Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một chủ chương chính sách lớn của Đảng và Nhà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VIẾT PHÁP
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP CHO HỘ GIA ĐÌNH VÀ CÁ NHÂN TẠI XÃ QUẢNG LƯU VÀ XÃ QUẢNG THẠCH, HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SỶ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên nghành: Quản lý đất đai
Mả số: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẨN KHOA HỌC
TS TRẦN THANH ĐỨC
HUẾ - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng bản thân tôi Tất cả các số liệu trong đề tài nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Nguyễn Viết Pháp
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, ngoài sự cố gắng hết mình trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm quý báu của gia đình, thầy cô và bạn bè Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Huế, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường Nông nghiệp và các thầy cô giáo đã truyền đạt
những kinh nghiệm, kiến thức vô cùng quý báu cho tôi
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Trần Thanh Đức, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và luôn tạo điều kiện để cho tôi hoàn thành được luận văn này
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và tập thể cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quảng Trạch, Văn phòng Đăng ký Quền sử dụng đất Quảng Trạch, UBND xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch UBND đã luôn tạo điều kiện thuận lợi để cho tôi trong việc thu thập số liệu phục vụ cho đề tài và đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên nội dung đề tài không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, kính mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý, chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Huế, ngày tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Viết Pháp
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm về đất đai 4
1.1.2 Chính sách đất đai có liên quan đến lâm nghiệp của một số nước trên thế giới 4
1.1.3 Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam 14
1.2 Cơ sở thực tiễn các vấn đề nghiên cứu 21
1.2.2 Các vấn đề nảy sinh trong thực thi chính sách giao đất lâm nghiệp 24
1.2.3 Tình hình sử dụng đất sau khi giao đất lâm nghiệp 28
1.3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 29
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Mục tiêu cụ thể 32
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 333
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 333
2.4.2 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 34
2.4.3 Phương pháp chuyên gia 34
2.4.4 Phương pháp minh họa bằng bản đồ 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Khái quát tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội của 2 xã nghiên cứu 35
3.1.1 Xã Quảng Lưu 35
Trang 53.1.2 Xã Quảng Thạch 44
3.2 Tình hình quản lý và biến động đất đai tại 2 xã nghiên cứu 51
3.2.1 Xã Quảng Lưu 51
3.2.2 Xã Quảng Thạch 59
3.3 Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân tại xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 63
3.3.1 Kết quả giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân tại 2 xã nghiên cứu 63
3.3.2 Tổng hợp phiếu điều tra về giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân tại địa bàn nghiên cứu 66
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 73
3.4.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 74
3.4.2 Giải pháp về kỹ thuật 74
3.4.3 Giải pháp về quản lý 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
KẾT LUẬN 76
ĐỀ NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6TTCN-DV Tiểu thủ công nghiệp dịch vụ
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả giao đất lâm nghiệp của Việt Nam năm 2007 22
Bảng 1.2 Đóng góp từ thu nhập lâm nghiệp của các hộ có nhận đất lâm nghiệp 24
Bảng 1.3 Thu nhập của các nhóm hộ có nhận đất lâm nghiệp 27
Bảng 3.1 Biến động đất đai tại xã Quảng Lưu giai đoạn 2010-2014 58
Bảng 3.2 Biến động đất đai tại xã Quảng Thạch giai đoạn 2010-2014 62
Bảng 3.3 Kết quả giao đất đất lâm nghiệp theo đối tượng sử dụng tại xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch đến năm 2014 63
Bảng 3.4 Kết quả cấp giấy CNQSD đất lâm nghiệp cho hộ gia đình cá nhân xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch đến năm 2014 65
Bảng 3.5 Diện tích đất lâm nghiệp của hộ gia đình cá nhân theo mục đích sử dụng tại xã Quảng Lưu và Quảng Thạch 66
Bảng 3.6 Thông tin chung về các hộ phỏng vấn tại xã Quảng Lưu 67
Bảng 3.7 Thông tin chung về các hộ phỏng vấn tại xã Quảng Thạch 68
Bảng 3.8 Hiệu quả kinh tế của trồng keo tại xã Quảng Lưu năm 2014 70
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của trồng keo tại xã Quảng Thạch năm 2014 72
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Vị trí xã Quảng Lưu trên bản đồ hành chính huyện Quảng Trạch 35
Hình 3.2 Vị trí xã Quảng Thạch trên bản đồ hành chính huyện Quảng Trạch 45
Hình 3.3 Cơ cấu diện tích đất của xã Quảng Lưu năm 2014 57
Hình 3.4 Cơ cấu diện tích đất của xã Quảng Thạch năm 2014 61
Hình 3.5 Kết quả giao đất đất lâm nghiệp theo đối tượng sử dụng tại xã Quảng Lưu đến năm 2014 64
Hình 3.6 Kết quả giao đất đất lâm nghiệp theo đối tượng sử dụng tại xã Quảng Thạch đến năm 2014 64
Hình 3.7 Kết quả cấp giấy CNQSD đất lâm nghiệp cho hộ gia đình cá nhân xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch đến năm 2014 65
Hình 3.8 Tổng diện tích đất trồng keo và diện tích keo thu hoạch năm 2014 theo nhóm hộ tại xã Quảng Lưu 69
Hình 3.9 Hiệu quả kinh tế của trồng keo theo nhóm hộ tại xã Quảng Lưu năm 2014 71 Hình 3.10 Tổng diện tích đất trồng keo và diện tích keo thu hoạch năm 2014 theo nhóm hộ tại xã Quảng Thạch 71
Hình 3.11 Hiệu quả kinh tế của trồng keo theo nhóm hộ tại xã Quảng Thạch năm 2014 73
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là cơ
sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, Rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, cung cấp oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên cho hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí
Nhận thức được sự quan trọng của rừng, kể từ năm 1994, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật hướng dân thực hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng lợi của người nhận đất rừng Giao đất khoán rừng và thực hiện cơ chế hưởng lợi là những vấn đề quan trọng đang được xã hội quan tâm Đây là những vấn đề vừa mang ý nghĩa kinh tế, ý nghĩa xã hội và có tính lâu dài Việc thực hiện chính sách giao đât giao rừng và quyền hưởng lợi đã có những tác động lớn trực tiếp đến đời sống của người dân, chủ yếu là người dân vùng trung du, miền núi Bên cạnh những thành công, việc thực hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng lợi còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn từng địa phương Mặc dù đã có nhiều chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề này nhưng trên thực tế còn nhiều câu hỏi được đặt ra cần được giải quyết
Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một chủ chương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước từ nhiều năm nay, nhằm gắn lao động với đất đai tạo động lực phát triển sản xuất lâm nghiệp từng bước ổn định và phát triển tình hình kinh tế xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng
Quảng Trạch là huyện đồng bằng, ven biển, tuy nhiên có diện tích đất lâm nghiệp tương đối lớn, với 34.899 ha chiếm 56,8% diện tích tự nhiên , trong đó rừng phòng hộ 14.695 ha chiếm 23,9% diện tích tự nhiên, rừng sản xuất 20.204 ha chiếm 33,1% diện tích tự nhiên Trong những năm qua, huyện đã tích cực thực hiện xã hội hóa nghề rừng, giao khoán rừng, đất lâm nghiệp đến các tổ chức, hộ gia đình; lồng
Trang 10ghép các dự án đầu tư khoán, bảo vệ rừng hiện có, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên gắn với trồng rừng mới Thực hiện các chương trình, dự án giao đất giao rừng như dự
án Việt-Đức, dự án rừng phòng hộ PAM 2780, chương trình 661, 327 trên địa bàn huyện đã trồng được một diện tích rừng khá lớn, góp phần nâng cao kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Tuy nhiên, đến nay thực trạng phân bố và sử dụng đất trên địa bàn huyện Quảng Trạch vẫn còn hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng đất đai Diện tích đất trống, đồi núi trọc trong toàn huyện rất lớn chủ yếu là cây bụi, lau lách, không có hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, mặc dù công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều cố gắng nhưng còn nhiều bất cập, sự phân công nhiệm vụ chồng chéo, nạn cháy rừng, chặt phá rừng, săn bắt động vật quý hiếm, xâm lấn, tranh chấp đất lâm nghiệp vẫn còn xảy ra Vấn đề vướng mắc chính là do các chính sách giao rừng hiện nay chưa hợp lý; cụ thể nhiều người dân địa phương không có cơ hội tiếp cận với nguồn tài nguyên rừng, thậm chí ngay cả nơi họ có rất ít các nguồn sinh kế khác Nghèo đói và vấn đề cải thiện sinh kế vẫn ít được quan tâm trong kế hoạch phát triển rừng Xuất
phát từ những vấn đề đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá công tác giao đất lâm
nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân tại xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”
2 Mục đích của đề tài
Phân tích, đánh giá công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả đề tài sẽ góp phần tạo cơ sở lý luận và cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các chính sách về giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên
đất đai trên địa bàn nghiên cứu
Trang 113.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài sẽ phân tích các ưu điểm cũng như hạn chế về thực trạng giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và hộ cá nhân từ đó đề xuất các giải pháp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý để nâng cao hiệu quả việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của người dân tại địa bàn nghiên cứu
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về đất đai
Có nhiều khái niệm và định nghĩa về đất Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đôkutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian Đất xem như một thể sống nó luôn vận động và phát triển [6] Theo C.Mác: “Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau’’ Có thể phân loại đất theo tính chất lý hóa học của đất, theo thành phần cơ giới của đất và theo mục đích sử dụng đất Theo Luật đất đai 2013, theo mục đích
sử dụng đất được chia làm 3 nhóm đất chính: Nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông
nghiệp và đất chưa sử dụng
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm
về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng: Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,
đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp khác [4]
Căn cứ vào mục đích sử dụng đất, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: (1) Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trông cây hàng năm khác, (2) Đất trồng cây lâu năm, (3) Đất rừng sản xuất, (4) Đất rừng phòng hộ, (5) Đất rừng đặc dụng, (6) Đất nuôi trồng thủy sản, (7) Đất làm muối và (8) Đất nông nghiệp khác [11]
1.1.2 Chính sách đất đai có liên quan đến lâm nghiệp của một số nước trên thế giới
1.1.2.1 Thái Lan
Luật ruộng đất được ban hành năm 1954 đã thúc đẩy mạnh mẽ chính sách kinh tế
xã hội của Thái Lan Luật ruộng đất đã công nhận toàn bộ đất đai bao gồm đất khu dân
cư đều có thể được mua, tậu lại từ cá thể Các chủ đất có quyền tự do chuyển nhượng, cầm cố một cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trồng (có khả năng
Trang 13trồng trọt được) và nhân dân đã trở thành người làm công trên đất ấy Tuy nhiên, trong giai đoạn này Luật ruộng đất quy định chế độ lĩnh canh ngắn, chế độ luân canh vừa Bên cạnh đó, việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu thừa đất do việc phân hoá giàu nghèo, đã dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp Từ đó, năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên đất tự canh
* Chương trình giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi
Chương trình này bắt đầu từ năm 1979, mỗi mảnh đất được chia làm hai miền: Miền ở phía trên nguồn nước và miền đất có thể dành để canh tác nông nghiệp; miền ở phía trên nguồn nước thì bị hạn chế để giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác nông nghiệp thì cấp cho người dân với một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Mục đích của công tác này là khuyến khích đầu tư vào đất đai, tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa và ngăn chặn sự xâm lấn vào đất rừng Đến năm 1986, đã có 600.126 hộ nông
dân không có đất được cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi
* Chương trình làng lâm nghiệp Thái Lan
Năm 1975, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia thực hiện sơ đồ làng lâm nghiệp để giải quyết cho một số người ở lại trên đất rừng Chương trình này đã đem lại trật tự cho những người dân Thái Lan sống ở rừng và khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng Quốc gia, phục hồi những vùng đất bị thoái hoá do du canh Ở Thái Lan có 98 làng lâm nghiệp rải rác trên toàn vùng rừng của Vương quốc Chương trình này được chỉ đạo theo những nguyên tắc sau:
- Những người sống ở rừng được tập trung lại thành từng nhóm gọi là làng Mỗi làng bầu ra người lãnh đạo và một hội đồng để tự quản lý
- Chính phủ chia cho mỗi gia đình nông dân 2 - 4 ha đất Diện tích đất này được cấp giấy phép cho quyền sử dụng và có thể được thừa kế nhưng không được bán, nhượng (Điều này nhằm ngăn chặn những địa chủ mua toàn bộ đất của nông dân)
- Trong làng Cục Lâm nghiệp Hoàng gia và chính quyền sẽ cung cấp đất làm nhà
ở cho người dân với diện tích là 1 rai (1 rai = 1.600 m2), nguồn nước, đường bộ, trường học, trung tâm y tế, ngân hàng nông nghiệp, dịch vụ tiếp thị và đào tạo nghề nghiệp Những thành viên của làng sẽ được ưu tiên làm việc trong các chương trình trồng lại rừng của Nhà nước ở gần làng
Trang 14Sau khi làng được lập, một hợp tác xã nông nghiệp sẽ được tổ chức dưới sự bảo trợ của ban khuyến khích hợp tác và có những quyền lợi như đối với các hợp tác xã khác Cục Lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho những hợp tác
xã đó theo yêu cầu
Hiện nay, Thái Lan đang thí điểm giao rừng cho cộng đồng Tổng diện tích đã giao khoảng 200.000 ha ở gần các điểm dân cư Nhà nước trợ cấp cho mỗi hộ tối đa 50 rai và tối thiểu 5 rai Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8, Thái Lan dự kiến áp dụng một chính sách lâm nghiệp toàn diện, chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi trường và người nghèo, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở Kế hoạch này gồm các phần: Cung cấp thông tin và đào tạo cán bộ, tổ chức cộng đồng, xây dựng chính sách và quy chế, xây dựng
hệ thống dịch vụ, hỗ trợ [9]
1.1.2.2 Philippin
Chính sách lâm nghiệp xã hội hợp nhất (ISFP) năm 1980 của Chính phủ nhằm dân chủ hoá việc sử dụng đất rừng công cộng và khuyến khích việc phân chia một cách hợp lý các lợi ích của rừng Chương trình đã đề cập đến nhiều vấn đề trong đó có chứng chỉ hợp đồng quản lý (CSC) và bản thoả thuận quản lý lâm nghiệp xã hội (CFSA): Bộ phận lâm nghiệp xã hội chịu trách nhiệm xử lý và phát hành chứng chỉ hợp đồng quản lý CSC và bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội Giấy chứng chỉ CSC do Chính phủ cấp cho người dân sống trong rừng đã có đủ tư cách pháp nhân, được quyền sở hữu và sử dụng mảnh đất trong khu rừng mà họ đang ở và được hưởng các thành quả trên mảnh đất đó Chứng chỉ CSC cho phép sử dụng diện tích thực đang
ở hay canh tác nhưng không được vượt quá 7 ha Các nhà lâm nghiệp của văn phòng ở cấp huyện được uỷ quyền cấp các CSC với diện tích dưới 5 ha, còn diện tích từ 5 - 7
ha do giám đốc văn phòng phát triển lâm nghiệp vùng duyệt Diện tích lớn hơn 7 ha do tổng giám đốc văn phòng phát triển lâm nghiệp phê duyệt
Khác với giấy chứng chỉ CSC, bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội (CFSA)
là một hợp đồng giữa Chính phủ và một cộng đồng hay một hiệp hội lâm nghiệp kể cả các nhóm bộ lạc Sự khác nhau cơ bản giữa CSC và CSFA là với CSFA đất không được nhượng cho cá nhân mà chỉ giao cho một cộng đồng hay hiệp hội Người được giao đất phải có kế hoạch trồng rừng, nếu được giao dưới 300 ha thì năm đầu phải
Trang 15trồng 40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 70% và sau 7 năm phải hoàn thành trồng rừng trên diện tích được giao CSC và CSFA có giá trị 25 năm và có thể gia hạn thêm 25 năm nữa Những người giữ CSC hay CSFA đều có trách nhiệm giữ gìn và bảo
vệ tài nguyên rừng trong khu vực thực hiện dự án ISFP [9]
1.1.2.3 Inđônêxia
Vào năm 1992, tại Ngawi, Java của Inđônêxia, người ta đã xây dựng một rừng làng 5 hecta theo sáng kiến của sở Lâm nghiệp trên đất rừng không thích hợp cho trồng trọt Dân làng được phép thu hoạch gỗ để sử dụng tại địa phương và buôn bán Việc chăn thả gia súc trong rừng bị nghiêm cấm Chính phủ phải quản lý những khu rừng mà việc bảo vệ là rất cần thiết và các cộng đồng địa phương không thể quản lý được đầy đủ Theo đó các khu rừng cấm để giữ nước, rừng sản xuất để xuất khẩu và cung cấp gỗ cho vùng do Sở lâm nghiệp quản lý, những khu rừng còn lại giao cho địa phương [9]
1.1.2.4 Trung Quốc
Trong những năm qua, việc khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên rừng ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi hàng loạt các văn bản chính sách pháp luật đất đai Do vậy, quá trình sản xuất lâm nghiệp ở Trung Quốc đã phát triển và đạt được những kết quả tốt
Đã cải thiện được môi trường sinh thái và nâng cao sản xuất gỗ Đất canh tác được Nhà nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác Mỗi hộ nông dân chỉ được dùng một nơi làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy định tại địa phương Đất thuộc sở hữu tập thể thì không được chuyển nhượng, cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính phủ Trung Quốc đã chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích của người dân chưa có sự phối kết hợp Bước sang giai đoạn cải cách nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã quan tâm khuyến khích hỗ trợ nông dân kinh doanh lâm nghiệp Trung Quốc luôn coi trọng việc áp dụng luật pháp để phát triển lâm nghiệp, bảo vệ rừng và làm cho lâm nghiệp hoạt động có hiệu quả Hiến pháp Trung Quốc đã quy định "Nhà nước phải tổ chức thuyết phục nhân dân trồng cây bảo vệ rừng" Kể từ năm 1984, Luật Lâm nghiệp quy định “…xây dựng rừng, lấy phát triển rừng làm cơ sở, phát triển mạnh mẽ việc trồng cây mở rộng phong trào bảo vệ rừng, kết hợp khai thác rừng trồng ” Từ đó, ở
Trang 16Trung Quốc toàn xã hội tham gia công tác lâm nghiệp, Chính phủ chỉ đạo cán bộ có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo mỗi cấp hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch của cấp mình, quá trình thực hiện chính sách này nếu tốt sẽ được khen thưởng, ngược lại sẽ bị xử lý
Giai đoạn từ năm 1979 – 1992, Trung Quốc đã ban hành 26 văn bản về Pháp luật, Nghị định, Thông tư và Quy định liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Đầu năm 1980, Trung Quốc ban hành Nghị định về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng, một trong những điểm nổi bật của Nghị định này là thực hiện chủ trương giao cho chính quyền các cấp từ Trung ương đến cấp tỉnh, huyện, tiến hành cấp chứng nhận quyền chủ đất rừng cho tất cả các chủ rừng là những tập thể và tư nhân Luật Lâm nghiệp đã xác lập các quyền của người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp đồng và được xử lý theo hợp đồng
Bên cạnh đó, quá trình quy hoạch đất lâm nghiệp, chăn nuôi bảo vệ nguồn nước, phát triển công nghiệp, dân số và giao thông nhằm sử dụng đất có hiệu quả ở miền núi được Chính phủ Trung Quốc quan tâm Trung Quốc từng bước đưa sản xuất lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn Bắt đầu từ năm 1987, Nhà nước đã thực hiện chương trình giúp đỡ nhân dân thoát khỏi nghèo nàn trong những huyện nghèo, có thu nhập bình quân đầu người dưới 200 nhân dân tệ Các huyện nghèo ở miền núi là đối tượng quan trọng thích hợp để phát triển lâm nghiệp Trung Quốc đã thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa dạng, sau khi thực hiện cấp GCNQSDĐ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Từ đó, các trại rừng kinh doanh hình thành bước đầu đã có hiệu quả Lúc đó ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ các mặt như:
- Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án chống cát bay
- Mỗi năm Chính phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo
- Quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông, lâm nghiệp [9]
Trang 171.1.2.5 Nga
Nước Nga có khoảng 10 triệu hộ gia đình đang sở hữu và sử dụng một số lượng
lớn diện tích đất lâm nghiệp, đất vườn và đất thuộc trang trại gia đình; gần 12 triệu nông dân đang sở hữu đất dưới hình thức cổ phần với mức cổ phần trung bình là 10ha
và còn có nhiều hình thức sử dụng, sở hữu khác như thuê đất, sử dụng đất thừa kế
Hệ thống pháp luật và chính sách đất đai ở Nga (trước đây là Liên Xô) đã trải qua những thời kỳ lịch sử phát triển qua 4 giai đoạn:
+ Trước cách mạng tháng 10 năm 1917;
+ Từ 1918 đến 1987;
+ Cải cách nông nghiệp trong thời kỳ cải tổ;
+ Cuộc cải cách nông nghiệp và đất đai của Liên bang Nga từ năm 1990 đến nay
Từ năm 1990 đến nay, sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, Liên bang Nga đã xây dựng Hiến pháp mới và thông qua Luật Đất đai năm 1990 Cơ sở của luật này là xem xét hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, trong đó vấn đề quan trọng nhất là người chủ đất có thể để lại quyền thừa kế và những quyền của chủ đất phần lớn có những điểm chung về quyền sở hữu đất đai; vấn đề cho thuê đất, hình thức cho thuê đất trong nền kinh tế thị trường theo các hợp đồng Nổi bật nhất là lần đầu tiên trong Hiến pháp Liên bang Nga đề cập đến quyền sở hữu tư nhân về đất đai
Ở nước Nga hiện nay thực hiện chế độ sở hữu nhà nước và thị chính về đất đai xuất phát từ tình hình sau khi Liên Xô tan rã, các vùng tự trị đều đòi quyền sở hữu đất đai của mình, đồng thời 28 dân tộc trong Liên bang Nga cũng đòi có quyền đối với đất đai, tiếp đó là các vùng tự trị và các thị chính (bao gồm các thành phố, các quận trong thành phố, các thị trấn, thị xã, các khu dân cư nông thôn) cũng đòi có quyền với đất đai theo chế độ “tự trị tại chỗ” Từ đó, Luật Đất đai Liên bang Nga (năm 1991) khẳng định sở hữu nhà nước với các nước Cộng hòa thuộc Liên bang đối với đất đai là một trong những biện pháp quản lý Nhà nước để điều tiết các quan hệ đất đai, tiếp đó là sự phân cấp cho các vùng, các thị chính quản lý đất đai theo pháp luật bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đất và quyền định đoạt
Trang 18Ở nước Nga đang thực hiện chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đi đôi với nghĩa
vụ của cá nhân Quyền sở hữu tư nhân về đất đai bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt, trong đó quyền chiếm hữu có liên quan chặt chẽ với các quyền khác nhằm khai thác triệt để việc sinh lợi của đất để phục vụ yêu cầu xã hội và cá nhân, nay phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, pháp luật nghiêm cấm
sử dụng đất nông nghiệp hoặc đất phòng hộ vào việc xây dựng khách sạn hoặc các công trình phục vụ kinh doanh Pháp luật cho phép chủ sở hữu đất đai được quyền bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế [13]
Nhìn chung, pháp luật và chính sách đất đai của Liên bang Nga hiện nay là biện pháp quản lý đất đai mang đặc trưng cho sự thay đổi của hệ thống chính trị thuộc chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trước đây Bên cạnh những mặt mạnh còn có những mặt yếu; bên cạnh những điều hợp lý, còn có những điều chưa hợp lý
sử dụng thuận tiện và ở đô thị đó là đất xây dựng Ở Pháp lợi ích công cộng được ưu tiên, có thể hạn chế lợi ích riêng tư
Không gian công cộng song song tồn tại với không gian tư nhân và đảm bảo lợi ích song hành Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Chỉ có lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường bước và trong trường hợp đó lợi ích công cộng phải thực hiện bồi thường thiệt hại một cách công bằng và tiên quyết đối với lợi ích tư nhân
Trang 19Ở Pháp có chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất các loại nông, lâm sản thuộc cộng đồng Châu Âu Luật quy định những điểm cơ bản sau:
Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định Tuy nhiên chỉ làm nhà cho bản thân gia đình mình và nghiêm cấm xây nhà trên đất canh tác để bán cho người khác
Từ năm 1993, các bất động sản dùng cho nông, lâm nghiệp được hưởng quy chế miễn giảm Miễn giảm đương nhiên trong thời gian 3 năm cho một số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng Miễn giảm thuế đối với đất đai mới giành cho ươm trồng cây hạnh nhân với thời gian tối đa là 8 năm và cho đất trồng các loại cây khác là 15 năm
Khuyến khích việc tích tụ đất đai bằng cách xác định các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau thì làm việc với chủ đất trong vòng 2-3 năm để thu thập số liệu, đàm phán với chủ đất để tiến hành chuyển đổi đất đai, tạo điều kiện tập trung các thửa đất lớn, thực hiện tích tụ đất đai
Việc bán đất nông, lâm nghiệp hay đất đô thị đều phải nộp thuế và thuế trước bạ
là 10% Đất này được ưu tiên bán cho những người láng giềng để tạo ra thửa đất có diện tích lớn hơn Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua Muốn bán đất phải xin phép và khi được phép thì phải ưu tiên bán cho người đang thuê đất Khi họ không mua mới được bán cho người khác
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát các hoạt động mua – bán – chuyển nhượng đất đai theo hướng hạn chế việc mua bán đất Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia mua đất Chẳng hạn, nếu người
A muốn bán đất cho người B thì cơ quan này can thiệp bằng giải pháp kinh tế Nếu người B không đủ điều kiện mua thì cơ quan này mua để tặng quỹ đất thuộc sở hữu nhà nước
Mức phí chuyển đổi đất đai là 1000/Fr/ha (kể cả lập bản đồ đàm phán) Văn tự chuyển đổi chủ sở hửu đất đai do Tòa án Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi
Đối với đất đô thị mới, khi chia cho người dân thì người dân phải nộp 30% chi
Trang 20phí cho các công trình hạ tầng, phần còn lại 70% thì trước đây 10 năm do Chính phủ chi, nay chuyển về kinh phí địa phương
Ngày nay đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy hoạch vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển [8]
1.1.2.7 Thụy Điển
Ở Thụy Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu của tư nhân, nhưng việc phát triển
đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội Vì vậy, toàn bộ pháp luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là phải có sự công bằng giữa lợi ích riêng và lợi ích chung trên cơ sở nền tảng của thể chế chính trị
Nguyên tắc dân chủ xã hội của Nghị viện trong khoản ba thập kỷ qua thể hiện trong thực tiễn là các lợi ích chung được nhấn mạnh trong pháp luật và chính sách đất đai Bộ Luật Đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào loại hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết mối quan hệ đất đai với hoạt động của toàn xã hội với 36 bộ luật khác nhau Vì vậy, qua nhiều thập kỷ mà có ít thay đổi
Pháp luật và chính sách đất đai của Thụy Điển về cơ bản dựa trên sở hữu tư nhân đất đai và kinh tế thị trường có sự giám sát chung của xã hội trên nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như phát triển đất đai gắn liền với bảo vệ môi trường
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1970 trở lại đây gắn liền với việc giải quyết những vấn đề liên quan pháp luật bất động sản tư nhân: Quy định các vật
cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi, quyền thông hành địa dịch và đăng ký các quyền về bất động sản, chuyển nhượng và thế chấp, cho thuê và các hoạt động khác: vấn đề bồi thường, quy hoạch sử dụng đất và thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu, hệ thống đăng ký
Tại Thụy Điển vào nhiều thập kỷ qua đã thành lập một hệ thống thanh tra Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp Những người mua những loại đất này cần phải được phép của cơ quan có thẩm quyền, nếu như không được sự đồng ý thì hợp đồng đó coi
là không có hiệu lực Những quy định trên vào năm 1990 được thay đổi một phần cùng với những thay đổi về chính sách nông, lâm nghiệp của Thụy Điển Nhưng quan trọng
Trang 21hơn là những quy định đó vẫn được tiếp tục áp dụng đến tận bây giờ, ví dụ như việc hạn chế quyền của những tổ chức pháp nhân trong việc phân bố đất lâm nghiệp [8]
* Nhận xét chung
Lịch sử phát triển xã hội loài người gắn liền với lịch sử phát triển các quan hệ đất đai và phân chia lãnh thổ Các nước trong khu vực và trên thế giới có chế độ chính trị,
cơ chế kinh tế và tổ chức xã hội khác nhau, nhưng với quá trình phát triển lâu đời đã
có lịch sử lâu dài phát triển các hoạt động quản lý đất đai với một hệ thống pháp luật
và chính sách đất đai ngày càng được hoàn thiện, nhất là đối với những nước tư bản phát triển
Pháp luật và chính sách đất đai của các nước trên thế giới có những nét đặc trưng nổi bật là bảo vệ hết sức nghiêm ngặt nguồn đất canh tác, có chế độ khuyến khích và bảo hộ đất nông, lâm nghiệp bằng cách miễn giảm các loại thuế, kéo dài thời gian sử dụng, khuyến khích tập trung đất đai; nghiêm ngặt thực hiện quy hoạch, nhất là quy hoạch tổng thể - nhiều nước coi quy hoạch sử dụng đất đai là động lực của sự phát triển
Xã hội loài người đã trải qua những biến đổi sâu sắc, đem lại những tiến bộ to lớn về nhận thức, tư duy và hành động và đó chính là nguồn gốc phát triển xu hướng
cơ bản trong pháp luật và chính sách đất đai Ngày nay, pháp luật và chính sách đất đai của nhiều nước có xu hướng tăng nhanh sự can thiệp của Nhà nước đối với các quan
hệ đất đai, trước hết là quan hệ sở hữu dù đó là sở hữu của Nhà nước, của tư nhân, của toàn xã hội hay của tập thể quần chúng lao động
Những đặc điểm nổi bật trong quan hệ sở hữu là các Nhà nước có xu hướng mở rộng phạm vi quản lý Nhà nước về đất đai bằng cách trưng thu, trưng mua, khuyến khích tập trung đất đai và khi tư nhân không có điều kiện tập trung đất đai thì Nhà nước đứng ra mua Nhưng quan trọng nhất vẫn là sự thay đổi xu hướng nhận thức về đất đai mà trên thực tế nhiều nước trong nhiều năm qua đã bỏ qua đó là hiểu được bản chất của các quá trình khác nhau khi đất đai được tham gia như một đối tượng sở hữu
và được xem xét như một thành phần kinh tế; khẳng định được khái niệm về sự ưu việt lớn của nông, lâm nghiệp đòi hỏi sự thống nhất về an toàn diện tích đất canh tác và cuối cùng điều quan trọng nhất không phải là các vấn đề về sở hữu, mà là quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai
Trang 22Như vậy, có thể thấy quản lý rừng đã tồn tại từ lâu đời ở các nước trên thế giới thông qua những hình thức khác nhau Nhưng tất cả các hình thức đều gắn với sự tham gia của người dân địa phương vào việc quản lý bảo vệ rừng và đã thu được những hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng cũng như trong việc cải thiện đời sống kinh tế của người dân địa phương
1.1.3 Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về giao đất giao rừng nhằm gắn lao động với đất đai, tạo động lực phát triển sản xuất lâm nghiệp, từng bước ổn định kinh
tế xã hội và an ninh quốc phòng Đặc biệt từ năm 1988 đến nay, với sự ra đời của Nghị quyết 10, Luật đất đai 1988, Luật đất đai 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai 1998, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai 2001, Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013, Luật bảo vệ và phát triển rừng 1991, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, Nghị định 02/CP đã thực sự trao quyền quản lý và sử dụng lâu dài
về đất đai cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Người sử dụng đất có các quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xác định trong Luật đất đai Những quyền này tạo cơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về việc
sử dụng và kinh doanh trên đất được giao, từng bước khắc phục tình trạng manh mún đất đai, tạo điều kiện tích tụ đất đai phù hợp, thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thâm canh đất đai, đa dạng hóa cây trồng, sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường theo hướng một nền lâm nghiệp bền vững
1.1.3.1 Giai đoạn 1945-1968
Trong giai đoạn này, chính quyền cách mạng mới giành thắng lợi, Đảng ta chủ trương từng bước giảm bớt sự bóc lột của giai cấp địa chủ, phú nông đối với nông dân nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân và động viên nhân dân phát triển sản xuất, phục
vụ kháng chiến Chính sách đất đai của Nhà nước trong giai đoạn này hướng tới mục đích cải cách ruộng đất để phân phối lại ruộng đất cho nông dân
Trước cải cách ruộng đất (năm 1954 ở miền Bắc) Việt Nam chưa có hình thức
sở hữu Nhà nước về rừng Rừng và đất rừng lúc đó thuộc sở hữu tư nhân và cộng đồng
Trang 23thôn bản Hình thức quản lý tư nhân và cộng đồng cùng với nguồn tài nguyên rừng lúc
đó còn dồi dào, nhu cầu của con người chưa vượt quá sự tái tạo của rừng nên độ che phủ rừng của Việt Nam chiếm tới 43% Trong thời kỳ này, hình thức quản lý rừng cộng đồng phổ biến ở hầu khắp các thôn bản miền núi [1]
Sau cải cách ruộng đất thì quản lý rừng nhà nước là phổ biến, rừng được giao cho các lâm trường quốc doanh và chính quyền địa phương quản lý thông qua các hợp tác xã
1.1.3.2 Giai đoạn 1968-1986
* Ở Trung ương:
Vào giai đoạn này, tuy vẫn duy trì cơ chế quản lý nền kinh tế tập trung bao cấp
nhưng đã bắt đầu hình thành khung pháp lý về giao đất lâm nghiệp Giai đoạn
1968-1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế quản lý kế hoạch tập trung Đặc điểm của cơ chế này được tóm tắt như sau:
- Chỉ có 2 thành phần kinh tế là Quốc doanh và Tập thể Cụ thể trong ngành lâm nghiệp là lâm trường quốc doanh và hợp tác xã có hoạt động nghề rừng
- Kế hoạch hóa tập trung ở mức độ cao, theo kiểu "cấp phát - giao nộp"
- Gỗ và lâm sản là vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý
Về khung pháp lý quản lý đất đai và giao đất lâm nghiệp, trong giai đoạn này, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến quản lý đất đai, đặc biệt Quyết định số 184/HĐBT ngày 6/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh giao đất giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng Nội dung cơ bản của Quyết định được tóm tắt như sau:
- Đối tượng giao đất giao rừng được mở rộng hơn trước, bao gồm: HTX, tập đoàn sản xuất, hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, quân đội
- Trong giai đoạn đầu chủ yếu giao đất trống và đồi trọc, rừng nghèo và các rừng chưa giao
- Không ấn định diện tích rừng và đất rừng giao cho các đơn vị tập thể Mỗi hộ
ở các tỉnh miền núi, trung du nhận 2000m2/lao động Các hộ gia đình có thể ký hợp đồng với một đơn vị Nhà nước để trồng cây trên đất trống đồi trọc
Trang 24- Có trợ cấp nhất định cho các đơn vị tập thể và cá nhân nhận đất và rừng để trồng và cải tạo rừng [1]
* Ở cấp địa phương:
Trong giai đoạn 1968-1986, tại các cấp địa phuơng chuyển biến đầu tiên là các hợp tác xã bắt đầu tham gia vào hoạt động lâm nghiệp nhờ chính sách của Nhà nước
về giao đất giao rừng cho HTX Hoạt động của HTX vào nghề rừng có 3 loại hình:
- Hợp tác xã quản lý rừng: Tại trung du và miền núi phía bắc, đối với những
tỉnh có tiềm năng sản xuất tốt, có thị trường tiêu thụ sản phẩm và có thể đảm bảo tự cung cấp lương thực thì các HTX ở đây trực tiếp sản xuất và quản lý và sử dụng rừng
Ví dụ như: các tỉnh Hà Tuyên và Hoàng Liên Sơn cũ chuyên sản xuất nguyên liệu giấy; Quảng Ninh và Hà Bắc cũ chuyên sản xuất gỗ trụ mỏ còn Thanh Hoá chuyên sản xuất tre luồng Tuy nhiên, chủ trương giao đất giao rừng cho các đơn vị ngoài quốc doanh (như Hợp tác xã) vẫn còn mới mẻ, chưa thực sự đi vào cuộc sống nên số lượng các HTX tham gia vào nhóm này không nhiều Ví dụ, tỉnh Quảng Ninh chỉ có 28 trong
số 93 HTX; Lạng Sơn có 29 trong số 200
- Hợp tác xã làm việc theo hợp đồng: Các HTX loại này mặc dù được giao đất
giao rừng nhưng chưa đảm bảo tự kinh doanh nên phải hợp đồng làm khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho LTQD trên diện tích đất và rừng được giao Ví dụ như: huyện Bạch Thông (Bắc Thái), một số huyện ở các tỉnh Quảng Ninh và Nghệ Tĩnh Lâm trường quốc doanh chịu trách nhiệm cung cấp giống cây trồng, tiền công, đầu tư sản xuất…Sau khi trồng, các HTX phải chịu trách nhiệm bảo vệ và quản lý rừng trồng Nhìn chung, rừng được bảo vệ tốt hơn trước
- Các Hợp tác xã tham gia khai thác rừng tự nhiên: Các HTX thuộc loại này
thường đã nhận đất nhận rừng nhưng chỉ đơn thuần để giữ rừng, khai thác gỗ, củi và các lâm đặc sản khác, đặc biệt vào những năm thiếu lương thực
Trong giai đoạn 1968-1986, ngành Lâm nghiệp đã quy hoạch lại đất lâm nghiệp thành 3 loại rừng: Rừng Đặc dụng, Rừng phòng hộ, Rừng sản xuất Hệ thống các LTQD đã được tổ chức lại vào năm 1985 và diện tích họ trực tiếp quản lý cũng đã giảm xuống Các lâm trường tiến hành rà soát lại quỹ đất và bàn giao lại cho chính quyền xã để giao cho các hộ gia đình
Trang 25Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao trong thời kỳ 1968-1986 là 4,4 triệu ha, trong đó có 1,8 triệu ha đất có rừng và 2,7 triệu ha đất trống đồi trọc Các đối tượng nhận đất lâm nghiệp là 5.722 hợp tác xã và các tổ sản xuất tại 2.271 xã, 610 đơn vị khác và trường học, 349.750 hộ gia đình [1]
1.1.3.3 Giai đoạn từ 1986-1994
* Ở Trung ương:
Thời kỳ đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, năm 1986; thay đổi hệ thống kế hoạch hoá tập trung thành nền kinh tế thị trường nhiều thành phần do Nhà nước lãnh đạo theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó, chính sách đổi mới dần được điều chỉnh
Tuy nhiên, trên thực tế quá trình đổi mới bắt đầu sớm hơn nhiều Năm 1981, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 100/CT-TW mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động mà thực chất là khoán đến hộ gia đình sản xuất nông nghiệp Tiếp theo Chỉ thị 100/CT-TW, để tăng vai trò kinh tế của hộ gia đình nông dân, Bộ Chính Trị đã đề ra Nghị Quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp với nội dung cơ bản là giải phóng triệt để sức sản xuất nhằm khai thác hợp lý tiềm năng lao động, đất đai, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ Quốc hội và Chính phủ đã ban hành các luật và các chính sách về lâm nghiệp:
- Luật bảo vệ và phát triển Rừng được ban hành năm 1991 đã đưa ra khuôn khổ ban đầu về các chính sách liên quan đến vấn đề giao đất lâm nghiệp cho các đối tượng
để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp
- Các quyết định, nghị định liên quan giao khoán đất cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp (Quyết định số 202/TTg năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ, nghị định 01/CP năm 1995 của Chính Phủ)
- Cùng với chính sách giao đất khoán rừng Nhà nước đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích sử dụng đất trồng rừng và bảo vệ rừng như Quyết định số 264/CT ngày 22/7/1992 của Hội đồng Bộ trưởng Quyết định 3267/CT ngày 15/9/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống đồi trọc, rừng, bãi, bồi ven biển và mặt nước; Quyết định này sau đó trở thành Chương trình 327 [1]
Trang 26* Ở cấp địa phương:
Trong giai đoạn từ 1986 đến 1994 đã có chuyển biến mạnh mẽ và đạt kết quả khả quan về công tác giao đất giao rừng Chương trình 327 đã dành phần lớn ngân sách cho việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình ở nhiều vùng trong cả nước Trong giai đoạn này có một số hướng dẫn cho công tác giao đất lâm nghiệp như sau:
- Mỗi hộ trong vùng dự án của Chương trình sẽ được giao khoán một số diện tích để trồng rừng mới hoặc để khoanh nuôi tái sinh rừng tuỳ theo quỹ đất đai và khả năng lao động của từng hộ
- Ngoài diện tích đất được giao cho mục đích lâm nghiệp, mỗi hộ có thể được nhận 5000m2 đất để trồng cây lương thực ngắn hoặc dài ngày hay chăn thả gia súc
- Đối với đất được giao khoán để bảo vệ, Nhà nước trả công từ 30.000 – 50.000 đồng/ha/năm, đầu tư hỗ trợ trồng rừng năm là 1.2 triệu đồng/ha
- Nhà nước còn cho vay vốn không lãi để hỗ trợ trồng cây lâm nghiệp dài ngày, cây ăn quả, cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc, mỗi hộ được vay không quá 1.5 triệu/hộ/năm Qua 4 năm thực hiện, đến cuối năm 1996 chương trình 327 đã đạt được kết quả đáng kể sau:
- Giao khoán bảo vệ rừng đến hộ:1,6 triệu ha (466.768 hộ)
Trong thời gian này, khoảng 55% trên tổng số diện tích đất lâm nghiệp đã được giao hoặc khoán cho các hộ gia đình hoặc các đơn vị kinh tế khác trong đó 40% diện tích này thuộc về các hộ gia đình nghĩa là khoảng 22% trong tổng số diện tích đất lâm nghiệp của các tỉnh trên đã được giao hoặc khoán cho các hộ , có khoảng 19% số hộ của các tỉnh đã nhận đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhiều trường hợp có
sổ lâm bạ) hoặc hợp đồng bảo vệ [1]
1.1.3.4 Giai đoạn từ năm 1994 đến nay
Giai đoạn này gắn liền với việc Ban hành 2 Nghị định của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp là Nghị định 02/CP, năm 1994 và 163/CP, năm 1999 như đã nêu ở trên
Từ 1994-2000: Việc giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo Nghị định số 02/CP, ngày 15/1/1994 của Chính phủ Chỉ đạo và chịu trách nhiệm chính việc giao
Trang 27đất lâm nghiệp là Chi cục kiểm lâm tại cấp tỉnh và Hạt Kiểm lâm tại cấp huyện Sản phẩm của quá trình này là giao nhận trên thực địa, bản đồ giao đất và cấp sổ lâm bạ, chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ Ngoài ra, còn một số tồn tại như:
- Các hộ gia đình cá nhân, các tổ chức mới được giao ở thực địa, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa có đủ điều kiện để sử dụng các quyền sử dụng đất như thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế
- Hồ sơ giao đất còn nhiều tồn tại như: Diện tích giao không chính xác, không xác định được vị trí đất đã giao, thiếu biên bản xác định ranh giới mốc giới
- Ranh giới sử dụng đất của các tổ chức nhận đất như lâm trường, thanh niên xung phong chưa rõ ràng; tranh chấp, xen lấn giữa đất của lâm trường với các hộ chưa được giải quyết
- Quá trình giao đất lâm nghiệp trước đây, ngoài ngành kiểm lâm làm còn do các đơn vị khác thực hiện như Ban định canh định cư, Phòng nông nghiệp huyện nên dẫn đến sự chồng chéo, hồ sơ vừa thiếu lại không đồng bộ
- Việc giao đất lâm nghiệp vào giai đoạn này chưa có quy hoạch 3 loại rừng, chưa có quy hoạch sử dụng đất của xã nên sau này khi có quy hoạch 3 loại rừng được UBND tỉnh phê duyệt thì dẫn đến tình trạng là đất giao cho hộ giai đình lại là đất rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng [1]
Những quy định về giao đất lâm nghiệp
* Đối tượng giao đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài:
- Các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối mà có nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được
từ các hoạt động sản xuất đó, được UBND xã nơi có đất xác nhận
- Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất theo Nghị định 02/CP từ trước ngày 01/11/1999 thì được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn đã được giao và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
* Quỹ đất lâm nghiệp để giao, cho thuê:
Trang 28- Gồm toàn bộ đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng đã được quy hoạch để trồng cây gây rừng khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật, không phân biệt độ dốc được tính vào quỹ đất lâm nghiệp để giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý,
sử dụng ổn định lâu dài Tùy thuộc vào từng mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, từng loại rừng đã quy hoạch để giao, cho thuê đất cho từng đối tượng cụ thể, hộ gia đình, cá nhân có thể được giao hoặc cho thuê những loại đất lâm nghiệp sau:
+ Đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít sung yếu, phân tán các loại đất rừng phòng
hộ, chắn sóng lấn biển, chắn gió, chắn cát
+ Đất lâm nghiệp được quy hoạch để xây dựng, phát triển sản xuất, đất lâm nghiệp dự trữ quốc gia
* Hạn mức giao đất lâm nghiệp:
- Hạn mức giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình cá nhân do UBND tỉnh quyết định nhưng không quá 30 ha
- Hạn mức giao đất lâm nghiệp cho tổ chức thì theo dự án của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Đối với đất trống đồi núi trọc, đất cát ven biển, đất lấn biển thì mức đất giao cho hộ gia đình do UBND tỉnh quyết định căn cứ vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản xuất của nông hộ
* Thời hạn giao đất lâm nghiệp:
- Thời hạn giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
là 50 năm, nếu trồng cây có chu kỳ trên 50 năm, khi hết thời hạn sử dụng này vẫn được Nhà nước giao tiếp tục sử dụng
* Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp:
- UBND cấp huyện quyết định giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
- UBND cấp tỉnh quyết định giao đất lâm nghiệp cho tổ chức
Tóm lại: Các chủ trương chính sách giao đất lâm nghiệp trên nhằm thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng là đảm bảo cho người sản xuất lâm nghiệp có đất để phát triển lâm nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Đây là cơ sở để hộ gia đình, cá
Trang 29nhân yên tâm đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng đất, thúc đẩy nền kinh tế nông thôn phát triển
1.2 Cơ sở thực tiễn các vấn đề nghiên cứu
Thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 và Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, kết quả giao đất lâm nghiệp tính đến 9/2007 trên địa bàn cả nước (theo số liệu thống kê của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, đến ngày 30 tháng 9 năm 2007) đã có 8.111.898 ha đất lâm nghiệp đã được giao cho 1.109.451 tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Trong đó có 3.164.821 ha đất lâm nghiệp đã giao và cấp giấy chứng nhận cho 1.102.258 hộ gia đình, cá nhân (Bảng 1.1), với diện tích trung bình là 2,87 ha/giấy chứng Trong khi đó diện tích đất lâm nghiệp
đã giao trung bình khoảng 4.7 ha/hộ thì chứng tỏ trong phạm vi một chủ hộ mà đất cũng bị manh mún ra làm 2-3 mảnh Đặc biệt ở Cao Bằng, có hộ còn nhận được 14 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ở Tân Lạc – Hòa Bình không phải là địa hình chia cắt nhiều, nhưng trung bình mỗi hộ có khoảng 2,5 mảnh đất lâm nghiệp và khoản cách đến các mảnh cũng khác nhau
Việc cấp giấy chứng nhận cho đất lâm nghiệp trong thời gian dài khó khăn do không có bản đồ địa chính và đất chưa được đo đạc Ngoài ra có ba nguyên nhân khác cũng dẫn đến tiến trình cấp giấy quyền sử dụng đất lâm nghiệp bị chậm lại là vì (i) tranh chấp đo đạc địa chính, (ii) tranh chấp về nguồn gốc đất và (iii) đất đang trong quá trình chuyển mục đích sử dụng Tiến độ cấy giấy chứng nhận đất lâm nghiệp tại một số đại phương vẫn chậm đang chờ quy hoạch lại 3 loại rừng và quy hoạch lại đất đai do các LTQD đang sử dụng Bên cạnh đó, hiện tượng gây phiền hà cho dân khi giải quyết các thủ tục cấp giấy chứng nhận vẫn còn phổ biến, ít nhiều ảnh hưởng đến tiến độ cấp giấy chứng nhận đất lâm nghiệp [7]
Từ những năm trước, chương trình giao đất lâm nghiệp được nhận định là không đạt tiến độ và mục tiêu đề ra đối với việc bảo vệ và phát triển rừng sản xuất Tuy nhiên, đến nay theo số liệu bảng trên là đã có 62% tổng diện tích đất lâm nghiệp đã được giao Vấn đề gây tranh luận là có cần phải nhấn mạnh quá đến tiến độ giao đất trong khi mà sau gần 15 năm triển khai chương trình giao đất, khu vực trồng rừng sản xuất chưa có sự đột khởi [7]
Trang 30Bảng 1.1 Kết quả giao đất lâm nghiệp của Việt Nam năm 2007
Cả nước 1.109.451 8.111.891 62,0 5.518 4.947.070 1.102.258 3.164.821
Miền núi phía Bắc 590768 3349743 72,8 3201 1215751 587567 2133992
Bắc Trung Bộ 223499 1541648 69,4 585 890512 222914 651136 Nam Trung Bộ 191272 1085887 59,1 564 862821 190708 223066 Tây Nguyên 61722 1550138 46,7 922 1496723 60800 53415
(Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2008)
* Bảo vệ và phát triển tài nguyên đất lâm nghiệp
Một tiêu chí quan trọng nhất của bảo vệ phát triển rừng là độ che phủ rừng Theo công bố mới nhất của Bộ NN và PTNT, độ che phủ rừng đến thời điểm 2007 là 38% so với tỷ lệ này của năm 1994 là 26% Như thế một cách trực quan thì độ che phủ rừng tăng lên theo sự gia tăng của diện tích đất lâm nghiệp được giao Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu diện tích rừng để cấu thành độ che phủ tăng đó có phải là rừng trồng trên đất lâm nghiệp được giao Hiện nay, chưa có đủ bằng chứng để nói rằng
độ che phủ rừng toàn quốc tăng lên là do giao đất lâm nghiệp mặc dù nhận định
Trang 31chung là có vẻ như giao đất lâm nghiệp góp phần vào tăng độ che phủ rừng Riêng đối với công tác quản lý bảo vệ rừng thì Bộ chủ quản có nhận định là “Các diện tích rừng do UBND các cấp quản lý thì cơ bản vẫn trong tình trạng vô chủ hoặc không được bảo vệ, quản lý tốt” [2]
* Định canh định cư xoá đói và giảm nghèo
Sau khi triển khai đồng loạt chương trình giao đất lâm nghiệp, các hộ gia đình
đã tiếp cận nguồn đất tăng lên đáng kể, đã có sự sai khác rõ rệt giữa giữa số liệu điều tra mức sống năm 1993 và 1998
Đồng thời, bộ số liệu này cũng chứng minh cho thấy thu nhập từ các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của người dân có giao đất lâm nghiệp rất quan trọng, cao gấp 6 lần so với thu nhập từ lâm nghiệp của chung tất cả các hộ được điều tra Trong khi đó tổng thu nhập của hộ có giao đất lâm nghiệp (20,8 triệu/năm) không cao hơn mấy so với hộ bình quân chung (25,5 triệu/năm) (Bảng 1.2) Như vậy, giao đất lâm nghiệp chưa thật sự cải thiện thu nhập người dân Điều tích cực của giao đất lâm nghiệp là nghề rừng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập hộ
Các nghiên cứu trước đây cũng đề cập tính thích ứng khá chậm của bà con dân tộc thiểu số với chính sách này Trước hết đối với những hộ đã quen với phương thức canh tác nương rẫy du canh khi chuyển qua định canh theo chủ trương của chương trình giao đất lâm nghiệp thì bị sốc do năng suất giảm nhanh và hệ thống canh tác không bền vững Nghiên cứu tác động của chính sách giao đất lâm nghiệp ở
3 thôn Đồng Cao, Đồng Dâu và Quế Vãi của Hoà Bình cũng cho thấy rằng chính sách lâm nghiệp không tạo ra tác động như nhà hoạch định chính sách mong đợi Ngược lại, việc thực thi chính sách giao đất đã làm gián đoạn thậm chí chấm dứt các động canh tác hiện tại của người dân ở đây Trồng rừng không phải là lựa chọn kinh tế lâu dài mà chỉ là hiện tượng tạm thời và trồng rừng ở những địa phương này
là một tiến trình không bền vững Hiện tượng người dân còn để trống đất hoặc sử dụng vào mục đích khác là khá phổ biến [9]
Trang 32Bảng 1.2 Đóng góp từ thu nhập lâm nghiệp của các hộ có nhận đất lâm nghiệp
Hạng mục điều tra Tổng hộ gia
đình
Các hộ có nhận đất lâm nghiệp
1.2.2 Các vấn đề nảy sinh trong thực thi chính sách giao đất lâm nghiệp
- Thực thi chính sách ở địa phương
Điều tra rừng là công việc kỹ thuật quan trọng phải được tiến hành trước khi giao đất Nhưng hiện nay hầu hết các địa phương không có khả năng thực hiện điều tra tại quy mô xã và nông thôn trừ một số địa phương có dự án hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng như ở Đắc Lắc và Thừa Thiên Huế Việc giao đất lâm nghiệp của các địa phương hiện nay chủ yếu dựa trên bản đồ và hiện tại nhiều hộ gia đình sử dụng đất mà không có giấy chứng nhận Hơn thế nữa, đang có sự chồng chéo giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Tài Nguyên – Môi trường về tiêu chí phân loại đất và lập bản đồ Do đó việc giao đất lâm nghiệp và cấp sổ đỏ là rất khó Ở một số địa phương như việc thiếu vắng sự tham gia của người dân trong tiến trình quy hoạch sử dụng đất đã dẫn đến việc họ tiếp tục vi phạm luật là đốt nương làm rẫy và khai thác gỗ Với sự thay đổi thường xuyên các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một số địa phương đã làm cho cơ cấu cây trồng và loài cây cũng thay đổi theo, vì thế mà một số hộ gia đình không muốn trồng cây gì hơn là để đất trồng
Trang 33Những đặc thù về điều kiện văn hóa và địa hình, sự hiện diện của tài nguyên hiện có cũng làm cho công tác giao đất lâm nghiệp khách quan mà nói là khá khó đối với chính quyền địa phương Ví dụ như ở hai huyện ở Nam Đông và A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế nơi tập trung nhiều người nghèo ở mức 3 và 70% số hộ được xếp vào hạng nghèo B Hệ quả là rừng được chuyển qua đất canh tác để phục vụ xoá đói giảm nghèo Vì thế, mà chính quyền địa phương lung túng không biết lấy đất đâu mà giao nên hai địa phương này đã giao đất trên rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Không biết đã xảy ra đối với câu chuyện đất lâm nghiệp chưa, nhưng cái gọi
là “vung tay quá trán” của chính quyền địa phương, vốn rất được dân rất tin tưởng tiến hành chia lại đất lúa nước sau 3-4 năm, cho dù Nhà nước cho phép sử dụng đến
20 năm sau khi giao [20]
Một vấn đề nữa trong giao đất là công tác phân định ranh giới trên thực địa Đây là nguyên nhân tiềm tàng gây xung đột giữa cá hộ dân với nhau Thực tế là đã có nhiều hộ mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp ngay trên cả đất khu đất bảo vệ nghiêm ngặt, có hộ lại nhảy qua canh tác trên diện tích được giao cho hộ khác mặc dù kết quả thu hoạch sau đó không chắc sẽ thuộc về họ Còn đối với diện tích rừng được khoán, chủ hộ không thể ngăn hặn các chủ hộ khác chăn thả gia súc, khai thác gỗ và thu hái lâm sản ngoài gỗ trên khu rừng mà họ đang nhận khoán bảo vệ Kết quả khảo sát ở xã Tứ Nê - Tân Lạc - Hòa Bình gần đây cho thấy số vụ khiếu kiện vượt cấp liên quan đến đất lâm nghiệp ở một số nơi cũng có nhiều hướng gia tăng như trong năm
2003, địa phương này không có vụ nào khiếu kiện lên cấp Huyện, nhưng năm 2006, đã
có ba vụ kiện lên cấp Huyện và một vụ lên cấp Tỉnh Quả là việc xác định ranh giới tuy khó nhưng hết sức quan trọng, nó không những làm giảm thiểu xung đột giữa các chủ sở hữu mà còn làm cho các kết quả đầu tư sản xuất kinh doanh sau đó có hiệu quả
Về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã nhận định là Chương trình 661 đầu tư và phát triển rừng trên đất đã giao chỉ có thể thực hiện thành công trên đất rừng đã có chủ cụ thể Đây là nhận định đã được phản ánh đúng thực tế trong quá trình thực hiện Dự án 661 trong những năm qua tại các địa phương
Cảm nhận đầu tiên trong công việc thực thi chính sách giao đất ở địa phương là đất không được giao một cách công bằng cả về diện tích và chất lượng khiến một bộ phận dân số bị sốc khi thực thi chính sách giao đất Bằng một nghiên cứu ở bản Dao,
Trang 34Phú Thọ, tác giả Tô Xuân Phúc cho rằng chương trình giao đất, giao rừng của Nhà nước ở đây đã không những không đạt được mục tiêu cải thiện nghèo đói cho các hộ miền núi, mà còn làm cho hai thái cực giàu nghèo càng rộng hơn Cụ thể, đối với những hộ gia đình có được nguồn tài chính thông qua tiết kiệm cộng với mối quan hệ tốt với quan chức địa phương đã sử dụng một cách hiệu quả đất rừng được giao Bằng việc ứng dụng khung phân tích sinh thái chính trị (political ecology) cho nghiên cứu về việc phân định ranh giới ở Ba Vì (Hà Tây) và Bản Khoang (Lào Cai), Sowerwine đã phát hiện được mối giao thoa của thể chế nhà nước, thị trường và quyền sở hữu với tiểu thể chế chính trị (micro-politics), lịch sử và sinh thái địa phương đối với vấn đề điều chỉnh tiếp cận, sử dụng và quản lý tài nguyên Nghiên cứu của tác giả này cho thấy quá trình điều tra, phân loại rừng, lập bản đồ và đăng ký giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất lâm nghiệp ở địa phương không được thực hiện một cách đồng bộ và minh bạch mà bị điều chỉnh bởi cấu trúc xã hội hiện tại, phương thức sử dụng đất và kết cấu mạng lưới quan hệ quyền lực trong xã hội Các nghiên cứu điển hình ở nhiều địa phương khác nhau có nhiều phát hiện khá phong phú Một luồng kết luận khá chung
đó là một số quan chức địa phương thì được tiếp cận khá nhiều đất lâm nghiệp tốt và thuận tiện cho việc đi lại còn người dân địa phương đặc biệt là dân bản địa chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài trên đất lâm nghiệp đã bị suy thoái, phân tán Còn những thửa đất tốt hơn đã được giao cho lâm trường Người bản địa cũng thiệt thòi hơn người kinh di cư lên ở khía cạnh người kinh thường ở gần đường giao thông, thị trường thuận tiện thì có lợi rất nhiều từ chương trình giao đất Trong khi đó người dân tộc thiểu số và nghèo thì không vận dụng hoặc hưởng lợi rất ít từ chương trình này [19]
Từ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 cho thấy các hoạt động tạo thu nhập từ lâm nghiệp có ý nghĩa với người nghèo, chiếm 19% tổng thu nhập, trong khi con số này ở các hộ giàu là 7% (Bảng 1.3) Nhưng điều đáng quan ngại là khoảng cách thu nhập của các hộ có nhận đất lâm nghiệp giữa các hộ giàu nhất và các hộ nghèo nhất
là 5,3 lần Điều này một lần nữa khẳng định tính bức phá ngoạn mục của những hộ khá giả trong việc thực hóa mục tiêu giao đất lâm nghiệp của Nhà nước đề ra
Trang 35Bảng 1.3 Thu nhập của các nhóm hộ có nhận đất lâm nghiệp
VHLSS 2004
Nhóm nghèo nhất
Nhóm nghèo ít
Nhóm trung bình
Nhóm khá giàu
Nhóm giàu nhất
Phần trăm thu nhập lâm
nghiệp trên tổng thu nhập
hỗ trợ của Nhà nước tương tự như thế cho đồng bào miền núi Điều mà bài viết này tâm đắc là các hoạt động kinh tế chủ đạo của người dân miền núi có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng Có nghĩa là hoạt động kinh tế trồng rừng
dù muốn dù không cũng có tác dụng lớn trong việc giảm thiểu thiên tai do lũ lụt gây ra (Xem rừng và lũ: chìm đắm trong giả thuyết hay làm sang tỏ bằng thực tiễn, FAO và
Trang 36CIFOR 2006) Vậy thì phải chăng đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh tế của miền núi quan trọng và cần ưu ái hơn đồng bằng Tính công bằng còn thể hiện ở việc hạn chế các quyền sử dụng rừng của người dân miền núi như đã đề cập ở trên
- Giám sát và đánh giá
Hỗ trợ sau giao đất cũng được đánh giá là có vấn đề Lý do là vì chưa có hệ thống giám sát đánh giá liệu người dân có sử dụng trợ cấp đúng mục đích hay không Kết quả là người dân đã sử dụng hỗ trợ của nhà nước sau giao đất lâm nghiệp vào mục đích khác [13] Bên cạnh đó, các biện pháp khuyến khích phát triển lâm nghiệp trên đất được giao tỏ ra kém hiệu lực để loại trừ các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp Định mức khoán đến dân cũng không đầy đủ như chính sách nêu ra
mà một số địa phương như người dân ở xã Tử Nê ở Tân Lạc,Hòa Bình chỉ nhận tiền khoán quản lý bảo vệ rừng là 30.000 đồng/ha [7]
Dịch vụ khuyến lâm hiện nay được đánh giá là còn quá kém và mới chỉ tập trung vào khâu sản xuất, cung cấp giống và quy trình lâm sinh, chăm sóc vườn cây, mà chưa có các hỗ trợ tư vấn về quy hoạch sử dụng đất quy mô hộ gia đình, trang trại Thực tế đòi hỏi quá nhiều vào việc làm sao có một chính sách tốt, nhưng việc cải cách thể chế, tăng cường giám sát lại hết sức quan trọng mà trước hết đó là tách bạch chức năng quản lý nhà nước (quy định, giám sát, hỗ trợ) và chức năng kinh tế về quản lý rừng (sử dụng, bảo vệ và tái tạo) Đôi khi một thể chế tốt cũng có thể làm cho việc vận dụng chính sách đạt hiệu quả cao nhất
1.2.3 Tình hình sử dụng đất sau khi giao đất lâm nghiệp
Sau khi giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, thì người nông dân thực sự làm chủ trên đất được giao, họ yên tâm đầu tư lao động và vốn phát triển sản xuất lâm nghiệp
Dưới tác động của chính sách cùng với cách làm và bước đi thích hợp, nên phần lớn đất lâm nghiệp được giao ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình và cá nhân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, khuyến khích các thành phần kinh tế đặc biệt là nông dân phát huy cao độ tiềm năng của đất đai, đưa lại hiệu quả kinh tế cao, đời sống xã hội được cải thiện, nạn đói triền miên ở các vùng nông thôn cơ bản được đẩy lùi, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường
Trang 37Đất lâm nghiệp năm 2010 có 15.366 nghìn ha, tăng 3.790 nghìn ha so với năm
2000, trong đó: đất rừng phòng hộ có 5.795 nghìn ha, tăng 397 nghìn ha so với năm 2000; đất rừng đặc dụng có 1.443 nghìn ha; đất rừng sản xuất có 4.734 nghìn ha
Tình hình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất của cả nước trong 5 năm qua tương đối tích cực và đã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Việc giao đất lâm nghiệp, khoán rừng được đẩy mạnh nên đã góp phần bảo vệ, phục hồi và trồng mới rừng, đưa diện tích lâm nghiệp có rừng trong giai đoạn 1995-2000 tăng Độ che phủ tăng từ 32,61% (năm 1995) lên 35,08% (năm 2000) và 39,1% (năm 2010), góp phần rất quan trọng vào sự phát triển ổn định của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn đất và hạn chế tác hại của thiên tai [3]
Khi vấn đề lương thực, thực phẩm được giải quyết thì nạn phá rừng cũng dần được hạn chế, việc trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và trồng rừng phân tán trong khu dân cư, được quan tâm và ngày càng phát triển [5]
Tất cả những điều đó nói lên rằng: Chính sách giao đất lâm nghiệp cho hộ nông dân sử dụng ổn định lâu dài là sự đổi mới tích cực, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ môi trường bền vững cho tương lai
1.3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài
Số liệu thống kê ở một số huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi cũng đã cho thấy là
sau giao đất lâm nghiệp, diện tích canh tác nương rẫy tăng lên Vì người dân không
có vốn trồng rừng nên tăng cường các hoạt động chăn thả và thu hái lâm sản ngoài
gỗ trên đất lâm nghiệp được giao Như vậy có thể nói rằng việc duy trì sản xuất lương thực đối với người dân địa phương là khó ngăn chặn và phần nào vô lý khi đất lại được mong muốn là phát triển vào mục đích lâm nghiệp [12] Điều này càng được khẳng định bởi tác giả Trần Đức Viên (1999) (được trích dẫn bởi Phạm Hùng Thiêng, 2014) khi cho rằng giao đất lâm nghiệp chỉ có tác động tích cực nơi mà vấn đề an toàn lương thực đã được đáp ứng [12] Một kết quả khá bất ngờ là chỉ có khoảng 20-30% số hộ sử dụng đất lâm nghiệp được giao đúng mục đích Hiệu quả sau khi giao rừng cũng chỉ đạt 20-30% Như vậy phải chăng những phải tính đến đất sản xuất nông nghiệp cho người dân trước khi nói đến chuyện giao đất giao rừng Hoặc hỗ trợ người dân thiết lập các hệ nông lâm kết hợp để có cái ăn trước
Trang 38mắt, lấy ngắn nuôi dài chứ không thể lấy đất làm nương rẫy (tức là giao theo hiện trạng như quy định) để giao cho bà con trồng rừng Trong khi đây là những diện tích đất có khả năng canh tác nông nghiệp [12]
Các chính sách hậu giao đất khoán rừng cũng tỏ ra không phù hợp với thực tiễn sản xuất từ vấn đề hổ trợ tài chính, công nghệ, thị trường Với lãi suất khá cao, người dân vẫn khó tiếp cận vốn vay cho trồng rừng Về dịch vụ thị trường, nghiên cứu của Lê Du Phong và cộng sự cũng chỉ ra rằng chỉ có khoảng 2% hộ gia đình được hổ trợ bao tiêu sản phẩm Các chính sách hưởng lợi sau đó cũng có những bất cập tương tự Ngoài các điểm quy định trong Quyết định 178 và Thông tư 80 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
về cơ chế hưởng lợi khi các hộ gia đình, cá nhân được giao đất khoán rừng và tham gia quản lý rừng còn có điểm quan trọng là hộ gia đình, cá nhân được sử dụng 20% diện tích được giao cho trồng cây nông nghiệp Nhưng cho đến nay quyết định 178 chưa đi vào cuộc sống và không có khả năng thực hiện ở các địa phương vùng cao cần được điều chỉnh hoặc sửa đổi cho phù hợp với điều kiện của các hộ gia đình, cộng đồng miền núi khi tham gia quản lý rừng [10]
Như vậy để có chính sách đúng phải hiểu rõ người dân cần gì chứ không phải đơn thuần chỉ là mong muốn của Nhà nước Một ví dụ cụ thể đó là câu chuyện thành công của lâm nghiệp cộng đồng ở Nepal vốn nổi tiếng thế giới Mấu chốt thành công
về quản lý rừng ở quốc gia nhỏ bé này với sự tham gia của 800,000 hộ đó là việc chính phủ cho phép người dân tiếp cận tài nguyên rừng phục vụ các nhu cầu sinh hoạt cơ bản [10] Ở nước ta, trong bối cảnh sản xuất nhiều rủi ro như cháy rừng và bị chặt trộm, thì ngay cả những hộ gia đình đã phát triển trồng rừng cũng lựa chọn phương án an toàn nhất và phù hợp với thực cảnh gia đình họ Điều này đã được chứng minh tại sao trồng cây gỗ lớn ở Yên Bái giá trị hiện tại ròng gấp 4 lần khi bán
gỗ lớn ở năm thứ 15 so với năm thứ 8 (ở mức lãi suất 7%), nhưng hai nguyên nhân
cơ bản nhất dẫn đến quyết định chặt gỗ ở năm thứ 8 là do (i) hộ gia đình cần tiền trang trải cuộc sống hằng ngày của họ và sau đó là (ii) thiếu vốn đầu tư Như vậy thay vì nhận được 40 triệu đồng trong 8 năm nữa thì tại thời điểm này người dân chỉ nhận có 10 triệu đồng cho một khoản thời gian chờ đợi là 8 năm Như thế nếu tình trạng này xảy ra trên quy mô sản xuất của toàn xã hội thì đây sẽ là một sự khác biệt rất có ý nghĩa [7]
Trang 39Qua việc điều tra, nghiên cứu tình hình giao đất lâm nghiệp ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, tác giả Phạm Hùng Thiêng (2014), đã có kết luận sau [12]:
(1) Việc giao đất lâm nghiệp đều được nhân dân đồng tình ủng hộ, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hiện nay Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu đã có những thay đổi đáng kể: Đất lâm nghiệp tăng 9,15% (6.084,96 ha) từ 54,49% (36.262,65 ha) năm 2007 lên 63,64% (42.347,61 ha) năm 2012 Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình, cá nhân trong toàn huyện là 7.665,81 ha cho 3583 hộ với 9.036 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp (2) Sau khi giao đất lâm nghiệp hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp được nâng lên rõ rệt ở cả các khía cạnh như kinh tế, xã hội, môi trường
(3) Việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình còn có hạn chế như giao đất cho các hộ gia đình sử dụng ổn định thời hạn 50 năm khi Nhà nước cần đất để thực hiện các
dự án thì rất khó khăn trong công tác thu hồi đất
Trang 40Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các chính sách giao đất lâm nghiệp được thực thi trên địa bàn xã Quảng Lưu
và xã Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch
- Quỹ đất lâm nghiệp của xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch
- Người dân có đất lâm nghiệp trên địa bàn 2 xã nghiên cứu
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành trên địa bàn 2 xã: xã Quảng Lưu
và xã Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Thời gian thu thập số liệu: Số liệu được thu thập từ năm 2004 đến năm 2014
- Thời gian thực tập: Từ tháng 8/2014 đến tháng 5/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được
- Khái quát tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu (2 xã)
- Tình hình quản lý và biến động đất đai tại xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch
- Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân tại xã Quảng Lưu và xã Quảng Thạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại địa bàn nghiên cứu