1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân của một số dự án trên địa bàn quận liên chiểu, thành phố đà nẵng

112 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trong thực tế các cơ quan nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân, nhưng việc đào tạo, chuyển đổi ngành nghề và tạo việc làm cho các hộ dân bị thu hồi đất vẫn còn nhiều hạ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm

ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thừa Thiên Huế, ngày … tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Kim Huệ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường , Trường Đại học Nông lâm Huế

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn tận tâm của Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Minh Hiếu trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn

Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, Chi cục quản lý đất đai thành phố Đà Nẵng, Trung tâm phát triển Quỹ đất thành phố Đà Nẵng, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng, Văn phòng UBND quận Liên Chiểu, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Liên Chiểu, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, và tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân

Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Thừa Thiên Huế, ngày … tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Kim Huệ

Trang 5

TÓM TẮT

Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án và vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và chính trị Giải quyết như thế nào để dung hòa được những mâu thuẫn giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của người dân đảm bảo cuộc sống ổn định lâu dài cho người có đất bị thu hồi là vấn đề hết sức cần thiết

Để đánh giá đúng thực trạng và làm rõ sự tác động của sự thu hồi đất đế sinh kế

và đời sống của người dân có đất bị thu hồi ở một số dự án trên địa bàn quận Liên Chiểu và đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi, tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân của một số dự án trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”

Với phương pháp điều tra, thu thập các tài liệu, số liệu thứ cấp và phỏng vấn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 70 hộ dân (chiếm 15% số hộ thực sự đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu) tại hai dự án đã lựa chon Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện tốt chính sách pháp luật và các quy định hiện hành liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; luôn đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và dân chủ trong công tác thu hồi đất Đã xác định đúng đối tượng, điều kiện được bồi thường, xác định giá đất, tài sản, các chính sách hỗ trợ bố trí tái định cư, đảm bảo các quyền lợi hợp pháp cho người bị

thu hồi đất

- Nhiều hộ dân có đất bị thu hồi đã có thu nhập cao hơn trước thu hồi đất, nguồn vốn vật chất tăng đáng kể Nhưng quá trình thu hồi đất cũng để lại những hậu quả không tốt về vấn đề việc làm, thu nhập môi trường sống,… Một số hộ dân lại bị giảm thu nhập do thu hồi đất, nhiều người dân chưa tìm kiếm được việc làm và không tạo

được phương tiện sinh kế thay thế

- Trong thực tế các cơ quan nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân, nhưng việc đào tạo, chuyển đổi ngành nghề và tạo việc làm cho các hộ dân bị thu hồi đất vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều hộ gia đình nông dân ở các dự án đã dựa vào tài sản tự nhiên của mình dưới hình thức quyền sử dụng đất ở và nguồn bồi thường sau

khi thu hồi đất để chuyển dịch sang các chiến lược sinh kế mới

- Nhiều hộ nông dân có đất bị thu hồi thời điểm hiện tại có mức sống cao hơn, nhưng vẫn thấy sinh kế của mình chưa bền vững, vì nhiều trong số họ đang ở độ tuổi lao động nhưng thiếu việc làm Đó là mối quan tâm lớn là thách thức lớn của chính

quyền UBND quận Liên Chiểu

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI 2

3 YÊU CẦU 2

PHẦN 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.1 Khái niệm đất đai 3

1.1.2 Khái niệm thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và sinh kế người dân 5

1.1.3 Tổng quan chính sách nhà nước về công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định 11

1.1.4 Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư 15

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 19

1.2.1 Tình hình chung và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 19

1.2.2 Thực trạng và chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng nước ta qua từng thời kì 24

1.2.3 Khung pháp lí và nguyên tắc trong công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư 36

1.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 37

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

Trang 7

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 40

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 40

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 40

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 40

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 41

2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa 42

2.3.3 Phương pháp tổng hợp so sánh số liệu 42

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 43

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 43

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 49

3.2 CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT TẠI QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA VÀ GIAI ĐOẠN 2012-2017 57

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất (nông nghiệp, phi nông nghiệp,chưa sử dụng) 57

3.2.2 Công tác thu hồi đất tại quận Liên Chiểu giai đoạn 2012-2017 59

3.3 TÌNH HÌNH THU HỒI ĐẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN 63

3.3.1 Tình hình sử dụng đất trước và sau công tác thu hồi đất ở quận Liên Chiểu 63

3.3.2 Công tác quản lý nhà nước về đất đai 63

3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN 64

3.4.1 Kết quả chi tiết điều tra, phỏng vấn người dân về tình hình thu hồi đất tại 2 dự án 64

3.4.2 Những thay đổi về sinh kế của người dân bị thu hồi đất 66

3.4.3 Đánh giá chung về ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng đến sinh kế của các đối tượng tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa 80

3.4.4 Ảnh hưởng của chính sách thu hồi đất đến sinh kế người dân 82

Trang 8

3.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, ĐẢM BẢO SINH KẾ CHO NGƯỜI DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH

PHỐ ĐÀ NẴNG 83

3.5.1 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất 83

3.5.2 Một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị mất đất nông nghiệp nhằm ổn định cuộc sống 83

PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

4.1 KẾT LUẬN 88

4.2 KIẾN NGHỊ 89

PHẦN 5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 95

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế quận Liên Chiểu giai đoạn 2014 - 2016 49

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành kinh tế 51

Bảng 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp quận Liên Chiểu 51

Bảng 3.4 Giá trị sản xuất hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn quận Liên Chiểu 52

Bảng 3.5 Diện tích, dân số, lao động quận Liên Chiểu năm 2015 55

Bảng 3.6 Hiện trạng sử dụng đất quận Liên Chiểu 57

Bảng 3.7 Diện tích, số hộ thu hồi đất dự án Khu dô thị Bàu Tràm Lakeside 61

Bảng 3.8 Diện tích, số hộ thu hồi đất dự án Golden Hills City 62

Bảng 3.9 Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra 65

Bảng 3.10 Diện tích đất trung bình của các hộ dân trước và sau thu hồi đất 66

Bảng 3.11 Độ tuổi của các nhóm hộ điều tra 67

Bảng 3.12 Trình độ chuyên môn của các nhóm hộ điều tra 68

Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả điều tra về nhân khẩu và việc làm tại dự án Khu đô thị xanh Bàu Tràm Lakeside 71

Bảng 3.14 Tổng hợp kết quả điều tra về nhân khẩu, việc làm tại dự án Golden hill City 72

Bảng 3.15 Tỷ trọng nguồn thu của các nhóm hộ trước và sau thu hồi đất 74

Bảng 3.16 Đánh giá chất lượng CSHT trước và sau khi thu hồi đất 75

Bảng 3.17 Đánh giá chất lượng nhà ở trước và sau khi thu hồi đất 77

Bảng 3.18 Tài sản của người dân trước và sau thu hồi đất 77

Bảng 3.19 Tổng hợp ý kiến về thu nhập, quan hệ trong gia đình, tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của người dân 79

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững 7

Hình 1.2 Tài sản sinh kế của người dân 8

Hình 1.3 Trình tự thực hiện bồi thường thiệt hại GPMB 33

Hình 1.4 Mặt bằng dự án Golden Hill City 39

Hình 1.5 Mặt bằng dự án Khu đô thị xanh Bàu Tràm lakeside 39

Hình 3.1 Việc sử dụng tiền bồi thường của người dân bị thu hồi đất 73

Trang 13

Đất đai là tài sản tự nhiên do tạo hoá ban cho con người , ngoài những chức năng vốn có là môi trường sống, tư liệu sản xuất, nơi hình thành các khu dân cư, đường giao thông …mà nó còn có chức năng thu hút đầu tư và tạo nguồn vốn cho con người Quá trình xây dựng và phát triển cơ sở vật chất, hệ thống kết cấu hạ tầng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của con người đã tác động đến đất đai, việc giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, đường giao thông , bệnh viện, trường học…đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế văn hoá và làm biến đổi cả về phong tục tập quán của nhân dân

Thực tế hiện nay cho thấy, việc thu hồi đất để thực hiện các dự án là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và chính trị Giải quyết không tốt, không thỏa đáng quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất, dễ dẫn đến khiếu kiện đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông người, vấn đề là phải giải quyết như thế nào để dung hòa được những mâu thuẫn giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của người dân, đảm bảo cuộc sống ổn định lâu dài cho người có đất bị thu hồi

Những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, đảm bảo việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới, đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương Nguyên nhân này là một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù tái định cư, đào tạo, giải quyết gây mất trật tự, an ninh xã hội Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo để đáp ứng với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Những bất cập này đã có nhiều tác động đến một bộ phận không nhỏ người dân như sự phân hoá giàu nghèo, xáo trộn cuộc sống gia đình, bất bình đẳng xã hội, thu nhập sinh kế không bền vững, và đặc biệt là ô nhiễm môi trường sống…Để đánh giá đúng thực trạng đời sống và việc là của người dân bị thu hồi đất ở một số dự án trên

Trang 14

địa bàn quận Liên Chiểu và đề xuất những giải pháp tích cực trong việc quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc hiện nay, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người dân bị thu hồi đất

Nhận thức được những bất cập trên, nên tôi tiến hành nguyên cứu đề tài: “Ảnh

hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân của một số dự án trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”

b) Mục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu thực trạng thu hồi đất một số dự án trên địa bàn quận Liên Chiểu , thành phố Đà Nẵng

- Đánh giá tình hình thu hồi đất nông nghiệp tại quận Liên chiểu sự ảnh hưởng

của việc thực hiện chính sách trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi

- Đánh giá thực trạng sinh kế hiện nay của các hộ mất đất nông nghiệp tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết các vẫn đề liên quan đến sinh kế của người dân sau khi thu hồi đất

3 YÊU CẦU

- Đề tài được thực hiện theo đúng đề cương nghiên cứu đã được thông qua

- Số liệu điều tra, nghiên cứu phải đảm bảo tính thống nhất, cập nhật, tin cậy và chính xác

- Thực hiện phương pháp nghiên cứu đúng, thu được số liệu đầy đủ cùng với những nhận xét khách quan của người thực hiện đề tài

Trang 15

PHẦN 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Khái niệm đất đai

1.1.1.1 Khái niệm về đất đai

Theo V.V Đôccutraiep (1846 - 1903): Đất là tầng ngoài của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác dụng của tổng hợp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương Viện sĩ thổ nhưỡng nông hóa Liên Xô(cũ) - V.R Villiam (1863 - 1939) thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng [7]

Theo quan điểm của FAO thì đất được xem như là tổng thể của nhiều yếu tố gồm: Khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thực vật, động vật, những biến đổi của đất do hoạt động con người [17]

Theo quan điểm của C Mác: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông lâm nghiệp [9]

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ Trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hoá ra, có độ phì, trên đó cây cỏ có thể mọc được Đất hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ Nếu nhìn nhận đất đai trên phương diện từ vạt đất thì đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên

và dưới bề mặt đất [26]

Như vậy, tùy theo quan điểm từng lĩnh vực về chuyên môn mà đất đai được các tác giả nhìn nhận trên các phương diện khác nhau và có nhiều ý nghĩa khác nhau Tuy nhiên, hiện nay khi nói đến đất người ta thường dùng hai khái niệm là đất (soil) và đất đai (land) Đất (soil) là lớp đất mặt của vỏ trái đất gọi là Thổ nhưỡng Thổ nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (khí quyển), nước (thủy quyển), sinh vật (sinh quyển) và đá mẹ (thạch quyển) qua thời gian lâu dài Khái niệm đất theo nghĩa đất đai (land) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, đất như là không gian, cộng đồng lãnh thổ, vị trí địa lý, nguồn vốn, môi trường, tài sản [16] Trong quản lý nhà nước về đất đai người ta thường đề cập đến đất đai theo khái niệm đất (land)

Trang 16

1.1.1.2 Phân loại đất

Hiện nay, trên thế giới tùy theo mục đích phân loại mà có nhiều cách phân loại đất khác nhau Ở Việt Nam, đất thường được phân loại theo hai cách: Phân loại đất theo thổ nhưỡng và phân loại đất theo mục đích sử dụng[16]

a Phân loại đất theo thổ nhưỡng

Phân loại đất theo thổ nhưỡng (theo Khoa học đất) mục đích nhằm xây dựng bản

đồ thổ nhưỡng Trên thế giới có 3 trường phái chủ yếu [16]:

• Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh

• Phân loại đất theo định lượng các tầng đất

• Phân loại đất theo FAO - UNESCO

Ở Việt Nam, năm 1976, Bộ Nông nghiệp đã xây dựng bản đồ đất tỉ lệ 1/1.000.000, bảng phân loại đất chia đất của nước ta thành 13 nhóm với 30 loại đất theo phát sinh Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, ở nước ta đã sử dụng hệ thống phân loại đất theo định lượng FAO - UNESCO, bảng phân loại đất theo phương pháp FAO - UNESCO gồm 19 nhóm và 54 loại đất [7]

b Phân loại đất theo mục đích sử dụng

Ở Việt Nam, Luật đất đai đầu tiên (1987) quy định đất đai được phân làm 5 loại theo mục đích sử dụng, gồm đất NN, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng

và đất chưa sử dụng Luật đất đai 1993 quy định đất đai được phân thành 6 loại theo mục đích sử dụng, gồm đất NN, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng [33]

Cách phân loại đất theo Luật đất đai 1987 và Luật đất đai 1993 được vừa theo mục đích sử dụng, lại theo địa bàn gây nên sự chồng chéo Để khắc phục tình trạng này, Luật đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 quy định căn cứ theo mục đích

sử dụng, đất đai được phân thành 3 nhóm: Nhóm đất NN, nhóm đất phi NN, nhóm đất chưa sử dụng.Loại đất, mục đích sử dụng đất của mỗi thửa đất được xác định theo giấy

tờ pháp lý về quyền sử dụng đất hoặc theo hiện trạng sử dụng đất [9]

- Nhóm đất nông nghiệp: Đất NN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về NN, lâm nghiệm, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo

vệ, phát triển rừng Nhóm đất NN được phân làm các phân nhóm gồm đất sản xuất

NN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất NN khác [5],[10]

- Nhóm đất phi NN: Đất phi NN là đất đang được sử dụng không thuộc nhóm đất

NN Nhóm đất phi NN bao gồm đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất

Trang 17

nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng và đất phi NN khác [5],[10].Trong các phân nhóm của nhóm đất NN, phi NN lại được chia thành nhiều loại đất khác nhau

- Nhóm đất chưa sử dụng: Đất chưa sử dụng là đất chưa xác định mục đích sử dụng Đất chưa sử dụng bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi

đá không có rừng cây[5],[10]

Như vậy, theo mục đích sử dụng đất, ở nước ta đất được chia làm 3 loại: Đất NN, đất phi NN và đất chưa sử dụng Với tốc độ CNH, ĐTH ngày càng cao như hiện nay, đất NN luôn có xu hướng chuyển sang đất phi NN với diện tích lớn

1.1.2 Khái niệm thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư

và sinh kế người dân

1.1.2.1 Thu hồi đất, Giải phóng mặt bằng, Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 [23]

Với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện quyền năng định đoạt đất đai trong trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế; thu hồi đất đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, không sử dụng đất,

sử dụng không hiệu quả; thu hồi đất khi người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng [31]

Có nhiều trường hợp thu hồi đất nhưng trường hợp được quan tâm hơn cả là thu hồi đất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất phục vụ đầu tư phát triển kinh tế [31]

* Khái niệm bồi thường

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra cho người ta Đền bù là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [23]

* Khái niệm hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [23]

Trang 18

* Khái niệm về tái định cư

Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống

và làm ăn Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển

Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ

sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người

sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:

- Bồi thường bằng nhà ở

- Bồi thường bằng giao đất ở mới

- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở

1.1.2.2 Sinh kế

Khái niệm sinh kế có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau Theo một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi thì “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” [45] Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên [47],[31]

Sinh kế cũng có thể được mô tả như tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người hoặc một nhóm người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình Tiêu chí sinh kế bền vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi

ro và các cú sốc [27]

Sinh kế bền vững có thể được mô tả là: Chống đỡ được với những cú sốc và áp lực bên ngoài, không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài, được thích nghi hoá để duy trì được sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên và bền vững mà không làm suy yếu và ảnh huởng tới các giải pháp sinh kế của những người khác [27]

Để đảm bảo sinh kế bền vững, một cộng đồng, một hộ gia đình, một cá nhân cần

có năm tài sản (vốn) gồm: [27],[45],[46]:

Trang 19

Khung phân tích sinh kế

Khung sinh kế bền vững là một công cụ giúp chúng ta nâng cao sự hiểu biết về đời sống đặc biệt là các sinh kế của người nghèo, nó xuất phát từ phân tích của Amartya Sen về các quyền trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo[18]

Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững

(Nguồn: Theo bài giảng quản lý tài nguyên đất tập trung, PGS.TS Nguyễn Văn Chương)

Các thành phần của khung sinh kế bền vững

Tiếp cận sinh kế cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người Nó cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người (tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích

-Bồi thường thiệt

hại -Chính sách đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp -Doanh nghiệp nhận lao động và việc làm

- Hỗ trợ về vốn,

kỷ thuật

Kết qủa sinh kế

-Thu nhập nhiều hơn

-Cuộc sống đầy đủ hơn

-Tính bền vững cao -An ninh lương thực được cải thiện -Công bằng xã hội được cải thiện -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên

Lựa chọn hoạt động sinh kế TÀI SẢN TẠO

SINH KẾ

Trang 20

Hình 1.2 Tài sản sinh kế của người dân

Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những sinh kế: Nguồn vốn con người, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật thể, nguồn vốn tài chính

Vốn con người bao gồm lao động, sức khoẻ, tri thức hay các khả năng, kỹ năng

cá nhân Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn Những thay đổi phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai Nó được xem là nền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập

Vốn xã hội là sự tin cậy, sự trông cậy, sự tin tưởng của cá nhân, gia đình, nhóm,

tổ chức, cộng đồng với cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng, thể chế khác Vốn xã hội của một cộng đồng được thể hiện thông qua các mối quan hệ quen biết, hay quan hệ thành viên của cộng đồng đó đối với các cơ quan, đơn vị, đoàn thể xã hội

từ trên xuống và giữa các cá nhân, tổ chức chức năng trong vùng địa lý

Trong năm yếu tố cơ bản của kế sinh nhai, nguồn vốn xã hội có quan hệ sâu sắc nhất đối với sự chuyển dịch quá trình và chuyển dịch cơ cấu Thực sự có thể là hữu ích nếu xem vốn xã hội như sản phẩm của một tiến trình hoặc cấu trúc, thông qua các mối quan hệ đơn giản này các tiến trình và cấu trúc trở thành sản phẩm của nguồn vốn xã hội Mối quan hệ này đưa ra hai con đường và có thể làm cho nó phát triển hơn Vốn tự nhiên là đất, nước (bề mặt, dưới bề mặt), rừng, cây, con có sẵn trên hành tinh mà con người có khả năng sử dụng Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hàng hoá công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng

Trong khung sinh kế bền vững Mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm hoạ tàn phá kế sinh nhai của người nghèo thường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháy rừng,

lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu và đất nông nghiệp) Và tính mùa vụ thì ảnh hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua các năm

Vốn vật thể gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn, tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin

Trang 21

Vốn tài chính thể hiện nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướng tới mục tiêu sinh kế của họ Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chất kinh tế

mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùng sản phẩm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế quan trọng, đó là

sự giá trị của tiền mặt hoặc tính thanh khoản, người ta có thể làm theo những cách sinh

kế khác

Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế

Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của họ Các hộ gia đình, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách sinh sống) Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều kiện môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thi trường, việc làm trong nền kinh tế

và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Người dân có thể sử dụng những gì

mà họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại

Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của họ

về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau Quy mô của các hoạt động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi Quản lý như thế nào để bảo tồn được các nguồn lực sinh kế và thu nhập của họ? Cách người dân thu thập và phát triển các kiến thức, kĩ năng cần thiết để kiếm sống ? Cách sử dụng thời gian và công sức? Cách họ đối phó với rủi ro

Kết quả sinh kế mang tính chất là tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền vững Kết quả sinh kế là vấn đề thuộc về an sinh xã hội, cuộc sống của người dân ra sao ? Thu nhập của họ như thế nào? An ninh lương thực, khả năng ứng biến sinh kế trước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội Đây là kết quả của những thay đổi cuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mong muốn đạt được

Phân loại mức độ quan trọng của 5 loại nguồn lực

Tất cả các nguồn lực đều rất quan trọng đối với cải thiện sinh kế, tuy nhiên tình trạng và vai trò mỗi loại nguồn lực vào mỗi thời điểm lại không giống nhau ở mỗi cộng đồng khác nhau Để có cơ sở xác định các mũi nhọn ưu tiên phát triển nguồn lực nhằm đạt được những kết quả hiệu quả cao cần đánh giá hai khía cạnh Thứ nhất: tầm quan trọng của các nguồn lực Thứ hai: mức độ thiếu hụt nguồn lực, các cản trở trong việc tiếp cận, sử dụng và phát triển các nguồn lực

Phân tích các thay đổi của nguồn lực sinh kế

Có ba khía cạnh quan trọng cần làm rõ đối với việc phân tích sự thay đổi các nguồn lực: thứ nhất là về số lượng, thứ hai là về chất lượng và thứ ba là về tầm quan trọng của các nguồn lực Các thay đổi này cần được mô tả nó diễn ra như thế nào trong

Trang 22

quá khứ và phán đoán xu hướng của tương lai Đây là những thông tin mang tính chất bài học lịch sử kết hợp với xu hướng thời đại Nó sẽ giúp ích cho việc né tránh các sai lầm và nắm bắt các cơ hội trong tương lai

Mối quan hệ giữa các loại tài sản trong khung sinh kế

Quan hệ giữa các tài sản

Những tài sản sinh kế nối kết với nhau theo vô số cách để tạo ra kết quả sinh kế

có lợi Hai loại quan hệ quan trọng là:

- Sự tuần tự: Việc sở hữu một loại tài sản giúp người dân từ đó tạo thêm các loại tài sản khác Ví dụ người dân dùng tiền (nguồn vốn tài chính) để mua sắm vật dụng sản xuất và tiêu dùng (nguồn vốn vật thể)

- Sự thay thế: Một loại tài sản có thể thay thế cho những loại tài sản khác không?

Sự gia tăng nguồn vốn con người có đủ đền bù sự thiếu hụt nguồn vốn tài chính không? Nếu có, điều này có thể dựa vào mở rộng lựa chọn cho cung cấp

Mối quan hệ trong khung

- Tài sản và hoản cảnh dễ bị tổn thương: Tài sản có thể vừa bị phá huỷ vừa được tạo ra thông qua các biến động của hoàn cảnh

- Tài sản và sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế: Thể chế, chính sách và

sự chuyển dịch cơ cấu, quy trình sản xuất có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng tiếp cận tài sản

- Tạo ra tài sản: Chính sách đầu tư xây dựng CSHT cơ bản (nguồn vốn hữu hình) hoặc phát minh kỹ thuật (nguồn vốn con người) hoặc sự tồn tại của những thể chế địa phương làm mạnh lên nguồn vốn xã hội

- Xác định cách tiếp cận tài sản: Quyền sở hữu, những thể chế điều chỉnh cách tiếp cận với những nguồn tài nguyên phổ biến

- Ảnh hưởng tỉ lệ tích luỹ tài sản: Chính sách thuế ảnh hưởng đến doanh thu của những chiến lược sinh kế

Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản, những cá nhân và những nhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế Nói chung, tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng nhiều Vì vậy một cách

để đạt được sự trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dân xây dựng những tài sản của họ Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có khuynh hướng

có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến lược để đảm bảo sinh kế của họ

Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ thuộc

Trang 23

chủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản Những tài sản khác nhau cần để đạt được những kết quả sinh kế khác nhau

Ví dụ thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính: Diện tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cố định ngoài đất đai,

có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và áp dụng giống lúa mới Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu nhập của nông hộ Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp, bằng sự gia tăng thặng dư tương tự lúa gạo và như vậy tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển (Seppala, 1996) từ đó có thể đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn Sự phát triển tài nguyên nhân lực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ, có thể góp phần làm tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông hộ gia tăng Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao động gia đình thủ công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như: thương maị và dịch vụ Tình trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập thông qua giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng cơ hội lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn Ngoài nguồn vốn tiết kiệm của gia đình, tiếp cận tín dụng làm tăng thêm vốn cũng làm tăng thêm thu nhập của nông hộ

1.1.3 Tổng quan chính sách nhà nước về công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định

1.1.3.1 Trước khi có Luật đất đai năm 1993

Luật đất đai năm 1988 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Tại Khoản 4 Điều 48 quy định: “Đền bù thiệt hại thực tế cho người đang sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình, bồi hoàn thành quả lao động

và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật”

Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 186 - HĐBT ngày 31/5/1990, về bồi thường thiệt hại đất NN, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác Căn cứ để tính mức bồi thường thiệt hại về đất NN và đất có rừng tại Quyết định này là diện tích, chất lượng

và vị trí đất Toàn bộ tiền bồi thường phải nộp vào ngân sách Nhà nước và được điều tiết theo phân cấp ngân sách trung ương 30%, địa phương 70% để sử dụng vào mục đích khai hoang, phục hoá và định canh, định cư cho nhân dân vùng bị thu hồi đất

Hiến pháp 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường, GPMB nói riêng, đó là:

+ Tại Điều 17 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật”

Trang 24

+ Tại Điều 18 quy định “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật” + Tại Điều 23 quy định “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích của quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc

tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định” [20]

Những quy định về bồi thường, GPMB của Luật đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai đã được thông qua ngày 29/6/2001

Để cụ thể hoá các quy định của Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường, GPMB đã được ban hành, bao gồm:

- Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất

- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất;

- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP;

Trang 25

- Nghị định số 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; thay thế Nghị định số 90/CP nói trên;

- Thông tư 145/1998/TT - BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ

* Chính sách bồi thường, GPMB cụ thể theo quy định của Nghị định số 22/1998/NĐ - CP và Thông tư số 145/1998/TT - BTC [12]:

Nghị định số 22/1998/NĐ - CP và Thông tư số 145/1998/TT - BTC đã quy định

rõ phạm vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối tượng phải bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi thường thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, việc lập khu TĐC cũng như việc tổ chức thực hiện

1.1.3.3 Thời kỳ từ khi có Luật đất đai năm 2003

Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01/7/ 2004

Để hướng dẫn việc bồi thường, GPMB theo quy định của Luật đất đai năm 2003, một

số văn bản sau đã được ban hành:

Giai đoạn này, Chính phủ ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

- Nghị định số 17/2006/NĐ - CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ - CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;

- Thông tư số 116/2004/TT - BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 69/2006/TT - BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT - BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Tuy nhiên, để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường, GPMB ngày 25/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ - CP quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, hồi TĐC khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư 06 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ -

CP, Thông tư 145/2007/TT - BTC Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ -

CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liên

Trang 26

tịch số 14/2008/TTLT/BTC - BTNMT ngày 31/01/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ - CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC; Thông

tư số 14/2009/TT - BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

Về Nghị định số 69/2009/NĐ - CP tập trung vào việc làm rõ, bãi bỏ một số điều Nghị định số 181/2004/NĐ - CP và Nghị định số 84/2006/NĐ-CP về một số vấn đề

cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định 69/2009/NĐ - CP là đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất, thực hiện hài hòa 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà đầu tư và quyền của nhà nước theo quy định của pháp luật

1.1.3.4 Thời kỳ từ khi có Luật đất đai năm 2013

- Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai

- Nghị định số 44//2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 về việc quy định giá đất

- Nghị định số 45//2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 về việc quy định thu tiền sử dụng đất

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về việc quy định về bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

- Nghị định 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 Chính phủ ban hành quy định về khung giá đất

- Thông tư 02/2015/TT-BTNMT hướng dẫn Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 44/2014/NĐ-CP

- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 về việc quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

- Quyết định 63/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất

- Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 về việc sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai

Trang 27

- Thông tư 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai

- Thông tư 53/2017/TT-BTNMT quy định ngưng hiệu lực thi hành khoản 5 điều

6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng

01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai

Về cơ bản, chính sách bồi thường, GPMB theo Luật đất đai 2013 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường, GPMB hiện nay

1.1.4 Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư

1.1.4.1 Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam

Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước Với những đổi mới tích cực như đã nghiên cứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay [3]

 Về diện tích đất nông nghiệp, đẩt ở bị thu hồi để phát triển các khu công

nghiệp, đô thị và công trình công cộng

Trong 5 năm, từ năm 2001 đến năm 2005, tổng diện tích đất NN đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất NN của cả nước) Trong đó diện tích đất NN đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha [8]

Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất NN thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh phúc (5.573 ha) Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất NN bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng

Trang 28

có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất NN của cả nước, tỷ

lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là duới 0,5% [8]

Mặc dù diện tích đất NN, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng

số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người thấp, có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70% - 80% diện tích đất canh tác

 Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn cho thấy việc thu hồi đất NN trong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động NN Vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách

cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ, TĐC Tuy nhiên, trên thực tế có tới 67% lao động NN vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định [8] Việc chuyển mục đích đối với đất NN nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất Theo kết quả điều tra thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động bị mất việc làm Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm, từ 2001 đến 2004 đã có gần 80.000 lao động bị mất việc làm Tính đến hết năm 2005, Hà Nội có khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất Thành phố đã có nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động là 3,8 triệu đồng nhưng việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả cao [8]

Tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vòng năm năm trở lại đây, Thành phố đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới 60.203.074 m2; tổng số

hộ bị ảnh hưởng là 53.853 hộ, trong đó có 20.014 hộ bị giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận tiền đền bù, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm Có gia đình trở nên giàu có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng) nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp [4] Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì họ có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được để thừa kế từ thế hệ này cho các thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn toàn Mặc

Trang 29

dù nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Sau khi bị thu hồi đất, chỉ có 32,3% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số hộ cho rằng đời sống không có gì cải thiện, và số hộ còn lại khẳng định đời sống của họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất Như vậy, có đến 67,7% số hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của họ kém đi hoặc không có gì cải thiện hơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các dự án khác

về phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương [4]

Khi trả lời câu hỏi về những vấn đề cần ưu tiên nhất từ phía Nhà nước và doanh nghiệp đối với các hộ dân sau khi bị hồi đất thì có 38,4% đề nghị được thu hút vào các doanh nghiệp trên địa bàn; 22,7% đề nghị được hỗ trợ đào tạo nghề bằng tiền, số còn lại đề nghị cho vay vốn ưu đãi và các ưu tiên khác [8]

1.1.4.2 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện công tác giải phóng mặt bằng

 Những mặt đạt được

- Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh; việc triển khai bồi thường, hỗ trợ, TĐC khá thuận lợi

và ít gặp trở ngại từ phía người có đất bị thu hồi

- Các quy định về thu hồi đất, bồi thường, TĐC ngày càng phù hợp hơn với quy luật kinh tế, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người có đất bị thu hồi; trình tự, thủ tục thu hồi đất ngày càng rõ ràng hơn

- Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường hầu như không có hoặc có rất ít khiếu nại

- Việc bổ sung quy định về tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã giảm sức ép từ các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất.[32]

 Những mặt thiếu sót, yếu kém và vướng mắc

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luật công nhận Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất TĐC (thu hồi giá quá thấp, chưa sát với thị trường)

- Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi

ở cũ

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc việc khuyến

Trang 30

khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ứng gay gắt của những người có đất bị thu hồi

- Giá đất bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị trường trong điều kiện bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với giá đất cùng loại chuyển nhượng thực tế, đặc biệt là đối với đất NN trong khu vực đô thị và liền kề với khu dân cư Tại vùng giáp ranh giữa các tỉnh và vùng giáp ranh giữa đô thị và nông thôn còn chênh lệch quá lớn về giá đất bồi thường, hỗ trợ

- Tiền bồi thường đất NN thường không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà ở mới tại khu TĐC

- Việc xác định tính hợp thức về quyền sử dụng đất để tính toán mức bồi thường,

hỗ trợ, TĐC đang là một vấn đề nổi cộm trong thực tế Một mặt, tính hợp thức chưa được quy định rõ trong Nghị định số 22/1998/NĐ - CP trước đây Mặt khác, việc áp dụng pháp luật ở các địa phương để giải quyết vấn đề này cũng khác nhau, nhiều trường hợp mang tính chủ quan, không công bằng trong xử lý giữa những trường hợp

có cùng điều kiện

- Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC

để GPMB chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khi công khai quy hoạch, thông báo

kế hoạch, quyết định thu hồi…cho tới khâu cưỡng chế

- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung, các địa phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu TĐC đã lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, có trường hợp người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở 5 năm nay mà vẫn chưa được bố trí vào khu TĐC

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thoả đáng hơn Tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cùng với việc thiếu sự vận dụng cụ thể, linh hoạt tại các dự án mức bồi thường khác nhau do sự thay đổi chính sách đã dẫn tới sự so bì và khiếu kiện kéo dài của người có đất bị thu hồi Vì vậy, việc GPMB để thực hiện một số dự án không bảo đảm tiến độ

- Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật; hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc GPMB bị dây dưa, kéo dài nhiều năm

- Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, GPMB gồm các thành viên được trưng tập từ các ngành khác nhau, thiếu kinh nghiệm, chưa am hiểu sâu chính sách, pháp luật về đất đai, lúng túng trong việc giải thích chính sách pháp luật cho nhân dân,

Trang 31

thậm chí làm trái quy định của pháp luật, dẫn tới khiếu nại và phải tạm dừng việc GPMB

- Nhiều nhà đầu tư không đủ khả năng về tài chính để bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Việc ngân hàng rút bỏ cam kết, không cho vay vốn khi thị trường nhà đất chững lại cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của nhà đầu tư để triển khai dự án

- Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC đã được giải quyết đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người sử dụng đất hoặc do không hiểu pháp luật, cố ý trì hoãn để được bồi thường, hỗ trợ thêm nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người, gây áp lực với cơ quan nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập đã làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách tắc cho việc GPMB [32]

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Tình hình chung và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Chính sách bồi thường thiệt hại ở một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam

Đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, đất đai là nguồn lực quan trọng nhất, cơ bản của mọi hoạt động kinh tế-xã hội Khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các mục đích của quốc gia đã làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế của hàng triệu hộ dân và người dân, người ảnh hưởng không những hạn chế về số lượng mà có xu hướng ngày càng tăng Đặc biệt, ở những nước đang phát triển, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp thì đó quả là vấn đề sống còn của họ Dưới đây là một số kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước trên thế giới sẽ giúp phần nào ích cho Việt Nam chúng ta, đặc biệt trong chính sách bồi thường GPMB

 Tại Inđônêxia

Đối với Inđônêxia, di dân tái định cư (sau đây viết tắt là TĐC), bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển của xã hội từ trước đến nay vẫn bị coi là sự “hy sinh” mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của số đông và lợi ích cộng đồng các chương trình bồi thường TĐC chỉ giới hạn trong phạm vi bồi thường theo Luật cho đất bị dự án chiếm dụng, hoặc cho một số ít trường hợp đất TĐC

Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về công tác bồi thường TĐC đang từng bước thay đổi, nhận thức về hậu quả xấu có thể xảy ra đối với các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường trong quá trình thu hồi đất và di dân, mặt khác, từ thực tế khách quan và sự chuyển biến về nhận thức, người bị ảnh hưởng quan tâm ngày càng lớn về quyền lợi

và phúc lợi cho họ, vì vậy TĐC ngày càng được xem như những chương trình phát triển của quốc gia Kinh nghiệm thực tiễn đã giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các nhà thực thi đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả

Trang 32

cho những tổn thất do sự thiếu quan tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách TĐC có thể lớn hơn rất nhiều chi phí TĐC đúng đắn Hơn nữa, những người bị bần cùng hóa Đến một thời điểm nhất định sẽ là nguyên nhân làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân

TĐC bắt buộc có ba yếu tố quan trọng:

- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất

- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ phương tiện phù hợp

- Trợ cấp khôi phục để ít nhất người bị ảnh hưởng có được mức sống đạt hoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án

Đối với các dự án có di dân TĐC, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung di dân là yếu tố không thể thiếu được ngay từ chu kỳ đầu tiên của việc lập dự án đầu tư những nguyên tắc chính phải được đề cập đến, bao gồm:

- Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hổ trợ để triển vọng kinh tế, xã hội của người bị ảnh hưởng nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp không có dự án - đất đai, nhà cửa cơ sở hạ tầng thích hợp và các loại bồi thường khác xứng như trước khi có dự án phải được cấp cho người bị ảnh hưởng chú trọng đến người dân bản địa (các dự án nước ngoài) dân tộc thiểu số, nông dân vì họ là những người có quyền lợi hoặc quyền hoa lợi theo phong tục đối với đất và các tài sản khác

bị dự án chiếm dụng

- Bất cứ dự án nào về TĐC cần có nhận thức và ý thức, thực hiện đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt, các kế hoạch TĐC phải được soạn thảo và xác lập tương ứng với thời gian và ngân sách phù hợp, người di chuyển được hưởng các cơ hội về nơi ở, nguồn sống, nguồn lực ổn định cuộc sống càng nhanh càng tốt

- Người bị ảnh hưởng phải được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường TĐC, người bị ảnh hưởng phải được hổ trợ ở mức cao nhất về hòa nhập cộng đồng dân cư địa phương bằng cách mở rộng lợi ích của dự

án đến cả các cộng đồng dân địa phương

- Để không ngừng cải tiến sự hổ trợ của ngân hàng với các dự án trong lĩnh vực nhạy cảm này, cần chính thức thông qua và thực hiện một số chính sách bồi thường TĐC bắt buộc Chính sách này không thể thiếu trong việc nêu rõ các mục tiêu và phương pháp, định ra các tiêu chuẩn trong hoạt động của các tổ chức ngân hàng, mở ra một cách nhìn bao quát rõ ràng về tất cả vấn đề đó và vận dụng thủ tục chính thức để giải quyết có hệ thống những khía cạnh này trong các hoạt động của các ngân hàng

Trang 33

 Tại Trung Quốc

Pháp luật đất đai của Trung Quốc quy định đất đai thuộc sở hữu nhà nước, quy định này có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao

Trong trường hợp Nhà nước cần thu hồi đất của người đang sử dụng đất để sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường

và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất

Theo quy định khi thu hồi đất phải trả cho người bị thu hồi đất các khoản tiền: Tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Theo đó cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất

Theo pháp luật, khoản tiền bồi thường cho GPMB phải đảm bảo cho người dân

bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn các hộ gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của họ có thể mua được căn hộ mới Còn đối với người dân khu vực nông thôn có thể dùng khoản tiền đó mua được 2 căn hộ ở cùng một nơi Những đối tượng trong diện GPMB được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước Thời điểm được xác định bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi đất được tính theo ngày cấp GCNQSDĐ

Khi bị thu hồi đất nông nghiệp thông thường người nông dân khó tìm việc làm thích hợp với khả năng của mình Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc thực hiện chính sách:

- Đối với người già thực hiện chế độ dưỡng lão Theo quy định thì phụ nữ từ 45 tuổi và nam gới từ 50 tuổi trở lên được trả 90.000 – 110.000 nhân dân tệ/1lần cho Cục bảo hiểm xã hội và Cục này có trách nhiệm trả tiền dưỡng lão hàng năm cho những người này

- Đối với những người đang trong độ tuổi lao động thì trả cho họ một khoản tiền khoảng 100.000 - 120.000 nhân dân tệ để đối tượng này đi tìm việc làm mới [3]

Trang 34

biệt là ở Anh Quốc, đôi khi lại hoàn toàn không có quy định gì như ở Mỹ Các quy định về đền bù trong các trường hợp thực tế thông thường không phân biệt căn cứ vào việc thu hồi đất cho mục đích công cộng hay tư nhân, mà nguyên tắc chung là làm sao cho phù hợp với giá đất trên thị trường [6]

Việc thu hồi đất không phải chỉ một dạng duy nhất của sự cưỡng chế giành đất sử dụng cho quy hoạch, cho mục đích làm đường giao thông và các mục đích công cộng khác tương tự, trong những trường hợp như vậy, việc đền bù đôi khi rất thấp hoặc không có [6]

 Bồi thường thiệt hại về đất đai của các tổ chức tài trợ (WB và ADB) tại Việt Nam

Các dự án sử dụng vốn vay của Ngân hàng quốc tế (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đều phải thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại, tái định cư cho những người bị thu hồi đất do triển khai các dự án Các chính sách bồi thường trong triển khai các dự án này có nhiều khác biệt so với những quy định của văn bản pháp luật của Việt Nam Có những khó khăn nhất định trong việc áp dụng và đặc biệt

có khả năng gây ra một số vấn đề về xã hội Tuy vậy, cũng có những ảnh hưởng tới việc hoàn thiện chính sách bồi thường và TĐC cho những người bị thu hồi đất Một số điểm khác biệt hiện nay là:

- Các chính sách của Việt Nam thường bao gồm cả bồi thường thiệt hại về đất và

cả tài sản trên đất Dựa trên quan niệm về lợi ích xã hội và lợi ích công cộng được đặt lên trên hết và đất đai được xác định thuộc về sở hữu toàn dân, khi cần nhà nước có thể lấy lại được ngay Việc bồi thường thiệt hại cho người đang sử dụng đất còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể chứ không phải bắt buộc (đã có rất nhiều dự án nhà nước động viên nhân dân phá dỡ nhà cửa trả lại một phần đất đai mà không cần bồi thường) Các hộ bị thiệt hại phải tự khắc phục các khó khăn gặp phải được coi là hết sức bình thường, với tinh thần sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của tập thể là lợi ích chung của toàn xã hội

Trong khi các mục tiêu chính sách TĐC của ADB là phải làm sao giảm tối đa số người TĐC và phải bảo đảm cho các hộ di chuyển được bồi thường sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ phải thuận lợi như cũ Xuất phát từ mục tiêu này chính sách TĐC của ADB là bao gồm toàn bộ quá trình bồi thường, giúp di chuyển và khôi phục các điều kiện sống, tạo thu nhập cho các hộ bị ảnh hưởng bằng mức ban đầu khi chưa

có dự án

Hiện nay, sự phát triển của nền kinh tế thị trường, bên cạnh lợi ích chung của cộng đồng thì lợi ích cá nhân cũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ như một trong những động lực của phát triển Từ mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” đã chuyển dần sang mục tiêu “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ và văn minh”, lấy con người làm trọng tâm của

Trang 35

sự phát triển Tuy nhiên, đến nay việc đền bù giải phóng mặt bằng vẫn chỉ tập trung quy đổi giá trị đất và tài sản bị thiệt hại, mà chưa tính đến mục tiêu con người bị thu hồi đất Mặc dù nghị định 22/1998/NĐ-CP và nghị định 197/2004/NĐ-CP của chính phủ đã tăng thêm mức bồi thường cũng như các chính sách hỗ trợ để ổn định cuộc sống và hoạt động sản xuất của người bị thu hồi đất, Song vẫn chưa đạt được yêu cầu

về chi phí để khôi phục mức sống như cũ trước khi bị thu hồi Vì vậy, thường các dự

án sử dụng vốn mà Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á phải được các bộ chủ quản làm chủ phê duyệt, thông qua như các chương trình: TĐC, đặc biệt khi tổ chức thực hiện cũng thường gặp những khó khăn nhất định, thường gây ra sự bất bình đẳng giữa các cá nhân và hộ gia đình trong cùng một địa phương Chính sách bồi thường của các dự án khác nhau là rất khác nhau

Chính sách của Nhà nước ta chỉ bồi thường cho những người có quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc có khả năng hợp pháp hóa quyền sử dụng đất Tuy nhiên, Nghị định 197/2004/NĐ-CP có quy định nên đối với trường hợp không được bồi thường thiệt hại

về đất là: “trong trường hợp xét thấy cần hỗ trợ của UBND cấp tỉnh xem xét và quyết định trường hợp cụ thể” Quy định này đã sử lý sự bất cập hiện nay và bồi đắp sự khác biệt giữa chính sách nhà nước ta và của ADB, WB

Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường và TĐC bao giờ cũng hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng, trong khi ở Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc có thời hạn này (có rất nhiều dự án vừa giải tỏa mặt bằng vừa triển khai thi công, chỗ ở GPMB bằng xong thì thi công trước để tránh lấn chiếm đất đai…), do vậy nhiều gia đình chưa kịp thời xây dựng xong hoặc xây dựng lại nhà ở mới ổn định cuộc sống trước khi giải tỏa

Quy định của Ngân hàng ADB là phải thông báo đầy đủ những thông tin về dự

án cũng như chính sách bồi thường tái định cư của dự án cho các hộ dân và phải tham khảo ý kiến tìm mọi cách thỏa mãn các yêu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập các kế hoạch cũng như thực hiện kế hoạch tái định cư

Luật đất đai 2003 quy định (trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người sử dụng đất, thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển và phương án bồi thường thiệt hại) Thực tế chưa thực hiện đầy đủ của nội dung này vì việc thu hồi đất là quyền của Nhà nước, nhưng việc di chuyển theo kế hoạch như thế nào, tái định cư ra sao hầu như chưa được hướng dẫn và quy định cụ thể

Như vậy, qua các tổ chức Ngân hàng quốc tế, chúng ta thấy các chính sách bồi thường, GPMB của nước ta có những điểm phù hợp với mục tiêu của ngân hàng quốc

tế, đã quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tuy nhiên chúng cần phải bổ sung, sửa đổi một số điều thực hiện xã hội công bằng, dân chủ và văn minh vì

sự nghiệp tiến bộ xã hội [2]

Trang 36

1.2.2 Thực trạng và chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng nước ta qua từng thời kì

1.2.2.1 Trước khi có Luật Đất đai 1993

Ở nước ta, sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, lần đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ban hành Hiến pháp vào năm 1946 Bản Hiến pháp này chỉ nói đến đất đai một cách khái quát như sau: “…Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là phải bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ ”[11]

Đến năm 1953, Nhà nước ta thực hiện cuộc cải cách ruộng đất nhằm phân chia lại ruộng đất thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” và Luật Cải cách ruộng đất được ban hành Một trong những mục tiêu đầu tiên của cuộc cải cách là: Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và đế quốc xâm lược ở Việt Nam, xáo

bỏ chế độ phong kiến, chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân Luật này quy định các điều khoản về tịch thu ruộng đất trưng thu, trưng mua ruộng đất tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể [8] Tuy nhiên, trên thực tế, việc trưng mua, tịch thu là chủ yếu còn việc trưng mua ít xảy ra với giá cả thị trường và được nhà nước trả dần

Ngày 14/4/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 151/TTg quy định

về thể lệ tạm thời trưng dụng ruộng đất, sau đó Ủy ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội

vụ ban hành thông tư liên bộ số 1424/TTLB ngày 06/7/1959 về việc thi hành Nghị định số 151/TTg của Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây dựng các công trình kiến thiết cơ bản với nguyên tắc phải đảm bảo kịp thời và diện tích đủ cần thiết cho công trình xây dựng kiến thiết cơ bản, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Đất thuộc sở hữu tư nhân hoặc tập thể khi bị trưng dụng thì thuộc sở hữu của Nhà nước Theo Nghị định 151/TTg, việc bồi thường thiệt hại do lấy đất gây nên phải bồi thường hai khoản: Về đất thì bồi thường từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng thu Ngoài ra, còn được bồi thường những tài sản bị thiệt hại có trên đất như nhà, công trình phục vụ sinh hoạt, mồ mả, hoa màu thiệt hại Cách bồi thường như vậy được thực hiện cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời [13] Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc

sở hữu toàn dân, chính vì vậy việc thực hiện bồi thường về đất không được thực hiện

mà chỉ thực hiện bồi thường những tài sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên [12] Sau đó Luật đất đai năm 1988 ban hành cũng dựa trên những điều cơ bản đó Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành QĐ số 186/HĐBT về việc bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển sang sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường thiệt hại Tổ chức cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng cho nhà nước Khoản tiền này được nộp vào ngân sách Nhà

Trang 37

nước và được sử dụng vào việc khai hoang, phục vụ hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống định canh, định cư cho vùng bị lấy đất

1.2.2.2 Sau khi ban hành Luật Đất đai 1993

Khi Hiến pháp 1992 ra đời thay thế Hiến pháp 1980 đã quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” Tại điều 17 qui định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Và điều 18 quy định “các tổ chức và cá nhân được nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật” Đặc biệt, tại Điều 23 quy định: “tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo đơn giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”[16] Những quy định trên đã tạo điều kiện củng cố quyền hạn riêng của Nhà nước trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia

Luật đất đai 1993 đã có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 thay thế cho Luật Đất đai

1988 Đây là văn kiện chính sách quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và đền bù thiệt hại của Nhà nước Luật đất đai quy định các loại đất sử dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Một thủ tục rất quan trọng và là cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất là họ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây viết tắt là là GCN) Chính điều này làm căn cứ cho quyền được đền bù khi Nhà nước thu hồi đất

Tại Điều 12 Luật đất đai 1993 đã quy định: “Nhà nước xác định giá các loại đất

để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất Tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng theo thời gian” Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thấy cần thiết, Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại” Sau khi Luật Đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới Luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hóa các điều luật để thực hiện các văn bản đó, bao gồm:

- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lơi ích công cộng

- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá đất các loại đất

Trang 38

- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên Bộ Tài chính – Xây dựng – Tổng cục Địa chính – Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP

- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998, thay thế Nghị định 90/CP nói trên

1.2.2.3 Luật sửa đổi một số điều của Luật đất đai ban hành năm 1998

Về cơ bản, Luật đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng cơ bản của Luật

cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp với thực tế [14] Vấn đề định giá đất và công tác đền bù thiệt hại chưa được đề cập nhiều mặt dù hiện nay vấn đề GPMB đang là việc làm hết sức nóng cần giải quyết Thực tế hiện nay công tác GPMB diễn ra quá chậm và các chính sách chưa làm rõ ràng

Tháng 10/1999, Cục quản lý công sản – Bộ tài chính đã tiến hành dự thảo lần thứ nhất về việc sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/CP về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất trong đó, một số điều cơ bản đã được đề nghị sửa đổi như xác định mức đất để tính đền bù, giá đền bù lập khu tái định cư, quyền và nghĩa vụ cuả người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có khu tái định cư, Hội đồng đền bù GPMB và thẩm định phương án đền bù GPMB [5]

- Thông tư 145/TC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành nghị định

22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương

án đền bù và một số nội dung khác

- Văn bản số 4448/TC- QLDS ngày 04/9/1999 của Cục Quản lý Công sản, Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác đền bù GPMB

1.2.2.4 Công tác bồi thường, GPMB theo Luật đất đai sử đổi năm 2001

Có rất nhiều các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp, khu thương mại đang được thực hiện và trong trương lai con số dự án sẽ tăng lên rất nhanh Các dự

án này đều đòi hỏi phải có mặt bằng để xây dựng Vì vậy, Nhà nước phải thu hồi một phần đất của nhân dân Khi thu hồi đất, người ta đã tính toán đến lợi ích thu được từ việc sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, ổn định cuộc sống của người dân trong diện được bồi thường, đảm bảo công bằng đồng thời cũng góp phần điều chỉnh hiện trạng sử dụng đất theo quy hoạch

Nhưng vấn đề GPMB diễn ra rất chậm, chưa hiệu quả, còn nhiều sai sót gây khiếu kiện trong nhân dân làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, triển khai dự án, đồng thời công tác quy hoạch và quản lý xây dựng còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến tiến độ của các dự án

Trang 39

Mặt khác, các chính sách đất đai đã được đổi mới nhiều song công tác quản lý đất đai nước ta vẫn còn nhiều yếu kém Đối với một số địa phương, công tác GPMB dường như là công việc luôn luôn mới vì chỉ khi có dự án mới thành lập hội đồng bồi thường Hội đồng bồi thường thông thường chỉ kiêm nhiệm hoặc điều động tạm thời, thậm chí là hợp đồng ngắn hạn, không có bộ phận chuyên trách thực hiện công việc, trong đó khi tích lũy được chút ít kinh nghiệm là kết thúc dự án Mặt khác, thường là khi thu hồi đất và giải quyết bồi thường thiệt hại về đất đi đôi với việc giải quyết tranh chấp, giải quyết các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai mà trong đó giải quyết những trường hợp sử dụng đất bất hợp pháp là rất khó khăn mang tính chất xã hội phức tạp Việc bồi thường thiệt hại nhìn chung Nhà nước chỉ bồi thường về giá trị đất

và tài sản trên đất còn cuộc sống của người dân bị mất đất sau thu hồi thì chưa quan tâm triệt để hoặc nếu có thì chỉ mang tính hình thức Việc bồi thường thiệt hại về tài sản có trên đất tiến hành từ trước đến nay khá dể dàng nhưng vấn đề bồi thường thiệt hại đất đai mới được thực hiện sau khị Luật đất đai ban hành, tức là khi Nhà nước ban hành chính sách giao đất cho người dân sử dụng ổn định lâu dài

Từ thực tế tình hình quản lý Nhà nước và các chính sách đất đai, chính sách bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ và hiện tại, chúng tôi nhận thấy rằng việc chỉnh lý, bổ sung chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là cần thiết nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ GPMB thực hiện CNH-HĐH, ổn định đời sống nhân dân

1.2.2.5 Công tác bồi thường, GPMB theo Luật đất đai năm 2003

Luật đất đai năm 2003 đã đưa ra một bước tiến dài trong công tác quản lý đất đai

và cụ thể hơn trong GPMB, hỗ trợ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Trích khoản

2, 3, 4, 5 điều 42 - Luật đất đai 2003:

1 Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị QSDĐ tại thời điểm có QĐ thu hồi

2 UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập và thực hiện các dự án TĐC trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu TĐC được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ

Trường hợp không có khu TĐC thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị QSDĐ ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó

Trang 40

3 Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản suất mà không

có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới

Người bị thu hồi đất được TĐC trước khi bị thu hồi đất và khu TĐC phải có cùng một địa bàn và có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi cũ Đây là những nét mới

vô cùng quan trọng trong Luật đất đai năm 2003, đã mở rộng quyền lợi của người bị thu hồi đất đồng thời có thể nói Luật đất đai năm 2003, sẽ giúp các dự án đẩy nhanh tiến độ GPMB

Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất đã cụ thể hóa những quy định trong Luật đất đai năm 2003 như sau:

- Xóa bỏ hệ số K không còn hợp lý trong cách tính giá đất khi tiến hành GPMB

- Quy định khung giá mới phù hợp với thực tế sử dụng đất làm căn cứ để xác định giá bồi thường khi thu hồi đất

- Cùng với việc cấp GCN tại các vùng đã có quy hoạch đã đẩy mạnh công tác cấp GCN trên cả nước tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác GPMB

1.2.2.6 Công tác bồi thường GPMB theo Luật đất đai năm 2013

Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, GPMB của Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy vấn đề bồi thường, GPMB đã được đặt ra từ rất sớm, các chính sách đều xuất phát

từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp hơn với xu hướng phát triển của đất nước Trên thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích được đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng

Cùng với sự đổi mới về tiến trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của

cơ quan lập pháp và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trong những năm gần đây đã có nhiều điểm đổi mới thể hiện chính sách ưu việt của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân

So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 có nhiều điểm đổi mới về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Cụ thể như sau: Luật Đất đai năm 2003 đã có những bước tiến trong việc bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi Tuy nhiên, đây vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm, làm chậm tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến môi trường và hiệu quả đầu tư, gây khiếu kiện kéo dài trong thời gian qua

Ngày đăng: 27/06/2021, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[27]. Đinh Đức Thuận (2005), “Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn Việt Nam”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chương trình hỗ trợ Ngành lâm nghiệp và đối tác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn Việt Nam
Tác giả: Đinh Đức Thuận
Năm: 2005
[28]. Nguyễn Tiệp (4/2008), “Việc làm cho người lao động trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất”, Tạp chí Cộng sản số 786 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm cho người lao động trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất
[31]. Đặng Hùng Võ - Nguyễn Đức Khả (2007), Cơ sở Địa chính, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Hùng Võ - Nguyễn Đức Khả (2007), "Cơ sở Địa chính
Tác giả: Đặng Hùng Võ - Nguyễn Đức Khả
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
[32]. Viện Nghiên cứu Địa chính (2008), Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Điều tra nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Điều tra nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư
Tác giả: Viện Nghiên cứu Địa chính
Năm: 2008
[33]. Vụ công tác lập pháp (2001), Những văn bản Quản lý và sử dụng đất, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những văn bản Quản lý và sử dụng đất
Tác giả: Vụ công tác lập pháp
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2001
[47]. Nguyen Van Suu (2009), “Industrialization and Urbanization in Vietnam: How Appropriation of Agricultural Land Use Rights Transformed Farmers’Livelihoods in a Peri-Urban Hanoi Village”?, Final Report of an East Asian Development Network (EADN) Individual Research Grant Project, EADN Working paper No.38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Industrialization and Urbanization in Vietnam: How Appropriation of Agricultural Land Use Rights Transformed Farmers’ Livelihoods in a Peri-Urban Hanoi Village
Tác giả: Nguyen Van Suu
Năm: 2009
[48]. Tim Hanstad, Robin Nielsen and Jennifer Brown (2004), Land and livelihoods “Making land rights real for India’s rural poor”, Food and Agriculture Organization of Tthe United Nations (FAO) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making land rights real for India’s rural poor
Tác giả: Tim Hanstad, Robin Nielsen and Jennifer Brown
Năm: 2004
[1]. Bộ Tài Chính (2004), Thông tư số 116/2004/TT - BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Khác
[2]. Bộ Tài Chính (2006), Thông tư số 69/2006/TT - BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT - BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Khác
[3]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Báo cáo kiểm tra thi hành Luật đất đai, Hà Nội Khác
[4]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Hội nghị kiểm điểm công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường 27/02/2007, Hà Nội Khác
[5]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Thông tư số 08/2007/TT - BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Khác
[6]. Bộ Tài nguyên và môi trường (2009), Thông tư số 14/2009/TT - BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Khác
[8]. Care Quốc tế tại Việt Nam - Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2005), Quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn Miền Bắc nước ta, NXB Lao động - xã hội Khác
[11]. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
[12]. Chính phủ (1998), Nghị định số 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Khác
[13]. Chính phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ - CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khác
[14]. Chính phủ (2007), Nghị định 84/2007/NĐ - CP quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Khác
[15]. Trần Văn Chử, Trần Ngọc Hiên (1998), Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
[17]. Trần Thị Thu Hà (2002), Bài giảng Đánh giá đất, Trường Đại học Nông - Lâm Huế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm