1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020

121 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả của phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Hà đến năm 2020 đã đề xuất, không chỉ đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế mà còn đáp ứng được nhu cầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VƯƠNG TUẤN THỊNH

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH

SỬ DỤNG ĐẤTKỲ ĐẦU (2011 – 2015) CỦA HUYỆN THẠCH HÀ

VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

HUẾ - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VƯƠNG TUẤN THỊNH

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH

SỬ DỤNG ĐẤT KỲ ĐẦU (2011 – 2015) CỦA HUYỆN THẠCH HÀ

VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Mã số: 8850103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS HỒ KIỆT

HUẾ - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015) của huyện Thạch Hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020” là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này

là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Huế, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Vương Tuấn Thịnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hồ Kiệt, người hướng dẫn khoa học, thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của Quý Thầy Cô trong Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường Nông nghiệp, Phòng Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thạch Hà

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thạch Hà đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và thực hiện đề tài

Huế, ngày tháng năm 2018

Học viên thực hiện

Vương Tuấn Thịnh

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài đã đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Hà đến năm 2015, phân tích làm rõ mặt tích cực và hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Đồng thời,

đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính hợp lý trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Hà

Để thực hiện đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận vĩ mô từ trên xuống và vi mô từ dưới lên

- Phương pháp kế thừa

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp chồng ghép bản đồ và xử lý chồng lấn

- Phương pháp dự báo, tính toán

- Phương pháp cân đối tổng hợp

- Phương pháp chuyên gia

Đề tài đã đạt được những kết quả sau đây:

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015) tại huyện Thạch Hà đã đạt được những kết quả nhất định Theo số liệu thống kê đến 31/12/2015 đất nông nghiệp đạt 101,00%; đất phi nông nghiệp đạt 90,23%; đất chưa

sử dụng đạt 71,39% so với quy hoạch được phê duyệt

Kết quả của phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Hà đến năm 2020 đã đề xuất, không chỉ đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh

tế mà còn đáp ứng được nhu cầu phát triển văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng của huyện cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Phương án được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu sử dụng đất của các công trình và nhu cầu sử dụng đất của tỉnh, huyện và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện đến năm 2020; quy hoạch, chiến lược phát triển các ngành của tỉnh, huyện đến năm 2020 và nhu cầu sử dụng đất của các xã, thị trấn đến năm 2020, nên đã đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, sử dụng đất đai

Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Thạch

Hà đã bám sát quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện Điều này được thể hiện rõ ở nhu cầu sử dụng đất để phân bổ quỹ đất cho phát triển các ngành, lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu đô thị, thương mại, dịch vụ, khu công nghiệp, đồng thời giúp địa phương

Trang 6

chủ động kiểm soát việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, cân đối đất đai cho các ngành, lĩnh vực theo quy hoạch, qua đó tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động và dân cư, giải quyết việc làm, đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, bảo

vệ cảnh quan và môi trường sinh thái, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế,

ổn định trật tự xã hội

Để kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Hà đến năm 2020 được triển khai một cách đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả cần thực hiện tốt các giải pháp về kinh tế, xã hội, môi trường, chính sách, hành chính,

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2

3.1 Ý NGHĨA KHOA HỌC 2

3.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 3

1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 3

1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai 4

1.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 6

1.1.4 Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác quy hoạch sử dụng đất 8

1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 9

1.1.6 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất 10

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 11

1.2.1 Khái quát về công tác quy hoạch sử dụng đất trên thế giới 11

1.2.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 13

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21

Trang 8

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN THẠCH HÀ 23

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23

3.1.2 Thực trạng môi trường 31

3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 36

3.1.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 40

3.1.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 40

3.1.6 Phân tích đánh giá bổ sung về biến đổi khí hậu tác động đến việc sử dụng đất 44

3.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 45

3.2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN THỜI ĐIỂM ĐIỀU CHỈNH 47

3.2.1 Phân tích, đánh giá bổ sung tình hình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai 47

3.3 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG CÁC LOẠI ĐẤT NĂM 2015 VÀ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI NĂM 2010 SO VỚI NĂM 2015 TẠI HUYỆN THẠCH HÀ 53

3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 53

3.3.2 Biến động đất đai năm 2010 so với năm 2015 59

3.4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN (2011 – 2015) TẠI HUYỆN THẠCH HÀ 63

3.4.1 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn (2011 - 2015) về các danh mục công trình, dự án 63

3.4.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất kỳ trước (2011 - 2015) 64

3.4.3 Đánh giá kết quả đạt thực hiện các Nghị quyết qua 3 năm (giai đoạn 2014 - 2016) 70

3.4.4 Đánh giá những mặt đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước (2011 - 2015) 71

3.5 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 CỦA HUYỆN THẠCH HÀ 75

Trang 9

3.5.1 Định hướng về điều chỉnh sử dụng đất 75

3.5.2 Quan điểm điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất 77

3.5.3 Đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Thạch Hà 78

3.5.4 Đánh giá tác động của phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến kinh tế - xã hội và môi trường 97

3.5.5 Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất điều chỉnh đến năm 2020 100

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 107

1 KẾT LUẬN 107

2 KIẾN NGHỊ 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng dân số và cơ cấu dân số phân theo giới tính và khu vực 39

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng một số loại đất nông nghiệp năm 2015 54

Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp năm 2015 58

Bảng 3.4 Biến động đất đai năm 2015 so với năm 2010 59

Bảng 3.5 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp kỳ đầu (2011 -02015) 65

Bảng 3.6 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp kỳ đầu (2011 -02015) 67

Bảng 3.7 Diện tích các loại đất đến năm 2020 so với chỉ tiêu cấp trên phân bổ 81

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Vị trí hành chính huyện Thạch Hà 23Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Thạch Hà 53Hình 3.3 Bản đồ điều chỉnh QH sử dụng đất đến năm 2020 huyện Thạch Hà 78

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; vì vậy Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 2013 (đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng

11 năm 2013) tại Chương III, Điều 53 quy định: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" và Khoản 1, Khoản 2 trong Điều 54 quy định: "Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật" Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong

15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai cũng đã được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 (Chương II, Mục 2, Điều 22, Khoản 4)

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp được lập nhằm phân bố hợp lý, tiết kiệm đất đai cho các mục tiêu phát trnển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo

vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, làm cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước

về đất đai trên địa bàn

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2015) huyện Thạch Hà đã được UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số Quyết định

(2011-số 4006/QĐUBND ngày 12/12/2013 Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện kỳ đầu (2011 - 2015) đã thực sự góp phần làm cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai đảm bảo những quy định của Pháp Luật, đáp ứng tốt cho các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2015

Để đáp ứng yêu cầu của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Thạch Hà đến năm 2020 với mục tiêu tổng quát: "Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, gắn với nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đáp ứng khả năng cạnh tranh trên thương trường; đầu tư phát triển văn hóa - xã hội tương xứng với phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh gắn với bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn xã hội hóa đầu tư nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại; đưa Thạch Hà phát triển nhanh hơn, bền vững hơn theo hướng công nghiệp hiện đại"

Trang 13

Do đó nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích, đối tượng sử dụng trên địa bàn huyện sẽ có biến động rất lớn, làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất so với hiện nay

Vì vậy, để phù hợp với sự phát triển trong giai đoạn tới cần phải thực hiện “Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015) của huyện Thạch

Hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020” theo quy định của pháp luật về

quản lý đất đai và nhằm đáp ứng các yêu cầu của quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của huyện đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá được kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Hà đến năm 2015, phân tích làm rõ những mặt tích cực và hạn chế, bất cập trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt

- Đề xuất được phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nhằm nâng cao tính hợp lý trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Hà đến năm 2020

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

3.1 Ý NGHĨA KHOA HỌC

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ cơ sở khoa học trong việc đánh giá quá trình tổ chức thực hiện một phương án quy hoạch sử dụng đất tại một địa phương cụ thể ở Việt Nam hiện nay

3.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp các nhà quản lý và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Hà đưa ra được phương án tốt nhất cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện cho giai đoạn tiếp theo và tạo cơ sở pháp

lý để bố trí sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan, môi trường, đồng thời đáp ứng được yêu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai, nhất là trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

1.1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [3]

Nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất có rất nhiều cách nhận thức khác nhau

Có quan điểm cho rằng quy hoạch sử dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc đo đạc, vẽ bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành và thiết kế xây dựng đồng ruộng Bên cạnh đó, có quan điểm lại cho rằng quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trên các quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh tính pháp chế của quy hoạch sử dụng đất đai

Tuy nhiên, đối với cả hai cách nhận thức trên bản chất của quy hoạch sử dụng đất không được thể hiện đúng và đầy đủ, vì bản thân của quy hoạch sử dụng đất không nằm trong kỹ thuật đo đạc và cũng không thuộc về hình thức pháp lý mà nó nằm bên trong việc tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt, coi đất như đối tượng của các mối quan hệ xã hội trong sản xuất Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính pháp lý Cụ thể:

- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, đo đạc, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu để tính toán và thống

kê diện tích đất đai, thiết kế, phân chia khoảnh thửa Từ đó tạo điều kiện tổ chức sử dụng đất hợp lý trên cơ sở tiến bộ của khoa học

- Tính kinh tế: Thể hiện ở hiệu quả sử dụng đất đai

- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng đất đai đúng pháp luật

Theo FAO: “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng sử dụng đất”

Trang 15

Như vậy, mục đích của quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra những điều kiện về

tổ chức lãnh thổ, thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng, là cơ sở để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Nó được xây dựng trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển đô thị, yêu cầu bảo vệ môi trường, tôn tạo di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh; hiện trạng quỹ đất và nhu cầu sử dụng; định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học kỹ thuật; kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước Những năm gần đây, quy hoạch đã góp phần không nhỏ tạo ra kết quả đáng khích lệ, giúp khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tiềm năng, nguồn lực về đất, mở rộng diện tích đất canh tác, nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực

Thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp với bảo vệ đất và môi trường

1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai

Quy hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện như sau :

- Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển

của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế .) cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bằng về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa người với chủ sử dụng đất - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy mối quan hệ sản xuất Vì vậy, nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội

Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính

tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô .) Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầu sử dụng đất

và quyền lợi của xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn;

Trang 16

nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đã góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau

- Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất thể hiện ở hai mặt:

Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ tài nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; điều hoà các mâu thuẫn

về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bổ sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định

- Tính dài hạn: Thể hiện ở việc xác định nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh

tế - xã hội lâu dài

Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ khoa học kỹ thuật, đô thị hoá công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp .) Từ đó, xác định quy hoạch trung và dài hạn

về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm, 5 năm

và lâu hơn nữa

Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn

- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử

dụng đất đai chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung

cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như:

- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;

- Cân đối nhu cầu sử dụng đất của các ngành;

Trang 17

- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bổ đất đai trong vùng;

- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng;

- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất

Do khoảng thời gian dự báo là tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định

- Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và

chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định

có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thể hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, chỉ tiêu khống chế về dân số và môi trường sinh thái

- Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo

nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp cho việc phát triển kinh

tế trong thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch

- thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện .” với chất lượng, mức

độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao

1.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất

1.1.3.1 Mục tiêu

Quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung về quản lý nhà nước về đất đai đồng thời là một hoạt động có ý nghĩa rất lớn trong tiến trình phát triển xã hội Thông qua quy hoạch sử dụng đất các chiến lược phát triển kinh tế xã hội được cụ thể hóa đồng thời quy hoạch sử dụng đất cũng điều chỉnh không gian cho các ngành phát triển Mục tiêu của quy hoạch có thể được gom lại trong 3 mục sau: hiệu quả, bình đẳng – có khả năng chấp nhận và bền vững

- Hiệu quả: Sử dụng đất đai phải mang tính chất kinh tế, do đó một trong những mục tiêu của quy hoạch để phát triển là mang lại tính hiệu quả và nâng cao sản lượng, chất lượng trong sử dụng đất đai Ở bất kỳ một hình thức nào thì nó cũng có tính thích nghi cho từng vùng riêng biệt của nó hay đôi khi nó thích nghi chung cho cả các vùng khác Hiệu quả chỉ đạt được khi có sự đối chiếu giữa các loại sử dụng đất đai khác nhau với những vùng đất đai cho lợi nhuận cao nhất mà chi phí đầu tư thấp nhất

Trang 18

- Bình đẳng và có khả năng chấp nhận được: Sử dụng đất đai cũng mang tính chấp nhận của xã hội Những mục tiêu đó bao gồm an toàn lương thực, giải quyết công

ăn việc làm và an toàn trong thu nhập của các vùng nông thôn Cải thiện đất đai và tái phân bố đất đai cũng phải được tính đến để giảm bớt những bất công trong xã hội hay

có thể chọn lọc các kiểu sử dụng đất đai thích hợp để giảm dần và từng bước xóa đi sự nghèo đói tạo ra sự bình đẳng trong sử dụng đất đai của mọi người trong xã hội

- Tính bền vững: Sử dụng đất đai bền vững là phải phù hợp với những yêu cầu hiện tại đồng thời cũng phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế

hệ kế tiếp trong tương lai Điều này đòi hỏi một sự kết hợp giữa sản xuất và bảo vệ môi trường, sản xuất ra hàng hóa cho nhu cầu ở hiện tại kết hợp với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất đai, làm căn cứ pháp lý để giao đất, thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai 2013

Tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành và địa phương trong quá trình quản lý,

sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đề ra; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của các ngành trên địa bàn xã có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất

Góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuẩn bị cơ sở hạ tầng, thu hút vốn đầu tư, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa ổn định và phát triển các khu dân cư đô thị Nâng cao đời sống văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

1.1.3.2 Nhiệm vụ

Trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hình thành cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng quỹ đất đúng mục đích, điều chỉnh cơ cấu và phân phối sử dụng đất hợp lý nhằm đạt được sự tổng hòa giữa ba lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường

1.1.3.3 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất

Với những áp lực và thực trạng sử dụng đất đai hiện nay cho thấy nguồn tài nguyên đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới gia tăng Do đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất đai và loại đất đai để đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn lương thực, đồng thời cũng bảo vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường sống Quy hoạch sử dụng đất đai là nền tảng cho quá trình này, thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về sử dụng đất cho các ngành, các đơn vị, cá nhân sử dụng đất và điều chỉnh các mối quan hệ đất đai Như

Trang 19

vậy, quy hoạch sử dụng đất thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:

- Chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai

- Sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ đất và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Tổ chức phân bổ quỹ đất cho các ngành đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội

- Quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý

- Quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ

Vì vậy, trong thực tiễn việc sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu ích cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường Trong

số các điều kiện kinh tế - xã hội phải kể đến các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế tài nguyên thiên nhiên đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn

sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững

1.1.4 Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác quy hoạch

sử dụng đất

Quy trình điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được quy định cụ thể tại Chương 3, mục 2, điều 59 đến điều 64 của Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Cụ thể, việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất năm đầu cấp huyện được thực hiện theo trình tự sau [2]:

- Điều tra, thu thập bổ sung thông tin, tài liệu; phân tích, đánh giá bổ sung điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; tình hình quản lý, sử dụng đất; kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất

- Xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;

- Lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;

- Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp và các tài liệu có liên quan;

- Thẩm định, phê duyệt và công bố công khai

Trang 20

1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất

Mục tiêu của việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất là phát huy tối đa tiềm năng đất đai nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và sự phát triển bền vững Vì vậy, phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật kinh tế - xã hội và các yếu

tố kỹ thuật Theo nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch đất đai có ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất:

1.1.5.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên

Quá trình sử dụng đất đai cần phải chú ý đến các đặc tính và tính chất đất đai để xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý như: Chế độ nhiệt, bức xạ, độ ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn, Các đặc tính, tính chất này được chia làm 2 loại:

- Điều kiện khí hậu: Khí hậu là một thành phần rất quan trọng trong hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang lại năng suất cho cây trồng

- Điều kiện đất đai: Sự khác biệt giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn, thường dẫn tới

sự khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng tới sản xuất và phân bổ các ngành nông, lâm nghiệp

Địa hình là yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác nhau Ở vùng đồi núi, địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống đồng ruộng để thủy lợi hóa và cơ giới hóa Đối với ngành phi nông nghiệp, địa hình quyết định những thuận lợi hay khó khăn của việc thi công công trình hay khả năng lưu thông hàng hóa, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng và quy

ích cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường [17]

1.1.5.2 Nhân tố điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố: Điều kiện dân số và lao động, điều kiện vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất xã hội, trình độ quản lý và tổ chức sản xuất, sự phát triển của khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chế độ kinh tế,

xã hội

Trang 21

1.1.5.3 Nhân tố không gian

Trong thực tế, đất đai là điều kiện không gian đảm bảo hoạt động của bất kỳ

ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản )

Tính không gian của đất đai bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích Đất đai phải khai thác tại chỗ nên sự thừa thãi của nơi này không thể sử dụng để đáp ứng

sự thiếu đất ở nơi khác Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất

1.1.6 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất

1.1.6.1 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất nói chung

Công tác lập quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho việc phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Dân số nước ta ngày càng tăng, trong khi đất đai

có hạn, công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất không được thực hiện một cách hợp

lý thì tình hình kinh tế - xã hội sẽ bị ảnh hưởng lớn, môi trường sinh thái cũng khó

được đảm bảo [1]

Việc sử dụng đất đai hợp lý liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của vận mệnh quốc gia Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề quan tâm hàng đầu

Nhà nước đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai như: Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật Tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

Để phù hợp với thực tiễn khách quan về tình hình quản lý sử dụng đất hiện tại

và tương lai trong điều kiện đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, ngày 01/7/2013 Luật đất đai 2013 chính thức có hiệu lực, đã quy định rõ việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: “Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là một trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai”, điều 35 đến điều 51 quy định chi tiết về công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất [6]

Ngoài các văn bản có tính pháp lý cao còn có các văn bản dưới luật, các văn bản của ngành trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.1.6.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và cấp tỉnh

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và cấp tỉnh là hai cấp quan trọng trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất theo 4 cấp hành chính của nước ta:

- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là cơ sở để cụ thể hóa quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước, trực tiếp chỉ đạo khống chế quy hoạch sử dụng đất của nội bộ các ngành và kế thừa quy hoạch cấp trên

Trang 22

- Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh có vị trí trung tâm, tạo khung sườn trung gian giữa tổng thể và cụ thể, giữa Trưng ương và địa phương Tác động trực tiếp đến việc

sử dụng đất của các Bộ, ngành, vùng, huyện, các dự án; đồng thời cũng có vai trò cụ thể hóa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cả nước

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Khái quát về công tác quy hoạch sử dụng đất trên thế giới

Quy hoạch sử dụng đất luôn có vị trí quan trọng trong thực hiện công tác quản

lý đất đai của mỗi quốc gia và được tiến hành từ lâu Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia mà phương pháp và quan điểm quy hoạch sử dụng đất có những đặc thù khác nhau cũng như trong quá trình thực hiện Ở các quốc gia phát triển như Đức, Mỹ quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với việc giải quyết các yêu cầu về môi trường, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả bền vững Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất tại các quốc gia này có tính khả thi cao

Những nguyên tắc về sử dụng đất được thông qua ở thành phố NewYork từ năm 1916 đến những thập niên 30 và hầu hết các Bang của nước Mỹ tuân thủ theo nguyên tắc này Đến thập niên 70, các Bang này gặp phải một số vấn đề về môi trường

và sự bảo tồn các di tích lịch sử nên đòi hỏi phải có những nguyên tắc và tầm nhìn xa hơn Từ đòi hỏi trên Luật đất đai mới của Mỹ đã hình thành hệ thống quy hoạch sử dụng đất mới

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, vị trí của quy hoạch sử dụng đất được xác định trong

hệ thống quy hoạch phát triển không gian (theo 4 cấp): Liên bang, vùng, tiểu vùng và

đô thị Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với quy hoạch phát triển không gian ở cấp đô thị

Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử dụng đất [5]: Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 85% tổng diện tích; diện tích mặt nước, đất hoang là 3%; đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, giao thông và

cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích toàn Liên bang Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ quốc gia công nghiệp nào có mật độ dân số cao, diện tích đất ở và giao thông ở Đức đang ngày càng gia tăng Diện tích đất giao thông tăng đặc biệt cao

từ trước tới giữa thập kỷ 80, trong khi đó, diện tích nhà chủ yếu tăng trong hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt là đất dành làm địa điểm làm việc như thương mại, dịch vụ, quản lý hành chính phát triển một cách không cân đối Quá trình ngoại ô hoá liên tục và tốn kém về đất đai cũng góp phần quan trọng vào thực tế này

Ở Pháp, quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường và lao động,

Trang 23

áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc sản xuất hợp lý, thúc đẩy nền kinh

tế phát triển

Ở Trung Quốc, Trung Quốc là nước nằm trong vùng Đông Á có diện tích tự nhiên là 9.597 nghìn km2, dân số gần 1,2 tỷ người Trung Quốc coi trọng việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triển kinh tế - xã hội Trong kế hoạch hàng năm,

kế hoạch dài hạn của Nhà nước, của các địa phương đều được dành một phần hoặc một chương mục riêng về phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất Đến nay Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất

từ tổng thể đến chi tiết cho các vùng và địa phương theo hướng phân vùng chức năng (khoanh định sử dụng đất cho các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường [20]

Để quy hoạch tổng thể phù hợp với phân vùng chức năng, các quy định liên quan của pháp luật Trung Quốc đã yêu cầu mọi hoạt động phát triển các nguồn tài nguyên phải nhất quán với phân vùng chức năng

Một trong những ảnh hưởng tích cực của quy hoạch tổng thể và sơ đồ phân vùng chức năng là việc giảm thiểu xung đột đa mục đích nhờ xác định được các sử dụng tương thích cho phép ưu tiên ở các khu vực cụ thể

Ở Nhật Bản, quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản được phát triển từ rất lâu, đặc biệt được đẩy mạnh vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20 QHSDĐ ở Nhật Bản không những chú ý đến hiệu quả kinh tế, xã hội, mà còn rất chú trọng đến bảo vệ môi trường, tránh các rủi ro của tự nhiên như động đất, núi lửa…QHSDĐ ở Nhật bản chia ra: QHSDĐ tổng thể và QHSDĐ chi tiết [19]

- QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một vùng lãnh thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên Mục tiêu của QHSDĐ tổng thể được xây dựng cho một chiến lược sử dụng đất dài hạn khoảng từ 15 - 30 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Quy hoạch này là định hướng cho quy hoạch sử dụng đất chi tiết Nội dung của quy hoạch này không quá đi vào chi tiết từng loại đất mà chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác

- QHSDĐ chi tiết được xây dựng cho vùng lãnh thổ nhỏ hơn tương đương với cấp xã Thời kỳ lập quy hoạch chi tiết là 5-10 năm về nội dung quy hoạch chi tiết rất

cụ thể, không những rõ ràng cho từng loại đất, các thửa đất và các chủ sử dụng đất, mà còn có những quy định chi tiết cho các loại đất như: về hình dáng, quy mô diện tích, chiều cao xây dựng… Đối với quy hoạch sử dụng đất chi tiết ở Nhật Bản hết sức coi trọng đến việc tham gia ý kiến của các chủ sử dụng đất, cũng như tổ chức thực hiện phương án khi đã được phê duyệt Do vậy tính khả thi của phương án cao và người dân cũng chấp hành quy hoạch sử dụng đất rất tốt

Trang 24

Ở Campuchia, do nền kinh tế kém phát triển, có xuất phát điểm thấp, tình hình chính trị rối loạn, nhiều nhà khoa học đã bị giết hại, nên trước những năm 2000, công tác quản lý đất đai chưa được quan tâm, chưa hình thành được hệ thống Luật đất đai và quy hoạch sử dụng đất Đến năm 2000, Bộ quy hoạch đất đai và xây dựng đã hoàn thiện Luật đất đai, nhưng công tác quy hoạch sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, kế hoạch sử dụng đất ở từng địa phương không rõ ràng nên sử dụng đất kém hiệu quả và làm suy thoái đất Mặc dù vậy, nhờ có sự cố gắng tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu công tác quản lý, sử dụng đất đai của các nhà khoa học nên Campuchia đã xây dựng được

hệ thống Luật đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đồng bộ

Nhìn chung, hệ thống pháp luật đất đai ở các nước phát triển tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất được triển khai tốt, sử dụng đảm bảo hiệu quả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Ở các nước kém phát triển, do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, nên hệ thống Luật đất đai không đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế

1.2.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở nước ta qua các thời kỳ

a Thời kỳ trước những năm 1980

Quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của ngành quản lý đất đai

mà chỉ được đề cập đến như là một phần của quy hoạch phát triển nông nghiệp Mặc

dù công tác quy hoạch sử dụng đất đai lồng vào công tác phân vùng quy hoạch nông, lâm nghiệp đã được xúc tiến vào năm 1962 nhưng chủ yếu là do các ngành chủ quản tiến hành cùng với một số tỉnh, ngành có liên quan và chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ

Từ năm 1975 đến cuối năm 1978, nước ta đã soạn thảo và được Chính Phủ phê duyệt phương án phân vùng sản xuất nông lâm nghiệp và cô ng nghiệp chế biến nông lâm sản theo bảy vùng và trên địa bàn lãnh thổ là cấp tỉnh Các phương án phân vùng nông lâm nghiệp của tỉnh đã đề cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên trong đó có tính toán quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên, do mục đích đề ra ngay từ đầu

là chỉ để phục vụ phát triển nông lâm nghiệp nên các loại đất khác chưa được đề cập tới Bên cạnh đó, do còn thiếu nhiều tài liệu, chưa tính được khả năng đầu tư nên các phương án này có tính khả thi không cao

b Thời kỳ 1981-1986

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 đã chỉ rõ: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm

Trang 25

sau.” Thực hiện nghị quyết này, các bộ ngành, tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất tại Việt Nam đến năm 2000 Cũng trong thời kỳ này, hầu hết 500 huyện của cả nước đã tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể của huyện Trong các tài liệu sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của tỉnh đều đề cập đến vấn đề sử dụng đất đai và được tính toán tương đối có hệ thống để khớp với cả nước, các vùng kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh với sự tham gia phối hợp của các ngành Các tài liệu này đã bước đầu đánh giá được hiện trạng, tiềm năng đất đai và đưa ra các dự kiến sử dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000

c Thời kỳ Luật Đất đai đầu tiên năm 1987 đến trước Luật Đất đai năm 1993

Đây là thời kỳ công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã có được cơ sở pháp lý quan trọng Song cùng với sự trầm lắng của công tác quy hoạch nói chung sau một thời kỳ triển khai rầm rộ, công tác quy hoạch sử dụng đất cũng chưa được xúc tiến như luật đã quy định Nguyên nhân của vấn đề này là do nền kinh tế Việt Nam trong thời gian này đang đứng trước nhiều khó khăn và thử thách lớn lao khi chuyển sang cơ chế thị trường Tuy vậy, đây là thời kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản lý tập trung của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho nông dân và thưc thi các chính sách đổi mới khác Công tác quy hoạch cấp xã trong giai đoạn này nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất,… Đây là mốc đầu tiên trong việc triển khai quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã trên khắp các xã của cả nước Tuy vậy còn nhiều hạn chế về nội dung và phương pháp thực hiện

d Thời kỳ 1993 - 2003

Ngày 15/10/1993 Luật đất đai sửa đổi được công bố và có hiệu lực Trong luật này, các điều khoản nói về quy hoạch đã được cụ thể hoá hơn so với Luật đất đai 1988 Luật đất đai 1993 tăng cường quyền hạn của cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất

Từ nhận thức rõ tầm quan trọng của Quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng trong thời kỳ này Luật đất đai được sửa đổi vào năm

1988 và năm 2001 Đồng thời trong cùng thời gian để tăng cường công tác quy hoạch

sử dụng đất trong phạm vi cả nước và căn cứ theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính, Chính phủ ra Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 về quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất đai Để thực hiện Nghị định 68 ngày 01/11/2001 có Thông tư số: 1842/TT-TCĐC hướng dẫn thi hành Nghị định 68 của Tổng cục Địa chính

Trong giai đoạn này Tổng cục Địa chính cho triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đai cả nước và các tỉnh, các huyện Hầu hết các địa phương trong cả nước đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trang 26

e Từ khi có Luật đất đai 2003 cho đến trước luật đất đai năm 2013

Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cũng như đảm bảo quyền quản lý đất đai của Nhà nước theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai 2003 thay cho Luật Đất đai 2001 và luật có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 Trong đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được nhấn mạnh trong Chương 2 Mục 2 của Luật Đất đai năm 2003

Để thực hiện Luật Đất đai 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 181/NĐ-CP về việc hướng dẫn thi hành luật, trong đó Chương III Điều 12 cũng ghi cụ thể nội dung quy hoạch sử dụng đất

Để công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất trong cả nước

Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành các Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Bộ Tài nguyên

và Môi trường cũng ban hành Quyết định số 04/2007/QĐ-BTNMT về việc ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Qua thực tế triển khai thực hiện Luật Đất đai năm 2003, để dần hoàn thiện cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về đất đai, Chính phủ ban hành Nghị định số 469/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Bộ Tài nguyên và Môi trường cụ thể hóa bằng việc ban hành Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết về việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch sử dụng đất

1.2.2.2 Khái quát công tác lập quy hoạch trên phạm vi cả nước

Luật Đất đai năm 1993 ra đời tạo cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai tương đối đầy đủ hơn Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất đai đến từng loại, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất, gắn chuyển mục đích sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội,

có cơ sở để điều chỉnh chính sách đất đai tại mỗi địa phương, chủ động giành quỹ đất hợp lý cho phát triển các ngành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, vừa đảm bảo ổn định các mục tiêu xã hội vừa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước chủ động dành quỹ đất hợp lý cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ, đô thị Qua công tác quy hoạch sử dụng đất đai, UBND các cấp nắm chắc được quỹ đất đai của địa phương mình, có dự tính được nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà nước

Trang 27

Theo kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến cuối năm 2010, đã

có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006

- 2010) và đã được Chính phủ xét duyệt

Đối với cấp huyện, đã cơ bản hoàn thành việc lập qui hoạch sử dụng đất đến năm

2010 ở cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương Đối với cấp xã, thị trấn đã có 6,179/10.784 xã, xã, thị trấn, thị trấn đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 57,30%); 2,466/10.78 xã đang triển khai (đạt 22,87%); còn lại 2,139/10.784 xã chưa triển khai (chiếm 19,83%) Trong số các xã đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 có 1.358 xã đã lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết thể hiện trên bản đồ địa chính theo quy định của Luật Đất đai

1.2.2.3 Những tồn tại chủ yếu trong công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam

- Nhận thức chưa đồng đều, độ đồng thuận chưa cao, còn có ý kiến cho rằng không có khái niệm về quy hoạch sử dụng đất mà chỉ có khái niệm về quy hoạch kiến trúc, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn.v.v, do đó,

sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đơn vị còn bị hạn chế, thiếu đồng bộ và có trường hợp ảnh hưởng xấu đến chất lượng quy hoạch, chưa thực chất, còn thiên về hình thức và chạy theo các thủ tục hành chính, tiến hành thống kê, phân bố về số lượng mà thiếu những tính toán về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, nên tính khả thi của các phương án quy hoạch không cao; các giải pháp tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, không kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch chưa được coi trọng

- Quy hoạch sử dụng đất chưa thực sự được coi là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất, Nhiều địa phương do buông lỏng quản lý đã để tự phát chuyển mục đích sử dụng đất tạo ra tình hình rối loạn trong sử dụng đất và tác động xấu đến môi trường Một số nơi nôn nóng trong phát triển công nghiệp, muốn tranh thủ các nhà đầu tư nên đã cho phép thu hồi, san lấp mặt bằng một lượng lớn đất nông nghiệp để lập khu công nghiệp, sau đó do thiếu vốn nên các dự án thực hiện cầm chừng, đất đai lại bị bỏ hoang trở thành “dự án treo”, người bị thu hồi đất mất việc làm dẫn đến lãng phí nguồn lao động và tài nguyên đất đai, Việc chấp hành các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa phương chưa nghiêm, vẫn còn tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất không đúng với quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất chưa trở thành “Bản Hiến pháp của đời sống”, tính phổ cập chưa cao, có khi lại bị lợi dụng việc điều chỉnh quy hoạch để làm lợi cho cá nhân hay một nhóm người, quy trình điều chỉnh quy hoạch chưa thật hợp lý để đảm bảo tính kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

Trang 28

- Việc chuyển đổi số lượng lớn đất trồng lúa sang mục đích phi nông nghiệp trong một thời gian ngắn, nhất là tại các vùng trồng lúa có điều kiện canh tác tốt, cơ sở

hạ tầng kỹ thuật hoàn thiện mà thiếu cân nhắc đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội - môi trường lâu dài đã tác động tiêu cực sản xuất và đời sống của một bộ phân nông dân và đe doạ mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

- Mặc dù việc “dồn điền đổi thửa” đã thực hiện thành công ở nhiều địa phương nhưng chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch chỉnh trang đồng ruộng nên đất sản xuất vẫn còn bị phân bố manh mún trên 70 triệu thửa đất gây trở ngại lớn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

- Diện tích rừng tuy có tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá, suy giảm

cả về chất lượng và số lượng; việc quản lý rừng còn nhiều bất cập, tác động của sản xuất lâm nghiệp đối với quá trình xoá đói giảm nghèo còn nhiều hạn chế, đa số người dân ở miền núi chưa thể sống ổn định với nghề rừng, do đó công tác trồng rừng, bảo

vệ rừng và phát triển rừng còn rất nhiều khó khăn

- Đất giao thông còn thiếu so với nhu cầu phát triển, mật độ đường bộ đạt mức trung bình trong khu vực nhưng mật độ quốc lộ còn ở mức rất thấp (0,053km/km2) nếu

so sánh với Trung Quốc (0,2 km/km2) hay Thái Lan (0,11km/km2) Việc bố trí các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, khu dân cư bám sát các trục đường chính đã ảnh hưởng đến an toàn giao thông, gây lãng phí trong đầu tư và hạn chế khả năng nâng cấp, mở rộng

- Diện tích cho phát triển đô thị tăng nhanh, cơ cấu sử dụng đất chưa hợp lý: đất ở chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu là nhà ở theo hộ gia đình độc lập (Hà Nội 80%, thành phố

Hồ Chí Minh 72%), đất giao thông đô thị còn thiếu, chỉ khoảng 4- 5km/km2 (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, ), tỷ lệ đất dành cho giao thông chưa đến 13% trong khi yêu cầu trung bình là 20 - 25%, đất giao thông tĩnh chỉ đạt chưa đầy 1% trong khi yêu cầu phải là 3 - 3,5%, hệ số sử dụng đất thấp, chủ yếu là đường 1 tầng

- Diện tích đất công nghiệp tuy tăng nhanh (bình quân tăng 7.000 ha/năm) nhưng việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải, thiếu sự thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kinh tế - xã hội Nhiều khu, cụm công nghiệp không phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế dẫn đến tình trạng triển khai chậm tiến độ, tỷ lệ lấp đầy thấp,

để hoang hóa trong nhiều năm

- Các loại đất công trình hạ tầng xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao tuy luôn được bố trí tăng cường về diện tích đất, nhưng so với nhu cầu vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ

Trang 29

- Phần lớn đất bãi thải và xử lý chất thải là lộ thiên hoặc đổ tự nhiên tại các bãi rác tạm, hầu hết các khu vực nông thôn chưa có quy hoạch khu vực thu gom rác thải; chưa có các khu bãi chôn lấp và xử lý chất thải nguy hại một cách triệt để và lâu dài,

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Kết quả nghiên cứu về đánh giá thực hiện quy hoạch sử dụng đất cở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình do nhóm tác giả Nguyễn Quang Anh thực hiện năm 2012 đã chỉ

nguyên liệu cho ngành tiểu thủ công nghiệp và chế biến

- Bên cạnh những thành tựu đạt được thì việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện còn những tồn tại, hạn chế: Nhiều chỉ tiêu sử dụng đất chưa sát với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (quy hoạch khu công nghiệp 17,12 ha, không thực hiện; đất sản xuất kinh doanh 30,08 ha, không thực hiện ); một số công trình, dự án thực hiện ngoài quy hoạch (nhà thi đấu TDTT huyện 1 ha, trường dạy nghề 5 ha); việc chuyển mục đích sử dụng đất trong nông nghiệp đạt kết quả không cao (93,48%); việc chuyển đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp không theo quy hoạch vẫn còn diễn ra, đặc biệt

là đất ở; cơ chế chính sách và cân đối nguồn vốn thực hiện quy hoạch chưa tương xứng với nhu cầu thực tế tại địa phương, Việc lập quy hoạch sử dụng đất của các xã

là không đồng đều, không thống nhất về giai đoạn, khả năng định hướng sử dụng đất của một số xã không đúng theo thực tế phát triển, do đó dẫn đến tình trạng bổ sung quy hoạch ở nhiều xã trong giai đoạn cuối kỳ quy hoạch Hệ thống xử lý rác thải chưa được chú trọng, toàn bộ quy hoạch sử dụng đất của các xã, thị trấn và quy hoạch huyện chưa

có quy hoạch vị trí để làm bãi rác Tỷ lệ lao động được đào tạo ở huyện còn chưa cao, nhất là các xã bãi ngang của huyện, phương thức nuôi thuỷ sản chủ yếu vẫn là nuôi quảng canh tự nhiên Do đó, làm giảm năng suất và gây ô nhiễm môi trường sinh thái

- Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại hạn chế trong thực hiện, đề tài cũng đã nêu ra 6 nhóm giải pháp chính để nâng cao hiệu quả công tác lập

và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm: nhóm giải pháp về chơ chế chính sách, pháp luật; giải pháp về quản lý hành chính; giải pháp về kinh tế; giải

Trang 30

pháp về kỹ thuật; giải pháp về môi trường; giải pháp thực hiện quy hoạch được duyệt… [4]

Bên cạnh đó, một kết quả nghiên cứu khác về quy hoạch sử dụng đất ở tỉnh

Ninh Thuận do tác giả Nguyễn Văn Bật thực hiện năm 2010 đã đưa ra những nhận định sau:

- Tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức và chỉ đạo thực hiện khá tốt công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất sau khi được Chính phủ phê duyệt Tỉnh đã tập trung đầu tư khá mạnh cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng để tăng nhanh tốc độc tăng trưởng, đẩy mạnh

đô thị hoá, phát triển công nghiệp-TTCN, du lịch dịch vụ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nhất là giao thông, thuỷ lợi, sản xuất nông-lâm nghiệp, vì vậy mà tiềm năng đất đai đã được khai thác khá tốt vào mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp Việc thực hiện quy hoạch đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cơ cấu kinh tế các ngành đã thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại-dịch vụ, cụ thể [19]: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 11-12%, tổng sản phẩm GDP năm 2010 tăng 1,8-2 lần năm 2005; cơ cấu ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 35%; nông-lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 30%; dịch vụ chiếm 35% Việc triển khai thực hiện quy hoạch được thực hiện khá tốt Trong giai đoạn 2001-2005 do việc dự báo về vấn đề đô thị hoá, phát triển công nghiệp, chưa tốt nên còn có tình trạng một số dự án thực hiện không đúng vị trí, khu vực quy hoạch đã được phê duyệt Giai đoạn 2006-2010, hầu hết các công trình, dự án đều thực hiện đúng theo phương án quy hoạch đất được duyệt

- Bên cạnh những thành tựu đạt được, quy hoạch còn những mặt tồn tại: Việc phân bổ các chỉ tiêu quy hoạch đất giữa cấp tỉnh với cấp huyện còn có sự chênh lệch, nhất là đối với đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp; đất ở đô thị; đất tôn giáo tín ngưỡng; chưa thực sự phù hợp theo đúng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 21 Luật Đất đai 2003 Một số chỉ tiêu sử dụng đất thực hiện chưa sát với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt, đặc biệt là sử dụng đất tại các khu công nghiệp, khu du lịch nhiều nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng, chờ bán dự án cho chủ

sử dụng đất mới để kiếm lời hoặc sử dụng không hiệu quả gây ra việc sử dụng đất lãng phí Các khu, cụm công nghiệp hiện nay sử dụng khá lớn vào diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất làm muối, nhưng có nhiều công trình, dự án do địa phương không cân nhắc đầy đủ khả năng thực hiện trước mắt cũng như trong tương lai, làm cho quy hoạch có tính khả thi không cao, dẫn tới một số khu vực quy hoạch đã được công bố, song trong thời gian dài không được thực hiện Việc quản lý quy hoạch sau khi được phê duyệt ở cấp huyện, xã chưa tốt nên còn tình trạng người dân tự ý chuyển mục đích

sử dụng đất không theo quy hoạch; việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều

Trang 31

chỉnh hoặc huỷ bỏ quy hoạch chưa được coi trọng và nhìn chung không được chấp hành nghiêm túc Nhiều khu vực quy hoạch không còn phù hợp với diễn biến của tình hình thực tế hoặc đã rõ là không hợp lý; nhiều khu vực quy hoạch đã công bố sẽ thu hồi đất

và đã quá thời hạn 3 năm kể từ ngày công bố nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền không tiến hành điều chỉnh hoặc huỷ bỏ quy hoạch

- Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại hạn chế trong thực hiện, đề tài cũng đã nêu ra 5 nhóm giải pháp chính để nâng cao hiệu quả công tác lập và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm: nhóm giải pháp về kinh tế; giải pháp về chính sách; giải pháp về tổ chức; giải pháp nâng cao chất lượng phương án quy hoạch sử dụng đất; giải pháp quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch… [18]

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Thạch Hà đến năm 2020 đã được phê duyệt

- Những số liệu và những thông tin có liên quan đến việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất từ năm 2011 đến năm 2015 tại huyện Thạch Hà

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thạch Hà

- Hiện trạng sử dụng các loại đất năm 2015 và biến động các loại đất giai đoạn

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận vĩ mô từ trên xuống và vi mô từ dưới lên

+ Tiếp cận vĩ mô từ trên xuống là: Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng, quy hoạch của vùng có liên quan hoặc

có tác động đến việc sử dụng đất trên địa bàn huyện

+ Tiếp cận vi mô từ dưới lên là: Căn cứ vào nhu cầu, kế hoạch sử dụng đất của các xã, thị trấn; quy hoạch của các ngành để tổng hợp, chỉnh lý, soát xét để điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện

Trang 33

- Phương pháp kế thừa: Phân tích các tài liệu đã có trên địa bàn huyện, quy hoạch

của các ngành đã và đang được xây dựng có liên quan đến việc sử dụng đất để rút ra quy luật phát triển, biến động đất đai; đồng thời tiếp tục triển khai và đưa vào điều chỉnh quy hoạch những công trình, dự án đang và sẽ thực hiện của quy hoạch được duyệt mà phù hợp với điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất của

kỳ tiếp theo

- Phương pháp điều tra: Khảo sát thực tế, điều tra bổ sung tài liệu, số liệu cũng

như việc khoanh định sử dụng các loại đất trong kỳ điều chỉnh quy hoạch

- Phương pháp chồng ghép bản đồ và xử lý chồng lấn: Tất cả nhu cầu sử dụng

đất của các ngành được thể hiện trên bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, bản đồ này được chồng ghép từ các loại bản đồ chuyên đề khác để trên cơ sở đó phát hiện chồng lấn và bất hợp lý nhằm xử lý loại bỏ các chồng lấn và bất hợp lý đó

- Phương pháp dự báo, tính toán: Căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP, tăng dân

số để tính toán bổ sung nhu cầu sử dụng đất và bố trí trong kỳ điều chỉnh quy hoạch theo quy chuẩn, định mức sử dụng đất của các cấp, các ngành

- Phương pháp cân đối tổng hợp: Xác định một cơ cấu loại hình sử dụng đất đai

hợp lý trên cơ sở cân đối với tổng diện tích hiện có (có sự cân nhắc, tính toán một cách hợp lý, đảm bảo diện tích tăng giảm các loại đất trong khuôn khổ giới hạn quỹ đất đai của tỉnh); chú trọng xác định các loại hình sử dụng đất có trọng điểm và toàn diện (theo thứ tự ưu tiên và tầm quan trọng trong mối quan hệ với các ngành khác); tuân thủ nguyên tắc ưu tiên dành đất tốt cho sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa); đảm bảo hài hòa tối đa theo dự báo cho các ngành và khả năng đáp ứng của quỹ đất (về số

lượng, chất lượng, vị trí và điều kiện sản xuất)

- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo, xin ý kiến các nhà lãnh đạo, các

nhà khoa học, cán bộ chuyên môn của tỉnh, huyện, xã và nhân dân

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN THẠCH HÀ 3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thạch Hà là một huyện duyên hải, nằm về 2 phía của thành phố Hà Tĩnh; có tọa

độ địa lý từ 18010’03’’ đến 18029’ vĩ độ bắc và 105038’ đến 106002’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Can Lộc và huyện Lộc Hà

- Phía Tây giáp huyện Hương Khê

- Phía Nam giáp huyện Cẩm Xuyên

- Phía Đông Nam giáp Biển Đông

Hình 3.1 Vị trí hành chính huyện Thạch Hà

Huyện Thạch Hà có 31 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 01 thị trấn và 30 xã (Ngọc Sơn, Thạch Hải, Thạch Bàn, Thạch Kênh, Thạch Sơn, Thạch Liên, Thạch Đỉnh, Phù Việt, Thạch Khê, Thạch Long, Việt Xuyên, Thạch Tiến, Thạch Thanh, Thạch Trị, Thạch Lạc, Thạch Ngọc, Tượng Sơn, Thạch Văn, Thạch Vĩnh, Thạch Thắng, Thạch Lưu, Thạch Đài, Bắc Sơn, Thạch Hội, Thạch Tân, Thạch Lâm, Thạch Xuân, Thạch Hương, Nam Hương, Thạch Điền)

Trang 35

Huyện Thạch Hà có diện tích tự nhiên là 35.391,50 ha; Được tách làm hai phần nằm về hai phía Đông và Tây của thành phố Hà Tĩnh (phần phía Đông có 10 xã, phần phía Tây có 20 xã và thị trấn của huyện), dân số trung bình năm 2010 là 134.368 người, mật độ dân số là 263 người/km2 [11]

Thị trấn Thạch Hà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện Thạch Hà, nằm cách thành phố Hà Tĩnh 5 km và cách thành phố Vinh (Nghệ An) 45km

Xét về vị trí địa lý kinh tế, huyện có nhiều điểm lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội, và phát triển ngành công nghiệp

+ Huyện nằm trong khu vực dải ven biển miền Trung, tiếp giáp với trung thành phố Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh

- Về giao thông: Với vị trí trung tâm của tỉnh và nằm sát thành phố Hà Tĩnh nên

huyện Thạch Hà dễ dàng thông thương với các huyện trong tỉnh và ngoại tỉnh nhờ các trục giao thông đường bộ như Quốc lộ 1A với chiều dài 23,31km; đường tránh 1A; 5 tuyến tỉnh lộ (2, 3, 7, 17, 19/5 với tổng chiều dài 56,13 km; hệ thống đường huyện, đường liên xã phân bố khá đều trên địa bàn huyện với 100% các xã có đường nhựa, đường bê tông ô tô về đến trung tâm xã Ngoài ra, còn có các tuyến đường sông như sông Rào Cái, sông Nghèn, sông Già, sông Cày

- Về mở rộng thị trường trong nước và quốc tế: Với vị trí giao thông thuận lợi

như trên, huyện Thạch Hà trở thành một trong những cửa ngõ, mắt xích quan trọng của tỉnh Hà Tĩnh trong việc trung chuyển, giao thương hàng hóa giữa các tỉnh phía Bắc tới cảng Vũng Áng; kết hợp với hệ thống đường bộ, đường sông,… nên thị trường của Thạch Hà cũng được mở rộng quan hệ với thị trường của cả nước và với và các vùng phụ cận

- Về liên kết vùng: Phát triển kinh tế biển, thương mại dịch vụ, phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (khai thác quặng sắt mỏ Thạch Khê - Thạch Hà có trữ lượng ước tính 544 triệu tấn đang được đầu tư khai thác ) huyện Thạch Hà cũng là

một trong những vùng trọng điểm nằm trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh

Như vậy, vị trí địa lý của huyện Thạch Hà không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; tiếp cận nhanh với các tiến

bộ khoa học kỹ thuật, giao thương dễ dàng với các địa phương khác mà còn là mắt xích có vai trò rất quan trọng của tỉnh Hà Tĩnh và đối với cả vùng Bắc Trung Bộ

3.1.1.2 Địa hình

Huyện Thạch Hà nằm về phía Đông của dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc, thấp dần từ Tây sang Đông Do địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi, sông như sông Rào Cái, sông Nghèn (Đò Điệm), sông Cày nên được chia thành 3 vùng:

Trang 36

- Vùng đồi núi: Nằm ở phía Tây của huyện (gồm các xã như: Thạch Điền, Nam

Hương, Bắc Sơn, Thạch Xuân, Thạch Ngọc, Ngọc Sơn ) Vùng này là sườn Đông của dãy Trà Sơn, có các ngọn núi cao từ 100 - 300m, có các đỉnh núi cao như: Cưa Voi (327m), Cổ Ngựa (316m) Địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, độ cao trung bình 50m so với mặt biển Trong vùng có nhiều khe suối, đập chứa nước như đập Cầu Trắng, đập Xá, đập Vịnh, đập Khe Chiện, đập Trúc Đặc biệt có hồ Bộc Nguyên cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho thành phố Hà Tĩnh

Đất ở địa hình này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản Vì vậy cần chú trọng phát triển kinh tế vườn đồi trồng cây ăn quả, cây nguyên liệu, khoanh nuôi bảo vệ nhất là rừng phòng hộ Phát triển du lịch sinh thái; đảm bảo lương thực của vùng, kết hợp phát triển rừng với phát triển chăn nuôi đàn gia súc và cây con đặc sản của vùng núi

- Vùng đồng bằng: Nằm ở trung tâm của huyện, gồm phần lớn các xã trong huyện

(trên 15 xã), địa hình cũng thấp dần theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, độ cao trung bình 1 - 5m so với mặt biển Địa hình tương đối bằng phẳng, rải rác có những quả đồi thấp nhô lên giữa vùng đồng bằng

Vùng đồng bằng có địa hình thấp, độ chênh lệch giữa các cốt ruộng lớn lại chịu ảnh hưởng của nguồn nước từ dãy núi Trà Sơn chảy qua nên khi mưa lớn thường gây úng lụt cục bộ tại khu vực trũng Vùng này nên đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, năng suất cao và từng bước sản xuất theo hướng công nghiệp, công nghệ cao Xây dựng vùng chuyên trồng lúa giống, trồng rau, hoa quả, mở rộng chăn nuôi gia cầm, nạc hóa đàn lợn, cải tạo vùng chiêm trũng, nuôi trồng thủy sản, xây dựng kinh tế trang trại theo mô hình kinh tế VAC

- Vùng ven biển: Nằm ở phía Đông của huyện, bao gồm các xã giáp biển (Thạch

Văn, Thạch Trị, Thạch Hải, Thạch Bàn, Thạch Hội, Thạch Lạc ) Địa hình bằng phẳng, nhiều cồn cát, bãi cát và đầm phá, cửa sông Địa hình ven biển thường có những dải cát dọc theo bờ biển, thỉnh thoảng còn có những cồn cát cao và những khu dân cư phía trong nội đồng Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp chính của huyện, hàng năm cung cấp một lượng lớn lương thực, thực phẩm Địa hình này rất thuận lợi cho giao thông đi lại cũng như sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản Tuy nhiên, khu vực này có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa phát triển công nghiệp khai thác mỏ sắt Thạch Khê và phát triển kinh

tế, du lịch biển

Điều kiện địa hình trên đã tạo cho huyện Thạch Hà nhiều tiềm năng trong việc phát triển kinh tế cũng như cảnh quan du lịch có giá trị, có điều kiện cho việc sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, do địa hình dốc nên hàng năm tài

nguyên đất của huyện thường bị xói mòn và rửa trôi độ màu mỡ

Trang 37

- Mùa đông từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống dưới 7oC Tuy nhiên, do gió mùa Đông Bắc thổi đến đây thường bị suy yếu nên mùa đông lạnh ít hơn

và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 230C- 250C, chênh lệch nhiệt

độ giữa mùa hè và mùa đông khá lớn (trung bình mùa hè là 29 - 380C; mùa đông từ

130C- 160C

Nhiệt độ trong năm cao nhất vào các tháng 6, 7, 8; thấp nhất vào tháng 12 và tháng 1, 2 năm sau Nhiệt độ giữa vùng đồng bằng và vùng bán sơn địa chênh lệch nhau không nhiều, từ 1- 20C

- Lượng mưa: Thạch Hà có lượng mưa khá lớn, lượng mưa bình quân hàng

năm vào khoảng 2.642,3 mm Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều trong năm nên có tháng xảy ra khô hạn, có tháng lại xảy ra lũ lụt Lượng mưa tập trung vào các tháng mùa hè và mùa thu Tổng lượng mưa 5 tháng mùa đông chỉ chiếm 26% lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9 và tháng 10 Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 2 và tháng 3 Các tháng có lượng mưa lớn từ tháng 9

- 11, lượng mưa vào khoảng 209,7 - 651,8 mm, tháng 2 - 4 có lượng mưa thấp nhất vào khoảng 56 - 71 mm

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí hàng năm ở Thạch Hà khá cao (trung bình khoảng

83,8%), những tháng khô hạn nhất, độ ẩm không khí trung bình tháng vẫn trên 70%

Độ ẩm trung bình cao nhất khoảng 75 - 88% vào các tháng mùa Đông có mưa phùn, gió bấc (tháng 10, 11 và 12) Độ ẩm trung bình thấp nhất khoảng 75% vào các tháng mùa hè (tháng 6, 7), gió Tây khô nóng nhất

- Nắng: Bình quân hàng năm ở Thạch Hà có khoảng 235 ngày nắng với 1.600

giờ, tuy nhiên giờ nắng giữa các tháng trong năm không đều nhau; số giờ nắng chủ yếu vào các tháng mùa hè

- Bão: Tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Thạch Hà nói riêng trung bình mỗi

năm chịu ảnh hưởng trực tiếp của 1 - 2 cơn bão và áp thấp nhiệt đới Bão tập trung vào tháng 8 đến tháng 10 hàng năm Tốc độ gió mạnh nhất khi có bão có thể đạt tới

Trang 38

30m/s ở vùng núi và 40m/s ở vùng đồng bằng Ảnh hưởng của bão thường gây ra mưa lớn, bình quân một cơn bão hay một áp thấp nhiệt đới có thể mưa từ 100 - 200

mm, có nơi 400 - 500 mm nên dễ gây lũ lụt lớn Tác động của bão gây nhiều hậu quả

xấu đến sản xuất và đời sống cũng như tính mạng của nhân dân trong vùng

+ Sông Nghèn: bắt nguồn từ nhiều khe suối nhỏ như Khe Lang (từ vùng núi thấp dãy Trà Sơn), Khe Giao (từ Truông Xay), Khe Trò, Khe Hói (từ Hồng Lĩnh) nhập vào sông Rào Cái tại Hộ Độ Đoạn đi qua địa phận huyện Thạch Hà tại các xã Thạch Sơn, Thạch Long Sông Nghèn chịu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều

+ Sông Già: là phụ lưu sông Nghèn, bắt nguồn từ núi Động Bụt, chảy qua nhiều xã thuộc huyện Thạch Hà (Thạch Ngọc, Thạch Tiến, Việt Xuyên, Thạch Liên, Thạch Kênh ) và huyện Can Lộc Sông dài 11km, diện tích lưu vực 25,5 km2

+ Sông Cày: là phụ lưu của sông Nghèn, nằm gọn trong huyện Thạch Hà; bắt nguồn từ đỉnh Tắc Cam, nằm trong huyện Thạch Hà Sông dài 10km, diện tích lưu vực 20,2 km2

Các sông trên hàng năm đổ ra biển (qua Cửa Sót) từ 36 - 40 triệu m3 nước; do chảy trên địa hình tương đối bằng phẳng và gần cửa biển nên khi có lũ lụt thì thời gian ngập ngắn, nước có thể rút hết trong vòng 3 - 4 ngày

- Vùng biển Thạch Hà có chế độ nhật triều không đều, hàng tháng có khoảng 10 -

15 ngày có hai lần nước cường và 2 lần nước ròng trong ngày Cường độ triều dâng nhanh và thời gian ngắn (mực nước triều tại cửa Sót dao động từ 1,8 -2,5 m) Chiều cao sóng biển từ 0,25 đến 0,75 m, chiếm 33,52%; chiều cao sóng từ 0,75 đến 1,25 m, chiếm 12,78%; còn lại là sóng lặng

Trang 39

3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên

a Tài nguyên đất

Tài nguyên đất xét về mặt thổ nhưỡng có 6 nhóm đất, như sau:

- Nhóm đất cát biển: Nhóm đất cát biển được hình thành ven biển và nội đồng,

chủ yếu tập trung ở các xã giáp biển và một số xã khác (Thạch Long, Thạch Sơn, Thạch Vĩnh, Thạch Lưu, Việt Xuyên, Thạch Đỉnh, Thạch Hải, Thạch Lạc, Thạch Văn, Thạch Hội, Thạch Khê), bao gồm các đơn vị đất chính:

+ Đất cát biển (C): Phân bố thành các dải rộng hẹp khác nhau (tập trung ở các xã Thạch Đỉnh, Thạch Hải, Thạch Lạc, Thạch Lưu, Thạch Vĩnh, Thạch Sơn ) Các bãi cát hoặc đụn cát có màu trắng hoặc trắng xám, bãi cát bằng thường có hạt thô, phân lớp rõ Đất cát biển có hàm lượng mùn ít, chất hữu cơ phân giải mạnh, các chất tổng số

và dễ tiêu đều nghèo, phản ứng trung tính

+ Đất cồn cát trắng vàng (Cc): Phân bố ở vành đai sát biển, có nơi xen với bãi cát bằng phía trong (tập trung ở các xã Thạch Đỉnh, Thạch Lạc, Thạch Văn ) Về tính chất, cồn cát trắng vàng ít chua, rời rạc, độ phì rất thấp, giữ nước, giữ màu kém

Nhìn chung nhóm Đất cát biển là loại đất xấu, nghèo dinh dưỡng; được sử dụng

để trồng cây lương thực (chủ yếu là rau, màu), trồng rừng phòng hộ ven biển; rừng sản xuất và trồng cây có khả năng thích nghi với loại đất này như: Phi lao, Keo lá tràm, Keo chịu hạn, Xoan chịu hạn

- Nhóm đất mặn: Nhóm đất mặn phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Nghèn, sông

Rào Cái, sông Cày (Thạch Sơn, Thạch Kênh ), bao gồm các đơn vị đất:

+ Đất mặn, sú, vẹt, đước (Mm): Thảm thực vật ngập mặn thường gặp các loài họ Đước (Rhyzophoraceae) Loại đất này ở dạng chưa thành thục, đang trong quá trình bồi lắng, bùn lỏng, lầy, ngập triều, lẫn hữu cơ, gây mạnh, đất trung tính hay kiềm yếu, tầng mặt lượng hữu cơ khá

+ Đất mặn trung bình và ít (M): Nằm tiếp giáp với đất phù sa, chủ yếu ở địa hình trung bình và cao, vẫn còn ảnh hưởng của thuỷ triều Đất mặn trung bình và ít có nồng

độ Cl- dưới 0,25%, phản ứng trung tính, ít chua, thành phần đạm trung bình, lân từ trung bình đến nghèo; thích hợp với trồng cây sú, vẹt, đước để bảo vệ thảm thực vật rừng, trồng rừng ngập mặn; nước mặn, nước lợ để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, các nguồn lợi đa dạng khác

- Nhóm đất phù sa: Đất phù sa là đất bồi tụ từ sản phẩm phong hoá các khối núi

đồi do tác động của sông và biển Diện tích đất phù sa chiếm tỷ lệ lớn, phân bố hầu hết các xã đồng bằng, gồm các đơn vị đất:

Trang 40

+ Đất phù sa trung tính, ít chua (P): Đây là loại đất màu mỡ, dung tích hấp thu và mức độ bão hoà bazơ cao, đất phản ứng trung tính hoặc ít chua, hữu cơ và các chất dinh dưỡng thuộc loại khá

+ Đất phù sa chua (Pc): Đất phù sa chua có thành phần hữu cơ trung bình, đạm và kali trung bình, lân trung bình đến nghèo, dung tích hấp thu trung bình

Nhóm đất phù sa chủ yếu được sử dụng thích hợp cho trồng lúa, ngô hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu

- Nhóm đất xám Feralit phát triển trên đá sét (Fs): Phân bố chủ yếu trên địa hình

đối núi các xã Thạch Điền, Bắc Sơn, Nam Hương, Thạch Xuân Nhóm đất này thường

có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, màu vàng đỏ đến đỏ vàng, kết cấu hạt mịn, khả năng thấm nước kém, giữ nước tốt, độ phì cao, rất thích hợp cho cây lâm nghiệp, cây

ăn quả, cây công nghiệp

- Nhóm đất Feralit phát triển trên phù sa cổ (Fo): Nhóm đất này phân bố dọc

theo chân núi Trà Sơn Trong điều kiện khí hậu bán khô hạn nhiệt đới, thời gian khô kéo dài và lượng bốc hơi lớn hơn nhiều so với lượng mưa làm cho tầng mặt đất khô, mất nước, cứng và chặt Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, ít chua, hàm lượng mùn khá, mức độ phân giải các chất hữu cơ chậm, độ phì thấp, đạm và lân tổng số nghèo, phù hợp với việc trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày

- Nhóm đất Feralit xói mòn trơ sỏi đá (E): Phân bố ở địa hình đồi thấp thuộc xã

Thạch Ngọc, Thạch Tiến, Thạch Vĩnh Nhóm đất này thường có thảm thực vật thưa, sỏi đá nổi lên bề mặt và đang bị tác động của xói mòn, rửa trôi Đây là nhóm đất thoái hoá mạnh, thực vật sinh trưởng và phát triển kém nên rất khó bố trí cây trồng, chỉ một số loài cây lâm nghiệp thích ứng như Thông, Keo [7]

b Tài nguyên nước

Nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trong huyện được lấy từ 2 nguồn: Nước mặt và nước ngầm

- Nước mặt: Trên địa bàn huyện có 16 hồ chứa nước với tổng dung tích chứa

5.53 triệu m3 và 2 đập dâng Tuy nhiên vào mùa khô do điều kiện thời tiết khí hậu Miền Trung nên thường hạn hán, mặt khác do các sông ngắn và gần biển nên việc sử dụng nước mặt có phần bị hạn chế Có những năm lượng mưa thấp, việc trữ nước các

hồ không đủ dung tích thì hạn hán thường xảy ra, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân

- Nước ngầm: Gồm 7 tầng chứa nước với tổng trữ lượng tự nhiên khoảng

328.618 m3/ ngày đêm, phục vụ sinh hoạt và các ngành kinh tế

(Nguồn: Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến 2020; Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn tỉnh Hà Tĩnh tại Kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh khoá XVI 12 năm 2014)

Ngày đăng: 27/06/2021, 08:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường (1995), Báo cáo đề dẫn an toàn lương thực cho vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề dẫn an toàn lương thực cho vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường
Năm: 1995
[6]. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật đất đai năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 2013
[7]. Ủy ban nhân dân tỉnh (2020), Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, Tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh
Năm: 2020
[8]. Ủy ban nhân dân tỉnh (2020), Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh
Năm: 2020
[9]. Ủy ban nhân dân tỉnh, Báo cáo Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 – 2020, Tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 – 2020
[10]. Ủy ban nhân dân tỉnh, Quy hoạch phát triển văn hóa và thể thao tỉnh Hà Tĩnh đến 2025 và tầm nhìn đến 2030, Tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển văn hóa và thể thao tỉnh Hà Tĩnh đến 2025 và tầm nhìn đến 2030
[11]. Ủy ban nhân dân tỉnh, Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh năm 2015, Tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh năm 2015
[12]. Ủy ban nhân dân tỉnh, Theo văn bản số 3450/UBND-NL 1 của UBND tỉnh ngày 8/6 năm 2017 của cấp tỉnh phân bổ, Tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo văn bản số 3450/UBND-NL"1" của UBND tỉnh ngày 8/6 năm 2017 của cấp tỉnh phân bổ
[13]. Ủy ban nhân dân huyện (2014, 2015), Niên giám thống kê huyện Thạch Hà 2014, 2015, Huyện Thạch Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Thạch Hà 2014, 2015
[14]. Ủy ban nhân dân huyện, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2015, Huyện Thạch Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2015
[17]. Viện Điều tra Quy hoạch đất đai, Tổng cục Địa chính (1998), Cơ sở lý luận khoa học của quy hoạch sử dụng đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ sở lý luận khoa học của quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Viện Điều tra Quy hoạch đất đai, Tổng cục Địa chính
Năm: 1998
[18]. Võ Tử Can (2001), Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai, Chương trình Hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về đổi mới hệ thống địa chính, Viện Điều tra Quy hoạch đất đai.B. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Võ Tử Can
Năm: 2001
[19]. Yohei Sato (1996), Current Status of Land Use planning System in Janpan, Seminar on Rural Land Use Planning and Management, 24/9 - 04/10/1996, Janpan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current Status of Land Use planning System in Janpan
Tác giả: Yohei Sato
Năm: 1996
[20]. Western Australian Planning Commission and Ministry for Planning (1996), Introduction Planning for people, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction Planning for people
Tác giả: Western Australian Planning Commission and Ministry for Planning
Năm: 1996
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ TNMT về việc Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Khác
[3]. Nguyễn Hữu Ngữ (2013), Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất, Đại học Nông Lâm Huế Khác
[4]. Nguyễn Quang Anh (2012), Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Khác
[5]. Nguyễn Văn Bật (2010), Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 tỉnh Ninh Thuận Khác
[15]. Ủy ban nhân dân huyện (2015), Biến động diện tích đất đai của huyện Thạch Hà năm 2015 so với năm 2010 Khác
[16]. Ủy ban nhân dân huyện, Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp kỳ đầu (2011 -02015) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Vị trí hành chính huyện Thạch Hà - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Hình 3.1. Vị trí hành chính huyện Thạch Hà (Trang 34)
Hình 3.2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Thạch Hà 3.3.1.1. Đất nông nghiệp  - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Hình 3.2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Thạch Hà 3.3.1.1. Đất nông nghiệp (Trang 64)
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng một số loại đất nông nghiệp năm 2015 - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng một số loại đất nông nghiệp năm 2015 (Trang 65)
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp năm 2015 - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp năm 2015 (Trang 69)
Bảng 3.4. Biến động đất đai năm 2015 so với năm 2010 - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Bảng 3.4. Biến động đất đai năm 2015 so với năm 2010 (Trang 70)
Bảng 3.5. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp kỳ đầu (2011 -02015) - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Bảng 3.5. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp kỳ đầu (2011 -02015) (Trang 76)
Bảng 3.6. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp kỳ đầu (2011 -02015) - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Bảng 3.6. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp kỳ đầu (2011 -02015) (Trang 78)
Hình 3.3. Bản đồ điều chỉnh QH sử dụng đất đến năm 2020 huyện Thạch Hà - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Hình 3.3. Bản đồ điều chỉnh QH sử dụng đất đến năm 2020 huyện Thạch Hà (Trang 89)
Bảng 3.7. Diện tích các loại đất đến năm 2020 so với chỉ tiêu cấp trên phân bổ - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
Bảng 3.7. Diện tích các loại đất đến năm 2020 so với chỉ tiêu cấp trên phân bổ (Trang 92)
3.5.3.2. Chỉ tiêu sử dụng đất theo loại đất cho các ngành, lĩnh vực - Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011   2015) của huyện thạch hà và đề xuất phương án điều chỉnh đến năm 2020
3.5.3.2. Chỉ tiêu sử dụng đất theo loại đất cho các ngành, lĩnh vực (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w