ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THANH TUYỀN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ VĨNH SƠN, HU
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THANH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ VĨNH SƠN,
HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
HUẾ - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Huế, ngày 20 tháng 07 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thanh Tuyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của quý thầy, cô trong Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa lâm nghiệp, phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Nông lâm Huế, xin gửi tới quý thầy, cô lòng biết ơn chân thành và tình cảm quý mến nhất
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Hoàng Huy Tuấn, người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian quý báu và nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể, cá nhân: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Định, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Vĩnh Thạnh, Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Vĩnh Thạnh, Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, các hộ gia đình, cá nhân nơi tôi thực hiện suốt quá trình điều tra và các bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình, những người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã góp ý giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện
Trang 4TÓM TẮT Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người
trong việc duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Ngoài việc cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác, rừng có vai trò to lớn trong việc phòng hộ, duy trì môi trường sống như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm khí phát thải gây nên hiệu ứng nhà kính thông qua cơ chế hấp thu và lưu trữ cacbon Làm thế nào để vừa quản lý bảo vệ rừng vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân là vấn đề đang được Chính phủ quan tâm hàng đầu Sự ra đời của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã giải quyết được vấn đề chi phí cho hoạt động bảo vệ rừng; nhờ chính sách này góp phần thúc đẩy người dân bảo vệ rừng tốt hơn Tuy nhiên, do đây là một chính sách mới, có nhiều vấn đề chưa thể lường trước những phát sinh, vướng mắc được, một số vấn đề từ thực tiễn nảy sinh cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để chính sách tiếp tục phát huy hiệu quả
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá kết quả thực hiện và tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến sinh
kế của người dân xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định"
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
(1)- Phân tích được thực trạng thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Vĩnh Sơn
(2)- Đánh giá được sự thay đổi các nguồn vốn sinh kế và các hoạt động sinh kế trước và sau khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (3)- Đề xuất được giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng ở địa phương
Phương pháp nghiên cứu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu, các văn bản, tài liệu có liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng; các báo cáo của các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về lâm nghiệp; tổ chức lâm nghiệp liên quan đến chính sách chi trả DVMTR Thu thập các số liệu sơ cấp như thảo luận nhóm kết hợp với phỏng vấn chuyên sâu, phỏng vấn hộ gia đình Tham vấn các chuyên gia về việc thực hiện các chính sách, kinh nghiệm giao khoán quản
lý bảo vệ rừng và dịch vụ chi trả môi trường rừng; phân tích, xử lý các số liệu thu thập
Trang 5Kết quả nghiên cứu: Thứ nhất là đề tài đã xác định được điều kiện tự nhiên
và điều kiện kinh tế xã hội cơ bản Thứ hai, tổng quan về chi trả DVMTR của tỉnh Bình Định Thứ ba, kết quả chi trả DVMTR ở xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định Thứ tư, đề tài đã xác định được sự tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến các nguồn vốn sinh kế và hoạt động sinh kế của người dân trước và sau khi có Chính sách chi trả DVMTR Thứ năm, các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở địa phương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài: 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khung khái niệm về Chi trả dịch vụ môi trường rừng 4
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến Chi trả dịch vụ môi trường rừng 4
1.1.2 Một số khái niệm về sinh kế: 7
1.2 Cơ sở pháp lý chính sách chi trả dịch vụ môi trường 8
1.3 Cơ sở thực tiễn 9
1.4 Tổng quan về sinh kế 12
1.4.1 Khái niệm sinh kế 12
1.4.2 Khung sinh kế bền vững 13
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng và phạm vi, đối tượng nghiên cứu 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17
Trang 72.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 18
2.3.2 Thu thập số liệu thứ cấp 18
2.3.3 Thu thập số liệu sơ cấp 18
2.4 Phân tích thông tin 19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Tình hình cơ bản của xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 21
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội 23
3.2 Kết quả chi trả DVMTR của tỉnh Bình Định 29
3.2.1 Cơ cấu tổ chức của quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Định 29
3.2.2 Kết quả ký kết dịch vụ môi trường rừng với các đơn vị sử dụng 30
3.2.3 Cách vận hành Quỹ bảo vệ và phát triển rừng về tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng 39
3.3 Kết quả Chi trả DVMT ở xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 40
3.4 Ảnh hưởng của chính sách chi trả DVMTR đến nguồn vốn sinh kế: 51
3.4.1 Nguồn vốn tự nhiên 51
3.4.2 Nguồn vốn xã hội 53
3.4.3 Nguồn vốn con người 56
3.4.4 Nguồn vốn vật chất 59
3.4.5 Nguồn vốn tài chính 60
3.5 Ảnh hưởng của Chính sách chi trả DVMTR đến hoạt động sinh kế 65
3.5.1 Tác động đến sinh kế 65
3.5.2 Tác động của chính sách chi trả DVMTR đối với đời sống của người dân 69 3.5.3 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong quá trình chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Vĩnh Sơn 71
3.6 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR 74
Trang 83.6.1 Giải pháp về chính sách và thực thi chính sách 74
3.6.2 Giải pháp về nâng cao nhận thức cho cộng đồng 76
3.6.3 Giải pháp cải thiện sinh kế của cộng đồng 77
3.6.4 Giải pháp về kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả DVMTR 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng Phát triển châu Á
ARBCP : Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á
BQL : Ban quản lý
BV&PTR : Bảo vệ và Phát triển rừng
BVR : Bảo vệ rừng
DANIDA : Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch
DFID : Bộ Phát triển Quốc tế Anh
DVMTR : Dịch vụ môi trường rừng
HĐND : Hội đồng nhân dân
HKL : Hạt Kiểm lâm
ICRAF : Trung tâm Nông - Lâm Thế giới
IFAD : Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng
QBVPTR : Quỹ bảo vệ và phát triển rừng
USAID : Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
WWF : Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Danh sách Chi trả DVMTR lưu vực thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh,
xã Vĩnh Sơn 40 Bảng 3.2 Danh sách Ban QL rừng phòng hộ Chi trả DVMTR xã Vĩnh Sơn 41 Bảng 3.3 Mức độ ảnh hưởng của Chính sách chi trả DVMTR đến nhận thức của người dân về nguồn vốn tự nhiên 52 Bảng 3.4 Mức độ ảnh hưởng của Chính sách chi trả DVMTR đến nhận thức của người dân về nguồn vốn xã hội 54 Bảng 3.5 Mức độ ảnh hưởng của Chính sách chi trả DVMTR đến nhận thức của người dân về nguồn vốn con người 58 Bảng 3.6 Mức độ ảnh hưởng của Chính sách chi trả DVMTR đến nhận thức của người dân về nguồn vốn vật chất 60 Bảng 3.7 Tỷ lệ hộ nghèo của thôn K2 và thôn K4 giai đoạn 2014-2019 61 Bảng 3.8 Mức độ ảnh hưởng của Chính sách chi trả DVMTR đến nhận thức của người dân về nguồn vốn tài chính 62 Bảng 3.9 Tổng hợp điểm trung bình của 5 nguồn vốn 64 Bảng 3.10 Sự thay đổi các hoạt động sinh kế trước và sau khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở thôn K2 66 Bảng 3 11 Sự thay đổi các hoạt động sinh kế trước và sau khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở thôn K4 67
Trang 12
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững 13
Hình 3.1 Sơ đồ địa giới hành chính huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 21 Hình 3.2 Cơ cấu các loại đất trên địa bàn xã Vĩnh Sơn 22
Hình 3.3 Sơ đồ vận hành quỹ và Chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Bình Định 39 Hình 3.4 Sơ đồ quản lý, sử dụng chi trả DVMTR tại xã Vĩnh Sơn 44 Hình 3.5 Sự tác động của chính sách chi trả DVMTR đến 5 nguồn vốn 64 Hình 3.6 Sự thay đổi các hoạt động sinh kế trước và sau khi thực hiện chi trả DVMTR thôn K2 67 Hình 3.7 Sự thay đổi các hoạt động sinh kế trước và sau khi thực hiện chi trả DVMTR thôn K 4 68
Trang 13
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người trong việc duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Ngoài việc cung cấp gỗ, củi và các lâm sản khác, rừng có vai trò to lớn trong việc phòng hộ, duy trì môi trường sống như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt, bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế khí phát thải gây nên hiệu ứng nhà kính thông qua cơ chế hấp thu và lưu trữ cacbon
Với tầm quan trọng của môi trường rừng, nhiều quốc gia đã hình thành các
cơ chế khác nhau nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng trên quan điểm coi dịch vụ môi trường là một loại hàng hóa Một số quốc gia đã nghiên cứu xây dựng và ứng dụng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường, đây được coi là xu hướng mới nhằm quản lý dịch vụ môi trường rừng và hướng tới phát triển bền vững
Có một nghịch lý là việc duy trì bảo vệ các hệ sinh thái rừng thường được thực hiện bởi một nhóm nhỏ, trong khi người hưởng lợi là số đông Giữa người sử dụng và người cung cấp dịch vụ môi trường rừng cần có sự công bằng trong chia
sẻ lợi ích và chi phí trong quản lý rừng thông qua một cơ chế kinh tế Cơ chế này cũng tạo ra một nguồn ngân sách cho việc đầu tư phục hồi và duy trì bền vững các giá trị hệ sinh thái Đó chính là ý nghĩa ban đầu cho sự ra đời của cơ chế “Chi trả dịch vụ môi trường” (Payments for Environmental Services-PES) Các dịch vụ hệ sinh thái rừng có liên quan mật thiết với sinh kế người nghèo và tất cả các cộng đồng, được cho là những mối quan hệ nhân quả quan trọng giữa sự biến đổi sinh kế nông thôn và độ che phủ rừng Người nghèo ở các vùng sâu, vùng xa ở nông thôn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn hàng hóa và dịch
vụ môi trường từ rừng tự nhiên, những lợi ích lớn thông qua việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp, khai thác và bán gỗ, cũng như các sản phẩm từ rừng khác Tiền thu được làm vốn và chi trả các dịch vụ thiết yếu trong sinh hoạt hàng ngày (Sunderlin và Huỳnh Thu Ba, 2005)
Ở Việt Nam, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được thực hiện thí điểm ở Lâm Đồng và Sơn La từ cuối năm 2008 và được thể chế hóa trên phạm vi toàn quốc từ năm 2010 thông qua ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả DVMTR;
Trang 14và hiện nay chính sách chi trả DVMTR được được điều chỉnh bởi Luật Lâm nghiệp năm 2017; Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp; Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp
Thời gian qua, chính sách chi trả DVMTR trên phạm vi cả nước đã đạt nhiều kết quả khả quan, những bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình tổ chức thực hiện, khẳng định rõ hơn, đây là là một chủ trương, chính sách mới đúng đắn, có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong công tác bảo
vệ, phát triển rừng, phù hợp với nhu cầu, được người dân hết sức đồng tình và ủng hộ Chính sách đã từng bước đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng, hiệu quả, gắn kết và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sử dụng và người cung ứng dịch
vụ Nhận thức của các cấp, ngành và người dân vùng được chi trả DVMTR đã được nâng cao, họ hiểu rõ về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng, thấy được trách nhiệm và quyền lợi của mình, tích cực tham gia thực hiện chính sách
Chính sách chi trả DVMTR được thực hiện ở Ban quản lý rừng phòng hộ Vĩnh Thạnh (BQLRPH), tỉnh Bình Định được thực hiện từ năm 2014, sau gần 5 năm thực hiện, chính sách này đã có những ảnh hưởng đáng kế đến đời sống của người dân địa phương Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành đề tài:
"Đánh giá kết quả thực hiện và tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi
trường rừng đến sinh kế của người dân xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh
Bì nh Định" nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác chi trả
dịch vụ môi trường rừng, góp phần quản lý rừng bền vững gắn kết với cải thiện
sinh kế
2 Mục tiêu của đề tài:
(1)- Phân tích được thực trạng thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
(2)- Đánh giá được sự thay đổi các nguồn vốn sinh kế và các hoạt động sinh kế trước và sau khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (3)- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở địa phương
Trang 153 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu làm cơ sở để các cấp, các ngành ở địa phương nhìn
nhận chính xác, khách quan về kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Trên cơ sở đó sẽ thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách chi trả DVMTR, góp phần quản lý rừng bền vững gắn kết với cải thiện sinh kế
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khung khái niệm về Chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến Chi trả dịch vụ môi trường rừng
Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật,
động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị
sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ
và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và
lâm sản khác (Chính phủ Việt Nam, 2010)
Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định về dịch vụ môi trường rừng là hoạt động
cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm các loại dịch vụ sau:
- Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;
- Điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;
- Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh;
- Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch;
- Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước từ rừng
và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng để nuôi trồng thủy sản
* Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng khi đáp ứng các tiêu chí là Rừng (Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc
hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên) và cung ứng một hoặc một số dịch vụ môi trường rừng (Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý
Trang 17rừng bền vững, tăng trưởng xanh; Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch; Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước từ rừng và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng để nuôi trồng thủy sản);
- Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng;
- Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bằng tiền thông qua hình thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp;
- Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là một yếu tố trong giá thành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng;
- Bảo đảm công khai, dân chủ, khách quan, công bằng; phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
* Đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bao gồm:
- Chủ rừng (Ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ; Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ (Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất); Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao rừng (sau đây gọi là đơn vị vũ trang); Tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp; Hộ gia đình, cá nhân trong nước; Cộng đồng dân cư; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất;
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có hợp đồng nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng là tổ chức do Nhà nước thành lập;
- Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật
* Đối tượng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng được quy định như sau:
- Cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện;
Trang 18- Cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch;
- Cơ sở sản xuất công nghiệp phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất công nghiệp;
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng;
- Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn phải chi trả tiền dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng;
- Cơ sở nuôi trồng thủy sản phải chi trả tiền dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng cho nuôi trồng thủy sản;
- Các đối tượng khác theo quy định của pháp luật
* Hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng được quy định như sau:
- Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng;
- Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng;
- Nhà nước khuyến khích áp dụng chi trả trực tiếp cho tất cả các trường hợp nếu bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng tự thỏa thuận trên cơ
sở mức tiền chi trả dịch vụ do Chính phủ quy định
* Quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng được thực hiện như sau:
- Xác định tổng số tiền thu được từ dịch vụ môi trường rừng;
- Xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Xác định đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Xác định hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Lập kế hoạch thu, chi dịch vụ môi trường rừng;
- Xác định trường hợp được miễn, giảm nộp tiền dịch vụ môi trường rừng;
- Tổ chức chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Kiểm tra, giám sát quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng
Trang 19* Chính phủ quy định chi tiết đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả dịch
vụ môi trường rừng và điều chỉnh, miễn, giảm mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng
1.1.2 Một số khái niệm về sinh kế:
- Sinh kế bao gồm năng lực và tài sản/nguồn vốn (các nguồn lực vật chất và
nguồn lực xã hội), và các hoạt động cần thiết cho các phương tiện sinh sống Một sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi từ những sức ép, các cú sốc và duy trì hoặc tăng cường được năng lực và tài sản của mình cả trong hiện
tại và trong tương lai, trong khi không hủy hoại cơ sở tài nguyên thiên nhiên
(Chambers and Conway, 1992)
- Nguồn vốn sinh kế bao gồm: nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn xã hội,
nguồn vốn con người, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn tài chính Vì vậy, sinh kế phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, và được xem như một hệ thống nơi mà sự thay đổi một yếu tố dẫn đến thay đổi một yếu tố khác (Diana, 1998; DFID, 2001)
- Nguồn vốn tự nhiên: kho tài nguyên thiên nhiên mà các dòng chảy hữu
ích cho đời sống bắt nguồn từ đó (đất, rừng, nước…)
- Nguồn vốn xã hội: các nguồn lực xã hội (mạng lưới xã hội, thành viên của
các nhóm, các mối quan hệ ) mà mọi người có được cho kế sinh nhai của mình
- Nguồn vốn con người: những kỹ năng, kiến thức, năng lực, lao động, sức
khỏe… là những yếu tố quan trọng đối với khả năng thực hiện các chiến lược sinh kế khác nhau
- Nguồn vốn vật chất: cơ sở hạ tầng (giao thông, nhà ở, nước, năng lượng,
và truyền thông) và các thiết bị sản xuất
- Nguồn vốn tài chính: các nguồn tài chính (tiền mặt/trợ cấp, tiền gửi ngân
hàng, vật nuôi, đồ kim hoàn, và khả năng tiếp cận tín dụng) có sẵn cho mọi người và cung cấp cho họ với những lựa chọn sinh kế khác nhau
Hoạt động sinh kế có thể được chia thành hai loại chính: loại thứ nhất là các hoạt động dựa trên tài nguyên thiên nhiên (phi nông nghiệp, nông nghiệp), chẳng hạn như thay đổi hệ thống canh tác và thay đổi tiếp cận với đất và các sản phẩm rừng; và loại thứ hai là dựa trên nguồn tài nguyên phi tự nhiên như lao động làm thuê và dịch vụ (Ellis, 1998)
Trang 201.2 Cơ sở pháp lý chính sách chi trả dịch vụ môi trường
Căn cứ theo hệ thống pháp luật hiện hành, Pháp lệnh số 38/2001/PL- UBTVQH 10 ngày 28/08/2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về phí và lệ phí
có quy định về việc thu phí đối với 12 lĩnh vực Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đã có các quy định về phí thuỷ lợi, phí kiểm dịch động, thực vật, phí kiểm tra vệ sinh thú y, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản…Riêng trong lĩnh vực môi trường có phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải, chất thải rắn, tiếng ồn, khai thác tài nguyên Như vậy, Pháp luật Việt Nam đã có sự quan tâm đúng đắn đến vấn đề bảo vệ môi trường, tạo cơ sở tiền đề cho việc bổ sung, xây dựng các chính sách mới, đáp ứng được xu hướng phát triển chung của đất nước và thế giới Một số văn bản pháp luật sau đây đã đề cập trực tiếp đến chi trả DVMTR
Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ- TTg ngày 10/04/2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng Sau 2 năm thí điểm bằng các dự án hỗ trợ của USAID/Winrock International và GIZ, dựa trên những thành công bước đầu, Chính phủ đã ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 về Chính sách chi trả DVMTR để áp dụng cơ chế này trên toàn quốc; và hiện nay thay thế quy định Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp Một loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn cũng được nhà nước xây dựng và ban hành nhằm đảm bảo Chính sách chi trả DVMTR có thể nhanh chóng triển khai thực hiện một cách thống nhất trong thực tế tại các địa phương như sau:
a) Các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Quy định về tổ chức, quản lý: Luật Lâm nghiệp năm 2017; Nghị định 118/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp;
- Quy định về chi trả: Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp
Quy định về xử lý vi phạm:
Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ, quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp
Trang 21b) Các chính sách được lồng ghép thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng;
- Thông tư số 13/2019/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về trồng rừng thay thế khi chuyên mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác;
- Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý rừng bền vững;
- Quyết định 57/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch BVPTR giai đoạn 2011-2020;
- Quyết định 07/2012/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
- Quyết định 24/2012/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020
1.3 Cơ sở thực tiễn
a) Chính sách, chương trình chi trả dịch vụ môi trường trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu và triển khai dự án chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được chú ý từ những năm 90 của thế kỷ 20 Rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành, điển hình như nghiên cứu của Trường Đại học California, nhằm xác định khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng, chi trả cho ai và mức chi trả là bao nhiêu Các nghiên cứu đã tính toán ra giá trị của rừng trong việc bảo vệ đất, nước, không khí, đa dạng sinh học làm cơ sở đưa ra mức chi trả của
xã hội đối với dịch vụ môi trường rừng Đây là cơ sở, tiền đề cho các nước đi sau như Việt Nam, tham khảo và kế thừa để áp dụng vào thực tiễn bảo vệ môi trường, cụ thể là cho môi trường rừng Thực tế cho thấy, chi trả DVMTR đã được áp dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới như:
Châu Mỹ
Hoa Kỳ là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mô hình chi trả DVMTR sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thực hiện Chương trình duy trì bảo tồn năm 1985, đã chi trả cho nông dân để trồng thảm thực vật lưu niên trên đất trồng nhạy cảm về môi trường Hiện nay, cơ chế
Trang 22chi trả DVMTR được áp dụng thành công và hiệu quả, tạo ra cơ chế quản lý bền vững các tài nguyên thiên nhiên
Ở Hawaii, việc bảo vệ rừng đầu nguồn để duy trì nguồn nước mặt và nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt và tạo điều kiện cho phát triển du lịch, nông nghiệp và các ngành nghề khác Hawaii đã áp dụng chính sách mua lại đất hoặc nhượng quyền bảo tồn Như vậy, vấn đề chi trả DVMTR ở Hawaii được bắt đầu
từ việc quy hoạch sử dụng đất và bảo tồn hệ sinh thái Đồng thời, tiến hành nhiều dự án, chương trình hỗ trợ các chủ đất sản xuất nông lâm nghiệp bền vững
và tiến hành các hoạt động sản xuất khác để bảo đảm cuộc sống
Châu Á
Các chương trình chi trả DVMTR đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện để thành lập cơ chế chi trả DVMTR Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về chi trả DVMTR đối với quản lý lưu vực đầu nguồn
Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nông - Lâm Thế giới (ICRAF) đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái niệm chi trả DVMTR bằng chương trình chi trả dịch vụ môi trường cho người nghèo vùng cao (RUPES) ở châu Á RUCHI Trả DVMTR đang tích cực thực hiện các chương trình thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal
Châu Âu
Ở Pháp, Công ty nước đóng chai Perrier Vittel từ năm 1993 đã cung cấp tài chính cho nông dân ở vùng đầu nguồn và vùng lọc nước để xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp và chuyển đổi sang hoạt động nông nghiệp hữu cơ (5.100 ha)
Chính phủ Đức đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho các chủ đất
tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng cường hoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái Những dự án này bao gồm trợ cấp cho sản xuất cà phê và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo tồn đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nước Mỹ Latinh, gồm Honduras, Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hòa Dominica
b) Một số công trình về chính sách chi trả dịch vụ môi trường ở Việt Nam
Trang 23Ở Việt Nam đã tổ chức thực hiện một số chương trình, dự án liên quan về
chi trả dịch vụ môi trường rừng sau đây:
(1) Các chương trình quốc gia Thực tế, các chương trình trọng điểm
quốc gia nhằm phục hồi tài nguyên rừng ở Việt Nam là Chương trình 661 (Chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng) do Chính phủ cấp kinh phí, đã có các nội dung cơ bản liên quan tới các hoạt động của chi trả DVMTR
Kế tiếp là sự ra đời Quyết định số 380/2008/QĐ-TTg ngày 10/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả DVMTR rừng, theo đó, chi trả DVMTR đã được triển khai thí điểm tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Sơn La với các loại dịch vụ: điều tiết nguồn nước; hạn chế xói mòn, bồi lấp và cảnh quan du lịch
(2) Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á (ARBCP)
Đánh giá tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm chi trả DVMTR ở tỉnh Lâm Đồng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức Winrock International tổ chức thực hiện từ năm 2006-2009 Chương trình được tài trợ bởi
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)
Mục tiêu chung của Chương trình là xây dựng và thực hiện Chính sách thí điểm về chi trả dịch vụ môi trường rừng, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì và hợp tác với các tỉnh Lâm Đồng và Sơn La thực hiện Chính sách thí điểm này và tổng kết rút kinh nghiệm vào năm 2010
Các mô hình về chi trả DVMTR đã được tổ chức thực hiện từ năm 2006–2009 trong các chương trình do Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với tổ chức Winrock International, chương trình môi trường trọng điểm và sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) tài trợ từ năm 2006–2010 Các tỉnh được chọn thực hiện thí điểm gồm có Sơn La, Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận
(3) Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn Hồ Trị An,
Dự án thực hiện trong 2 năm do Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch (DANIDA) tài trợ, Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) tổ chức thực hiện
Dự án đã nỗ lực xây dựng cơ chế chi trả giữa các công ty cung cấp nước sạch và nhóm đối tượng gây ô nhiễm thượng nguồn Bước đầu tiến hành phân tích thuỷ văn và tình trạng ô nhiễm chung Bước này nhằm xác định
Trang 24nguyên nhân gây ô nhiễm và chi phí của các nhà máy cung cấp nước sạch Khi đã xác định được các mối liên kết này, dự án đã phối hợp với các đối tượng gây ô nhiễm để cải thiện hoạt động sản xuất tại các đơn vị này đồng thời xây dựng cơ chế chi trả và quỹ đóng góp từ người hưởng lợi
(4) Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ cacbon trong lâm nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Dự án thí điểm trồng 350
ha rừng keo với 300 hộ tham gia Nguồn tài chính bền vững của dự án bao gồm nguồn thu bán lâm sản và thương mại tín chỉ cacbon cho thị trường quốc tế Dự
án này do Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường Rừng (RCFEE) - Viện Khoa học Lâm nghiệp tổ chức thực hiện
Lợi ích của dự án không chỉ gồm lâm sản như gỗ và củi đốt như các dự án trồng rừng thương mại thông thường mà còn gồm các lợi ích từ việc bán tín chỉ cacbon Đây là một sản phẩm môi trường mới và có thể được kinh doanh trên thị trường thế giới thông qua cơ chế phát triển sạch
(6) Tạo nguồn tài chính bền vững để bảo vệ cảnh quan Vườn quốc gia Bạch Mã do WWF đề xuất và tổ chức thực hiện: Công ty nước Bạch Mã bắt đầu
khai thác nước từ năm 2005 Tiền thu được từ Công ty này là tiềm năng đóng góp cho vườn Quốc Gia Mỗi mét khối nước sạch nên được đánh một khoản thuế gọi là phí môi trường được sử dụng để bảo vệ vùng đầu nguồn Nếu Công
ty nước trích 35% giá trị thu được từ việc bán nước sạch thì Ban quản lý vườn sẽ
có 183.600.000đ hay 15% doanh thu Công ty nước có thể thu phí và chuyển khoản tiền này trực tiếp cho những người sử dụng đất vùng đầu nguồn Khoản phí này phải được miễn thuế
1.4 Tổng quan về sinh kế
1.4.1 Khái niệm sinh kế
Sinh kế bao gồm năng lực và tài sản/nguồn vốn (các nguồn lực vật chất và
nguồn lực xã hội), và các hoạt động cần thiết cho các phương tiện sinh sống Một sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi từ những sức ép, các cú sốc và duy trì hoặc tăng cường được năng lực và tài sản của mình cả trong hiện
tại và trong tương lai, trong khi không hủy hoại cơ sở tài nguyên thiên nhiên
(Chambers and Conway, 1992)
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn nguồn vốn của nó trong hiện tại và tương lai khi không làm
Trang 25suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (R.Chamber, 1989; T.Reardon và J.E.Taylor, 1996)
1.4.2 Khung sinh kế bền vững
Theo DFID khung sinh kế bền vững là một công cụ trực quan hóa được DFID xây dựng nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế Mục đích của nó là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh kế, nhất là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hay những yếu tố tạo cơ hội
Khung sinh kế là cách tiếp cận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược đặt con người làm trung tâm trong quá trình phân tích Mặc dù, có rất nhiều tổ chức khác nhau sử dụng khung phân tích sinh kế và mỗi tổ chức thì
có mức độ vận dụng khác nhau nhất định, nhưng khung phân tích sinh kế có những thành phần cơ bản giống nhau sau:
Hì nh 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững
Nguồn: DFID 2003
Đã và đang có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng tới các mục tiêu phát triển sinh kế của người dân một cách bền vững và lâu dài Nhưng sinh kế của người dân còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố: xã hội, con người, điều kiện tự nhiên, vật chất,…Vì thế việc đánh giá hiệu quả của các hoạt động sinh kế giúp ta biết được những sinh kế của người dân có phù hợp với
- Ở các cấp khác
nhau của Chính phủ, luật pháp, chí nh sách công, các động lực, các qui tắc
- Chí nh sách và thái độ đối với khu vực tư nhân -Các thiết chếcông dân, chính trị và kinh
tế (thịtrường, văn hoá)
Các chiến lược Sinh kế
- Các tác nhân xã hội (nam, nữ, hộ gia đình, cộng đồng …)
- Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên
- Cơ sở thị trường
- Đa dạng -Sinhtồn hoặc tính bền vững
Các kết quả Sinh kế
- Thu nhập nhiều hơn
- Cuộc sống đầy đủ hơn
- Giảm khả năng tổn thương
- An ninh lương thực được cải thiện
- Công bằng xã hội được cải thiện -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên -Giá trị khôngsử dụng của tự nhiên đượcbảo vệ
Tài sản sinh kế
Tự nhiên
Tài chí nh
Xã hội
Vật chất Con người
Trang 26các điều kiện vùng miền địa phương hay không, đồng thời các sinh kế đó có bền vững, phát triển ổn định và lâu dài được hay không
Với khung sinh kế nó chịu tác động của 5 yếu tố sau: nguồn lực sinh kế, chiến lược sinh kế, kết quả sinh kế, bối cảnh tổn thương, thể chế và chính sách
* Nguồn vốn con người
Nguồn lực con người thể hiện kỹ năng, kiến thức, năng lực lao động, thời gian với sức khỏe tốt và khả năng làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế
Ở mức độ hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có Yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kỹ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe,…Vì thế, nguồn lực con người là một yếu tố quan trọng nhất bởi nó quyết định khả năng của một hộ gia đình sử dụng và quản lý các nguồn lực khác (tự nhiên, tài chính, xã hội, vật chất)
Khi nói tới nguồn lực này của những hộ sống phụ thuộc vào rừng thì khi nghiên cứu cần chú ý đến nhân khẩu, cơ cấu theo giới, số lao động của hộ, trình
độ lao động và trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình,…Xem xét các yếu tố này với các hoạt động sinh kế
Ví dụ về nguồn vốn con người: Mối quan hệ họ hàng, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, khả năng ngôn ngữ, khả năng kinh doanh,…
* Nguồn vốn tài chí nh
Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với công việc sử dụng thành công các nguồn lực khác Nguồn tài chính nghĩa là các nguồn lực tài chính (chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương) mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình Có 2 nguồn tài chính
cơ bản, đó là nguồn vốn sẵn có và nguồn vốn thường xuyên
Trang 27- Nguồn vốn sẵn có bao gồm: tiền tiết kiệm, gửi ngân hàng, vật nuôi,…
- Nguồn vốn thường xuyên: trợ cấp, các khoản tiền trợ cấp nhà nước…
* Nguồn vốn tự nhiên
Là những yếu tố có trong môi trường tự nhiên mà con người có thể sử dụng được như đất đai, tài nguyên rừng, rừng, không khí, nước, đa dạng sinh học…để có thể thực hiện những hoạt động sinh kế Việc quản lý tốt tài nguyên thiên nhiên sẽ giúp cải thiện được nguồn lực tự nhiên cho cộng đồng, chẳng hạn như việc quản lý và bảo vệ tốt nguồn khoáng sản ở địa phương thì giúp việc khai thác và sử dụng nó một cách bền vững, giảm thiểu các tác động tiêu cực của việc khai khoán đến môi trường xung quanh
Muốn đánh giá nguồn vốn tự nhiên thì cần xem xét đến những loại tài nguyên có trong khu vực nghiên cứu; đồng thời, cũng phải chú ý tới mức độ khó,
dễ mà các nhóm xã hội có thể tiếp cận với nguồn tài nguyên đó Ngoài ra, còn xem xét chất lượng của các nguồn tài nguyên và việc chúng thay đổi thế nào theo thời gian Nói chung khi muốn đánh giá nguồn vốn tự nhiên thì ta cần xem xét những vấn đề xung quanh nó để từ đó có thể hiểu được một cách tổng quan nhất về nguồn vốn này
Ví dụ về cơ sở hạ tầng như: đường sá, hệ thống thông tin liên lạc, nhà máy điện, nhà máy nước, trường học,…
Công cụ sản xuất hàng hóa là những công cụ và trang thiết bị mà con người
sử dụng để hoạt động mang lại năng suất cao hơn Các công cụ đó có thể do một
cá nhân hay nhóm sở hữu, cũng có thể mua hoặc thuê
Ví dụ: về công cụ sản xuất như xe tải, dụng cụ lao động trong các nghề, máy phát điện,…
* Nguồn vốn xã hội
Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu
nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối
Trang 28quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực, cơ chế hợp tác sản xuất và thị trường,…Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hòa của họ thông qua sự tương tác giữa các cá nhân
Ví dụ về nguồn vốn xã hội: Tính đoàn hội trong các câu lạc bộ, tổ chức
mà các cá nhân tham gia,…
1.4.2.2 Chiến lược sinh kế
Theo Seppala (1996), Chiến lược sinh kế là cách mà các hộ gia đình sử dụng các nguồn vốn có sẵn để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống
Chiến lược sinh kế được chia ra làm 3 loại
Chiến lược tích lũy: Là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng và
có thể kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích lũy của cải và giàu có
- Chiến lược tái sản xuất: Là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập có thể nhắm tới hoạt động cộng đồng và an ninh xã hội
- Chiến lược tồn tại: Là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không có tích lũy
- Như vậy chiến lược sinh kế được coi như một hợp phần quan trọng trong sinh kế của người dân, nó có mối quan hệ phụ thuộc vào các tài sản sinh
kế của họ Nhờ vào các tài sản sinh kế mà mỗi cá nhân có thể tự chọn cho mình một chiến lược sinh kế phù hợp nhằm tạo ra được nguồn thu nhập đáp ứng các nhu cầu của mỗi cá nhân
1.4.2.3 Kết quả sinh kế
Sau khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện chiến lược sinh kế thì những thành quả, mục tiêu đã đề ra và mong ước mà hộ gia đình đạt được đó chính là kết quả sinh kế Các kết quả này như là: Tăng thu nhập, đời sống được nâng cao, tăng cường an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm khả năng tổn thương, cải thiện phúc lợi Kết quả sinh kế luôn biểu thị trên 3 phương diện kinh tế - xã hội - môi trường, khi ta biết được kết quả sinh kế thì nó là một trong những nguồn động lực giúp mỗi cá nhân, nông hộ ưu tiên thực hiện những công việc nào trước để giúp họ đạt được kết quả sinh kế một cách thuận lợi
Trang 29Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi, đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tiến trình và kết quả thực hiện chính sách chi trả DVMTR
- Sự ảnh hưởng về kinh tế, xã hội và môi trường của chính sách chi trả DVMTR đến đời sông người dân địa phương
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu - xã Vĩnh Sơn
- Kết quả chi trả dịch vụ môi trường rừng của tỉnh Bình Định
- Kết quả chi trả dịch vụ môi trường rừng tại thôn K2 và thôn K4, xã Vĩnh Sơn
- Ảnh hưởng của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến nguồn vốn sinh kế (nguồn vốn tự nhiên, xã hội, con người, vật chất và tài chính)
- Ảnh hưởng của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến hoạt động sinh kế (hoạt động dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và hoạt động không dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên)
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở địa phương
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập được dữ liệu cho nghiên cứu này, chúng tôi đã kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như thu thập số liệu thứ cấp, thảo luận nhóm kết hợp với phỏng vấn sâu và điều tra hộ gia đình
Trang 302.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Từ khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR, BQLRPH Vĩnh Thạnh đã tiến hành khoán QLBRV cho người dân đại phương ở 7 xã trên địa bàn huyện, tuy nhiên, diện tích khoán chủ yếu tập trung ở xã Vĩnh Sơn (3.515,79 ha; 275 hộ nhận khoán) Nên đề tài chọn xã Vĩnh Sơn làm địa bàn nghiên cứu, trong đó thôn K2 (2.805,07 ha; 230 hộ nhận khoán) và thôn K4 (410,8 ha; 28 hộ nhận khoán) làm điểm nghiên cứu
2.3.2 Thu thập số liệu thứ cấp
- Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các cơ quan liên quan: BQLRPH Vĩnh Thạnh, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bình Định, Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, và UBND các xã…;
- Các thông tin cần thu thập: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu, kết quả chi trả DVMTR, và các chính sách khác có liên quan
2.3.3 Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua sử dụng các công cụ sau:
Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm được tiến hành để phân tích các vấn đề liên quan đến đóng góp của chính sách chi trả DVMTR đến đời sống của người dân thông qua 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường Kết quả thảo luận nhóm cũng là cơ sở cho việc phát triển bộ câu hỏi điều tra hộ gia đình Ở mỗi thôn sẽ được tiến hành
2 cuộc thảo luận nhóm: 1 nhóm đại diện cho các hộ nhận khoán và 1 nhóm đại diện cho các hộ không nhận khoán Mỗi nhóm khoảng 8-10 người (bao gồm cả nam và nữ)
Điều tra hộ gia đình
Điều tra hộ gia đình được sử dụng để thu thập các số liệu định lượng liên quan đến các vấn đề nghiên cứu ở cấp độ hộ gia đình Công cụ này được thực hiện thông qua phỏng vấn chủ hộ bằng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi gồm 3 phần chính: (1) thông tin chung của hộ gia đình, (2) đánh giá/nhận thức của hộ gia đình
về ảnh hưởng của chính sách chi trả DVMTR đến kinh tế, xã hộ và môi trường, (3) các kiến nghị/đề xuất Đề tài sẽ tiến hành điều tra ngẫu nhiên 60 hộ gia đình (30
hộ gia đình/thôn, trong đó 5-10 hộ không nhận khoán/thôn)
Trang 31Phỏng vấn sâu
Đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn sâu Lãnh đạo và cán bộ QLBVR của BQLRPH Vĩnh Thạnh, cán bộ Hạt Kiểm lâm, cán bộ UBND xã, Trưởng thôn, Trưởng nhóm hộ nhận khoán…
2.4 Phân tí ch thông tin
- Phương pháp tính điểm cho việc nhận thức của người dân về ảnh hưởng của chính sách chi trả DVMTR đến các nguồn vốn sinh kế, cụ thể như sau:
+ Thang đo định tính được sử dụng để xác định các mức hài lòng Thang
- Mức 3 là mức cao nhất, được ký hiệu bằng RHL (rất hài lòng), có nghĩa
là mức tương tác giữa chính sách đến các tiêu chí là cao nhất
Các tác động ở đây là tác động tích cực, ví dụ: Nếu ở Mức 1 thì có nghĩa
là có tác động tốt lên, nhưng rất ít
Sau khi đã xác định được các mức đo cho các tiêu chí, tác động của chính sách đến năm nguồn vốn sinh kế được tính bằng cách quy ra điểm số tương đương với tối đa là 3 và tối thiểu là 1, có nghĩa là Mức 1 (KHL) = 1 điểm, Mức
số 2 có mức độ là HL, tiêu chí số 3 có mức độ KHL, tiêu chí số 4 có mức độ là
HL và tiêu chí số 5 có mức độ là KHL thì điểm được tính cho nguồn lực con người của một đơn vị nghiên cứu (ở đây đơn vị nghiên cứu là thôn) sẽ là RHL+HL+KHL+HL+KHL chia cho 5 và được quy ra điểm tương đương là (3+2+1+2+1): 5 = 1,6 Vậy mức độ tác động của chính sách chi trả DVMTR đến nguồn lực con người trong Khung sinh kế ở trường hợp này sẽ là mức 1,6 vì 3 là
số điểm tối đa và 1 là số điểm tối giản Tương tự như cách tính trên, ta sẽ tính
Trang 32được các số điểm của các nguồn lực còn lại Để so sánh sự tác động của PFS lên năm nguồn lực sinh kế ta sẽ so sánh 5 mức điểm trung bình cộng của năm nguồn lực, ta sẽ biết được nguồn lực nào được tác động nhiều nhất và nguồn lực nào được tác động ít nhất theo mức độ so sánh sau:
Điểm trung bình: 1 đến 1,5 : ít ảnh hưởng
> 1,5 đến 2,5: ảnh hưởng vừa phải
> 2.5 đến 3 : ảnh hưởng nhiều
Phân tích các bên liên quan, phân tích SWOT
Các thông tin thu thập được xử lý theo từng chủ đề trên nội dung nghiên cứu và mối quan hệ giữa các chủ đề
Các sơ đồ, bảng biểu sẽ được sử dụng để minh họa thêm cho kết quả nghiên cứu
Trang 33CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình cơ bản của xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Vĩnh Sơn là xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, cách trung tâm huyện lỵ Vĩnh Thạnh 40 km về phía Bắc, cách thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Bình Định khoảng 110 km về phía Tây Bắc, phía Bắc giáp xã An Toàn, huyện An Lão, tỉnh Bình Định, phía Đông giáp xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, Phía Nam giáp xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, có đường tỉnh lộ ĐT
637 là trục giao thông nối với các địa phương khác trong huyện với Quốc lộ 19, đây là điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương khác trong huyện, tỉnh
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN VĨNH THẠNH
Hì nh 3.1 Sơ đồ địa giới hành chí nh huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Trang 343.1.1.2 Địa hì nh
Xã Vĩnh Sơn có diện tích tự nhiên lớn với 16.865,57 ha, chiếm 24,4% diện
tích tự nhiên của huyện, địa hình khá đa dạng và phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều sông suối Có nhiều đồi núi dốc, độ cao trung bình từ 750-800m so với mực nước biển, đỉnh cao nhất 1.019 m
3.1.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng
* Vĩnh Sơn có tổng diện tích tự nhiên của xã: 16.865,58 ha cơ cấu các loại đất như sau:
- Đất nông nghiệp: 15.962,03 ha, chiếm 94,64 % diện tích tự nhiên;
- Đất phi nông nghiệp: 899,86 ha, chiếm 5,34 % diện tích tự nhiên;
- Đất chưa sử dụng: 3,69 ha, chiếm 0,02 % diện tích tự nhiên
Đất của xã Vĩnh Sơn tuy rất đa dạng và phù hợp với nhiều loại cây trồng nhưng nó lại không tập trung, với sự phân bố không đồng đều đó gây khó khăn cho quá trình canh tác với quy mô tập trung Ngoài ra, người dân canh tác đất không hợp lý cũng làm cho đất bị thoái hóa đi và giảm độ phì
Hì nh 3.2 Cơ cấu các loại đất trên địa bàn xã Vĩnh Sơn
3.1.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
Vĩnh Sơn là xã đặc trưng nhất của huyện Vĩnh Thạnh được giao thoa bởi khí hậu thời tiết giữa hai vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, tạo cho xã Vĩnh Sơn có thời tiết ôn hòa, khí hậu mát mẻ quan năm, với nhiều loài cây phong phú có đồi Cam Nguyễn Huệ là căn cứ địa của nghĩa quân Tây Sơn
Trang 35đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, thành Tờ Kơn, có hồ A Vĩnh Sơn Đặc biệt, ở địa phương có các lễ hội truyền thống mang đậm nét bản sắc dân tộc BaNa Tất cả những tiềm năng trên có quan
hệ tương hỗ, tạo cho Vĩnh Sơn có một dáng vẻ riêng, có điều kiện để phát triển
du lịch sinh thái, văn hóa và nghỉ dưỡng trong thời gian đến
Vĩnh Sơn nằm phía Bắc huyện Vĩnh Thạnh.Toàn xã được chia làm 6 thôn,
có tọa độ địa lý như sau:
thành 6 thôn (Thôn K2, K3, K4, K8, Suối Đá và Suối Cát) Đời sống của bà con
còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên nền nông nghiệp xã vẫn còn phân tán, manh mún, nhỏ lẻ mang tính chất tự cấp, tự túc, một số mặt hàng nông sản chính thường xuyên bị ép giá do giao thông đi lại cách trở Ngành nghề và dịnh vụ nông thôn chậm phát triển, cơ cấu hạ tầng phục
vụ phát triển sản xuất và đời sống cho nhân dân chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương, thu nhập bình quân đầu người còn thấp Toàn xã có 468 hộ
nghèo, chiếm 52,23% (dân tộc thiểu số 463 hộ, chiếm 98,93%); hộ cận nghèo:
81 hộ, chiếm 9,04% (dân tộc thiểu số 28 hộ, chiếm 34,57%)
3.1.2.2 Kinh tế
1 Trồng trọt:
Trồng trọt: Tổng diện tích cây lúa thực hiện 312 ha, giảm 1,42% so với cùng
kỳ Trong đó: diện tích lúa vụ Đông Xuân 69 ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 4,54%
so với cùng kỳ, năng suất 45 tạ/ha, sản lượng 310,5 tấn, vụ Hè Thu 174 ha, tăng 12,98% so với cùng kỳ, năng suất 45 tạ/ha, sản lượng 783 tấn; diện tích lúa rẫy
62 ha, năng suất ước thực hiện 23,5 tạ/ha, sản lượng 145,7 tấn Vụ Mùa 7 ha, giảm 79,71% so với cùng kỳ, năng suất ước đạt 45 tạ/ha, sản lượng 31,5 tấn Một
số cây trồng cạn như: mỳ 395 ha, giảm 25,47% so cùng kỳ, năng suất ước đạt 250 tạ/ha, sản lượng 9.875 tấn, cây Ngô thực hiện 10 ha, đạt 100% kế hoạch, năng suất
35 tạ/ha, sản lượng 35 tấn; đậu các loại 12 ha, đạt 100% kế hoạch; cà phê 15 ha,
Trang 36giảm 62,5% so cùng kỳ; Bời lời 374 ha; keo 367 ha, giảm 3,42%; cao su 40 ha, giảm 26,6%; măng tre, điền trúc 05 ha, đạt 100% kế hoạch; chanh dây 10 ha, tăng 50%; Mắc ca 6,7 ha; rau an toàn 4,2 ha, tăng 3,38 ha so cùng kỳ
2 Về Chăn nuôi-Thú y:
Chăn nuôi: Tổng đàn trâu, bò 1.943 con, tăng 9,58% so với cùng kỳ, trong
đó: trâu 649 con, giảm 12,29% so với cùng kỳ; tổng đàn bò 1.294 con, tăng 25,26% so với cùng kỳ; tổng đàn heo 1.613 con, giảm 16,72% so với cùng kỳ; tổng đàn gia cầm 8.177 con, tăng 33,43% so với cùng kỳ; dê 313 con Kết quả công tác tiêm phòng như sau: Đợt I: tiêm phòng vacxin lở mồm long móng trâu
bò 1.702 con, đạt 87,59%; Lở mồm long móng heo giống 69/91con, đạt 75,82% Đợt II: lở mồm long móng trâu bò 1730/1943 con, đạt 89,03%; lở mồm long móng heo giống: 70/91 con, đạt 76,92%, tụ huyết trùng trâu bò 1683/1953 con, đạt 86,66% Phun thuốc sát trùng tiêu độc chuồng trại 6/6 thôn với 48 lít thuốc sát trùng bencocid trên diện tích là 96.000 m2, rải 1.500 kg vôi/6 thôn Đã kiện toàn Ban Chỉ đạo, tổ phản ứng nhanh, xây dựng các kế hoạch phòng chống dịch
tả heo Châu Phi
* Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm: Được chỉ đạo tăng cường đẩy
mạnh, hạn chế tối đa khả năng bùng phát dịch bệnh trên địa bàn Ban chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm xã triển khai các biện phát phòng ngừa như phun thuốc khử trùng, lập các chốt chặn ở các tuyến đường liên xã không cho vận chuyển gia súc, gia cầm từ địa phương khác vào…; Tổ chức các đợt kiểm tra, xử lý việc mua bán, vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm bị bệnh trên địa bàn xã Nhờ đó mà không có dịch xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm xảy ra trên địa bàn
* Thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 3 ha, đạt 100% kế hoạch
mô hình nuôi cá Tầm, diện tích thả nuôi 4.320m2 tiếp tục được duy trì
3 Lâm nghiệp
Lâm nghiệp: Công tác chuẩn bị các điều kiện trồng rừng năm 2019 được triển
khai theo kế hoạch Việc giao khoán chăm sóc, quản lý bảo vệ 7.979,5 ha rừng tiếp tục được duy trì Ngay từ đầu năm, UBND xã đã kiện toàn Ban chỉ huy các vấn
đề cấp bách trong bảo vệ rừng, các tổ, đội xung kích trong quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tại các thôn; xây dựng các kế hoạch tuyên truyền, phổ biến giáo dục về lâm nghiệp, các kế hoạch tuần tra, kiểm tra, kiểm soát lâm sản, tuần tra, truy quét, rà soát giữa rừng và nương rẫy cũ, nhổ bỏ cây trồng trên
Trang 37diện tích vi phạm Tổ chức tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng 17 đợt với 1.178 lượt người, bên cạnh đó, hàng tuần phối hợp với Đài truyền thanh xã phát thanh từ 1 đến 2 lần về công tác quản lý bảo vệ rừng; ký cam kết bảo vệ rừng 680 bản; mời các xưởng mộc dân dụng, các xe độ chế tổ chức tuyên truyền Luật lâm nghiệp và cho làm cam kết không vi phạm Phối hợp các lực lượng tổ chức tuần tra, kiểm tra, truy quét 82 đợt phá hủy 01 láng trại Công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát lâm sản 32 đợt, phát hiện 01 vụ, lập hồ sơ xử lý chuyển về Hạt Kiểm lâm huyện, khối lượng 1,239 m3 gỗ các loại,
03 xe mô tô, 03 máy cưa xăng; phá rừng trái pháp luật không xảy ra Tất cả các
vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp được xử lý kịp thời, đúng quy định pháp luật
3.1.2.3 Văn hóa xã hội
* Văn hoá, thông tin - thể thao và truyền thanh
Các hoạt động văn hóa thông tin truyền thanh tiếp tục được tăng cường Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao mừng Đảng mừng Xuân
2019 với nhiều loại hình phong phú, tạo không khí phấn khởi, thi đua lao động sản xuất trong nhân dân Tham gia các hoạt động kỷ niệm 60 năm ngày khởi nghĩa Vĩnh Thạnh Tổ chức thành công ngày hội văn hóa cồng chiêng xã Vĩnh Sơn lần thứ I, năm 2019, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, thắm thiết tình đoàn kết, đậm đà bản sắc dân tộc
Đài truyền thanh xã: Tổ chức tiếp, phát sóng, tập trung tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và phản ánh thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và những hoạt động văn hóa, văn nghệ
* Giáo dục và Đào tạo
Nhìn chung chất lượng giáo dục được nâng lên, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học từng bước được trang bị đầy đủ hơn Tuy nhiên, trong năm học 2018-2019 số học sinh trung học cơ sở bỏ học giữa chừng là 02 em, chiếm 1,3%, bằng so với cùng kỳ
Kết quả tổng kết năm học, đối với bậc tiểu học: công nhận hoàn thành chương trình tiểu học đạt 96,33%; bậc trung học cơ sở: Giỏi 15 em chiếm 10%; khá 30 em chiếm 20%; trung bình 93 em, chiếm 62%; yếu 10 em chiếm 6,67%; kém 2 em, chiếm 1,29%
Trang 38Tổ chức tốt lễ khai giảng năm học 2019-2020, kết quả có 742 học sinh đến trường, tăng 7,07 % so với cùng kỳ (trong đó: mẫu giáo 184 cháu; tiểu học
392 em; trung học cơ sở 166 em, trong đó có 06 học sinh bỏ học)
Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, thường xuyên tuyên truyền vận động chị em trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai đạt kết quả tốt, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 Hướng dẫn và làm thủ tục xin hỗ trợ kinh phí cho 13 phụ nữ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số theo Nghị định số 39/2015/NĐ-CP, tổng kinh phí 26.000.000 đồng Các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tiếp tục thực hiện như: Cân trẻ dưới 05 tuổi: 377 trẻ; uống thuốc vitamin A: 354/369 trẻ, đạt 95,9 %; số trẻ suy dinh dưỡng 60/377 trẻ, tỷ lệ 15,9%; thấp còi 109/377 trẻ, tỷ
lệ 28,9% Công tác xây dựng quỹ bảo trợ trẻ em được xã quan tâm thực hiện Thực hiện tiêm vacxin định kỳ đầy đủ, cụ thể: Tiêm lao (CBCG): 44 trẻ đạt 97%, tiêm SII(DPT-VGB-HiB): 58 trẻ, uống OPV: 68 trẻ, tiêm IPV: 63, tiêm sởi 1: 32, tiêm sởi-Rubella: 72, tiêm DPT: 51, tiêm não: 58, phụ nữ có thai: 46
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng và tài chí nh
* Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng
Tập trung chỉ đạo công tác giải ngân các nguồn vốn thanh toán khối lượng hoàn thành các công trình theo kế hoạch vốn được giao năm 2019, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đẩy nhanh tiến độ các công trình xây dựng mới cấp bách Một số công trình xây dựng mới đang triển khai lập hồ sơ, thủ tục theo quy định Công tác chuẩn bị đầu tư năm 2019 cũng được tổ chức thực hiện theo đúng quy trình
Trang 39Tổng kế hoạch vốn đầu tư phát triển là 3.675,290 triệu đồng Tổng nguồn
vốn thực hiện đầu tư phát triển do xã tiếp nhận quản lý (ước thực hiện đến
31/12/2019) là 4.322,486 triệu đồng, đạt 117,61% kế hoạch, tăng 150,78% so
với năm 2018
* Về thương mại - dịch vụ, tài chí nh
Công tác quản lý thị trường được chú trọng, các ban, ngành có liên quan đã tăng cường kiểm tra các tổ chức, cá nhân và hộ kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2019 như lương thực, thực phẩm, thuốc lá, rượu bia, nước giải khát, sữa tiêu dùng…
- Tổng chi ngân sách xã: 6.349,505 triệu đồng đạt 111,65% kế hoạch;
- Tổng thu ngân sách xã: 6.480,678 triệu đồng, đạt 103,99% so với kế hoạch, trong đó thu địa bàn 34,2 triệu đồng
* Thực hiện các chí nh sách xã hội, chăm sóc người có công
Công tác chính sách xã hội và chăm sóc người có công: Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm triển khai thực hiện, đã tiếp nhận và phân bổ kịp thời
8000 kg gạo cho các thôn cứu trợ đỏ lửa trong dịp Tết Nguyên đán 2019; tiếp nhận và phân bổ 649 suất quà với tổng trị giá 237,5 triệu đồng Công tác chăm sóc người có công với nước được chú trọng, đã tiếp nhận, chuyển đúng đối tượng
143 suất quà của Chủ tịch nước tặng người có công với nước, số tiền 28,8 triệu đồng, chi trả thường xuyên 159 đối tượng người có công, thương, bệnh binh, anh hùng lực lượng vũ trang Tặng 10 suất quà nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi (1/6), tặng 30 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhân dịp Tết Trung thu Phối hợp với Ban Chỉ huy quân sự tỉnh tặng 50 suất quà và khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho đối tượng người có công cách mạng, gia đình chính sách, hộ nghèo Năm 2019, toàn xã có 468
hộ nghèo, với 1.870 nhân khẩu nghèo, chiếm 52,23%, giảm 5,59 % so với cùng kỳ; cận nghèo 81hộ, với 328 nhân khẩu, chiếm 9,04%, giảm 1,27% so với cùng kỳ Thẻ bảo hiểm: 3.102 thẻ, trong đó, bảo hiểm người có công 134 thẻ, chất độc hóa học
26 thẻ; trẻ em dưới 6 tuổi 55 thẻ, dân tộc thiểu số 847 thẻ, hộ nghèo 1.571 thẻ, bảo trợ xã hội 01 thẻ, đặc biệt khó khăn 245 thẻ, cao tuổi 222 thẻ
Đánh giá chung
Với lợi thế là xã có nguồn tài nguyên rừng, đất phong phú, nằm trong diện được thụ hưởng từ nhiều Chương trình, chính sách cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện, các ngành của huyện, trực tiếp là tổ cấp ủy phụ
Trang 40trách địa bàn; sự đoàn kết nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong xã; sự quan tâm đầu tư nhiều chương trình dự án của TW, của Tỉnh, của huyện, đặc biệt chương Chương trình 30a, CT 135 đã kịp thời tạo thuận lợi để Đảng bộ và nhân dân trong xã vượt qua khó khăn, khắc phục hạn chế, yếu kém thực hiện có hiệu quả
mục tiêu, các chỉ tiêu trên các lĩnh vực công tác
Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng kinh tế của xã vẫn còn những hạn chế nhất định:
* Về lĩnh vực kinh kế:
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chưa tạo được vùng chuyên canh, chưa tạo ra nhiều sản phẩm mang tính hàng hóa; tập quán sản xuất của các hộ còn lạc hậu đã làm hạn chế nhiều đến tăng năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi; chưa chủ động nắm bắt và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi mang tính nhỏ lẻ và chủ yếu chăn nuôi theo tập quán thả rông, nhân dân chưa tận dụng được sản phẩm từ nông nghiệp vào trong chăn nuôi; mô hình kinh tế VACR chưa triển khai nhân rộng
Thương mại dịch vụ chưa phát triển, mua bán trao đổi hàng hóa còn nhỏ; chưa có chợ, chưa hình thành điểm dịch vụ đáng kể nào để phục vụ sản suất và đời sống nhân dân
Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng nhưng chưa theo kịp yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở địa phương; công tác duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp để kéo dài tuổi thọ các công trình đã đầu tư tại xã chậm thực hiện, do chưa kịp thời nguồn vốn làm cho hiệu quả sử dụng của các công trình thấp
* Về lĩnh vực văn hóa – xã hội:
- Chưa có giải pháp về đào tạo nghề, về giải quyết việc làm, về xuất khẩu
lao động nên hiệu quả thấp;
- Công tác chỉ đạo; tuyên truyền vận động thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình hiệu quả thấp, nhất là tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên còn cao, nhiều hộ dân, kể cả một số đảng viên vi phạm chính sách này;
- Tỷ lệ học sinh chuyển cấp từ THCS lên THPT còn thấp; chất lượng phổ cập giáo dục có mặt còn hạn chế, cở sở hạ tầng, trang thiết bị dạy học đầu tư cho giáo dục còn thiếu;
Chính vì những khó khăn trên mà sinh kế của họ cũng không được đa dạng Sinh kế của người dân còn lệ thuộc vào rừng còn rất nhiều Do đó, việc