), Hòa Tiến Mỏ than bùn Nam Ô đã được thăm dò, kết quả phân tích mẫu cho thấy than bùn đạt yêu cầu làm phân bón
Trang 31- Khoáng sản kim loại: Các khoáng sản kim loại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng phân bố rải rác ở các khu vực núi cao gồm các điểm quặng: Đồng (Cu), sắt (Fe), wolfram (W), thiếc (Sn), vàng (Au)
+ Đồng: Gồm 2 điểm quặng ở Hòa Ninh và Thủy Tú, ở cả 2 điểm quặng khoáng hóa dạng mạch nhỏ xuyên cắt các đá lục nguyên của hệ tầng Tân Lâm và hệ tầng Bol Ateck Hàm lượng Cu trong quặng thấp ít triển vọng
+ Wolfram, thiếc: Điểm quặng wolfram, thiếc An Lợi, Đồng Nghệ đã được tìm kiếm
và đánh giá trữ lượng chưa đạt qui mô mỏ, do vậy không có ý nghĩa công nghiệp
+ Vàng: Điểm vàng gốc Hang Dơi có biểu hiện nghèo, hàm lượng thấp và qui mô nhỏ Điểm khoáng sản này đã được người Pháp khai thác theo kiểu tận thu khoáng sản Điểm vàng gốc khe Đương phân bố ở thượng nguồn Khe Đương, thuộc xã Hòa Bắc hiện đang được Công ty TNHH một thành viên Trường Sơn khai thác
Điểm vàng sa khoáng Tà Lang: vàng phân bố trong thềm I của sông Bắc, diện phân bố không lớn, hàm lượng thấp và không đều, trữ lượng nhỏ
- Khoáng sản phi kim loại: Nhóm khoáng sản phi kim loại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng gồm có: cát thủy tinh Nam Ô; Hòa Tiến Trong đó mỏ Nam Ô đã được thăm dò năm 1981 với trữ lượng cấp C2 trên 6 triệu tấn, hiện tại diện tích mỏ đã được quy hoạch xây dựng khu công nghiệp Điểm cát thuỷ tinh Hoà Tiến, qua kết quả điều tra bước đầu cho thấy có thành phần và chất lượng gần tương đương với cát Nam Ô Ngoài ra còn có điểm sét cao lanh, điểm pirit Hòa Bắc ở quy mô nhỏ
+ Cao lanh tại Nam Mỹ, Hòa Bắc;
+ Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng: Chủ yếu là sét gạch ngói phân bố ở Hòa Minh, Hòa Mỹ, Đại La, Nam Thành, An Châu
Trang 32+ Vật liệu san lấp: Chủ yếu là đất đồi được phong hóa từ các đá phiến phân bố ở các xã ở huyện Hòa Vang, quận Liên Chiểu
- Nước khoáng: Trên địa bàn thành phố đã phát hiện 2 điểm là: Nước khoáng Phước Nhân và nước khoáng Ngầm đôi Hiện nay điểm nước khoáng Phước Nhân đã được đưa vào khai thác, sử dụng [18] [45]
a) Tiềm năng khoáng sản đất đồi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2016-2020 phát triển mạnh mẽ, đa số các khu vực xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị nằm trong diện tích có độ cao san nền thấp (Quan Nam-Thủy Tú,
Đô thị sinh thái Hòa Xuân, Đại học Đà Nẵng,…) do vậy cần nhiều vật liệu san lấp, dự báo khoảng 30.720.000m3 Trên cơ sở đó, UBND thành phố Đà Nẵng đã quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng đất đồi làm vật liệu san lấp giai đoạn này như sau
Bảng 1.4 Quy hoạch thăm dò, khai thác đất đồi thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020
quy hoạch
Diện tích (ha)
Khối lượng (m 3 )
Khu vực tiềm năng
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, 2015)
Các vị trí quy hoạch trên đa phần nằm xa trung tâm thành phố, phân bố chủ yếu
ở phía tây nam đường tránh Nam hải Vân, thuộc huyện Hòa Vang, trên các diện tích
có mức cao địa hình từ +20m đến +70m Hiện tại các vị trí này chủ yếu là rừng trồng cây nguyên liệu giấy (bạch đàn, keo lá tràm) [42]
b) Tiềm năng khoáng sản đất sét trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Theo Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến đất sét trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015-2020, đã quy hoạch chi tiết các khu vực thăm dò, khai thác, chế biến nguyên liệu sét trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hướng tới sử dụng nguyên liệu
Trang 33sét có nguồn gốc phong hóa từ các đá phiến (sét đồi) khuyến khích các doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ sản xuất gạch nung bằng gạch không nung, gạch bán dẻo Theo
đó giai đoạn 2015-2020 quy hoạch 4 khu có tiềm năng về nguyên liệu sét gồm: Đại La, Trước Đông, Hội Phước, An Châu, tổng diện tích 174 ha, tổng tài nguyên dự báo 2,7 triệu m3 Đó là các khu vực nguyên liệu sét có nguồn gốc Phong hóa có điều kiện giao thông và khai thác thuận lợi [43]
Bảng 1.5 Tổng hợp quy hoạch khu vực khai thác đất sét giai đoạn 2016-2020
Khu
Giai đoạn 2016-2020
Số hiệu diện tích trên bản đồ
Diện tích (m 2 )
Tài nguyên (m 3 )
Trang 341.2.3.2 Tình hình khai thác khoáng sản, quản lý khai thác khoáng sản và quản lý
sử dụng đất trong khai thác khoáng sản tại thành phố Đà Nẵng
Tính đến tháng 6/2015, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 49 giấy phép khai thác khoáng sản (còn hiệu lực), trong đó 31 mỏ đá xây dựng, 09 mỏ đất đồi, 02 mỏ đất sét, 04 mỏ cát sông, 01 mỏ cát biển, 01 mỏ cát bãi bồi Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp 01 Giấy phép khai thác nước khoáng nóng Cụ thể:
- Huyện Hòa Vang: 22 giấy phép khai thác đá xây dựng, 07 giấy phép khai thác đất đồi, 02 giấy phép khai thác đất sét; 04 giấy phép khai thác cát sông;
- UBND quận Cẩm Lệ: 01 giấy phép khai thác đá xây dựng, 02 giấy phép khai thác đất đồi;
- UBND quận Liên Chiểu: 08 giấy phép khai thác đá xây dựng;
- UBND quận Ngũ Hành Sơn: 01 giấy phép khai thác cát sông;
- UBND quận Hải Châu: 01 giấy phép khai thác cát biển
Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đạt được nhiều kết quả Cụ thể, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản của các cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, phường, xã đã đi dần vào nề nếp Công tác giám sát các hoạt động thăm
dò, khai thác tài nguyên khoáng sản, nhất là giám sát, ngăn chặn khai thác khoáng sản trái phép được thực hiện tương đối tốt do có sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ngành và
Ủy ban nhân dân các quận, huyện, phường, xã và các cơ quan, đơn vị liên quan UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, quy định và cụ thể hóa các văn bản của nhà nước, vận dụng cụ thể vào tình hình thực tế của địa phương Các văn bản pháp luật của Trung ương và các văn bản của thành phố
là hành lang pháp lý để các cơ quan chuyên môn và UBND các cấp có cơ sở thực thi pháp luật Các văn bản của UBND thành phố được ban hành theo đúng trình tự của pháp luật, không trái với các văn bản của cấp trên Đặc biệt, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 13/11/2013 của UBND thành phố về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản trên địa bàn thành phố dần đưa công tác quản lý khoáng sản đi vào nề nếp
Đối với các khu vực khoáng sản tiềm năng chưa được khai thác, UBND thành phố thường xuyên chỉ đạo các cơ quan chức năng, UBND các quận, huyện tổ chức kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác và vận chuyển khoáng sản trái phép trên địa bàn Sự phối hợp của các cơ quan chức năng và UBND các quận,
Trang 35huyện trong công tác phối hợp kiểm tra, giám sát đã giảm đáng kể các vụ việc khai thác khoáng sản trái phép, cụ thể: khai thác vàng tại Khe Đương, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang; khai thác kaolin tại thôn Nam Mỹ, xã Hòa Bắc; khai thác đất sét tại Khu
công nghê thông tin tập trung Đà Nẵng; khai thác đất đồi tại khu vực Trường bắn 327
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, thời gian qua, công tác thực hiện pháp luật
về khoáng sản trên địa bàn thành phố vẫn còn những hạn chế, cụ thể: tại một số mỏ, chủ đầu tư còn khai thác ngoài diện tích cho phép, chưa tuân thủ nghiêm quy trình khai thác mỏ; tại một số địa phương, một số tổ chức, cá nhân còn lợi dụng việc cải tạo, hạ thấp cao trình để khai thác khoáng sản, không có giấy phép của Ủy ban nhân dân thành phố; công tác phối hợp giữa các Sở, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc kiểm tra, ngăn chặn khai thác khoáng sản trái phép có lúc, có nơi chưa đồng đồng bộ, thiếu kiên quyết chưa nghiêm; việc tuyên truyền pháp luật về khoáng sản chưa được quán triệt thường xuyên đến tận các tổ chức, cá nhân, do vậy, hiệu quả thực thi pháp luật chưa cao Khai thác khoáng sản còn gây nhiều ảnh hưởng đến đời sống người dân như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tiếng ồn Công tác thu hồi đất trước khi khai thác và bàn giao đất sau khai thác cho địa phương quản lý thực hiện còn lỏng lẻo Công tác hoàn thổ, quản lý đất đai sau khai thác khoáng sản chưa chặt chẽ, phần lớn các mặt bằng sau khai thác không đúng phương án phê duyệt, gây mất mỹ quan và lãng phí tài nguyên đất Các đơn
vị khai thác khoáng sản chưa thực sự quan tâm đến công tác hoàn thổ sau khai thác khoáng sản mà chỉ chạy theo lợi ích kinh tế, nhiều khu vực mỏ đã kết thúc khai thác nhưng chưa thực hiện việc đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường, để lại mặt bằng nham nhở, gây lãng phí tài nguyên đất đai Việc sử dụng nguồn ký quỹ môi trường để phục hồi môi trường sau khai thác ở cơ sở còn nhiều khó khăn do địa phương không quản lý trực tiếp nguồn kinh phí này nên rất khó thuê tư vấn thực hiện theo quy định Việc khai thác khoáng sản ở Đà Nẵng chủ yếu là khai thác lộ thiên nên làm thay đổi cảnh quan môi trường trên đất như thảm thực vật, phong cảnh thiên nhiên, đa dạng sinh học Những tồn tại nêu trên đặt ra thách thức lớn cho thành phố Đà Nẵng trong công tác quản
lý khai thác khoáng sản bền vững để đáp ứng phù hợp với chiến lược xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế văn hóa xã hội, động lực phát triển của khu vực miền Trung - Tây Nguyên theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra [40][41]
1.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.3.1 Tình hình nghiên cứu biện pháp cải tạo, quản lý sử dụng đất sau khai thác khoáng sản trên thế giới
Tại Guinea đã thành công trong chủ trương khai thác khoáng sản bền vững khi tái sử dụng đất với phương án trồng cây hạt điều tại mỏ khai thác cát trước đây đã đem
Trang 36lại thu nhập bền vững cho những người phụ nữ của một cộng đồng Guinea hẻo lánh, đồng thời cũng bảo vệ môi trường cho cả đất đai và người dân ở đây Cuối năm 2005, Quỹ Alcoa cung cấp vốn cho Hội Phụ nữ để khôi phục 10 ha mỏ cát Mỏ cát được khai thác để lấy cát xây nhà và các công trình xây dựng khác Khai thác mỏ cát đã phá huỷ rừng ở đây và gây ra sự xói mòn đất, khai thác lộ thiên cũng rất nguy hiểm cho cả người lẫn súc vật Nhiều tai nạn và tử vong đã xảy ra bởi những hố, rãnh khai thác này.Trồng cây không chỉ khôi phục hệ thực vật và bảo vệ môi trường mà còn đem lại thu nhập bền vững từ việc bán hạt điều Phụ nữ của cộng đồng ở Bintimodia chịu trách nhiệm chăm sóc cây và thu hoạch hạt mỗi năm Thu nhập được phân phối cho các thành viên tham gia
Ở Úc, việc phục hồi đất đai sau khai thác được thực hiện một cách chuyên nghiệp qua mối liên kết hợp đồng giữa đơn vị khai thác với đơn vị chuyên phục hồi vùng mỏ Điển hình công ty Alcoa được coi là công ty đi đầu trong phục hồi vùng mỏ tại bang Tây Úc và bang Victoria Tại Tây Úc, Alcoa đã phục hồi 430,2 ha đất sau khi khai thác trong năm 2005 Mục tiêu chủ yếu của chương trinh phục hồi là gây dựng lại
hệ sinh thái rừng bạch đàn vốn có ở đây trước khi khai thác mỏ Một cấu thành cơ bản của mục tiêu này là phục hồi 100 % độ phong phú thực vật của rừng bạch đàn Khu vực phục hồi lại được kiểm tra sau 15 tháng để so sánh với độ phong phú thực vật với các khu vực không có khai thác gần đó Độ phong phú này thay đổi từng năm bởi điều kiện của các mùa trong năm làm ảnh hưởng đến mức độ gieo hạt trong lớp đất bề mặt
và tỷ lệ mọc mầm Kiểm tra cho thấy đạt được 96 % độ phong phú thực vật trong khu vực khôi phục Khôi phục hệ động vật là một yếu tố quan trọng khác trong phục hồi hệ sinh thái Kiểm tra hệ động vật tại khu vực phục hồi cho thấy 100 % loài có vú, 90 % loài chim và 78% loài bò sát đã đến định cư tại khu vực này Alcoa cũng làm gia tăng tính đa dạng động vật bằng cách hỗ trợ và tiến hành nghiên cứu trong khu vực này
Một yếu tố quan trọng khác đã thành công trong chương trình phục hồi vùng đất
mỏ của Úc là liên kết với kế hoạch khai thác Công việc khôi phục được giám đốc sản xuất điều hành, và mục tiêu, là độ phong phú các hệ động thực vật được đưa vào mục tiêu sản xuất Từ khi bắt đầu khai thác trong năm 1963, Alcoa đã khôi phục được 12.594
ha ở Tây Úc và thu dọn 15.222 ha khác Trong năm 2005, Alcoa khôi phục 5,6 ha tại Anglesea Kiểm tra sau 18 tháng khôi phục thấy độ phong phú thực vật cao hơn so với khu vực hoang không khai thác gần đấy Chương trình khôi phục Anglesea trong năm
2006 tập trung vào khu vực đã được khôi phục lần đầu hơn 20 năm trước, lần này trồng loại cây vốn không có ở đây Khu vực này đã được thu dọn sạch và được khôi phục bằng cách sử dụng những kỹ thuật khôi phục mới, bao gồm chuyển đổi trực tiếp lớp đất
bề mặt để kích thích sự nẩy mầm trở lại của thực vật bản địa Trong năm 2005, Chính quyền bang Victoria công nhận thành công của chương trình khôi phục mỏ Anglesea,
Trang 37trao phần thưởng Strzelecki cho thành công phát triển bền vững này Phục hồi môi trường vùng Tây Úc được Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc và Hiệp hội quốc tế về Khôi phục sinh thái công nhận là một trong những chương trình khôi phục sinh thái tốt nhất trên thế giới
Ngoài ta, Viện Bauxite Jamaica và Viện Inter-American về Hợp tác Nông nghiệp cùng hợp tác trong một dự án 5 năm phát triển nuôi dê thịt trị giá 3,3 triệu USD trên mảnh đất đã được khôi phục sau khi khai thác bauxit ở Mocho, Clarendon, Jamaica Mục tiêu của dự án là thúc đẩy ngành nông nghiệp được coi là một tiêu chí cho phát triển bền vững và đào tạo kỹ năng cần thiết để tạo ra nguồn thu nhập cho cư dân ở mỏ Nhôm ở Mocho, mỏ than Cerrejon, Canada [46]ưTheo nghiên cứu của
Avílio A Franco and Sergio M De Faria (1996) Các loài cây họ đậu rhizobia hoặc bradyrhizobia cung cấp khoảng 12 tấn hữu cơ khô và 190 kgN/ha/năm Các thí
nghiệm với các loài cây bản địa và cây họ đậu đã thành công trong việc cải tạo đất, khu vực khai thác mỏ lộ thiên và dư lượng axit từ khai thác bauxite mà không cần bổ sung các chất hữu cơ Tuy nhiên, cần bổ sung phosphate, thạch cao, vi chất dinh dưỡng và kali [21]
Gần đây các nhà khoa học Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành một dự án thử nghiệm đầu tiên trên thế giới là trồng cây để thu gom As độc hại trong đất Theo Chen Toongbin thuộc Viện khoa học địa lý và Tài nguyên thì dự án trên được thực hiện tại
ba địa điểm ở tỉnh Hồ Nam, Triêt Giang và Quảng Đông Mỗi địa điểm thử nghiệm có diện tích 1 ha được trồng 30 tấn hạt Pteris vittata L., một loại dương xỉ có thể hấp thu được 10% As từ đất trong vòng 1 năm Các nhà khoa học Trung Quốc đã dần dần hoàn thiện kỹ thuật trồng cây dương xỉ (Pteris vittata L.) và vetiver để “hút” các nguyên tố kim loại nặng trong đất như thạch tín, đồng, kẽm… Với kỹ thuật này, họ hy vọng có thể giải quyết về cơ bản vấn đề ô nhiễm kim loại nặng ở vùng hạ du của Trung Quốc do quá trình khai khoáng gây nên (Shu W S và cộng sự, 2002) [12]
Một trong những mục tiêu của công tác hoàn thổ là lập lại thảm thực vật nhằm làm cho khu vực ổn định, bền vững và có thể ngăn ngừa, kiểm soát được xói mòn Với những đặc trưng sinh lý và hình thái độc đáo, cỏ vetiver (Vetiveria zizanioides L.) được
sử dụng rất hiệu quả không chỉ để kiểm soát xói mòn mà còn là loài có khả năng chống chịu cao đối với những loại đất bị ô nhiễm kim loại nặng Nhiều nghiên cứu cho thấy, loài cỏ này có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau, thậm chí cả trong điều kiện môi trường đất khắc nghiệt: rất chua, kiềm, hàm lượng Mn và Al di động cao Vì vậy, cỏ vetiver đã được sử dụng rất thành công trong phục hồi và cải tạo đất vùng mỏ như: mỏ than, vàng, bentonit, bôxit ở Australia; mỏ vàng, kim cương, platin ở Nam Phi;
mỏ đồng ở Chi Lê; mỏ chì ở Thái Lan, mỏ chì, kẽm, bôxit ở Trung Quốc v.v…( Chantachon S và cộng sự, 2003) [10]
Trang 38Ở một số nước, ở nội dung thiết lập thảm thực vật trong chương trình hoàn thổ còn bao gồm cả việc sử dụng phân bón Những khu vực được xác định cải tạo để sử dụng cho mục đích nông nghiệp thường phải có chương trình duy trì việc bổ sung phân bón Tùy trường hợp cụ thể mà người ta sử dụng thạch cao hoặc vôi để điều chỉnh độ
pH, tùy theo loại giống cây trồng, loại cây và mật độ cây, tỷ lệ sinh trưởng mà người ta
sử dụng thêm các loại phân đạm, lân hoặc kali Một số loại chất thải hữu cơ cũng được
sử dụng như phân, máu, xương động vật, bùn cống rãnh …chúng vừa có tác dụng như phân bón vừa có tác dụng bổ sung chất đất Có thể sử dụng các cây cải tạo đất trồng trên nghèo kiệt để tăng lượng chất hữu cơ (Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 2002) [12]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu biện pháp cải tạo, quản lý sử dụng đất sau khai thác khoáng sản tại Việt Nam
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng Cho đến nay, chúng ta đã xác định được hơn 5000 điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản có ích với quy mô trữ lượng khác nhau Tiềm năng phát triển của ngành khai thác khoáng sản kim loại của Việt Nam là rất to lớn, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp có liên quan cũng như tạo công ăn việc làm cho một lực lượng lao động đáng
kể ở các vùng có các hoạt động khai thác khoáng sản mà phần lớn nằm ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa
Tuy nhiên đi đôi với sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản những thách thức về vấn đề môi trường cũng trở nên nghiêm trọng và cấp bách hơn Cùng với sự phát triển của ngành khai thác khoáng sản là sự gia tăng tất yếu của các tác động môi trường trong đó có vấn đề nổi cộm là làm hoang hóa và thoái hóa một diện tích lớn đất dân cư, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất hữu ích nói chung (Lưu Thế Anh, 2007) [19]
PGS.TS Đặng Văn Minh, chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu biện pháp phục hồi, cải tạo và sử dụng đất sau khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên" cho thấy đối
với vùng đất sau khai khoáng có địa hình phức tạp và dốc, hoặc vùng đất sau khai khoáng không được hoàn thổ, những vùng đất này không có khả năng sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là phủ xanh và cải tạo phục hồi đất bằng cây lâm nghiệp (cây keo tai tượng, keo lai, keo lá tràm) Phương án thích hợp cho một số vùng có thể
sử dụng để sản xuất nông nghiệp là triển khai mô hình nông-lâm kết hợp, sử dụng cây cải tạo đất họ đậu và cây lâm nghiệp trồng trên những vùng đất nghèo kiệt do khai khoáng để tăng che phủ đất và tăng độ phì đất [21]
Theo tác giả Hoàng Thị Hồng Hạnh và Trần Anh Tú thuộc Trường ĐH Bách
Khoa Hà Nội khi nghiên cứu đề tài “Cải tạo và sử dụng mặt bằng sau khai thác các
Trang 39mỏ đá xây dựng tại tỉnh Bình Dương” đã nêu các nguyên tắc chính của việc lựa chọn
hướng sử dụng đất sau khai thác khoáng sản đó là định hướng hai nhóm sử dụng đất tiềm năng gồm: lý tưởng nhất là đưa vùng đất trở về hiện trạng như trước khi khai thác; hoặc cải tạo nhằm phục vụ cho mục đích có lợi khác; có thể chia thành ba nhóm chính đó là:
- Nhóm 1: Mục đích sử dụng cho nông nghiệp và rừng
Một vùng đất trước khi khai thác mỏ là vùng thích hợp cho nông nghiệp và rừng thì nên được cải tạo để đưa mỏ trở về trạng thái đó sau khai thác; khi cải tạo mỏ cần quan tâm tạo sườn dốc thích hợp cho việc canh tác, và các đặc tính lý hóa của đất mỏ phải phù hợp với đất trồng sản xuất nông nghiệp
- Nhóm 2: Khu bảo tồn thiên nhiên/hệ sinh thái
Bao gồm các dạng sử dụng như đầm lầy (đa dạng sinh học cao), khu bảo tồn sinh động vật, khu bảo tồn địa phương kết hợp hoặc kế cận với các sử dụng khác Cần phải tái tạo các vùng đất có cây cỏ, đặc tính sinh thái Nhóm mục đích này giúp môi trường tự nhiên
và cộng đồng dân cư hưởng lợi tương đương hoặc nhiều hơn so với trước khi khai thác
- Nhóm 3: Các sử dụng hiệu quả khác
Khi vùng mỏ không thể cải tạo theo nhóm 1 và nhóm 2 cần phải có các lựa chọn thay thế khác Các lựa chọn này cần phải có sự hỗ trợ của cộng đồng và phải đáp ứng các quy định của pháp luật Cải tạo khi mỏ có các đặc trưng sau: Khối lượng vật liệu không đủ để lấp đầy vùng cần cải tạo; Vùng thuộc loại đất ô nhiễm, cần phải quản lý hay sử dụng hạn chế; Vùng có ý nghĩa di sản văn hóa cần phải bảo tồn
Các lựa chọn sử dụng cho nhóm 3 có thể làm: khu đô thị và công nghiệp, khu chôn chất thải, khu đồng cỏ và săn bắn, khu di sản hoạt động khai thác mỏ Việc cải tạo theo nhóm 3 phải phù hợp với mục đích sử dụng cho tương lai, cung câp lợi ích cho cộng đồng
và môi trường tốt nhất và không tốn nhiều chi phí cho hoạt động cải tạo [16]
Tác giả Trần Miên, Ban môi trường, Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (TKV) bắt đầu trồng cỏ vetiver từ tháng 10/2007 tại các bãi có nguy cơ sạt lở cao như Cọc Sáu - Hồng Thái, Nam Đèo Nai, Hà Tu và Núi Béo Năm 2009, TKV đẩy nhanh trồng mới 50ha, tại các bãi thải mới như Đông Tụ Bắc, Đông Cao Sơn, Đông Bắc Khe
Rè, bãi thải Bắc, Nam Cao Sơn và Khe Chàm III [21]
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Quản lý sử dụng đất tại các mỏ khai thác đất sét và đất đồi trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi thời gian : Đề tài được thực hiện từ tháng 3/2015 đến tháng 1/2016
- Phạm vi thời gian số liệu: các số liệu được lấy từ năm 2010 - 2015
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá điều kiên tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hòa Vang, thành phố
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp:
Thu thập các báo cáo, số liệu, tài liệu tại các Sở, Phòng, Ban thuộc huyện Hòa Vang và thành phố Đà Nẵng để có được thông tin cơ bản của vùng nghiên cứu Thu thập các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp Trung ương và địa phương về chính sách liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản và quản lý sử dụng đất sau khi khai thác khoáng sản