1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng, tiềm năng và đề xuất định hướng phát riển du lịch sinh thái khu vực thủy điện sông tranh, huyện bắc tà my

86 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bao quanh hồ là những dãy núi sừng sững, với những thác nước lớn và những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, Hồ thủy điện sông tranh được xem là một tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi

Các số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng

Kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Huế, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Đoàn Ngọc Hoài

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các quý thầy cô Khoa Lâm nghiệp, trường đại học Nông Lâm Huế những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Mạnh Đạt đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn có giai đoạn không được thuận lợi nhưng những gì Thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các trưởng thôn và các hộ gia đình tại các thôn xã Trà Tân, xã Trà Bui, Trà Đốc đã tận tình cung cấp thông tin, giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, phỏng vấn

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ Phòng văn hóa - thông tin huyện Bắc Trà My đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập, điều tra số liệu và các thông tin của luận văn

Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình tôi đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Do thời gian, điều kiện và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn có nhiều thiếu sót rất mong nhận được ý kiến góp ý của quý thầy, cô và các anh chị học viên

Tôi xin chân thành cảm ơn

Huế, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Đoàn Ngọc Hoài

Trang 3

TÓM TẮT

Bắc Trà My là huyện vùng núi cao của tỉnh Quảng Nam, từ lâu được mệnh danh

là vùng đất “cao sơn ngọc quế” với núi non hùng vĩ, phong cảnh thiên nhiên hoang sơ; nội bật gần đây, với sự giao thoa cảnh quan kiến trúc hiện đại và thiên nhiên núi rừng tạo nên bức tranh “Sơn Thủy hữu tình”, sự hòa hợp giữa công trình Thủy điện Sông tranh xây dựng trên thượng nguồn với diện tích lưu vực rộng tới 1.100km2 mực nước dâng bình thường là 21,52 km2 , hình thành nên lòng hồ thủy điện giữa khung cảnh núi rừng thiên nhiên Hiện nay trên lòng hồ tổ chức đã nuôi trồng được gần 100 lồng bè cá các loại, đây là thế mạnh để lồng ghép phát triển du lịch lòng hồ Bao quanh hồ là những dãy núi sừng sững, với những thác nước lớn và những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, Hồ thủy điện sông tranh được xem là một tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái, tuy nhiên Việc phát triển du lịch trên địa bàn huyện Bắc Trà My tuy được quan tâm nhưng chưa có sự đầu tư đúng mức và chưa có các định hướng, mục tiêu rõ rệt Chính vì thế, việc khai thác du lịch còn mang tính manh mún và mới chỉ dừng lại ở việc tự phát của các đoàn đến thăm tại các điểm di tích trong quần thể khu di tích Nước Oa, loại hình

du lịch sinh thái chưa được chú trọng phát triển chỉ dừng lại ở những chuyến pinic, dã ngoại của các bạn trẻ, lữ khách phương xa khám phá thiên nhiên

Để đánh thức tiềm năng này cần phải có những đánh giá cụ thể, định hướng phát triển du lịch phù hợp cần phân tích những điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội, thách thức trong quá trình phát triển DLST tại huyện Bắc Trà My Qua đó làm căn cứ để đề xuất các giải pháp cơ bản trong xây dựng và phát triển DLST khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My, định hướng các loại hình du lịch sinh thái có thể phát triển trên Hồ thủy điện Sông tranh như Du thuyền, du lịch mạo hiểm, du lịch dã ngoại Kết hợp du lịch văn hóa Cộng đồng với 20 thành phần dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó dân tộc Cadong, Cor, Xê đăng, Mơ nông là người bản địa, đã tạo nên bức tranh văn hóa sống động, đa sắc góp phần làm giàu bản sắc văn hóa trên địa bàn huyện, các cộng đồng Bản làng dân tộc ít người gắn với giá trị bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo như: Lễ hội đâm trâu Huê, Lễ hội mừng lúa mới, các làng điệu dân ca, dân vũ (múa cồng chiêng) của người Ca dong, Cor và các hiện vật có giá trị khác, cùng du lịch lịch sử với quần thể khu di tích nước Oa , nhằm phát huy thế mạnh, khẳng định vị trí phát triển du lịch gắn với phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa của địa phương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích - mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 VÀI NÉT VỀ DU LỊCH SINH THÁI 4

1.1.1 Du lịch sinh thái trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình du lịch sinh thái Việt Nam qua các thời kỳ 4

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DU LỊCH SINH THÁI 5

1.2.1 Nghiên cứu về du lịch sinh thái trên thế giới 5

1.2.2 Nghiên cứu về du lịch sinh thái ở Việt Nam 9

1.3 THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DLST Ở VIỆT NAM 10

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15

Trang 5

2.2.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội tại huyện Bắc Trà

My, tỉnh Quảng Nam 15

2.2.2 Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My 15

2.2.3 Tìm hiểu về tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My 15

2.2.4 Đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My 15

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 16

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 17

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18

3.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18

3.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 18

3.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 23

3.1.3 Đặc điểm Văn hóa 32

3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST KHU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH, HUYỆN BẮC TRÀ MY 36

3.2.1 Thực trạng về các loại hình du lịch 37

3.2.2 Thực trạng khách du lịch 41

3.2.3 Đánh giá chung 42

3.3 TÌM HIỂU VỀ TIỀM NĂNG ĐỂ PHÁT TRIỂN DLST KHU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH, HUYỆN BẮC TRÀ MY 43

3.3.1 Tiềm năng cảnh quan thiên nhiên 43

3.3.2 Tiềm năng Văn hóa Cộng đồng 44

3.3.3 Đánh giá chung 44

4.1 ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DLST KHU VỰC KHU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH, HUYỆN BẮC TRÀ MY 44

4.1.1 Định hướng phát triển một số loại hình du lịch sinh thái khu vực Hồ Thủy điện Sông Tranh, huyện Bắc Trà My 44

Trang 6

4.1.2 Tính bền vững khi phát triển du lịch sinh thái tại Hồ Thủy điện Sông

Tranh, huyện Bắc Trà My 49

4.1.3 Những hạn chế, bất lợi trong phát triển du lịch sinh thái tại Hồ thủy điện Sông tranh 51

4.1.4 Đánh giá tác động môi trường và các vấn đề liên quan 53

4.1.5 Giải pháp giảm thiểu tác động môi trường và các vấn đề liên quan trong phát triển du lịch sinh thái Hồ Thủy điện Sông Tranh 53

4.1.6 Đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái Hồ thủy điện Sông tranh 54 4.1.7 Giải pháp tổ chức thực hiện 55

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

1 Kết luận 57

2 Tồn tại 58

3 Kiến nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT NGHĨA

BCI : Dự án sang kiến hành lang Bảo tồn Đa dạng sinh học

BQL : Ban quản lý

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

CITES : Công ước về thương mại quốc tế các loài động,

thực vật hoang dã nguy cấp

(Convention on International Trade in Endangered Species

of Wild Fauna and Flora)

FFI : Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế

GDMT : Giáo dục môi trường

GDP : Thu nhập bình quân đầu người hoặc tổng sản phẩm quốc nội

Trang 8

NXB : Nhà xuất bản

PTCS : Phổ thông cơ sở

QĐ- UB : Quyết định Ủy ban

QĐ-UBND : Quyết định Ủy ban nhân dân

UBND : Ủy ban nhân dân

UICN : Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

UNDP : Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc

(United Nations Development Programme)

UNEP : Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc

(United Nations Environment Programme) UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

USD : Đôla Mỹ

VN : Việt Nam

VNDCCH : Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

VQG : Vườn quốc gia

WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới

(World Trade Organization)

WWF : Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên

(World Wide Fund For Nature )

VSAT : Trạm thông tin vệ tinh mặt đất cỡ nhỏ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế, xã hội qua các năm 24

Bảng 3.2: Dân số phân chia theo xã, thị trấn; thành phần dân tộc 26

Bảng 3.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi trên địa bàn huyện 28

Bảng 3.4: Một số số liệu ngành giáo dục huyện Bắc Trà My 29

Bảng 3.5: Thống kê các công trình thể thao 30

Bảng 3.6 Bảng thống kê lượt đoàn/ khách tham quan – du lịch năm 2014, 201541 Bảng 3.7 Thống kê số trận động đất xảy ra tại Thủy điện Sông tranh từ năm 2011-2012 52

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Bắc Trà My 18

Hình 3.2: Sơ đồ một số điểm thăm quan du lịch của huyện Bắc Trà My 37

Hình 3.3: Sơ đồ tiềm năng phát triển du lịch sinh thái 43

Hình 3.4 Sơ đồ các loại hình du lịch sinh thái định hướng phát triển 44

Hình 3.5 loại hình du thuyền Hồ Thủy điện Sông Tranh 45

Hình 3.6 mô hình nuôi cá lòng bè trên Hồ Thủy điện Sông Tranh 46

Hình 3.7 Loại hình du lịch mạo hiểm 46

Hình 3.8 du lịch văn hóa cộng đồng 47

Hình 3.9 du lịch dã ngoại, picnic 47

Hình 3.10 Loại hình du dịch đi phượt 48

Hình 3.11 Mối quan hệ giữa môi trường – kinh tế - xã hội trong phát triển bền vững - Trích: Mô hình phát triển bền vững chung 49

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng trên toàn thế giới và cũng là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của con người Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch, du lịch sinh thái đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu Du lịch sinh thái (DLST) với bản chất nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trường đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch nghiên cứu khoa học

Tại Việt Nam, DLST là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản

lý và khai thác sử dụng Mô hình du lịch này nhằm mục đích đưa con người về với thiên nhiên hoang sơ, trở về với văn hóa bản địa Điều này dường như thỏa mãn nhu cầu của con người đang sống trong cuộc sống tấp nập của nền kinh tế đang trên đà phát triển đồng nghĩa với việc phải đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên phát triển cộng đồng và được coi là loại hình du lịch thiết thực cho phép thu hút nhiều khách du lịch mang lại nhiều lợi nhuận cao cho ngành du lịch DLST thực sự trở thành một động lực, một nội dung cơ bản góp phần giải quyết tốt các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường góp phần thúc đẩy du lịch bền vững phát triển

Khu vực hồ thủy điện Sông tranh thuộc huyện Bắc Trà My là một trong những huyện miền núi ở tỉnh Quảng Nam, có diện tích tự nhiên là: 823,05 km2, rừng Bắc Trà

My có nhiều loại gỗ quý như: Lim, Giổi, Chuồn, Gõ…; rừng Bắc Trà My đồng thời là nơi sinh sống của nhiều loài động vật rừng quý hiếm thuộc các loài trong sách đỏ như: voi, cọp, gấu… ; thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú, vẫn còn giữ được nét hoang sơ của xứ

“Cao Sơn hữu tình” Được xây dựng trên thượng nguồn Sông Tranh, thủy điện Sông Tranh 2 với diện tích lưu vực 1.100 km2, mực nước dâng bình thường là 21,52 km2, hình thành nên lòng hồ thủy điện giữa khung cảnh núi rừng thiên nhiên tạo nên một bức tranh sơn thủy Hiện nay trên lòng hồ đã tổ chức nuôi trồng được gần 100 lồng bè

cá các loại, đây là thế mạnh để lồng ghép phát triển du lịch lòng Hồ

Với 20 thành phần dân tộc anh em cùng sinh sống Trong đó dân tộc Cadong, Cor, Xê đăng, Mơ nông là người bản địa, đã tạo nên bức tranh văn hóa sống động, đa sắc góp phần làm giàu bản sắc văn hóa trên địa bàn huyện Đây còn là điểm đến hấp dẫn du khách với quần thể di tích Nước Oa, các cộng đồng Bản làng dân tộc ít người gắn với giá trị bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo như: Lễ hội đâm trâu Huê, Lễ hội mừng lúa mới, các làng điệu dân ca, dân vũ (múa cồng chiêng) của người Ca dong, Cor và các hiện vật có giá trị khác

Trang 12

Huyện Bắc Trà My là một huyện miền núi nghèo, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao 52,78% , các mô hình kinh tế còn nhỏ lẻ thiếu tính bền vững, nhân dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông – lâm nghiệp; cơ hội phát triển kinh tế vùng gặp nhiều khó khăn, cách xa những tuyến đường giao thông huyết mạch (tuyến đường Nam Quảng Nam, Đường Đông Trường sơn ), với nhiều tiềm năng sinh thái, văn hóa, lịch sử chưa được phát huy và thu hút các nhà đầu tư phát triển, đặc biệt là tiềm năng phát triển du lịch sinh thái khi có lòng hồ thủy điện, nhằm đẩy mạnh phát triển nhân sinh, kinh tế xã hội tại địa phương

Trong những năm qua, việc phát triển du lịch trên địa bàn tuy được quan tâm nhưng chưa có sự đầu tư đúng mức và chưa có những định hướng mục tiêu rõ rệt Chính vì thế việc khai thác du lịch còn mang tính manh mún và mới chỉ dừng lại ở việc tự phát của các đoàn đến thăm tại các điểm trong quần thể di tích Nước Oa

Xuất phát từ những lợi thế và hạn chế về phát triển du lịch đã nêu trên, việc phát triển du lịch trên địa bàn huyện là một yêu cầu cấp thiết nhằm phát huy thế mạnh, khẳng định vị trí phát triển du lịch gắn với phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá hiện trạng, tiềm năng và đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực Hồ Thủy điện Sông Tranh, huyện Bắc Trà My”

2 Mục đích - mục tiêu của đề tài

- Sơ bộ đánh giá được hiện trạng và các giá trị tiềm năng đối với du lịch sinh

thái làm cơ sở đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực Hồ thủy điện Sông Tranh, huyện Bắc Trà My

- Thông qua Phát triển du lịch sinh thái tại Hồ thủy điện Sông tranh gắn kết tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân về vai trò tài nguyên rừng đối kinh tế, môi trường, xã hội

- Hạn chế tối đa tình trạng phá rừng, khai thác rừng, săn, bắt động vật hoang dã gắn công tác quản lý bảo vệ rừng với phát triển kinh tế người dân vùng đệm thông qua các dịch vụ du lịch sinh thái tại Hồ thủy điện Sông tranh

- Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá lịch sử, văn hóa dân tộc tại địa phương

- Phát huy thế mạnh, khẳng định vị trí phát triển du lịch gắn với phát triển Kinh

tế - Xã hội – Môi trường, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 13

- Hệ thống hóa phương pháp tìm hiểu và đánh giá hiện trạng, tiềm năng, định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

- Phát triển du lịch sinh thái tại khu vực hồ thủy điện Sông tranh theo hướng bền vững

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định các thông tin về tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái làm cơ sở cho việc đề xuất hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực Hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

- Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá lịch sử, văn hóa dân tộc tại địa phương

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm công tác quản lý bảo vệ rừng trong nhân dân, đưa người dân vào vị trí trọng tâm trong Công tác quản lý bảo vệ rừng gắn với những lợi ích kinh tế, môi trường

- Giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cộng đồng địa phương, gắn công tác quản lý bảo vệ rừng với phát triển kinh tế địa phương

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 VÀI NÉT VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1.1 Du lịch sinh thái trên thế giới

Trên toàn cầu, hiện nay, hằng năm có tới 800 triệu người đi du lịch Ước tính con số này sẽ hơn 1 tỉ vào năm 2010 và đạt 1,6 tỉ vào năm 2020 Khoảng 60% dòng khách du lịch hiện nay là có mục đích tìm hiểu nền văn hóa khác lạ, du lịch sinh thái, hòa mình vào thiên nhiên Cho nên sản phẩm quan trọng của du lịch là du lịch văn hóa,

du lịch thiên nhiên Tỷ lệ người đi du lịch sinh thái hàng năm tăng từ 10% đến 30%, trong khi du lịch truyền thống tăng trung bình khoảng 4% (Reingold, 1993)

Hiện nay có rất nhiều dự án phát triển du lịch, việc kinh doanh, đầu tư vào du lịch sinh thái ngày càng mở rộng Khu bảo tồn Annapuma ở Nepal năm 1985, với đầu

tư hơn 500 ngìn USD, khu nhà ở sinh thái Chalalan tại Bolivia, khu dự trữ rừng mây Monteverde ở CostaRica, Dự án bảo tồn Selous ở Tanzania, công viên quốc gia Pilanesberg ở Nam Phi Và nhiều dự án phát triển du lịch khác, với sự đầu tư rất lớn đã thu hút hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm

Tình hình du lịch trên thế giới, theo số liệu của tổ chức du lịch thế giới, năm

2002 khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới đạt 715 triệu lượt khách Thu nhập khoảng 500 tỷ USD, tương đương với 6,7% - 6,8% tổng sản phẩm quốc dân trên thế giới Du lịch là ngành tạo nhiều việc làm và thu hút khoảng 227 triệu lao động gián tiếp và 9 triệu lao động trực tiếp WTO dự báo, năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế trên thế giới ước tính khoảng 1.006 lượt khách Thu nhập từ du lịch lên đến 900 tỷ USD và ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng 150 triệu chỗ làm việc

Khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, du lịch ở các nước Đông Nam Á có vị trí quan trọng, chiếm khoảng 34% lượng khách và 38% thu nhập du lịch của toàn khu vực Bốn nước Asean có ngành du lịch phát triển nhất là Malaysia, Thái Lan, Singapore và Indonesia Những nước này đều vượt qua con số 5 triệu lượt khách quốc tế một năm và thu nhập hàng tỷ USD từ du lịch

Ngày nay du lịch sinh thái càng được chú ý và phát triển, mặt khác nhu cầu

du lịch sinh thái càng lớn Tổ chức UNESCO đã tiến hành điều tra, tổ chức bình chọn cho các danh lam thắng cảnh trên toàn thế giới, chứng nhận cho các danh lam thắng cảnh đẹp trên thế giới là danh lam thắng cảnh thế giới

1.1.2 Tình hình du lịch sinh thái Việt Nam qua các thời kỳ

Bên cạnh hoạt động lao động của con người là việc nghỉ ngơi, tận hưởng cuộc sống DLST là một hình thức nghỉ ngơi được hầu hết người dân chọn làm phương thức

Trang 15

tận hưởng cuộc sống Mặt khác hoạt động du lịch đưa lại cho nền kinh tế những mặt thu rất lớn, sự phát triển của đất nước cũng được đánh giá một phần qua hoạt động du lịch của đất nước đó

Tài nguyên du lịch của Việt Nam khá phong phú và đa dạng Ba phần tư lãnh thổ đất nước là đồi núi với nhiều cảnh quan ngoạn mục, những cánh rừng nhiệt đới với nhiều loài cây cỏ, chim muông những hệ thống sông hồ tạo nên các bức tranh thủy mặc sinh động,… Năm mươi tư dân tộc anh em sinh sống trên một địa bàn rộng trên 300.000km2 có những phong tục tập quán khác lạ… Tất cả có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với con người Việt Nam ưa khám phá Mặt khác, do nằm ở vĩ độ thấp nên hầu như quanh năm nước ta đều có điều kiện khí hậu thuận lợi cho các hoạt động ngoài trời Dựa trên những điều kiện kể trên có thể khẳng định rằng hoạt động du lịch ở nước ta

đã có từ lâu đời Việc mở mang bờ cõi của nhà nước phong kiến Việt Nam chắc chắn

có liên quan chặt chẽ với các chuyến đi du lịch của vua quan hoặc các học giả: Trương Hán Siêu, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan có thể được coi là những người chu du nhiều của thời kỳ trung đại Các dấu tích trên đá của Nguyễn Nghiễm ở Bích Động (1773), của chúa Trịnh Sâm ở Hương Tích cũng như của nhiều vị vua, quan và nhà nho khác, là những bằng chứng về các chuyến du ngoạn của họ Bảo Đại là một vị vua sành về thưởng ngoạn, hầu như nơi nào có cảnh đẹp, có khí hậu ôn hoà là có biệt thự của Bảo Đại

Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên phục vụ mục đích du lịch và nghỉ dưỡng trở nên rõ nét hơn trong trời kỳ đô hộ của Pháp Hàng loạt biệt thự, nhà nghỉ được xây dựng ven các bãi biển, vùng hồ hay vùng núi nơi có khí hậu dễ chịu như Đồ Sơn, Vũng Tàu, Ba Vì, Tam Đảo, Đà Lạt,…

Nước ta trải qua nhiều thời kỳ, đất nước có nhiều thay đổi Và sự thay đổi đó có

sự góp phần của sự thay đổi về du lịch Du lịch Việt Nam cũng đã có nhiều thành tựu

to lớn Đặc biệt là cơ sở hạ tầng của dịch vụ du lịch ngày càng được nâng cao, khả năng phục vụ khách du lịch ngày được đảm bảo Được thể hiện thông qua khách du lịch nước ngoài sang Việt Nam ngày càng nhiều Bên cạnh đó là một số điểm đến du lịch được tổ chức quốc tế công nhận là di sản văn hoá thế giới hay di sản thiên nhiên

thế giới: Phố cổ Hội An, di tích thánh địa Mỹ Sơn

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.2.1 Nghiên cứu về du lịch sinh thái trên thế giới

DLST là một lĩnh vực mới phát triển trên thế giới Tuy nhiên, nó đã thu hút được

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học khác nhau trên thế giới và cũng như du lịch nói chung khi tiếp cận nghiên cứu về DLST để đưa ra một khái niệm, một định nghĩa bao quát nhất là rất khó Tùy theo các quan điểm tiếp cận khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, mà các nhà nghiên cứu về du lịch đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về DLST DLST là một khái niệm rộng, đuợc hiểu khác nhau dưới các góc độ khác nhau

Trang 16

Một số người cho rằng DLST chỉ đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa giữa hai từ ghép "du lịch" và "sinh thái", một số người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên, là khái niệm trong thực tế đã xuất hiện từ những năm 1980 (Ashton, 1993) Có người cho rằng DLST là một loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự bảo tồn và phát triển của hệ sinh thái Năm 1987, lần đầu tiên HectorCeballos - Lascearain đã đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST:

" DLST là du lịch đến với những khu vực thiên nhiên còn ít thay đổi với những mục đích đặc biệt: Nghiên cứu tham quan với ý thức tôn trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa khám phá" Đến cuối những năm thập kỷ 90 thì du lịch sinh thái được

sự ủng hộ và quan tâm của nhiều tổ chức, chính phủ và nhân dân Các tổ chức như Ceballos - lascurian, IUCN, UNDP,…và nhiều tác giả Wood, Huber,…quan tâm đặc biệt và xuất bản nhiều tài liệu Theo UNEP (2002) thì DLST đã từng được nhận dạng trên thị trường như là một loại hình du lịch thiên nhiên, tuy nhiên DLST cũng được nghiên cứu như là một công cụ phát triển bền vững của các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia phát triển và các viện nghiên cứu kể từ năm 1990 Cũng trong những năm của thập niên 1990, rất nhiều định nghĩa đã ra đời để mô tả loại hình du lịch mới xuất hiện này Năm 1991, Tổ chức Du lịch sinh thái Quốc tế (The International Ecotuorrism Society) đã đưa ra một trong những định nghĩa sớm nhất: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch lữ hành có trách nhiệm đến các khu thiên nhiên, bảo tồn môi trường và mang lại phúc lợi lâu dài cho người dân địa phương” Cùng với thời gian, khái niệm về DLST lần lượt đã được các nhà nghiên cứu đưa ra Điển hình như vào năm 1991, Wood đưa ra định nghĩa: " DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử, môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của hệ sinh thái Đồng thời tạo ra những cơ hội về kinh tế để ủng hộ cho việc bảo tồn

tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương" Còn lĩnh vực của Elizabeth Boo (1992) trong cuốn “Quy hoạch du lịch sinh thái cho khu bảo tồn thiên nhiên”, Weslern thì “Du lịch sinh thái là có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân” Đến năm 1993, Allen đưa ra định nghĩa: " DLST được phân biệt với loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường Phát triển DLST sẽ giảm thiểu tác động của khách DLST đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do

du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn tự nhiên" Một định nghĩa về du lịch sinh thái tiếp theo là của Laarman và Durst (1993) đã chỉ

ra sự khác biệt về khái niệm giữa du lịch sinh thái và du lịch tự nhiên Nhận ra những khó khăn trong việc định nghĩa du lịch tự nhiên họ đã phải xây dựng nên phạm vi rộng và hẹp đối với định nghĩa của nó Về mặt nghĩa hẹp, họ nói rằng nó

Trang 17

liên quan tới những người điều hành những chuyến đi thiên về thiên nhiên; tuy nhiên về nghĩa rộng thì nó áp dụng việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên của

du lịch, bao gồm những bãi biển và những phong cảnh làng quê

Nói chung những quan niệm cơ bản về DLST tùy thuộc vào những đặc thù và những mục tiêu phát triển riêng, mỗi nhà nghiên cứu, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc

tế đều phát triển định nghĩa riêng của mình về DLST, chẳng hạn như:

Định nghĩa của Nepan: "DLST là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng liên kết giữa bảo tồn tài nguyên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập

từ du lịch để bảo vệ nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”

Định nghĩa của Malaysia: "DLST là loại hình du lịch và thăm viếng một cách

có trách nhiệm về mặt môi trường tới những khu vực thiên nhiên còn nguyên vẹn nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay) mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế"

Định nghĩa của Ôxtrâylia: "DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường tự nhiên, được quản lý bền vững về mặt sinh thái"

Định nghĩa của hiệp hội DLST quốc tế: "DLST là việc đi lại có trách nhiệm tại các khu vực mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương"

Đến năm 1994, Mackey đã tổng hợp DLST như sau: "Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường mới được xem là DLST" Trong đó yếu tố quản lý bền vững bao hàm cả nội dung hỗ trợ và phát triển cộng đồng

Năm 1996, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN), xác định rằng:

“DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và các giá trị văn hoá kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cực đến môi trường và tạo ra các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế xã hội cho cộng đồng địa phương

Năm 1999, Honey lại đưa ra một định nghĩa nữa về DLST và định nghĩa của Honey được xem như là định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh nhất cho đến thời điểm hiện tại Cụ thể là: "DLST là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh

Trang 18

tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người" Hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST cho Việt Nam năm 1999 đã đưa ra định nghĩa: “ DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, có tính giáo dục môi trường, và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Gần đây bản tuyên ngôn Quebec (UNEP/WTO 2002) vào cuộc họp chót của năm du lịch quốc tế về du lịch sinh thái, đề nghị rằng 5 tiêu chí tiêu biểu được sử dụng

để định nghĩa du lịch sinh thái như là sản phẩm dựa vào tự nhiên, quản lý ảnh hưởng tối thiểu, giáo dục môi trường, đóng góp bảo tồn và đóng góp vào cộng đồng

Như vậy từ định nghĩa đầu tiên của HectorCeballos - Lascearain được đưa ra năm 1987 thì cho đến nay nội dung của khái niệm về DLST đã thay đổi rất nhiều, từ chỗ đơn thuần coi hoạt động DLST là loại du lịch ít tác động đến môi trường, là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường sang cách nhìn tích cực hơn, theo đó DLST

là loại hình du lịch ít tác động và có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích kinh tế

xã hội cho cộng đồng địa phương Khái quát lại chúng ta có thể thấy DLST là loại hình

du lịch có những mặt tích cực sau:

Một là, phát triển phải dựa vào những giá trị (hấp dẫn) của tự nhiên và văn hóa bản địa

Hai là, được quản lý bền vững về môi trường sinh thái

Ba là, có tính giáo dục và diễn giải về môi trường

Bốn là, có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng

Tuy nhiên, khái niệm về DLST vẫn còn có những điểm chưa thống nhất và điều

đó sẽ được nghiên cứu và hoàn thiện dần trong quá trình phát triển Những đặc điểm

cơ bản nhất của định nghĩa về DLST được tổ chức du lịch thế giới (WTO) tóm tắt lại như sau:

Thứ nhất, DLST bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở

đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan, tìm hiểu tự nhiên cũng như những giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó

Thứ hai, DLST phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về mặt môi trường

Thứ ba, thông thường DLST được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp

ở quy mô nhỏ ở các nước sở tại tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách Các công ty lữ hành có quy mô khác nhau có thể tổ chức, điều hành hoặc quảng cáo các Tour DLST cho các nhóm du khách có số lượng hạn chế

Trang 19

Thứ tư, DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên

và văn hóa xã hội

Thứ năm, DLST có sự hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách: Tạo ra những lợi ích kinh tế cho địa phương, các tổ chức và chủ thể quản lý, với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó cũng như việc tạo ra các cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Đồng thời tăng cuờng nhận thức của du khách và người dân địa phương về sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị văn hóa

1.2.2 Nghiên cứu về du lịch sinh thái ở Việt Nam

Việt Nam là nước có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng DLST là hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển du lịch ở Việt Nam

DLST ở nước ta là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ khoảng giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về DLST và môi trường, một trong những lĩnh vực nghiên cứu đó là:

- Nghiên cứu về "Vai trò đa dạng sinh học trong phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam" của Đặng Huy Huỳnh được trình bày trong tuyển tập báo cáo hội nghị quốc tế về

phát triển bền vững ở Việt Nam tại Huế năm 1997

- Nghiên cứu của Lê Văn Lanh về: "Du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam" được trình bày tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia phát

triển DLST ở Việt Nam

- Nghiên cứu của Phạm Trung Lương cùng cộng sự về: " Du lịch sinh thái - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam" - NXB Giáo dục - 2002

Ngoài ra còn có rất nhiều nghiên cứu khác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như của: Lê Văn Lanh, Phạm Trung Lương, Nguyễn Tài Cung cùng cộng

sự, Philip Dearden, D James MacNeill; nghiên cứu của Viện phát triển du lịch; Tổ

chức bảo tồn thiên nhiên thế giới được trình bày trong tuyển tập báo cáo hội thảo: "Du lịch sinh thái và phát triển bền vững ở Việt Nam" tại Hà Nội năm 1998; Nghiên cứu của VNAT/ IUCN/ được trình bày ở tuyển tập báo cáo hội thảo về: "Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam" tại Hà Nội năm 1999

Tuy nhiên do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau, khái niệm về DLST cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất Trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX, với những mong muốn có được sự thống nhất về khái niệm DLST, nhằm làm cơ sở cho việc nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong quá trình phát triển DLST ở Việt Nam Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như: WWF, IUCN, và có sự quan tâm tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế cũng như trong nước về DLST và các lĩnh vực khác liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam từ 07-09/09/1999

Trang 20

Một trong những kết quả đạt được của hội thảo là lần đầu tiên đã đưa ra được định nghĩa về DLST ở Việt Nam đó là: " Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương" Đây là cơ sở, là tiền đề mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu, phát triển DLST ở Việt Nam

Trong thời gian qua, đã có nhiều hội thảo quốc gia về du lịch sinh thái được Tổng cục Du lịch tổ chức với sự tham gia của các tổ chức quốc tế và khu vực như WWF, IUCN, FFI, UNDP, ESCAP, các công trình nghiên cứu khoa học, quy hoạch phát triển DLST từ cấp vi mô đến vĩ mô như "Cơ sở khoa học phát triển DLST Việt Nam", "Quy hoạch khu du lịch sinh thái hồ Ba Bể", cũng đã được tích cực chỉ đạo triển khai Một số sản phẩm du lịch sinh thái như tham quan các VQG, các KBTTN,

du lịch nghiên cứu thám hiểm vùng núi cao Phanxipăng, du lịch tham quan miệt vườn, sông nước đồng bằng sông Cửu Long, đã được nhiều công ty du lịch xây dựng, khai thác và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định về bảo tồn thiên nhiên và góp phần tạo công ăn việc làm cho cộng đồng

1.3 THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DLST Ở VIỆT NAM

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 3/4 diện tích đất nước bao phủ bởi các dãy núi, đồi và cao nguyên Bờ biển Việt Nam trải dài 3.260km từ Bắc chí Nam với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ Không chỉ đa dạng về các hệ sinh thái, thiên nhiên còn ban tặng cho Việt Nam một khu hệ động thực vật vô cùng phong phú với khoảng 12.000 loài thực vật và 15.570 loài động vật trong đó có nhiều loài đặc hữu Đặc biệt từ năm 1992 đến nay, các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện

ra 7 trong số 12 loài thú mới được phát hiện trên thế giới kể từ đầu thế kỷ XX Các loài thú này bao gồm Sao la, Mang lớn, Mang Pù Hoạt tỉnh (Nghệ An), Voọc chân xám (Cúc Phương - Ninh Bình), Cầy giông (Gia Lai), Mang Trường Sơn (dãy Trường Sơn)

và Bò sừng xoắn (Lâm Đồng)

Hệ thống các VQG nói riêng, các KBTTN nói chung chứa đựng rất nhiều yếu

tố hấp dẫn du khách Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch đặc biệt là DLST Tuy nhiên DLST ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển và phát triển chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Trong những năm gần đây các hoạt động DLST ở các VQG, các KBTTN Việt Nam đã phát triển song vẫn còn mang nặng tính tự phát, chưa có sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có sự đầu tư cho công việc xúc tiến và phát triển công nghệ phục vụ cho DLST Xét về nội dung và cách thức tổ chức thì hoạt động DLST ở các VQG và KBTTN hiện nay thuộc loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên có định hướng DLST

Trang 21

Khu bảo tồn thiên nhiên là nơi chứa đựng nhiều yếu tố hấp dẫn cho du khách trên thế giới Những yếu tố này có thể là một hoặc nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu, cuộc sống hoang dã phong phú, đa dạng sinh học cao, địa hình đồng nhất hoặc hùng vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hoá đương đại, mang tính đặc thù trong điều kiện tự nhiên Một yếu tố gây hấp dẫn cho khách du lịch đến Việt Nam là những thông tin về đa dạng sinh học, những phát hiện mới về các loài động vật và những cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp

Một số VQG và KBTTN hiện nay đã thành lập Ban du lịch hoặc trung tâm giáo dục môi trường (GDMT) để điều hành các hoạt động GDMT và du lịch Công tác nghiên cứu, quy hoạch và phát triển DLST được tiến hành ở một số VQG như Cúc Phương, Ba Bể, Ba Vì, Tam Đảo, Bạch Mã, Cát Tiên, Tràm Chim, Một số VQG và KBTTN đã chú trọng tuyển dụng nhân viên có nghiệp vụ về du lịch cũng như chú trọng công tác đào tạo nghiệp vụ du lịch cho CBCNV Trước đây việc đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng để phục vụ du lịch và phát triển du lịch ở các VQG, các KBTTN chủ yếu

do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đầu tư Hiện nay, Tổng cục du lịch, các tỉnh, các công ty du lịch, các hãng lữ hành, các địa phương cũng đã tập trung nguồn kinh phí để phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Chẳng hạn như tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Tổng cục du lịch đã đầu tư 11 tỷ đồng để xây dựng đường cáp điện ngầm lên đỉnh núi để tránh tàn phá 50ha rừng và phá vỡ cảnh quan tại VQG Bạch Mã Tại VQG Ba Vì, nhiều Công ty du lịch tư nhân đã được hình thành và nhận hàng trăm

ha rừng để quản lý, phục vụ cho phát triển du lịch Nhiều VQG và KBTTN đã xây dựng được một số tuyến tham quan, tuy nhiên cũng chưa tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của DLST Hiện tại khách DLST đến các VQG, các KBTTN mới chỉ tiếp cận được các hệ sinh thái rừng, các loài thực vật, một số loài côn trùng, các di tích tự nhiên cùng một số di tích lịch sử có trong VQG, KBTTN Rất hiếm khi khách bắt gặp thú trong rừng Duy chỉ có ở VQG Cát Tiên, khách du lịch có thể quan sát được một số thú lớn như Hươu, Nai, Lợn rừng, Cầy, Chồn, Nhím vào ban đêm nhờ có khu nuôi nhốt động vật hoang dã Tại VQG Cúc Phương, Ba Vì cũng đã xây dựng khu nuôi thú hoang dã để bảo tồn và phục vụ khách tham quan Khu cứu hộ các loại Linh trưởng, trạm cứu hộ Rùa, Cầy vằn tạ VQG Cúc Phương cũng là điểm dừng chân thú vị cho khách tham quan du lịch Một số VQG và KBTTN du khách có thể tiếp xúc, quan sát một số loài Linh trưởng, Rùa, Lợn rừng,

Nước ta có đường bờ biển dài, có hệ thống sông hồ rất nhiều do đó cũng có rất nhiều hệ sinh thái ngập nước với nhiều loài chim nước, các loài động thực vật thuỷ sinh cũng như cảnh quan rất đặc sắc, hấp dẫn và điều đó cũng thu hút nhiều du khách tham quan du lịch Chẳng hạn như VQG Xuân Thuỷ, VQG Tràm Chim, KBTTN Vân Long, khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ VQG Ba Bể, VQG Cát Bà, Ngoài ra các khu

Trang 22

du lịch nổi tiếng như: Hạ Long, Hòn Mun, Côn Đảo, Phú Quốc, đã và đang có kế hoạch sử dụng tài nguyên sinh vật biển để phát triển du lịch và nhiều dịch vụ du lịch hấp dẫn khác, trong đó có DLST

Hiện nay các VQG như Cúc Phương, Cát Bà, Ba Bể, Bạch Mã, Cát Tiên, đã xây dựng trung tâm du khách, trung tâm thông tin và các đường mòn diễn giải để giới thiệu cho du khách tham quan một cách có hệ thống các tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên sinh vật Qua các hiện vật trưng bày trong trung tâm mà du khách đã thấy được sự đa dạng sinh học và ý nghĩa của việc bảo tồn cũng như sự cần thiết thành lập VQG, KBTTN Các vườn thực vật trong các VQG bao gồm rất nhiều loài thực vật bản địa mà du khách có thể tham quan học tập mà không cần phải tìm kiếm vất vả trong rừng sâu Đây còn là nơi triển khai các hoạt động GDMT cho khách tham quan

du lịch và cộng đồng người dân địa phương

Cùng với đặc tính đa dạng sinh học cao, những giá trị văn hoá đặc sắc mang đậm màu sắc và tinh hoa cổ truyền của dân tộc Việt cũng là những tiềm năng du lịch sinh thái hết sức to lớn của đất nước Đất nước ta có 54 dân tộc, hầu hết các dân tộc đều có một bề dày truyền thống, văn hoá và phong tục tập quán riêng Kho tàng văn hoá truyền thống của Việt Nam cũng chính là sự thể hiện tính đa dạng, muôn hình, muôn vẻ của các dân tộc cùng sống trên dải đất hình tia chớp Các giáo sư đến từ Trường đại học Edith Cowan, Australia khẳng định rằng với 5 địa điểm được công nhận là di sản văn hoá thế giới, 105 khu bảo vệ tự nhiên, bao gồm 27 VQG, 44 KBTTN và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử, Việt Nam đang có rất nhiều lợi thế trong việc phát triển DLST

Mặc dù có nhiều tiềm năng to lớn, song DLST ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Mục đích và ý nghĩa của DLST vẫn còn bị hiểu sai và hay

bị lạm dụng Nhiều nguyên tắc cơ bản của DLST vẫn chưa được áp dụng như: cơ sở hạ tầng của các khu du lịch chưa được phát triển hài hoà với môi trường, chưa coi trọng công tác bảo tồn ở các khu du lịch sinh thái, mức độ tham gia của cộng đồng còn ít, tính giáo dục tuyên truyền và thông tin trong các tuyến du lịch chưa cao, ý thức và mức độ bảo vệ môi trường của du khách ở các điểm du lịch sinh thái còn kém Đây cũng là những thách thức không nhỏ trong quá trình nỗ lực phát triển DLST của nước

ta hiện nay

Để phát triển DLST Việt Nam tương xứng với tiềm năng, góp phần tích cực hơn vào các nỗ lực bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững, các giá trị văn hoá bản địa, ngành du lịch Việt Nam còn phải phấn đấu nỗ lực nhiều hơn, phối hợp với các ban ngành hữu quan, các địa phương, tranh thủ sự giúp đỡ về kinh nghiệm và tài chính của các tổ chức quốc tế, các quốc gia nhằm xây dựng các chiến lược phát triển DLST Việt Nam với các chương trình hành động cụ thể, tạo ra các sản phẩm hấp dẫn mang bản

Trang 23

sắc Việt Nam Đây sẽ là những hành động cụ thể để thực hiện một trong hai định hướng ưu tiên được xác định trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020: "Phát triển DLST và du lịch văn hoá khi bước vào thế kỷ XXI, góp phần tích cực

để nước ta trở thành "Việt Nam xanh" trên bản đồ thế giới" Tuy nhiên cũng cần phải

nhấn mạnh rằng nếu chỉ phát triển DLST không thôi sẽ không nhận ra được tiềm năng

to lớn của ngành du lịch trên cả nước Điều cốt lõi là phải làm sao cho tất cả các loại hình du lịch ở nước ta phải trở nên bền vững hơn

Cách trung tâm thành phố Tam Kỳ khoảng 50km về phía tây, vùng sơn cước Bắc Trà My được người xưa lưu truyền là “Cao sơn ngọc quế” Do sự kỳ thú của thiên nhiên và đặc điểm địa hình miền núi cao, Bắc Trà My xưa và nay đang nắm giữ nhiều thắng cảnh hấp dẫn, say đắm lòng người như núi Hòn Bà sừng sững chìm trong mây trắng mỗi lúc bình minh; thác Năm Tầng nước tung trắng xóa như rót vào lòng người; đỉnh Ngọc Linh lạnh buốt, thẳng đứng chọc trời Cạnh đó, sự hoang sơ, hiểm trở của địa hình đồi núi và tấm lòng kiên trung của đồng bào các dân tộc Trà My cũng đã được ghi vào sử sách

Trong những năm kháng chiến, nơi đây luôn là chỗ dựa tin cậy và là nơi trú ẩn

an toàn cho cán bộ và bộ đội để xây dựng hậu cứ đánh địch Tiêu biểu là khu di tích Nước Oa (xã Trà Tân) đã được Khu ủy 5 chọn làm căn cứ đầu não của chiến trường Khu 5 và ngày nay được tôn tạo trở thành khu di tích cấp quốc gia Bước đầu, khu di tích này có đến 4 tiểu khu di tích tập trung, gồm Khu tưởng niệm An ninh Khu 5, Bia tưởng niệm Dân y Khu 5, Khu tưởng niệm Nông dân Khu 5 và Khu di tích lịch sử văn hóa Nước Oa, quần thể khu dích này, trong 2 năm trở lại đây, mỗi năm đón hàng nghìn lượt du khách tìm về với cội nguồn cách mạng, tri ân đồng đội và nhiều đoàn viên thanh niên đến tìm hiểu, học tập truyền thống

Đặc biệt, Trà My còn là nơi diễn ra trận thắng Mỹ vang dội tại đồn Trà Đốc của bộ đội ta cùng đồng bào các dân tộc Trà My vào rạng sáng ngày 27-3-1971, giải phóng hoàn toàn Trà My, báo hiệu cho sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Mỹ, ngụy tại chiến trường miền Nam Việt Nam Cũng chính tại mảnh đất anh hùng này, một nhà máy thủy điện lớn - thủy điện Sông Tranh 2 được đầu tư xây dựng trên thượng nguồn Sông Tranh thuộc địa phận 8 xã của hai huyện Nam, Bắc Trà My; trong đó có 04 xã thuộc địa phận huyện Bắc Trà My là: Trà Đốc, Trà Bui, Trà Giác, Trà Tân Công trình thủy điện hoàn thành với diện tích lưu vực là: 1.100km2; diện tích mặt hồ ứng với mực nước dâng bình thường là: 21,52km2, Bao quanh hồ là những cánh rừng nguyên sinh với hệ thực vật phong phú, đa dạng tạo nên cảnh quan “sơn thủy hữu tình”, Bắc Trà

My cũng là địa phương còn bảo tồn được nhiều nét văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số Gần đây nhất, nghi lễ dựng cây Nêu và bộ Gu của người Cor đã được

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia Hơn nữa, Nhà nước cũng đang triển khai nhiều dự án giao thông quan trọng: đường

Trang 24

Đông Trường Sơn huyền thoại nối liền giữa các huyện miền núi phía tây Quảng Nam, đường Nam Quảng Nam (Tam Thanh - Trà My - Kon Tum)… Khi những tuyến đường huyết mạch này hoàn thành, hành trình du lịch của Quảng Nam sẽ không chỉ dừng lại

ở khu vực đồng bằng, trung du, mà Khu du lịch sinh thái Hồ thủy điện Sông Tranh, quần thể di tích Nước Oa… ở vùng sơn cước Trà My

Hồ thủy điện Sông Tranh có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái nhất của tỉnh Quảng Nam hiện nay Để “đánh thức” những tiềm năng du lịch sinh thái hiện có cần phải có những định hướng phát triển phù hợp, biến Bắc Trà My thành trung tâm du lịch của tỉnh, hy vọng trong thời gian không xa vùng đất căn cứ địa cách mạng Bắc Trà My sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với du khách gần xa

Trang 25

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến tiềm năng phát

triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: những vấn đề về tiềm năng để phát triển DLST, hiện trạng DLST và định hướng để phát triển DLST khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, căn cứ vào các mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

2.2.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội tại huyện Bắc Trà

My, tỉnh Quảng Nam

- Khái quát về điều kiện tự nhiên

- Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương

- Nhận xét chung

2.2.2 Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

- Hiện trạng phát triển DLST khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

- Phân tích những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức khi phát triển DLST khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

2.2.3 Tìm hiểu về tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

- Tài nguyên du lịch đặc thù: cảnh quan thiên nhiên, văn hóa cộng đồng

2.2.4 Đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

+ Định hướng phát triển một số loại hình du lịch sinh thái

+ Xây dựng bản đồ du lịch sinh thái khu vực phát triển du lịch sinh thái

+ Tính bền vững khi phát triển du lịch sinh thái tại Hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

+ Đánh giá những tác động trong quá trình phát triển du lịch sinh thái

Trang 26

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập số liệu thứ cấp bằng cách kế thừa các tư liệu liên quan trong và ngoài nước

- Những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, của địa bàn nghiên cứu Thu thập tư liệu về hiện trạng, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của khu vực thông qua cán bộ địa phương, người dân trong vùng

- Những kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học, báo cáo tổng kết, tài liệu về

du lịch sinh thái tại khu vực nghiên cứu

- Những tài liệu về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, công tác đầu tư xây dựng tôn tạo khu di tích lịch sử và phát triển văn hóa cộng đồng

- Những bài viết, báo cáo và trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Internet, truyền hình, truyền thanh, báo chí

- Các tài liệu từ thư viện

2.3.1.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

Thu thập tài liệu sơ cấp bằng các phương pháp sau:

- Phương pháp PRA: Phương pháp điều tra có sự tham gia

+ Điều tra, khai thác từ các chuyên gia, những người có nhiều thông tin và hiểu biết về lĩnh vực nghiên cứu có liên quan

+ Phỏng vấn ngẫu nhiên, bán cấu trúc các hộ gia đình/cá nhân tại 2 xã Trà Tân, Trà Đốc huyện Bắc Trà My và phỏng vấn các bên có liên quan tại 2 xã trên, cùng với các cán bộ lãnh đạo địa phương để xây dựng các tuyến, điểm DLST phù hợp

- Phương pháp nghiên cứu, điều tra thực địa: Áp dụng các phương pháp điều tra chuyên môn như:

+ Phương pháp cho điểm, điều tra có chọn lọc Phương pháp này nhằm thu thập thông tin trên các tuyến, điểm chính làm cơ sở xác định các tuyến điều tra nghiên cứu của đề tài và dự báo các tuyến có tiềm năng cần được đầu tư khai thác để phát triển DLST khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

+ Điều tra chuyên đề tìm hiểu các khía cạnh khác nhau tại các tuyến điểm chính đã được chọn Khảo sát thực địa theo tuyến nhằm đánh giá các công trình đầu tư

và hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng Khảo sát thực tế trên các tuyến, điểm du lịch đã được vạch ra để thu thập một số thông tin liên quan cần thiết

Sử dụng phương pháp cho điểm để lấy số liệu cụ thể làm cơ sở cho việc đề xuất cho phát triển DLST

Trang 27

+ Kết hợp tìm hiểu, điều tra các địa điểm, tuyến sinh thái khác như: lòng hồ, thân đập, nhà máy Thủy điện Sông Tranh được xây dựng trên thường Sông Tranh, một

số thắng cảnh thiên nhiên lân cận như Thác Bà Nô (thôn 8, Trà Bui), Hố Nai (Trà Tân), thác Ồ Ồ (Trà Giang)

Từ đó kết hợp sử dụng phương pháp cho điểm để lấy số liệu cụ thể làm cơ sở cho việc đề xuất cho phát triển DLST

- Phương pháp bản đồ - sơ đồ: Phương pháp này giúp minh họa không gian của

hệ thống tuyến điểm, minh họa nội dung

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin

- Đây là quá trình tập hợp, tổng hợp, phân tích, tiến hành tập trung, chỉnh lý,

sắp xếp và hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu đã được thu thập trong điều tra, khảo sát Kết hợp việc đánh giá thảm thực vật rừng, đa dạng sinh học và đặc điểm văn

hóa xã hội để phân tích tiềm năng của tài nguyên du lịch sinh thái khu bảo tồn

Bao gồm:

- Tập hợp số liệu

- Phân tích các bên có liên quan:

+ Công cụ SWOT (Strength-Weakness-Opportunities-Threat) để phân tích những điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội, thách thức trong quá trình phát triển DLST tại huyện Bắc Trà My Qua đó làm căn cứ để đề xuất các giải pháp cơ bản trong xây dựng

và phát triển DLST khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

+ Tham khảo ý kiến của các chuyên gia

+ Phương pháp cho điểm

- Phương pháp xử lý bằng công cụ tin học: Phương pháp này sử dụng các phần mềm tin học như Mapinfo cùng các phần mền chuyên để xây dựng bản đồ, các tuyến điểm du lịch

- Phân tích đánh giá các thông tin về điều kiện tự nhiên như địa hình, địa mạo, khí hậu thủy văn, tài nguyên thiên nhiên bằng cách thống kê sắp xếp, phân tích đánh giá các thông tin

- Phân tích vai trò của các bên liên quan trong phát triển DLST khu vực hồ thủy điện Sông tranh, huyện Bắc Trà My

+ Tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá

- Từ kết quả tổng hợp đưa ra dự báo, dự đoán từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản trong xây dựng và phát triển du lịch sinh thái

Trang 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Huyện Bắc Trà My chính thức thành lập theo Nghị định số 72/NĐ/CP ngày 20 tháng 6 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc chia tách huyện Trà My thành 02 đơn vị hành chính là huyện Bắc Trà My và Nam Trà My Tổng diện tích tự nhiên là 82.305 ha, gồm có 13 đơn vị xã, thị trấn

-Toạ độ địa lý :

+ 108000’’ đến 108030’’ Kinh độ Đông

+ 15010’’ đến 15030’’ Vĩ độ Bắc

Trang 29

- Ranh giới hành chính tiếp giáp:

+ Phía Bắc: H Hiệp Đức, H Tiên Phước, H Phú Ninh

+ Phía Đông: H Núi Thành, T Quảng Ngãi

+ Phía Tây: H Phước Sơn

+ Phía Nam: H Nam Trà My

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình núi cao: Tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam của huyện thuộc các

xã Trà Giác, Trà Giáp, Trà Ka, Trà Nú Khu vực này có địa hình phức tạp, nhiều núi cao, độ cao trung bình từ 300 - 700 m, dạng địa hình này chiếm khoảng 35% tổng diện tích tự nhiên của huyện

Địa hình núi thấp: Dạng địa hình này tập trung ở các xã phía Tây Bắc của

huyện thuộc các xã Trà Bui, Trà Đốc, Trà Tân, chiếm khoảng 25% diện tích tự nhiên;

độ cao trung bình từ 200 - 500 m

Địa hình gò đồi: Chiếm 40% diện tích tự nhiên, độ cao trung bình từ 200 - 500

m Dạng địa hình phổ biến ở các xã Trà Đông, Trà Dương, Trà Nú, Trà Kót, Trà Giang, Thị trấn Trà My

3.1.1.3 Khí hậu

- Nhiệt độ trung bình trong năm: 24,7 0C

+ Nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm: 19,9 0C (T12)

+ Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm: 28 0C (T6)

- Độ ẩm trung bình trong năm: 88%

- Tổng giờ nắng trong năm: 1.645 giờ

- Tổng lượng mưa trung bình cả năm: 6.322 mm

+ Tháng có lượng mưa cao nhất: 2.999 mm (T9)

+ Tháng có lượng mưa thấp nhất: 24 mm (T1)

- Chế độ gió:

+ Gió Tây Nam từ tháng 4 – 10

+ Gió Đông Bắc từ tháng 11 - 2 năm sau

- Bão: thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10, đặc biệt có sương muối thường xuất hiện từ tháng 1, 2

Trang 30

Khu vực Bắc Trà My chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8; là một trong hai vùng mưa lớn nhất của tỉnh Quảng Nam Mùa mưa thường trùng với mùa gió bão nên gây ra lũ quét, sạt lở ở vùng cao; ngập lụt ở các khu vực ven sông suối vùng trung và thấp Mùa khô, mưa ít nền nhiệt cao gây hạn, thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất Tuy vậy với tổng lượng mưa lớn và tổng tích ôn cao là điều kiện thích hợp để phát triển nhiều loại cây trồng

- Đất phù sa ngòi suối (Py)

Diện tích 410 ha, chiếm 0,5% diện tích tự nhiên Đất nằm ven suối lớn thành những dải hẹp Dòng vận chuyển không được xa cộng với các sản phẩm dốc tụ trên sườn đồi núi dốc đưa xuống nên đặc điểm của đất phù sa suối là nó có ảnh hưởng rõ rệt của sản phẩm phong hoá các khu vực đồi núi xung quanh Đất có màu sắc thay đổi

từ xám đến xám nâu hoặc xám hơi đen, các tầng phát sinh đã được phân hoá; thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ có nhiều mảnh đá vụn nhỏ, phản ứng dung dịch đất thường chua đến rất chua (pH từ 4,5 - 5,5)

Trang 31

Đất phù sa ven ngòi suối có khả năng làm 1 vụ lúa gieo và 1 vụ màu, thích hợp cho hoa màu lương thực cạn như: Khoai lang, Ngô, Sắn, Đậu, Lạc, Thuốc lá, Dâu tằm, Mía Là loại đất tốt và thích hợp trong sản xuất nông nghiệp nhưng đất này còn một

số nhược điểm như chưa chủ động được nước, thường gặp hạn hán, thiếu nước vào mùa nắng

Để phát huy tiềm năng của đất cần tăng cường bón phân hữu cơ phân chuồng, phân rác, phân xanh (Điền thanh, bèo Dâu ) để cải thiện thành phần cơ giới, kết cấu đất làm tăng độ xốp, tăng khả năng giữ nước giữ chất màu của đất Ngoài các loại phân hữu cơ cần bón thêm NPK thích hợp cho đất, cho cây theo một tỷ lệ cân đối Sắp xếp thời vụ và chế độ canh tác hợp lý giữa các loại cây trồng, luân canh cây trên cạn với cây trồng nước để thường xuyên cải tạo và bồi dưỡng độ phì cho đất

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fb)

Diện tích 972 ha, chiếm 1,18% diện tích tự nhiên, có ở địa hình đồi thoải, lượn sóng, ít dốc cộng thêm vào đó là các quá trình ngoại sinh (bào mòn, xâm thực nên địa hình đồi càng được rõ nét hơn); mang dấu vết của quá trình hình thành do dòng chảy bồi đắp, ở vùng tiếp giáp đồng bằng và trung du cũng như ở các bậc thềm cao ven sông

Đất có màu nâu vàng là chủ đạo, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến nặng pha sét, ít ẩm; cấu tượng viên đến cục vừa; đất hơi chua có pH từ 5 - 5,5

- Đất dốc tụ (D)

Diện tích 479 ha, chiếm 0,58% diện tích tự nhiên Đất được hình thành từ sản phẩm tích đọng của quá trình bào mòn vùng cao xuống vùng trũng Sản phẩm di chuyển không xa nên phần lớn ảnh hưởng của tính chất đá cấu tạo ra nó Sản phẩm hỗn tạp, phẩu diện thường ít phân hoá, có lẫn nhiều mảnh đá vụn sắc cạnh; thành phần

cớ giới thường thịt nhẹ

Phần lớn đất dốc tụ có tầng dày, nhiều hữu cơ, độ phì khá, màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ và chất hữu cơ trong đất Đất thường ít thoát nước và hay bị úng trũng, màu thường xám hoặc xám đen Đất thường có glây ở tầng dưới, có phản ứng chua Phần lớn được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, điều kiện tưới không chủ động

Trang 32

Đa số hình thành tầng tích tụ khá điển hình màu đỏ vàng đậm hơn, tích luỹ nhiều Sắt Nhôm, nhiều trường hợp lẫn kết von và hình thành đá Ong, đáy phẩu diện gặp mẫu chất đang phong hoá mềm và vẫn còn giữ được cấu trúc của đá mẹ

Cấu tượng đất thường là dạng cục, tầng mặt là hạt Đá biến chất ở mức độ cao thì khi phong hoá cho đất có cấu trúc càng tốt và tầng đất càng dày, pH từ 4,5 - 5

Lưu ý khi khai thác sử dụng loại đất này Đối với vùng có độ dốc thấp ở tầng dày lớn 70 cm nên trồng Cam, Chuối, hay Dâu tằm và 12 - 200 tầng mỏng 30 cm thì trồng dứa, độ dốc 200 tầng dày nên trồng cây lấy tinh dầu cho công nghiệp (Quế)

Bố trí cây trồng phải cải tạo theo đường đồng mức, giữ lại băng rừng phòng hộ

để chống xói mòn đất, không chặt phá rừng ở đỉnh và sườn đồi; luân canh hợp lý, tăng cường bón phân hữu cơ, vôi bột phối hợp bón NPK cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất

- Đất mùn vàng đỏ trên Macma axit (ha)

Diện tích 360 ha, chiếm 0,44% Đất có ở khu vực núi cao, khí hậu lạnh và ẩm hơn vùng thấp

Tầng đất mỏng khoảng 120 - 150 cm, hàm lượng mùn trong đất khá cao; có mùn vàng, phản ứng chua; ở địa hình cao dốc nên xói mòn mạnh

- Đất vàng trên đá Macmaaxit (Fa)

Diện tích 45.174 ha, chiếm 54,89% tổng diện tích tự nhiên Đất hình thành trên sản phẩm tàn tích Granit, ở vùng đồi núi cao, dốc đứng đỉnh nhọn mức độ chia cắt mạnh Phần lớn đất có đá lộ đầu tập trung thành cụm, nhiều nơi khổ đá Granit xếp chồng chất lên nhau với hình thể nặng nề, phạm vi độ dốc thay đổi từ 150 - 250 và >

250 Thực vật đa số là cây lùm bụi nhỏ xen lẫn với nhau, nhìn cảnh quan có vẻ nghèo nàn, lớp phủ thực vật đơn sơ, một số diện tích đồi núi cao và hợp thuỷ có rừng rậm

Trong đất có tỷ lệ thạch anh cao có nơi chiếm tới 50 - 60%, đường kính 2 - 3

cm nên sản phẩm thường thô Thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ Hình thái phẩu diện phân hoá rỏ ở tầng tích tụ, lượng tích lũy Sắt Nhôm tương đối cao, màu sắc thường xám vàng, vàng đỏ, tầng mặt có ít mùn có màu nâu đỏ hay nâu vàng Tầng đất thường mỏng vừa đến rất mỏng bị rữa trôi xói mòn mạnh, cấu tượng phân hoá là hạt rời đến cục nhỏ, độ phì nhiêu thấp, nghèo dinh dưỡng, phản ứng dung dịch đất thường chua pH từ 4,5 - 5

Từ 150 mà đá có tầng dày, lượng mùn khá, ít đá lộ đầu tập trung thì trồng cây công nghiệp: Tiêu, Chè, cây ăn quả như Dứa, Mít Ở trung du cũng có thể trồng lương thực: Ngô, Khoai, Sắn hoặc san thành ruộng bậc thang cấy Lúa

Từ 15 - 250 nên tận dụng trồng màu, nếu đất có tầng dày có thể trồng Dứa Vùng có độ dốc 250

tầng dày xấp xỉ từ 30 - 50 cm điều kiện nước tưới thuận lợi mà

Trang 33

hiện tại không còn rừng chỉ có cỏ dại mọc thì cải tạo làm đồng cỏ chăn nuôi Trâu Bò;

> 250 thì dành cho Lâm Nghiệp Vùng rừng già cây lá rộng và lá kim nên khai thác hợp lý, giữ rừng đầu nguồn và cải tạo tiểu khí hậu, hạn chế quá trình xói mòn Vùng còn cây bụi hay cỏ xen cây bụi và đồi trọc thì trồng rừng vừa bảo vệ đất vừa cải tạo tiểu khí hậu bảo vệ môi trường

3.1.1.6 Khoáng sản

Ngoài Vàng sa khoáng có ở các xã Trà Bui, Trà Tân, Trà Giác, Trà Đốc , còn có một số loại quặng có giá trị kinh tế như quặng Thiếc, Titan ở Trà Đốc, Trà Tân

- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên:

+ Thuận lợi, tiềm năng:

So với các huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, huyện Bắc Trà My có những thuận lợi nhất định Cách Thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km theo tuyến ĐT 616 nên có thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế và các hoạt động văn hoá, xã hội trên địa bàn

Tổng quỹ đất rộng lớn, khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều là điều kiện có lợi để phát triển bền vững ngành kinh tế nông lâm nghiệp Khu vực có tiềm năng về khoáng sản Vàng sa khoáng, các loại quặng; Quế Trà My là cây công nghiệp bản địa đặc trưng

có giá trị kinh tế cao

+ Khó khăn, hạn chế:

Địa bàn đất đai rộng, địa hình phức tạp; sông suối chia cắt nên khó khăn trong

bố trí sản xuất nông lâm nghiệp tập trung theo quy mô lớn; xây dựng đường giao thông, thuỷ lợi, trường học và các công trình dân sinh kinh tế khác

Hệ thống sông suối nhỏ hẹp, lòng sông dốc, nhiều ghềnh thác, chế độ nước theo mùa; mùa mưa thường có lũ lớn gây xói lở, bồi lấp đất sản xuất ven sông suối; mùa hạn nguồn nước cạn kiệt không đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt

3.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi tích cực, theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng giá trị NLN tăng bình quân 4,5%, CN - TTCN tăng 15,7%, thương mại dịch vụ tăng 14,12%

Trang 34

Kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước đầu tư xây dựng tác động mạnh mẽ đến

phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và diện mạo của đô thị trung tâm (thị

trấn Trà My)

Phúc lợi xã hội được quan tâm, giải quyết trên diện rộng bằng nhiều hình thức

đầu tư hợp lý và đúng trọng điểm Các chương trình đầu tư của các tổ chức xã hội

trong và ngoài nước mang lại hiệu quả đáng kể trong bối cảnh huyện mới thành lập,

tr đồng

ha

ha tấn tấn

449

677

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam 2012)

- Sản xuất Nông Lâm nghiệp

Nông Lâm nghiệp là ngành kinh tế cơ bản, chủ đạo của huyện, những năm qua

tốc độ tăng trưởng bình quân 4,5%, vượt 0,5% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ huyện nhiệm kỳ XV đề ra Trong sản xuất nông nghiệp có sự chuyển đổi hiệu quả

về cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ; giá trị đầu tư kinh tế - kỹ thuật vào đất đai ngày

càng tăng, diện tích gieo trồng tăng đều qua các năm Tình trạng du canh du cư hạn

chế đáng kể, chăn nuôi được chú trọng đầu tư theo hướng sản xuất hàng hoá Sản

lượng lương thực vượt mức kế hoạch đề ra

Rừng được quản lý bảo vệ nghiêm ngặt; huyện đã phối hợp với các ngành chức

năng thực hiện có hiệu quả chương trình giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng và hộ gia

đình quản lý bảo vệ, sản xuất; thực hiện nghĩa vụ và hưởng lợi theo quy định của Nhà

nước tại Nghị định 163/CP Phối hợp với đơn vị có chức năng xây dựng quy hoạch 03

loại rừng trên địa bàn huyện

Trang 35

Tuy vậy, trong sản xuất nông lâm nghiệp có những hạn chế nhất định; kinh tế vườn nhà, vườn đồi và các mô hình nông lâm kết hợp phát triển còn nhỏ lẻ, manh mún, giá trị kinh tế không cao

Diện tích các cây nguyên liệu dứa, sắn chưa ổn định; tình trạng du canh tuy có hạn chế nhưng vẫn còn diễn ra ở một số địa phương; trong chăn nuôi dịch bệnh ở gia súc còn nhiều, hình thức thả rông còn phổ biến

- Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp có bước tăng trưởng đáng kể, bình quân 15,7%, vượt 3,7% so với kế hoạch đề ra Trong đó tập trung chủ yếu là ngành khai thác, chế biến và phân phối điện nước Tổng số cơ sở sản xuất CN - TTCN trên địa bàn huyện là 141 cơ sở, 342 lao động

Nhìn chung do đặc thù của huyện miền núi nên lĩnh công vực công nghiệp, TTCN hạn chế, quy mô nhỏ, mang tính tự cung tự cấp Tiềm năng phát triển ngành chủ yếu là TTCN sản xuất và chế biến lâm sản, đặc sản Quế Trà My; lâm sản ngoài gỗ mây, đốt, và một số ngành nghề khác Tuy nhiên quy mô đầu tư nhỏ lẻ, quy hoạch vùng nguyên liệu chưa hiệu quả, ổn định, kinh phí đầu tư lớn

3.1.2.2 Trong lĩnh vực xã hội

- Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Dân cư sống tập trung ở 80 thôn, tổ dân phố thuộc các xã, thị trấn, toàn huyện

có 20 thành phần dân tộc anh em sinh sống hoà thuận cụ thể: Dân tộc Kinh chiếm 49,03%, Cadong 35,91%, Cor 11,25%, Mơ nông 1,84%, Xê đăng 0,29% và dân tộc thiểu số khác chiếm 1,68% trong tổng số dân cư của huyện Trong đó, các dân tộc: Cadong, Cor, Mơ nông, Xê đăng là người bản địa Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở 10 xã: Trà Ka, Trà Giáp, Trà Giác, Trà Bui, Trà Đốc, Trà Nú, Trà Kót, Trà Giang, Trà Sơn và Trà Tân Đồng bào Cor sống tập trung 02 xã Trà Nú, Trà Kót

và một ít ở Trà Giáp, Trà Ka; đồng bào Mơ Nông sống tập trung ở thôn 4 và thôn 5 Trà Bui; đồng bào Cadong cư trú ở các xã và thị trấn Trà My Sau 1975 đến nay, một

số ít người dân tộc thiểu số như: dân tộc Tày, Nùng, Thái ở các tỉnh phía Bắc đến định cư, làm ăn sinh sống trên địa bàn huyện chủ yếu ở thôn 5 và thôn 6 xã Trà Giang

Tỷ lệ phát triển dân số năm 2012 của huyện Bắc Trà My là 1,5% Dân số của huyện tính đến 31/12/2012 là 38.378 người, mật độ dân số 46,62 người/km2

Tổng số lao động : 14.547 lao động, trong đó :

+ Lao động nông nghiệp : 13.528 lao động

+ Lao động CN - TTCN : 342 lao động

+ Lao động TM - DV : 677 lao động

Trang 36

Nhìn chung hầu hết lao động tập trung vào ngành nông lâm nghiệp, thời gian nhàn rỗi nhiều; lao động ngành nghề và dịch vụ không đáng kể, chủ yếu tập trung ở khu trung tâm huyện

Bảng 3.2: Dân số phân chia theo xã, thị trấn; thành phần dân tộc

4.056

501

105 614

12.296 20.806

Kinh

Ca Dong Cor M¬ N«ng X¬ §¨ng D©n téc kh¸c

Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam 2012

- Giao thông, thủy lợi

Tuyến đường tỉnh ĐT 616 (Tam Kỳ - Tắc Pỏ) dài 95 km, qua địa bàn huyện Bắc Trà My dài 36 km, từ Dốc Tờn (Tiên Hiệp) đến km 27 (cầu Nước Xa), nền đường rộng 6,5 m, mặt đường rộng 4,5 m, thâm nhập nhựa, GTNT loại V, chất lượng tốt, đây

là tuyến đường đối ngoại chính của huyện

+ Tuyến ngã ba Trà Dương - Trà Nú (ĐH1) từ Km 55 - ĐT616 đến Km 13, dài

13 km, rộng 4,5 m, mặt đường 3,5 m, 1 km đường nhựa, 12 km đường đất, GTNT loại

B chất lượng trung bình, có 01 cầu bê tông Đồng Chùa

+Tuyến ngã ba Sông Ví đi Trà Nú, Trà Kót (ĐH2) từ km 8 đến

UBND xã Trà Kót, dài 8 km, nền rộng 4 m; GTNT loại B, đường đặc biệt xấu, cầu bê tông cốt thép Sông Ví

Trang 37

+Tuyến Bưu điện - Trà Giang (ĐH3) từ Bưu điện huyện đến km 6

dài 6 km, rộng 5,5 m, mặt đường 4,5 m, 1 km đã xâm nhập nhựa, còn lại 5 km đường đất, GTNT loại A, chất lượng trung bình; có 01 cầu bê tông Cầu Ri

+ Tuyến Trà Giác - Trà Giáp - Trà Ka (ĐH4) từ Km 22- ĐT616 đến UBND xã

dài 21 km, rộng 4,5 m, đường đất, GTNT loại B, đường đặc biệt xấu; có 03 cầu cầu bê tông: ông Giác, Cầu suối Kor, Cầu nước Vin

+ Tuyến ngã ba Trà Tân - Khu Di tích Nước Oa từ Km 5 - ĐT616 (ĐH5) đi

khu di tích Km 2 + 500, dài 2,5 km, rộng 5,5 m, đường đất; GTNT loại A, đường xấu, cầu bê tông Suối Tân

+ Tuyến Km 48 + Km 51 trên ĐT616 dài 3 km, nền đường rộng 6,5 m, mặt đường rộng 4,5 m, thâm nhập nhựa, GTNT loại V

+ Tuyến ngã Tư chợ đến Lâm trường dài 0,46 km, nền rộng 6,5 m, mặt đường rộng 4,5 m, thâm nhập nhựa, GTNT loại loại V, chất lượng tốt

+ Tuyến Bưu điện đến Cầu Ri dài 0,6 km, nền rộng 6,5 m, mặt 4,5 m, thâm nhập nhựa, GTNT loại V, chất lượng tốt

+ Tuyến ngã tư chợ đến Bệnh viện dài 0,5 km, nền đường rộng 6,5 m, mặt đường rộng 4,5 m, thâm nhập nhựa, GTNT loại V, chất lượng trung bình

+ Tuyến tây Bệnh viện từ Km 47 (cầu Cây đa) đến Bệnh viện dài 1,9 km, rộng

3 m, đường đất, đường đặc biệt xấu

+ Tuyến Cầu treo Trà Đốc đi thôn 2 dài 4 km, rộng 4,5 m, nền đường 3,5 m, cấp phối sỏi sông, giao thông nông thôn loại B, đường xấu

Nhìn chung hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đã tương đối hoàn chỉnh về tuyến, đã có đường xe ô tô đi đến các trung tâm xã và thông ra với trục chính ĐT 616,

có các đường mòn về các thôn, nóc Tuy vậy hầu hết đường chất lượng kém, đặc biệt

là ở các xã vùng cao Trà Giác, Trà Giáp, Trà Ka đường đặc biệt xấu

Trên địa bàn huyện có 26 đập dâng, 02 hồ chứa (nước Rôn, nước Rin); 14.590

m kênh chính, 2.250 m kênh cấp Đây là hệ thống thuỷ lợi cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất trên địa bàn, với tổng diện tích chủ động tưới khoảng 300 ha

Hiện nay công suất của một số công trình chưa được khai thác triệt để; nguồn kinh phí tu bổ, sửa chữa công trình hàng năm còn hạn chế nên có một số công trình xuống cấp, ảnh hưởng lớn đến diện tích đất canh tác hiện tại và khả năng khai hoang

mở rộng đất sản xuất

Trang 38

Bảng 3.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi trên địa bàn huyện

Nguồn:Phòng Thống kê huyện Bắc Trà My, Quảng nam 2013

Trang 39

Hiện nay nguồn nước sạch, điện lưới, thông tin liên lạc ở các thôn, nóc xa trung tâm xã là vấn đề đặc biệt cần quan tâm giải quyết nhằm đảm bảo 100% hộ dân được sử dụng nước sạch, điện và các nguồn thông tin truyền thanh, truyền hình

- Y tế, giáo dục

Huyện Bắc Trà My có 01 bệnh viện và 12/12 trạm y tế ở trung tâm các xã, thị trấn nên cơ bản đảm bảo khám chữa bệnh, thực hiện các chương trình y tế cộng đồng, chương trình mục tiêu Quốc gia về sức khoẻ; phòng chống dịch bệnh trên địa bàn

Tuy vậy do điều kiện địa bàn rộng lớn, điều kiện đi lại khó khăn; cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu nhiều nên việc khám chữa bệnh một số nơi còn nhiều khó khăn; công tác y tế thôn bản cũng có những hạn chế nhất định

Bảng 3.4: Một số số liệu ngành giáo dục huyện Bắc Trà My

+ Mẫu giáo (8) + Mẫu giáo (2.127) + Mẫu giáo (84)

+ Phổ thông (21) + Phổ thông (10.772) + Phổ thông (600)

Phổ thông cấp I+II (13) Phổ thông cấp I+II (5.270) Phổ thông cấp I+II (317)

Phổ thông cấp II (7) Phổ thông cấp II (4.289) Phổ thông cấp II (234)

Phổ thông cấp II+III (1) Phổ thông cấp II+III (1.213) Phổ thông cấp II+III (49)

(Nguồn: Phòng Giáo dục&Đào tạo, huyện Bắc Trà My, Quảng Nam 2012)

Hiện nay hệ thống các trường học các cấp trên địa bàn huyện đã tương đối hoàn chỉnh; các lớp học tiểu học, mầm non có đến thôn, bản, nóc

Hệ thống trường bán trú cụm xã tại Trà Bui, Trà Giác phát huy được hiệu quả, hạn chế đáng kể số lượng học sinh bỏ học do điều kiện trường học quá xa nơi ở

Điều kiện cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy và học còn nhiều thiếu thốn, một số cơ sở ở các thôn, nóc còn tạm bợ; việc đi lại, sinh hoạt của các bộ nhân viên ngành rất khó khăn do đường xa, đi vào thôn nóc chủ yếu là đi bộ

Trang 40

Bảng 3.5: Thống kê các công trình thể thao

Đơn vị hành chính Loại sân

thể thao

Diện tích (m 2 )

Địa điểm (thôn, tổ)

(Nguồn: Trung tâm văn hóa thể thao và du lịch Bắc Trà My, Quảng Nam 2012)

Các công trình văn hoá, thông tin:

- Trung tâm văn hóa huyện (01), diện tích 6.135,8 m2

- Thư viện huyện (01), diện tích 778,6 m2

Ngày đăng: 27/06/2021, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá ( 2005), Du lịch sinh thái, NXb Đại học quốc gia, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
2. Đào Đình Bắc ( 2004), Quy hoạch du lịch, NXb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
3. Trần Mạnh Đạt (2002), Giáo trình Bảo tồn đa dạng sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo trình Bảo tồn đa dạng sinh học
Tác giả: Trần Mạnh Đạt
Năm: 2002
5. Thế Đạt ( 2004), Du lịch và Du lịch sinh thái, NXb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và Du lịch sinh thái
6. Nguyễn văn Đính, Nguyễn Văn Mạnh ( 1995), Giáo trình tâm lý và nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh du lịch, NXb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý và nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh du lịch
7. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu ( 2002), Du lịch bền vững, NXb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
8. Kreg Lindberg và Donnal E.hawkin ( 1991), Du lịch sinh thái hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch quản lý, Cục môi trường – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch quản lý
9. Lê Văn Lanh ( 2005), “Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch tại các Vườn quốc gia”, Tạp chí du lịch Việt Nam, (số 11/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường trong hoạt động du lịch tại các Vườn quốc gia”, "Tạp chí du lịch Việt Nam
10. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( 2005), Luật du lịch Việt Nam, có hiệu lực từ 1/1/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch Việt Nam
11. Phạm Trung Lương ( 2002), Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
12. Phạm Trung Lương ( 2000), Tài nguyên môi trường và môi trường du lịch Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên môi trường và môi trường du lịch Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
13. Trần Huy Khang, Trần Ngọc Nam ( 2004), Marketing Du lịch, NXb Đại học Quốc gia, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Du lịch
14. TS. Định Trung Kiên( 2004), Một số vấn đề du lịch Việt Nam, NXb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề du lịch Việt Nam
16. Roland Eva và Schobhana Mandhavan, Vũ Văn Dũng, “Phương thức tiếp cận sinh thái”, Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên ở Khu bảo tồn thiên nhiên VũQuang, Dự án bảo tồnKhu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, IUCN.WWF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức tiếp cận sinh thái”, "Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ "Quang
17. Tổng cục Du lịch Việt Nam, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia ( 2000), Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch
18. Trần Đức Thanh ( 2003), Nhập môn khoa học Du lịch, NXb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học Du lịch
19. Lê Văn Thăng, Trần Anh Tuấn, Bùi Thị Thu ( 2008), Giáo trình du lịch và môi trường, NXb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình du lịch và môi trường
20. Nguyễn Quyết Thắng ( 2005), “ Quy hoạch Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, ( số 11/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
21. Tổng cục Du lịch Việt Nam, Bảo tồn thiên nhiên quốc tế, Ủy ban kinh tế – xã hội Châu Á – Thái Bình Dương ( 1999), Tuyển tập Báo cáo hội thảo xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam , (số 9/1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Báo cáo hội thảo xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
22. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế ( 1998), Tuyển tập báo cáo hội thảo về Du lịch và phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, (số 4/1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập báo cáo hội thảo về Du lịch và phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm