1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất phương án sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số tại xã canh hiệp, huyện vân canh, tỉnh bình định

85 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiện trạng và đề xuất phương án sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định
Tác giả Nguyễn Phúc Hưng
Người hướng dẫn TS. Trần Nam Thắng
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (10)
  • 1.2. Mục đích, mục tiêu của đề tài (12)
    • 1.2.1. Mục đích (12)
    • 1.2.2. Mục tiêu (12)
  • 1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (12)
    • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (12)
    • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (13)
    • 1.3.3. Điểm mới của đề tài (13)
  • Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.1. Dân tộc thiểu số, cộng đồng và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (15)
      • 1.1.1. Dân tộc thiểu số (15)
      • 1.1.2. Cộng đồng (16)
      • 1.1.3. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (16)
    • 1.2. Sự tham gia và vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng (17)
    • 1.3. Các chính sách trong quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia (20)
      • 1.3.1. Chính sách ở cấp quốc gia (20)
      • 1.3.2. Quyền lợi và hưởng lợi trong giao rừng, khoán bảo vệ rừng (23)
    • 1.4. Tình hình nghiên cứu về giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng (24)
    • 1.5. Một số nhận định chung về tổng quan (28)
    • 2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (29)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (29)
      • 2.1.2. Phạm vi nghiên cứu (29)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (29)
      • 2.2.1. Hiện trạng tài nguyên rừng, thực trạng công tác giao đất giao rừng (29)
      • 2.2.2. Hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên rừng từ góc độ cộng đồng (29)
      • 2.2.3. Xây dựng giải pháp về quy hoạch sử dụng đất, giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng (30)
      • 2.2.4. Các giải pháp hỗ trợ khác (30)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (30)
      • 2.3.1. Lựa chọn địa điểm nghiên cứu (30)
      • 2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu (31)
      • 2.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (33)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 3.1. Giới thiệu khu vực nghiên cứu (35)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (35)
      • 3.1.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (36)
      • 3.1.3. Điều kiện kinh tế xã hội (37)
    • 3.2. Thực trạng công tác giao đất giao rừng ở khu vực nghiên cứu (38)
      • 3.2.1. Những Thuận lợi và khó khăn chung (38)
      • 3.2.2. Tình hình thực hiện giao đất, giao rừng (39)
      • 3.2.3. Công tác giao đất lâm nghiệp và kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (42)
      • 3.2.4. Công tác giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số (43)
      • 3.2.5. Thuận lợi, khó khăn, bất cập trong công tác giao đất, giao rừng (45)
    • 3.3. Thực trạng công tác khoán bảo vệ rừng ở xã Vân Canh (48)
      • 3.3.1. Tình hình thực hiện giao khoán bảo vệ rừng (48)
      • 3.3.2. Thuận lợi, khó khăn, bất cập trong công tác khoán bảo vệ rừng (49)
    • 3.4. Các phương thức quản lý bảo vệ rừng sau khi giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng (51)
      • 3.4.1. Hương ước, quy ước cộng đồng – công cụ quản lý bảo vệ rừng (51)
      • 3.4.2. Các hình thức quản lý, bảo vệ rừng sau khi giao, khoán (53)
    • 3.5. Mức độ phụ thuộc vào tài nguyên và hiệu quả quản lý bảo vệ rừng (57)
      • 3.5.1. Tình hình thu nhập của các hộ nhận khoán (57)
      • 3.5.2. Thu nhập từ các hoạt động liên quan tới tài nguyên rừng tự nhiên (64)
      • 3.5.3. Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp (68)
      • 3.5.4. Hiệu quả của việc thực hiện giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng (69)
    • 3.6. Các giải pháp liên quan tới giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng (70)
      • 3.6.1. Giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình, cải thiện đời sống người dân (70)
      • 3.6.2. Giải pháp về mặt xã hội, thực hiện chính sách và sự tham gia (72)
      • 3.6.3. Giải pháp về hình thức giao khoán bảo vệ rừng (72)
      • 3.6.4. Giải pháp hỗ trợ các biện pháp kỹ thuật phát triển LSNG (73)
      • 3.6.5. Giải pháp thiết lập cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (74)
      • 3.6.6. Giải pháp giao bổ sung diện tích rừng và đất rừng (74)
  • CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (77)
    • 4.1. Kết luận (77)
    • 4.2. Kiến nghị (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (80)
  • PHỤ LỤC (83)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm đầu thế kỷ 20, rừng tự nhiên từng chiếm phần lớn diện tích bề mặt trái đất, nhưng hiện nay đang bị thu hẹp do hoạt động khai thác lâm sản, canh tác nông nghiệp và xây dựng không kế hoạch Sự suy giảm diện tích rừng đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội và môi trường của cộng đồng gần rừng Nguyên nhân chính là do công tác quản lý tài nguyên rừng còn nhiều bất cập, dù có chủ trương phục hồi rừng nhưng các chương trình thực hiện thường mang tính phong trào Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tài nguyên rừng chủ yếu dựa trên hiện trạng sử dụng, ít chú trọng đến tiềm năng và khả năng đáp ứng của rừng đối với nhu cầu xã hội và bảo đảm an ninh môi trường.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội ở vùng nông thôn miền núi và vùng sâu, vùng xa Các chính sách này tập trung vào việc tăng cường quyền tiếp cận và sở hữu tài nguyên thiên nhiên cho người dân, đặc biệt là cộng đồng sống gần rừng Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng đã hỗ trợ người dân trong việc ra quyết định về đất đai Thêm vào đó, chính sách giao đất, khoán rừng cho tổ chức và cá nhân đã tạo ra sự thay đổi lớn trong cải thiện đời sống của người dân phụ thuộc vào rừng và nâng cao độ che phủ rừng toàn quốc.

Trong những năm qua, các huyện miền núi tỉnh Bình Định đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống, như chương trình xóa đói giảm nghèo và các dự án trồng rừng Những chương trình này đã giúp tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nông nghiệp chủ yếu Tuy nhiên, chính sách giao đất giao rừng và cơ chế hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, khiến người dân ở một số địa phương thiếu đất sản xuất Điều này cản trở quyền tiếp cận và sử dụng rừng, dẫn đến việc một số hộ gia đình phải phụ thuộc vào rừng để sinh sống, gây ra tình trạng khai thác lâm sản và động vật hoang dã trái phép Cần có sự điều chỉnh chính sách để cải thiện đời sống cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Chúng tôi cần xem xét lại vấn đề giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng một cách khách quan, với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là người dân địa phương.

Vì vậy, một số câu hỏi đặt ra cho vấn đề nghiên cứu là:

Tình hình giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng cho người dân tộc thiểu số tại tỉnh Bình Định hiện nay đang gặp nhiều thách thức Việc thực hiện giao đất, giao rừng cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo rằng nó thực sự phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng địa phương Cần có sự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định để tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài nguyên rừng.

Hiện nay, việc phân cấp các loại rừng và giao/khoán quản lý bảo vệ cho các chủ quản lý cần được xem xét lại để đảm bảo tính công bằng và phù hợp Cần đánh giá thực trạng quản lý rừng truyền thống của từng địa phương để xác định liệu các biện pháp hiện tại có thực sự đáp ứng điều kiện thực tế hay không.

- Rừng có được bảo vệ khi có chủ thực sự theo xu hướng bền vững dựa vào sức mạnh của cộng đồng không?

- Thu nhập của người dân qua chính sách giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng ra sao?

Hiện trạng sinh kế của người dân địa phương có sự liên quan chặt chẽ đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, cần đánh giá tình hình giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng trong khu vực Việc đề xuất giải pháp quy hoạch sử dụng đất là cần thiết để đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển Chúng ta nên chú trọng đến quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững, nhằm sử dụng và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tôn trọng quyền sở hữu truyền thống và đáp ứng nhu cầu phát triển sinh kế của người dân địa phương Do đó, nghiên cứu này sẽ tập trung vào những khía cạnh trên.

Bài viết "Đánh giá hiện trạng và đề xuất phương án sử dụng đất Lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định" nhằm đưa ra các giải pháp thực tiễn và khả thi trong quy hoạch sử dụng đất Mục tiêu là giao đất, giao rừng để người dân có thể yên tâm nhận đất, nhận rừng, từ đó khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rừng.

Mục đích, mục tiêu của đề tài

Mục đích

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng và các phương thức quản lý, bảo vệ liên quan đến giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng trong khu vực nghiên cứu Từ đó, đề xuất phương án sử dụng đất lâm nghiệp khả thi nhằm thực hiện hiệu quả các chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp cộng đồng.

Mục tiêu

Đánh giá thực trạng quản lý đất lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu cho thấy tình hình quản lý, tiến trình giao đất và giao rừng còn nhiều hạn chế Việc khoán quản lý và bảo vệ rừng cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả bảo tồn tài nguyên rừng Cần có các giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý đất lâm nghiệp.

Đánh giá hiện trạng quản lý tài nguyên rừng cho thấy nhiều mâu thuẫn trong việc sử dụng và bảo vệ rừng Hiệu quả của công tác giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng cần được xem xét kỹ lưỡng để cải thiện tình hình Việc phân chia và quản lý tài nguyên rừng một cách hợp lý là cần thiết nhằm bảo đảm sự bền vững và giảm thiểu xung đột trong cộng đồng.

- Đề xuất Phương án sử dụng đất lâm nghiệp, đẩy mạnh giao đất giao rừng cho người đồng bào địa phương

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này đánh giá hiện trạng và kết quả giao đất giao rừng trong khu vực nghiên cứu, nhằm xem xét hiệu quả của hoạt động này Bài viết tìm hiểu những thành quả đạt được, đồng thời chỉ ra những bất cập và trở ngại trong quá trình triển khai Qua đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp để điều chỉnh, bổ sung cho tiến trình, nâng cao hiệu quả phòng hộ rừng và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.

Kết quả giao đất và giao rừng cùng với quy hoạch sử dụng đất sẽ giúp người dân địa phương có quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên rừng ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp Điều này cũng là cơ sở cho việc triển khai hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại tỉnh Bình Định.

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu này cung cấp tư liệu quan trọng cho các nhà chức trách trong việc thiết kế hệ thống quản lý nhằm hỗ trợ cộng đồng dân tộc thiểu số sử dụng tài nguyên rừng bền vững Nghiên cứu được thực hiện tại xã Vân Canh, tỉnh Bình Định, nơi có diện tích rừng do người dân địa phương quản lý thuộc quy hoạch rừng phòng hộ Vấn đề chồng chéo trong sở hữu và sử dụng tài nguyên cần sự tham gia giải quyết từ các bên liên quan Những phát hiện từ nghiên cứu góp phần giải quyết các mâu thuẫn hiện tại trong khu vực.

Điểm mới của đề tài

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các hộ gia đình cá nhân tại xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, đặc biệt là những hộ không có đất hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, cần có các biện pháp hỗ trợ phát triển sản xuất và ổn định đời sống kinh tế Điều này sẽ góp phần quan trọng vào công tác xóa đói giảm nghèo tại địa phương, phù hợp với nghị quyết của Đại hội Đảng bộ xã Canh Hiệp khóa XIV.

Nhà nước cần tạo điều kiện cho hộ gia đình cá nhân tiếp cận nguồn tài nguyên đất đai, giúp nhân dân khai thác và đầu tư sản xuất một cách hiệu quả và bền vững Đồng thời, UBND xã phải nâng cao công tác quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tuân thủ đúng quy định của luật đất đai hiện hành.

- Trong công tác quản lý đất đai phải đúng đối tượng, đúng chủ trương và đúng chính sách, đúng trình tự quy định của pháp luật

- Hộ gia đình cá nhân khi được giao đất phải sử dụng đúng ranh giới, đúng mục đích, sử dụng sản xuất phải đạt hiệu quả

Nhà nước cần tạo điều kiện cho hộ gia đình nắm bắt và hiểu biết về pháp luật đất đai khi giao quyền sử dụng ổn định lâu dài Đồng thời, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ giúp nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế khi được giao đất.

Đảm bảo tính minh bạch, công khai, công bằng và dân chủ trong quá trình giao đất cho hộ gia đình và cá nhân là rất quan trọng Điều này cần được thực hiện trước, trong và sau khi giao đất, đồng thời phải tuân thủ quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Dân tộc thiểu số, cộng đồng và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng

Khu vực miền Trung và Nam Trung Bộ Việt Nam có khoảng 12 dân tộc thiểu số sinh sống xen kẽ, với mối quan hệ thân thiện và chung một vận mệnh lịch sử Người dân nơi đây chủ yếu phụ thuộc vào rừng núi, thực hiện việc đốt rừng để làm nương rẫy Tuy nhiên, tiến trình phát triển xã hội trong vùng dân tộc thiểu số diễn ra chậm, dẫn đến trình độ dân trí và phát triển kinh tế - xã hội còn yếu kém.

Theo đề án “Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy giai đoạn 2008 - 2012” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007), vùng trung du và miền núi là nơi cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu số.

- Nhóm dân tộc ngôn ngữ Tày- Thái: Cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Khu vực phía Tây tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An

Nhóm dân tộc H’Mông-Dao chủ yếu sinh sống ở các khu vực giao thoa với các dân tộc Tày- Thái tại các tỉnh miền núi phía Bắc, cũng như ở phía Tây tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An.

Nhóm dân tộc ngôn ngữ Hán, bao gồm Hoa, Sán Dìu và Sán Trí, chủ yếu sinh sống tại những khu vực nhỏ hẹp ở Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Thái Nguyên.

Nhóm dân tộc ngôn ngữ Nam Đảo chủ yếu sinh sống tại khu vực phía Tây và Đông Nam tỉnh Gia Lai, cũng như một số khu vực nhỏ ở phía Tây tỉnh Phú Yên Ngoài ra, họ còn cư trú tại một vài vùng nhỏ của Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Nhóm dân tộc ngôn ngữ Môn – Khơ Me chủ yếu cư trú ở phía Tây các tỉnh như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, khu vực phía Đông tỉnh Gia Lai, và một số khu vực giáp ranh giữa Đắk Lắk và Lâm Đồng.

Theo Cục thống kê tỉnh Bình Định: Năm 2014 tỉnh Bình Định có 2.161.000 nhân khẩu, bao gồm nhiều nhiều dân tộc khác nhau như: Người Kinh

Với tổng dân số 2.134.154 người, chiếm 98,75% là cư dân sống ở đồng bằng và thành phố Ngoài ra, dân tộc Bana có 26.415 người, tương đương 1,23% dân số; dân tộc Thái với 235 người, chiếm 0,011%; dân tộc H’rê có 196 người, tương đương 0,009%; và dân tộc Chăm với 23.446 người, chiếm 1,12% dân số.

Các đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định chủ yếu sinh sống tại các huyện miền núi và trung du, với làng là tổ chức xã hội cơ bản của các tộc người nơi đây Gia đình và dòng họ tạo thành cấu trúc của làng, và hầu hết đồng bào các tộc người ở miền núi Bình Định chưa từng biết đến các đơn vị xã hội truyền thống lớn hơn hoặc nhỏ hơn làng.

Cộng đồng được định nghĩa là một nhóm người sống trong cùng một khu vực, thường chia sẻ các mục tiêu chung, luật lệ xã hội và có mối quan hệ gia đình hoặc xã hội với nhau.

Cộng đồng dân cư bao gồm người Việt Nam sống tại các thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và những khu vực dân cư tương tự, chia sẻ phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ.

Cộng đồng dân cư thôn bao gồm tất cả các hộ gia đình và cá nhân sinh sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc các đơn vị tương đương.

Làng cổ truyền là đơn vị xã hội quan trọng nhất trong cộng đồng Chăm, Bana, Thái, bao gồm những người có quan hệ huyết thống hoặc không huyết thống, cùng sinh sống và làm việc trong một khu vực nhất định.

1.1.3 Qu ả n lý tài nguyên d ự a vào c ộng đồ ng

Theo FAO (1978), lâm nghiệp cộng đồng được định nghĩa là bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp Tuy nhiên, thuật ngữ này thường được hiểu một cách hẹp hơn, chỉ các hoạt động lâm nghiệp do cộng đồng hoặc nhóm người dân địa phương thực hiện Tại Nepal, khái niệm “Nhóm sử dụng rừng” (Forest User Group) được sử dụng để mô tả các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng do các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng tổ chức.

Tham gia cộng đồng là yếu tố then chốt trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng, giúp người dân địa phương tham gia vào quản lý tài nguyên Tuy nhiên, cần phân biệt giữa các hình thức tham gia của họ trong hoạt động phát triển nông thôn và trong quản lý rừng cộng đồng.

Lâm nghiệp “đồng quản lý” hay lâm nghiệp “có sự tham gia” là một phương pháp mới, nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng thông qua sự đồng thuận giữa các bên liên quan Cần xác định cách phát huy vai trò của người dân địa phương trong việc quản lý rừng để đảm bảo lợi ích cho họ mà không xung đột với lợi ích chung Đồng thời, cần làm rõ những thay đổi cần thiết để người dân sống trong khu vực rừng có thể hợp tác với các cơ quan lâm nghiệp địa phương nhằm xây dựng một hệ thống quản lý rừng bền vững.

Sự tham gia và vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng

Thuật ngữ “cộng đồng” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, nơi cộng đồng thường được định nghĩa là “một nhóm người chia sẻ lợi ích, mối quan tâm hay mối liên hệ chức năng hay đạo đức” Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về “quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng”, đôi khi còn được đồng nhất với “quản lý rừng cộng đồng” Việc xây dựng lý thuyết chung từ các nghiên cứu hành động đã thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế trong hơn một thập kỷ qua, như chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (CBNRM) của IDRC Cơ sở của việc thiết kế hệ thống quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là xem xét sự phù hợp giữa các định chế quản lý của con người và hệ thống tự nhiên sinh học của môi trường, tức là “vấn đề của sự phù hợp” giữa hệ sinh thái tự nhiên và hệ thống nhân văn.

Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành phương thức phổ biến tại Việt Nam, song song với quản lý rừng nhà nước và tư nhân Phương thức này thể hiện sự đa dạng qua nhiều hình thức như rừng và đất rừng do cộng đồng tự quản lý từ lâu, rừng được giao cho cộng đồng quản lý lâu dài, và rừng của các tổ chức nhà nước khoán cho cộng đồng bảo vệ và trồng mới Ngoài ra, các hộ gia đình trong cộng đồng còn liên kết thành nhóm để hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động lâm nghiệp, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của quản lý rừng cộng đồng.

Quản lý tài nguyên rừng là quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược nhằm giải quyết đồng thời các vấn đề của con người và môi trường Thay vì xem cộng đồng như một đối tượng quản lý, việc phân tích sự tham gia của họ như một chủ thể là cần thiết cho quản lý bền vững tài nguyên rừng Lâm nghiệp đồng quản lý, hay lâm nghiệp có sự tham gia, là một phương pháp mới nhấn mạnh sự đồng thuận giữa các bên liên quan trong quản lý Cần xác định cách phát huy vai trò của người dân địa phương trong việc quản lý rừng vì lợi ích của họ mà không mâu thuẫn với lợi ích chung Đồng thời, cần làm rõ những thay đổi cần thiết để cộng đồng sống trong rừng hợp tác với các cơ quan lâm nghiệp xây dựng hệ thống quản lý bền vững Theo báo cáo của IDRC, các định chế quản lý tài nguyên cần phù hợp với cả hệ thống nhân văn và tự nhiên để đạt hiệu quả cao nhất.

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau, với mức độ tham gia của cộng đồng địa phương cũng đa dạng Một trong những phương thức nổi bật là mô hình "liên kết quản lý rừng", kết nối các cơ quan lâm nghiệp nhà nước với cộng đồng ở Ấn Độ, nhằm phát triển bền vững tài nguyên rừng.

Nhóm sử dụng tài nguyên rừng ở Nepal, cùng với việc tổ chức các cộng đồng đăng ký quản lý rừng tại Philippines, đã góp phần vào việc thể chế hóa hình thức quản lý rừng cộng đồng ở Thái Lan Trường hợp của Thái Lan minh chứng rằng việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý cho khái niệm rừng cộng đồng là một quá trình lâu dài và phức tạp, được sự chấp nhận của các nhóm liên quan.

Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng cần các hoạt động tập thể, trong đó các hộ gia đình xây dựng hình thức quản lý chung khi nhận khoán bảo vệ rừng Họ có thể phối hợp trong việc tuần tra, phân công nhiệm vụ bảo vệ và thực hiện các biện pháp sản xuất hợp pháp Nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng yêu cầu phân tích sự tham gia của các thành viên, bao gồm ai tham gia, cách thức họ đóng góp vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, cũng như các động cơ thúc đẩy sự tham gia của họ.

Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng không có mô hình chung, mà phụ thuộc vào bối cảnh tự nhiên và xã hội của từng cộng đồng Chambers (1991) chỉ ra rằng khái niệm “tham gia” có nhiều cách hiểu khác nhau, và cần phân biệt giữa các mức độ và loại hình tham gia Sự tham gia có thể được xem như một phương tiện để thực hiện biện pháp quản lý từ bên ngoài, hoặc như một mục đích nhằm phát huy nội lực của cộng đồng địa phương Tham gia đã trở thành một phần của “ngôn ngữ phát triển” hiện đại và là tiêu chuẩn của quản lý bền vững Mức độ và hình thức tham gia bị ảnh hưởng bởi bối cảnh xã hội, nhưng điều quan trọng là người dân phải được tham gia vào các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.

Trong những năm gần đây, khái niệm tham gia đã có nhiều sáng tạo, đặc biệt là trong phương pháp luận và công cụ làm việc như đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), đóng vai trò quan trọng trong phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng Sriskandarajah và cộng sự (1996) đã chỉ ra bốn yếu tố quan trọng: (1) sự tham gia thực chất của cộng đồng trong quyết định quản lý; (2) cơ chế đảm bảo sự tham gia liên tục trong quá trình quản lý; (3) phân tích các bên liên quan và mức độ ảnh hưởng của họ; (4) đánh giá đúng mức tri thức địa phương và phương thức quản lý truyền thống nhằm duy trì tính bền vững của tài nguyên và công bằng trong việc hưởng lợi từ quản lý.

Các chính sách trong quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia

1.3.1 Chính sách ở cấp quốc gia

Quá trình chuyển hướng chiến lược của ngành lâm nghiệp từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp nhân dân và xã hội hóa ngành lâm nghiệp trong hơn 20 năm qua đã tạo ra nhiều yếu tố tích cực, đa dạng hóa hình thức quản lý và phương thức tiếp cận tài nguyên rừng Sự chuyển đổi này không chỉ thúc đẩy lâm nghiệp quốc doanh mà còn phát huy vai trò của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là cộng đồng và hộ gia đình trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Tuy nhiên, lâm nghiệp cộng đồng vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn thí điểm và chưa được pháp lý công nhận tính đến ngày 3 tháng 12.

Năm 2004, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng, trong đó công nhận cộng đồng là chủ thể được giao rừng với quyền và nghĩa vụ cụ thể tại Điều 29 và 30 Đây là một bước đi đúng đắn nhằm tăng cường xã hội hóa nghề rừng, củng cố quản lý và phát triển vốn rừng, đồng thời góp phần ổn định và nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi, bảo đảm an ninh chính trị và quốc phòng.

Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (sửa đổi 2004) cho phép giao khoán đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cùng với Nghị định 64/CP năm 1993 trao quyền sử dụng rừng lâu dài cho người dân Chương trình “phủ xanh đất trống đồi núi trọc” từ năm 1993 đã khuyến khích người dân tham gia trồng rừng và nhận tiền công cho lao động của họ Nghị định 02/CP và Nghị định 163/NĐ-CP cho phép giao đất, giao rừng cho hộ gia đình trong 50 năm, và Nghị định 01/CP năm 1995 quy định các hộ chăm sóc rừng sẽ được trả thù lao định kỳ và có cơ hội nhận giao khoán rừng để bảo vệ Những chính sách này đã tạo điều kiện cho người dân quyết định đầu tư sản xuất trên đất của mình, góp phần giảm hoạt động canh tác nương rẫy ở nhiều vùng miền núi Việt Nam.

Dưới hình thức quản lý tập trung của nhà nước, chính sách bảo vệ rừng và quyền lợi trong sử dụng đất sẽ xác định ai có quyền tiếp cận tài nguyên rừng Tại Việt Nam, toàn bộ đất đai thuộc quản lý của Nhà nước, và chính sách đất đai sẽ quyết định trạng thái sử dụng và quyền sở hữu đất Johnson và Barlowe (1954) coi đất là tài nguyên tự nhiên với những lợi ích hiện tại và tiềm năng cho con người, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt cho những người canh tác nương rẫy, những người có ít cơ hội kiếm sống từ các hoạt động phi nông nghiệp.

Quyết định 661/QĐ-TTg, được ban hành vào tháng 12/1997 và tháng 07/1998, khởi động chương trình trồng rừng quốc gia, hay còn gọi là chương trình 661, với ba mục tiêu chính: (1) trồng mới 5 triệu ha rừng để nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 43% trong giai đoạn 1998-2010; (2) sử dụng đất trống nhằm tạo việc làm, giảm nghèo, định canh định cư và nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số; (3) cung cấp gỗ và sản phẩm rừng cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu Mục tiêu của chương trình là biến rừng thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội miền núi, với sự tham gia tích cực của người dân trong việc trồng, bảo vệ và hưởng lợi từ rừng.

Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2005, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của họ trong việc quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng Luật cũng tạo điều kiện ưu đãi và động lực kinh tế cho các chủ rừng, khuyến khích họ đầu tư vào sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, góp phần bảo vệ và phát triển rừng.

Từ sau đổi mới và đặc biệt từ sau Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm

Kể từ năm 2004, các phương thức quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng đã được thể chế hóa qua các quyết định của Nhà nước và ngành lâm nghiệp Mặc dù đời sống của các cộng đồng đã được cải thiện đáng kể, việc kết hợp hài hòa giữa mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo tồn tài nguyên rừng vẫn là một thách thức lớn Trong bối cảnh các cuộc cải cách ngành lâm nghiệp nhằm bảo vệ rừng, các biện pháp đưa ra có thể mang lại lợi ích cho quản lý rừng, nhưng vẫn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng.

Người nghèo thường nhận được ít lợi ích hơn so với mong đợi, đặc biệt khi các địa phương tập trung vào lợi ích kinh tế ngắn hạn, dẫn đến tác động tiêu cực đối với tài nguyên rừng Tuy nhiên, quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng đang có nhiều cơ hội phát triển, như phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường bình đẳng giới, thực hiện chính sách dân tộc và chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo, đặc biệt cho những người không có đất Mặc dù vậy, vẫn tồn tại thách thức về nhận thức, khi một số viên chức lâm nghiệp vẫn giữ quan điểm truyền thống để bảo vệ độc quyền trong quản lý rừng, thay vì tìm kiếm các phương pháp sáng tạo để nâng cao năng lực quản lý của cộng đồng địa phương và khuyến khích họ tham gia tích cực hơn vào công tác bảo vệ rừng.

Nhu cầu bảo vệ rừng bền vững đã dẫn đến nghiên cứu đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng cho các dân tộc thiểu số tại xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định.

1.3.2 Quy ề n l ợi và hưở ng l ợ i trong giao r ừ ng, khoán b ả o v ệ r ừ ng

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (1991) quy định chủ rừng có những quyền lợi sau đây:

Người sử dụng rừng và đất trồng rừng được đảm bảo quyền lợi ổn định và lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước Họ có quyền chủ động trong sản xuất, kinh doanh cũng như trong việc quản lý và sử dụng rừng theo quy định của pháp luật.

Người lao động có quyền hưởng thành quả từ công việc và đầu tư trên diện tích rừng và đất trồng rừng được giao Họ có thể thừa kế, chuyển nhượng hoặc bán những thành quả này cho người khác theo quy định của pháp luật.

Người dân sẽ được đền bù và bồi hoàn cho thành quả lao động cũng như kết quả đầu tư trên đất rừng và đất trồng rừng, dựa trên giá thị trường hiện tại và tình trạng thực tế của rừng, đất trồng rừng khi có quyết định thu hồi theo quy định.

Người dân sẽ nhận được hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ vốn từ chính sách của Nhà nước, đồng thời được hưởng lợi từ các công trình công cộng như bảo vệ và cải tạo rừng cũng như đất trồng rừng.

 Được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích rừng, đất trồng rừng được giao

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) quy định rõ ràng quyền của các chủ rừng, bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, và tổ chức, cá nhân nước ngoài Luật không chỉ đưa ra quyền lợi chung mà còn quy định quyền lợi cụ thể cho từng loại chủ rừng Các quyền mới đáng chú ý bao gồm quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, và thừa kế quyền sử dụng.

Theo Quyết định 178 (2001), hộ gia đình và cá nhân có quyền hưởng lợi từ các tổ chức khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, bao gồm việc nhận tiền công khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh theo hợp đồng Họ cũng được phép thu hái lâm sản phụ trong rừng và khai thác gỗ, tre, nứa theo số lượng quy định để phục vụ cho nhu cầu xây dựng nhà cửa.

Tình hình nghiên cứu về giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng

Chính sách giao đất và giao rừng tại Việt Nam đã được thực hiện trong hơn 20 năm qua Nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này cho thấy những kết quả đáng chú ý về giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng.

Nguyễn Đình Tư (1994) đã đề xuất bốn định hướng quan trọng nhằm đổi mới chính sách giao đất, giao rừng ở miền núi, bao gồm: (i) đảm bảo giao đất, giao rừng cho hộ gia đình và tổ chức phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm củng cố và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tại nông thôn miền núi; (ii) tạo điều kiện để phát huy sức sản xuất của đồng bào các dân tộc miền núi, phát triển sản xuất ổn định, lựa chọn cơ cấu cây trồng và vật nuôi hợp lý, đồng thời bảo vệ đất đai và môi trường sinh thái; (iii) khuyến khích sự hình thành nền sản xuất hàng hoá ở miền núi thông qua việc tạo ra các hình thức sở hữu và sử dụng đất, rừng đa dạng, góp phần vào sự phân công lao động xã hội mới; và (iv) đảm bảo mọi loại đất đai, rừng đều có chủ cụ thể, ưu tiên cho đồng bào các dân tộc địa phương trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên.

Theo Trần Thanh Bình (1994), trong bài viết về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi, tác giả đã đề xuất 7 giải pháp quan trọng Một trong những giải pháp chủ chốt là xác định quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ gia đình, dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc Điều này không chỉ giúp xác lập quyền và nghĩa vụ của các hộ trong việc phát triển kinh tế mà còn thúc đẩy việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Hơn nữa, giải pháp này còn nhằm xác định mối quan hệ quyền lợi giữa các hộ gia đình và Nhà nước, góp phần vào việc phát triển bền vững hệ sinh thái rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ.

Theo nghiên cứu của Jean-Christophe và Đặng Đình Quang (2002) về sự đổi mới ở vùng miền núi Bắc Kạn, Việt Nam, tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp đến nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được phân tích Kết quả cho thấy chính sách này có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động bảo vệ rừng trong khu vực.

Người dân ngày càng nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng, bởi hệ thống sản xuất của họ chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên này Họ hiểu rằng sự suy thoái và khai thác quá mức tài nguyên rừng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Với chính sách giao quyền mới, người dân sẽ tự chịu trách nhiệm về đất đai được giao, và họ hoàn toàn hài lòng khi không ai khác ngoài họ có quyền khai thác nguồn tài nguyên này.

Theo Lâm Quang Hiền (2004), việc quản lý tài nguyên rừng ngập mặn cần dựa trên sự tham gia của cộng đồng, như minh chứng qua nghiên cứu tại xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Hiện nay, hiệu lực thực thi các quy định lâm nghiệp còn thấp, góp phần vào sự suy giảm của rừng ngập mặn Để cải thiện tình hình, cần tăng cường thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cùng các quy định liên quan Tuy nhiên, việc thu hút cộng đồng vào giám sát thực thi quy định vẫn chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng vi phạm vẫn diễn ra Sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương vào hệ thống quản lý còn hạn chế, trong khi lực lượng bảo vệ rừng lại thiếu về số lượng và phương tiện Do đó, cần thiết lập cơ chế để cộng đồng có thể tham gia tích cực vào giám sát và quản lý rừng.

Giao đất, giao rừng là một chủ trương hợp lòng dân, giúp hạn chế tình trạng mất rừng Mặc dù người dân chấp nhận mức hưởng lợi trong tương lai, thu nhập hiện tại từ rừng còn thấp Họ có thể thu nhập từ sản phẩm rừng tự nhiên, nhưng cần tìm cách để tận dụng đất lâm nghiệp đã giao thông qua sản phẩm nông lâm do chính họ sản xuất hoặc qua hợp đồng sản xuất.

Bảo Huy (2005) đã kết luận rằng việc xây dựng mô hình quản lý rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng dân tộc thiểu số Jrai và Bahnar tại tỉnh Gia Lai là rất quan trọng Giao đất và giao rừng được xem là tiền đề cho sự phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng Kết quả của thí điểm cho thấy đã xây dựng thành công hai phương án giao đất và giao rừng cho hai cộng đồng.

Ba Na và Jrai ở tỉnh Gia Lai có những đặc điểm chung trong quản lý rừng như sau: cộng đồng đề xuất phương thức nhận rừng thông qua nhóm hộ hoặc cộng đồng dân cư làng; ranh giới quản lý được quy hoạch dựa trên ranh giới truyền thống của làng và bao quanh một lưu vực; thành lập ban quản lý rừng cộng đồng với quy ước riêng để quản lý; và ngoài mục đích kinh doanh gỗ, còn có mục đích bảo vệ nguồn nước và lưu vực.

Nguyễn Thị Kim Tài (2006) trong nghiên cứu về sinh kế của người dân địa phương tại xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng cho rằng giao đất và giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý là giải pháp phù hợp cho người Mạ Việc thiết lập khu rừng kiểu mẫu cho phép người dân tham gia quản lý và học tập trên thực địa sẽ tạo ra phương thức giáo dục môi trường hiệu quả và sinh động hơn Hơn nữa, việc sử dụng hệ thống truyền thông truyền thống của cộng đồng người Mạ sẽ nâng cao hiệu quả trong việc giáo dục nhận thức quản lý rừng.

Bảo Huy (2006) đã đề xuất giải pháp xác lập cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, trong đó nêu rõ kết quả phân chia lợi ích từ rừng Cụ thể, cơ chế này tập trung vào việc phân chia lợi ích từ gỗ phục vụ nhu cầu gia dụng cho các cộng đồng được giao quản lý rừng.

Ban quản lý rừng cộng đồng sẽ tổ chức họp dân hàng năm để quyết định số hộ được phép khai thác gỗ cho mục đích gia dụng, như xây dựng nhà và chuồng trại Các hộ này sẽ đóng góp một phần lệ phí cho thôn, được sử dụng để quản lý rừng Đối với gỗ khai thác phục vụ thương mại, số cây được bán ra thị trường sẽ được phân chia lợi ích theo cơ chế đã thống nhất.

 Nộp thuế tài nguyên khoảng 15% (phần nộp thực tế sẽ căn cứ vào nhóm gỗ và quy định hiện hành)

 Phân bố về Ủy ban nhân dân xã để chi phí quản lý rừng và thù lao cho Ban lâm nghiệp xã khoảng 10%

 75% còn lại là phần lợi ích của cộng đồng quản lý bảo vệ rừng

Trong bối cảnh pháp luật hiện hành, Nhà nước cần quản lý hoặc đồng quản lý với cộng đồng địa phương để bảo vệ và phát triển rừng Sự hợp tác của cộng đồng trong các hoạt động như bảo vệ, trồng rừng, tuần tra và phòng cháy chữa cháy rừng đã mang lại hiệu quả tích cực cho công tác bảo tồn và cải thiện sinh kế Mặc dù săn bắt động vật và khai thác lâm sản là nguồn thu nhập bổ sung, nhưng những hoạt động này đang đe dọa nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của khu bảo tồn Việc cấm lấy củi và khai thác cây thuốc, cùng với thiếu đất sản xuất, đã gây khó khăn cho đời sống người dân Hơn nữa, sự tham gia của người dân địa phương trong quản lý khu bảo tồn đã chứng minh hiệu quả hơn so với việc chỉ dựa vào pháp luật và các biện pháp bảo vệ khác.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngãi (2006), có bốn hình thức quản lý rừng cộng đồng tại vùng núi phía Bắc Việt Nam, được hình thành từ các nguồn gốc khác nhau.

 Rừng cộng đồng truyền thống do cộng đồng tự nhận từ lâu đời

 Rừng của thôn bản được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

 Rừng giao cho nhóm hộ đồng quản lý

 Rừng giao cho hộ nhưng các hộ tự liên kết cùng quản lý

Một số nhận định chung về tổng quan

Qua những thông tin thu thập được, chúng tôi nhận thấy rằng:

Mỗi dân tộc đều sở hữu những phong tục tập quán riêng biệt trong các lĩnh vực như văn hóa, đời sống, tín ngưỡng và tâm linh, bao gồm cả cách thức sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên.

Giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số là một hình thức quản lý tài nguyên cộng đồng hiệu quả, đã được nghiên cứu tại nhiều địa phương và đối với các dân tộc khác nhau Những nghiên cứu này đã mang lại kết quả khả quan, cho thấy sự tương đồng trong một số trường hợp, nhưng cũng chỉ ra rằng các kết quả thường phụ thuộc vào đặc điểm địa lý, lịch sử và tập quán của từng dân tộc.

Nhiều chủ trương và chính sách đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển nông thôn, tuy nhiên, các chính sách này cần được điều chỉnh theo từng giai đoạn lịch sử Việc triển khai những chính sách này đến từng vùng miền và dân tộc là một vấn đề quan trọng cần được chú trọng.

Quan điểm xem hộ gia đình là thành viên cấu thành một cộng đồng nhấn mạnh rằng làng, bản là một hệ thống động, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội Việc giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng là cần thiết trong quản lý rừng, nhằm khai thác hợp lý tài nguyên rừng để tăng thu nhập cho người dân Điều này không chỉ tạo động lực phát triển kinh tế hộ gia đình mà còn đảm bảo sự bền vững trong phát triển kinh tế.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Ba Na và Chăm, cư trú tại xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, cùng với các chủ rừng là tổ chức và các cơ quan, đơn vị liên quan, tham gia tích cực vào hoạt động giao đất và khoán rừng trong khu vực nghiên cứu.

- Hoạt động giao đất giao rừng, quy hoạch sử dụng đất ở khu vực nghiên cứu

2.1.2 Ph ạ m vi nghiên c ứ u Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất, giao đất giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng tại xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định nơi có đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống.

Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Hi ệ n tr ạ ng tài nguyên r ừ ng, th ự c tr ạng công tác giao đấ t giao r ừ ng

- Hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng ở khu vực nghiên cứu

- Tình hình thực hiện công tác giao đất, giao rừng

- Tình hình thực hiện công tác giao khoán bảo vệ rừng

- Hiện trạng quản lý bảo vệ, phát triển rừng ở khu vực nghiên cứu

- Hương ước, quy ước cộng đồng – công cụ quản lý, bảo vệ rừng

- Các hình thức quản lý bảo vệ rừng sau khi giao đất, giao rừng và nhận khoán bảo vệ rừng

2.2.2 Hi ệ n tr ạ ng q uản lý và sử dụng tài nguyên rừng từ góc độ cộng đồng

- Khai thác và sử dụng tài nguyên rừng (Gỗ từ rừng tự nhiên, lâm sản ngoài gỗ từ rừng tự nhiên, sản xuất trên đất lâm nghiệp)

- Cơ cấu nguồn thu nhập của người dân địa phương và mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng

- Hiệu quả của hoạt động quản lý bảo vệ rừng sau khi giao khoán bảo vệ rừng phân ra hộ và nhóm hộ

2.2.3 Xây dựng gi ả i pháp về quy hoạch sử dụng đất, giao đấ t, giao r ừ ng và khoán qu ả n lý b ả o v ệ r ừ ng

Xây dựng giải pháp quy hoạch sử dụng đất cần có sự tham gia của các bên liên quan, đồng thời điều chỉnh quy hoạch hiện tại để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ rừng, bao gồm tổ chức và cộng đồng người dân địa phương.

- Điều chỉnh và hoàn thiện quy trình và tiến trình thực hiện công tác giao đất, giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng

Xây dựng hệ thống giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường vai trò và sự tham gia của người dân trong quy hoạch sử dụng đất, giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng là rất cần thiết Việc này không chỉ giúp nâng cao ý thức cộng đồng mà còn đảm bảo sự bền vững trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Tham gia của người dân sẽ góp phần tạo ra các quyết định phù hợp hơn với thực tiễn địa phương, đồng thời khuyến khích họ bảo vệ và phát triển rừng một cách hiệu quả.

2.2 4 Các giải pháp hỗ trợ khác:

- Giải pháp về phát triển kinh tế hộ gia đình, cải thiện đời sống người dân tham gia nhận nhận khoán bảo vệ rừng

- Giải pháp hỗ trợ các biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển các loại lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, cải thiện đời sống của người dân

- Giải pháp thiết lập cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân bảo vệ rừng.

Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 L ự a ch ọn địa điể m nghiên c ứ u

Việc lựa chọn địa điểm nghiên cứu được căn cứ thông qua các tiêu chí như sau:

Điều kiện dân số và xã hội, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số, đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu các yếu tố xã hội và dân tộc ảnh hưởng đến quá trình thích ứng của cộng đồng địa phương Việc học hỏi từ những yếu tố này sẽ giúp nâng cao khả năng sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả hơn.

Các cộng đồng dân tộc thiểu số dựa vào rừng để đảm bảo an toàn lương thực và tạo thu nhập, đặc biệt là những nhóm đã và đang khai thác tài nguyên rừng theo cách truyền thống.

Xã Canh Hiệp thuộc huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, là một ví dụ tiêu biểu trong nghiên cứu giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Mặc dù diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, độ che phủ cao và chất lượng rừng tốt, nhưng sự đóng góp của tài nguyên rừng vào thu nhập của cộng đồng vẫn còn hạn chế.

Cộng đồng dân tộc thiểu số có mối liên hệ sâu sắc với rừng, thể hiện qua đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của họ Họ có truyền thống quản lý và sử dụng hiệu quả diện tích rừng, hiện đang nằm trong quy hoạch rừng phòng hộ.

- Nơi nghiên cứu cũng đã được các chương trình và dự án ít nhiều quan tâm bằng những hỗ trợ vật chất và kỹ thuật cho người dân

- Đã thực hiện việc giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng từ 1995-

Nghiên cứu đã chọn ngẫu nhiên 79 hộ dân thuộc nhóm Nghèo và Trung bình, không có nhóm Khá, trong đó 50% là người Bana và 50% là người Chăm, đang sinh sống tại xã Canh Hiệp, để làm đối tượng nghiên cứu.

2.3 2 Phương pháp thu thậ p s ố li ệ u

2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập số liệu từ các công trình đã công bố và báo cáo hàng năm về giao đất, giao rừng, cũng như quản lý và bảo vệ rừng Nghiên cứu diễn biến tài nguyên rừng, các tranh chấp và mâu thuẫn trong quản lý sử dụng đất, đồng thời xem xét hiện trạng văn hóa xã hội của các dân tộc thiểu số liên quan đến khu vực nghiên cứu.

- Các báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết hàng năm về kinh tế xã hội cấp huyện, xã của khu vực nghiên cứu

- Các báo cáo hàng năm của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh, Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh…

2.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Phương pháp tiếp cận có sự tham gia bao gồm nghiên cứu hành động có sự tham gia (PAR) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) nhằm thu thập và phân tích thông tin hiệu quả Các công cụ này hỗ trợ trong việc hiểu rõ hơn về nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng.

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các cá nhân liên quan đến công tác quản lý và điều hành trong việc giao đất, giao rừng, cũng như khoán quản lý và bảo vệ rừng Phỏng vấn được thực hiện thông qua bảng câu hỏi đóng đã được thiết kế sẵn, nhằm thu thập thông tin từ các ban ngành và chính quyền địa phương.

- Phỏng vấn hộ gia đình qua bảng câu hỏi đã thiết kế sẵn

- Sử dụng lát cắt sinh thái để tìm hiểu xã hội và sử dụng đất, nghề nghiệp và các hoạt động kinh tế

- Dùng công cụ SWOT để đánh giá khó khăn và thuận lợi

B ả ng 2.1 Tóm tắt các phương pháp thu thập dữ liệu tại hiện trường

Loại thông tin Mục tiêu Cách thực hiện

Tổ chức (các bên liên quan)

Tìm hiểu cơ cấu tổ chức của các bên liên quan đến giao giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng

Phỏng vấn mở Thảo luận nhóm sở thích

Hiện trạng tổ chức giao đất, giao rừng và khoán quản lý bảo vệ rừng

Tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất và các loại tài nguyên Đi lát cắt, lập bản đồ tài nguyên, phỏng vấn mở, quan sát

Thu nhập, sinh kế và chiến lược sinh kế

Tìm hiểu về mức sống của người dân

Phỏng vấn đóng Quan sát trực quan

Xem xét các chính sách đã và đang được sử dụng

Phỏng vấn đóng, mở Thảo luận nhóm quan tâm

Mức độ tham gia Đo lường sự hiểu biết và động cơ tham gia của người dân

Phỏng vấn đóng Thảo luận nhóm

Xác định thuận lợi và khó khăn của vấn đề quan tâm

Sử dụng cộng cụ SWOT

Mong muốn, nguyện vọng của các bên liên quan

Tìm hiểu mong muốn, nguyện vọng của các bên liên quan

Hội thảo tham vấn các bên liên quan nhằm đề xuất giải pháp cho quy hoạch sử dụng đất và xây dựng các phương án giao đất, giao rừng hiệu quả.

- Thảo luận và lựa chọn một số giải pháp mang tính thực tiễn và khả thi

- Hội thảo tham vấn các bên liên quan

2.3 3 Phương pháp phân tích và xử lý s ố li ệ u

Lập bảng cơ sở dữ liệu với các hàng và cột, trong đó mỗi hàng đại diện cho một hộ điều tra và mỗi cột tương ứng với các chỉ tiêu điều tra liên quan đến từng câu hỏi.

Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng để phân tích dữ liệu thông qua hệ thống bảng biểu và sơ đồ, giúp tính toán các chỉ số quan trọng như tổng giá trị, số lượng và giá trị trung bình theo từng nhóm hộ hoặc đối tượng cần so sánh và phân tích.

Số liệu phân tích theo các nhóm thông tin sau:

Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và tài nguyên rừng của xã được thu thập từ tài liệu thứ cấp, sau đó được tổng hợp và phân tích theo các chỉ tiêu chung cho toàn xã Việc tổng hợp này tuân theo mẫu biểu quy định và hướng phân tích của đề tài.

Hệ thống thông tin về chính sách giao đất, giao rừng và quản lý bảo vệ rừng tại địa phương được thu thập từ các chính sách nhà nước và địa phương Việc phân tích tác động của những chính sách này giúp hiểu rõ hơn về quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trong khu vực nghiên cứu.

Dữ liệu điều tra kinh tế hộ gia đình được tổng hợp qua các chỉ tiêu như số khẩu, số lao động, diện tích đất các loại, diện tích rừng, và thu nhập từ các hoạt động sản xuất, từ đó cho phép tính toán thu nhập bình quân.

Phân tích thông tin có sự tham gia của người dân vào các hoạt động từ bộ câu hỏi phỏng vấn theo 2 cách:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 27/06/2021, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Thị Thu, 2007. Đánh giá kết quả thực hiện dự án “Tổ chức sản xuất kinh doanh” tại Lâm trường Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 1999-2005. Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất kinh doanh
1. Bảo Huy, 2005. Xây dựng mô hình quản lý rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng dân tộc thiểu số Jrai và Bahnar, tỉnh Gia Lai. UBND tỉnh Gia Lai Khác
2. Bảo Huy, 2006. Giải pháp xác lập cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 15.2006, trang 48-55 Khác
3. Hà Quế Lâm, 2002. Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp. NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Khác
4. Hoàng Hữu Cải, 2003. Phát triển Công nghệ có sự tham gia. Chương trình hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội, Hà Nội Khác
5. Lâm Quang Hiền, 2004. Quản lý tài nguyên rừng ngập mặn dựa trên sự tham gia của cộng đồng, thônh qua nghiên cứu điển hình trong trường hợp xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Luận văn thạc sỹ. Trường Đại học Nông Lâm.TP Hồ Chí Minh Khác
6. Bùi Việt Hải, 2007. Phương pháp nghiên cứu quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng nghiên cứu có sự tham gia. Nhà Xuất bản Nông nghiệp, TP HCM Khác
7. Nguyễn Xuân Hồng và cộng sự, 2000. Văn hoá các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định. NXB Thuận hoá, Huế Khác
8. Jean-Christophe và Đặng Đình Quang (chủ biên), 2002. Đổi mới ở vùng miền núi. Chuyển đổi sử dụng đất và chiến lược sản xuất của nông dân tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 197-220 Khác
9. Kiều Tuấn Đạt, 2007. Xây dựng các giải pháp phát triển sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp cho người dân tái định cư ở xã Vĩnh Hải và Hải Ngư, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học Nông Lâm. TP Hồ Chí Minh Khác
10. Nguyễn Bá Ngãi, 2006. Kết quả nghiên cứu quản lý rừng cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc Việt Nam. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 9.2006, trang 78-80 Khác
11. Nguyễn Đình Tư, 1994. Những định hướng và giải pháp bước đầu nhằm đổi mới việc giao đất giao rừng ở miền núi. Kết quả nghiên cứu khoa học 1990-1994, Trường Đại học Lâm nghiệp, Nhà Xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, trang 19-23 Khác
12. Nguyễn Thị Kim Tài, 2006. Nghiên cứu sinh kế của người dân địa phương và động lực quản lý bền vững tài nguyên rừng (nghiên cứu điển hình tại xã Quốc Khác
13. Phạm Văn Hiền, 2001-2004. Xây dựng luận cứ phát triển kinh tế nông hộ cho người dân tộc Gia Rai sau giao đất giao rừng tự nhiên tại huyện Ea Hleo tỉnh Dak Lak. Báo cáo khoa học. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (VNRP) Khác
14. Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2009. Phân tích tiến trình và kết quả đổi mới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2003 đến 2008 tại công ty lâm nghiệp Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học Nông Lâm. TP Hồ Chí Minh Khác
15. Nguyễn Thị Thu Thủy, 2006. Sự tham gia của người dân địa phương trong công tác quản lý vườn quốc gia Cúc Phương và khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 11.2006, trang 76-82 Khác
17. Nguyễn Văn Khánh và cộng sự, 2006. Việt Nam 20 năm và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. NXB Lao động, Hà Nội, trang 249-265 Khác
18. Phạm Văn Hiền, 2001-2004. Xây dựng luận cứ phát triển kinh tế nông hộ cho người dân tộc Gia Rai sau giao đất giao rừng tự nhiên tại huyện Ea Hleo tỉnh Dak Lak. Báo cáo khoa học. Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan (VNRP) Khác
19. Nguyễn Văn Can, LV1089, Tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện sau khi Giao đất giao rừng tại một số địa điểm ở ĐăkLăk Khác
20. Đinh Hữu Hoàng, Đặng Kim Sơn (2007), Giao đất và giao rừng ở Việt Nam - Chính sách và Thực tiễn, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm