Một số khái niệm cơ bản về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Quá trình nghiên cứu công tác thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất phải đề cập một số khái n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LĐM
NGUYỄN HẢI NGUYÊN
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ
VÀ TÁI ĐỊNH CƯ CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN THANH ĐỨC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình, động viên từ nhiều cơ quan và cá nhân cả về vật chất lẫn tinh thần
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo của Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình dạy bảo trong suốt thời gian học tập vừa qua
Xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo TS Trần Thanh Đức đã dành thời gian hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND thành phố Đồng Hới, Phòng Tài nguyên - Môi trường thành phố Đồng Hới, Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc Sở và thành phố Đồng Hới, các đồng nghiệp, đã giúp tôi trong quá trình điều tra, cung cấp các thông tin, số liệu, bản đồ, để thực hiện luận văn và đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, những người thân, những người bạn và tất cả những người đã đọc và góp ý cho sự hoàn thiện của luận văn này
Học viên
Nguyễn Hải Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ix
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3
1.1.2 Bản chất của việc bồi thường giải phóng mặt bằng 4
1.1.3 Đặc điểm của việc bồi thường giải phóng mặt bằng 4
1.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5
1.1.5 Nội dung của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 6
1.2 Cơ sở thực tiễn về vấn đề nghiên cứu 18
1.2.1 Nghiên cứu chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới 18
1.2.2 Quá trình thiết lập chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 24
1.2.3 Tình hình thực hiện thu hồi đất và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam 33
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong nước và ở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 39
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 42
2.2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 42
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu 42
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 42
2.3 Nội dung nghiên cứu 42
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 43
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu: 43
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: 43
2.4.3 Phương pháp thống kê, phân tích, xử lý số liệu, tài liệu: 43
2.4.4 Phương pháp tham vấn các bên có liên quan: 44
2.4.5 Phương pháp minh họa bằng biểu đồ và hình ảnh: 44
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất và tình hình thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 45
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Đồng Hới 45
3.1.3 Tình hình thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói chung và tại thành phố Đồng hới nói riêng 60
3.2 Khái quát về 02 dự án nghiên cứu 66
3.2.1 Dự án xây dựng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Nhật Lệ (Dự án 1) 66
3.2.2 Dự án xây dựng cầu Nhật Lệ II (Dự án 2) 74
3.3 Đánh giá tình hình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại 2 dự án nghiên cứu 84
3.3.1 Quá trình tổ chức thực hiện và tiến độ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng 84
3.4 Ảnh hưởng của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân có đất bị thu hồi của 02 dự án nghiên cứu 103
3.5 Đề xuất các giải pháp cho việc thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư đạt hiệu quả cao 106
3.5.1 Cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 106
3.5.2 Quy hoạch, xây dựng khu tái định cư 107
3.5.3 Điều chỉnh khung giá các loại đất và tài sản trên đất 107
3.5.4 Quản lý nhà nước về đất đai 107
3.5.5 Tăng cường các biện pháp tổ chức thực hiện 108
3.5.6 Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác GPMB 109
3.5.7 Đối với người dân 109
Trang 6KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 110
1 Kết luận 110
2 Đề nghị 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 7DANH MỤC CÁC CHŨ VIẾT TẮT
2 Bồi thường, hỗ trọ và tái định cư BT,HT&TĐC
3 Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp CN - TTCN
4 Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CNH - HĐH
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước 35
Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố thời kỳ 2001 - 2014 50
Bảng 3.2 Dân số thành phố Đồng Hới phân theo đơn vị hành chính năm 2013 54
Bảng 3.3 Diện tích, cơ cấu các loại đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới 58
Bảng 3.4 Một số điểm khác biệt về chính sách bồi thường của dự án so với chính sách của Chính phủ Việt Nam 68
Bảng 3.5 Diện tích thu hồi đất của dự án Khu neo đậu (Dự án 1) 69
Bảng 3.6 Giá đất ở và đất nông nghiệp để tính tiền bồi thường của dự án 1 70
Bảng 3.7 Tổng hợp giá trị bồi thường về đất của dự án 1 70
Bảng 3.8 Tổng hợp công trình bị ảnh hưởng của dự án 1 71
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp các chính sách hỗ trợ của dự án 1 72
Bảng 3.10: Diện tích thu hồi đất của dự án cầu Nhật Lệ II (Dự án 2) 75
Bảng 3.11: Tổng hợp chi phí bồi thường, hỗ trợ của dự án 2 76
Bảng 3.12 Diện tích thu hồi đất của dự án 2 tại xã Bảo Ninh 78
Bảng 3.13: Tổng hợp chi phí bồi thường, hỗ trợ của dự án 2 (giai đoạn 2) 79
Bảng 3.14 Giá đất để tính tiền bồi thường của công trình Khu tái định cư 79
Bảng 3.15 Tổng hợp giá trị bồi thường về đất (đợt 2) của dự án 80
Bảng 3.16 Tổng hợp giá trị bồi thường về tài sản trên đất của dự án 81
Bảng 3.17 Tổng hợp giá trị hỗ trợ (đợt 2) của dự án 82
Bảng 3.18 Bảng tổng hợp các chính sách hỗ trợ của dự án 83
Bảng 3.19 Kết quả khảo sát ý kiến của người dân trong 02 dự án
nghiên cứu đối với đơn giá bồi thường về đất 94
Bảng 3.20 So sánh giá đất ở bồi thường và giá thị trường của 2 dự án 95
Bảng 3.21 Tổng hợp phiếu điều tra về đơn giá bồi thường về tài sản trên đất của 2 dự án 96
Bảng 3.22 Tổng hợp phiếu điều tra về đơn giá và mức hỗ trợ của 2 dự án 97
Bảng 3.23 Tổng hợp về tái định cư 98
Bảng 3.24 Tổng hợp các kiến nghị của người dân tại 2 dự án nghiên cứu 100
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu các loại đất thành phố Đồng Hới năm 2013 59
Biểu đồ 3.2 Ý kiến của người dân về cơ sở hạ tầng khu tái định cư so 103
với nơi ở cũ của 02 dự án 103
Biểu đồ 3.3 Ý kiến của người dân về thu nhập trước và sau khi thu hồi đất 104
Biểu đồ 3.4 Ý kiến của người dân về sự thay đổi nghề nghiệp trước và sau khi thu hồi đất 105
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính thành phố Đồng Hới 45
Hình 3.2 : Vị trí dự án Khu neo đậu tránh bão cho tàu cá Nhật Lệ 66
Hình 3.3 Bình đồ Quy hoạch chi tiết cầu Nhật Lệ II 74
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh
tế - xã hội và sự ổn định đời sống của người dân Trong quá trình phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội là một quá trình tất yếu, tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất Để bù đắp cho họ một phần thiệt thòi đó, Nhà nước ta đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dành cho người bị thu hồi đất, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất
Tuy nhiên, đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong khi các quy định
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm Mặt khác, chính sách chưa có cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất; chất lượng các khu tái định cư được xây dựng cũng chưa đáp ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; việc lập và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số dự án còn thiếu kiên quyết, thiếu dân chủ, công khai, minh bạch; năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu; chưa phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật Trong khi đó, Tổ chức Phát triển quỹ đất chưa được quan tâm đầu tư đúng mức về kinh phí và nhân lực để thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, tạo quỹ “đất sạch” triển khai khi có dự án đầu tư
Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua có nhiều dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khu đô thị, khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ Một diện tích đất đai khá lớn được thu hồi và chuyển mục đích để phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư vì vậy
đã và đang trở thành một chủ đề nóng bỏng, phức tạp, đòi hỏi sự quan tâm, nổ lực giải quyết của chính quyền địa phương
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc đã và đang nảy sinh trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, cụ thể
có nhiều dự án mà việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn bị kéo dài và còn nhiều vấn đề bất cập Kết quả làm chậm tiến độ xây dựng của
Trang 11nhiều dự án đang được triển khai trên địa bàn thành phố và có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Để tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng công tác này là việc làm cần thiết, nhằm kịp thời đưa ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, góp phần làm cho công tác quản
lý nhà nước về đất đai ngày càng tốt hơn, đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và củng cố lòng tin của người dân vào chủ trương, đường lối của nhà nước, tôi đã thực
hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số dự án
trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình”
2 Mục đích của đề tài
Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án
trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình từ đó đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại trong việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, góp phần đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần tạo cơ sở lý luận, khoa học để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các chính sách hợp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nhằm đẩy nhanh việc hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng các công trình trên địa bàn thành phố Đồng Hới cũng như tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Thấy rõ thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng từ đó góp phần đưa ra những chính sách hợp lý để góp phần hoàn thiện hệ thống Luật đất đai
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Là cơ sở nghiên cứu về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các huyện khác trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Quá trình nghiên cứu công tác thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất phải đề cập một số khái niệm cơ bản sau:
Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai [32]
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [32]
Việc bồi thường cho người bị thu hồi đất có thể bằng đất, bằng tiền, hoặc bằng các hình thức bồi thường khác cho người bị thu hồi đối với thiệt hại do việc Nhà nước lấy đi diện tích đất cùng với tài sản gắn liền với đất và các chi phí mà người sử dụng
đã đầu tư vào diện tích đất bị thu hồi [22]
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển [32] Hỗ trợ đối với người bị thu hồi đất bao gồm: Hỗ trợ di chuyển; hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; hỗ trợ
ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; hỗ trợ khác [32]
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống
và làm ăn Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển
Tái định cư (TĐC) được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người
sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau;
- Bồi thường bằng nhà ở;
- Bồi thường bằng giao đất ở mới;
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
Đối với các dự án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở và tiến hành phân lô
Trang 13theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để bối trí lại cho các hộ giải tỏa sau khi đã thi công hạ tầng cơ sở thì được gọi là tái định cư tại chỗ Việc bố trí tái định
cư tại nơi ở mới phải có điều kiện sinh hoạt tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ
Giải tỏa, bồi thường và bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế là những hành vi được quy định tại Hiến Pháp năm 1992, mục 4 chương II, Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành [29, 31]
1.1.2 Bản chất của việc bồi thường giải phóng mặt bằng
Các mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng đất nước của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm một mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh” Chính vì vậy, trong nhiều chiến lược phát triển của đất nước có chiến lược phát triển nhà ở tạo điều kiện cho nhân dân có nơi ở rộng rãi hơn, tiện nghi hơn qua mỗi thời kỳ phát triển của đất nước
Ăn và ở là hai nhu cầu tối thiểu của con người, một khi hai nhu cầu tối thiểu đó không được đáp ứng thì con người không thể làm khoa học, văn hóa và hoạt động chính trị Hơn nữa, bài học quý giá của một số nước phát triển cho chúng ta cách nhìn mới và toàn diện, đó là bên cạnh những công sở nguy nga tráng lệ, những cao ốc chọc trời là các khu nhà ổ chuột của người dân lao động
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ CNH - HĐH, do đó trong quá trình xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi chúng ta không chỉ quy hoạch, thiết kế
để xây dựng những đô thị đẹp, hiện đại, những khu sản xuất khổng lồ, những công trình công cộng khang trang mà còn kèm theo đó là làm sao cải thiện nơi ở cho người dân một cách tiện nghi, rộng rãi hơn Để có được như vậy, đòi hỏi chúng ta một cách toàn diện để không thể có một công trình, dự án mới ra đời là kéo theo nhiều người dân không có nơi ở hoặc nơi ở mới kém hơn nơi ở cũ Bởi lẽ, nếu không nhìn rõ bản chất của vấn đề thì mỗi năm với sự xuất hiện của hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng,
mà mỗi dự án chỉ cần kéo theo một gia đình không có nơi ở thì dẫn đến hàng ngàn gia đình thiếu nơi ở hoặc chỉ ở những nơi tạm bợ Điều này không chỉ dừng lại ở đó mà có thể kéo theo hàng loạt các tệ nạn, tiêu cực xã hội phát sinh gây nhiều ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đất nước Do vậy, vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi tiến hành giải phóng mặt bằng đang đặt ra yêu cầu cấp bách đối với các cơ quan chức năng trong việc đưa ra các chính sách phù hợp
1.1.3 Đặc điểm của việc bồi thường giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của các toàn xã hội
Trang 14Tính đa dạng thể hiện: Mỗi một dự án được tiến hành trên nhiều vùng lãnh thổ khác nhau với điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định Tuỳ theo từng vùng, từng địa phương mà khung giá do Nhà nước ban hành phục vụ cho công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường hỗ trợ và tái định cư là khác nhau và tuỳ theo từng dự án mà chính sách hỗ trợ trong công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường
hỗ trợ và tái định cư cũng rất khác nhau Tất cả các đặc điểm trên làm cho công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường hỗ trợ và tái định cư mang tính đa dạng
Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất NN mà đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý của người dân là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Trước tình hình
đó đã dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển là rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân
cư sau này
Công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường hỗ trợ và tái định cư mang tính phức tạp do các đặc điểm sau:
Thứ nhất, trong quá trình thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường
hỗ trợ và tái định cư phải áp dụng nhiều văn bản pháp luật, phải thông qua nhiều cấp, ban ngành để kiểm tra, thẩm định, phê duyệt
Thứ hai, khó khăn phức tạp trong việc xác định đối tượng, điều kiện được đền
bù vì do nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau, giấy tờ về nguồn gốc sử dụng còn thiếu, chưa chính xác
Thứ ba, quá trình phát triển của nền kinh tế làm cho giá đất ngày càng tăng, giá
cả trên thị trường không ngừng biến động và giá đền bù ở mỗi thời điểm là khác nhau Điều này làm cho công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường hỗ trợ và tái định cư gặp nhiều khó khăn
Thứ tư, dân số ngày càng tăng nên nhu cầu đất cần cho sự phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, đường sá tăng lên, buộc Nhà nước phải thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển đó Trong khi đó, trình độ dân trí của người dân ở một số vùng còn thấp nên quá trình giải phóng mặt bằng ở những vùng đó rất phức tạp Mặt khác, cây trồng và vật nuôi cũng đa dạng, không tập trung thống nhất một loại cây trồng, vật nuôi nhất định nên rất khó khăn cho công tác định giá bồi thường cho người dân
1.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trong quá trình BT,HT&TĐC có rất nhiều yếu tố tác động, nó có thể thúc đẩy quá trình BT,HT&TĐC diễn ra nhanh hay chậm Bao gồm các yếu tố sau:
Trang 15- Yếu tố quản lý NN về đất đai
- Yếu tố giá đất và định giá đất
- Tác động của công tác quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử dụng đất
- Tác động của công tác giao đất, cho thuê đất
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra công tác quản lý NN về đất đai và tổ chức thực hiện
- Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai [24]
Như vậy, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chịu tác động của nhiều yếu
tố, do đó nơi nào mà chính quyền thực hiện tốt các công tác quản lý nhà nước về đất đai: Công tác quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử dụng đất, công tác giao đất, cho thuê đất, đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết tranh chấp khiếu nại thì nơi đó công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sẽ được triển khai tốt hơn Việc quản lý chặt chẽ, công khai, minh bạch làm cho người dân thực hiện tốt các chính sách pháp luật về đất đai
Yếu tố giá đất và định giá đất có tác động không nhỏ đến công tác BT,HT&TĐC, điều đó thể hiện giá đất càng sát với giá thị trường thì việc áp giá đền
bù và tính toán các khoản hỗ trợ cho người dân được đảm bảo, người dân sẽ được đền
bù với giá để được mua lại một khu đất tương đương trên thị trường Tránh tình tạng giá đất đền bù thấp, người dân rất khó khăn trong việc tiếp cận các khu đất tương đương Chính vì vậy, việc xây dựng giá đất, định giá đất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
1.1.5 Nội dung của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
1.1.5.1 Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển
kinh tế hiện hành đang được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau:
Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai;
Trang 16Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung các loại giá đất
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghi định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển đổi Công ty Nhà nước thành công ty
cổ phần
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ về Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 7 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính về Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Thông tư số 06/2007/TT- BTNMT 02 tháng 7 năm 2007của Bộ Tài nguyên và Môi Trường về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất, thu hồi đất, thực hiện QSD đất, trình tự thủ tục BT, hỗ trợ, tái định cư khi NN thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết về BT, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16 tháng 4 năm 2010 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện BT, GPMB khi
NN thu hồi đất
Trang 171.1.5.2 Những quy định cơ bản trong chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Chính sách bồi thường bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế hiện hành bao gồm những quy định cơ bản sau:
Quy định về phạm vi áp dụng chính sách: Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư được áp dụng trong các trường hợp khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế quy định tại điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/ 2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai [18]
Quy định về đối tượng áp dụng: Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ
gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị nhà nước thu hồi đất được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, được hỗ trợ và bố trí tái định cư [20]
Quy định bồi thường về đất
- Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng
12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các Điều 44, 45 và 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất [22] Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đó được ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng; trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp [22]
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định mà phần diện tích đất này không phải có nguồn được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không được bồi thường về đất chỉ được BT chi phí đầu tư vào đất còn lại Đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì được BT chi phí đầu tư vào đất còn lại Đất nhận giao khoán sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm
Trang 18đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh; đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh được BT chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách NN
Tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp từ người khác khi NN thu hồi đất thì được BT [22]
- Đất bị thu hồi thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 điều 38 Luật đất đai thì không được bồi thường về đất [18]
Quy định bồi thường về tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi đất
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sở hữu tài sản gắn liền với đất bị thu hồi
mà đã tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp luật thì được bồi thường tài sản bị thiệt hại; còn những tài sản tại thời điểm tạo lập đã trái với mục đích sử dụng đất được xác định hoặc tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được công bố thì không được bồi thường [22]
- Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành Giá trị xây dựng mới của nhà, công trình được tính theo diện tích xây dựng của nhà, công trình nhân với đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ Đối với nhà, công trình khác của các hộ gia đình, cá nhân hoặc của tổ chức thì chỉ được bồi thường theo giá trị còn lại, mức bồi thường tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây
dựng mới của nhà, công trình bị thiệt hại [18]
- Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà ở tại nơi tái định cư; diện tích thuê mới tại nơi tái định
cư tương đương với diện tích thuê cũ; giá thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; nhà thuê tại nơi tái định cư được Nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định của Chính phủ về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; trường hợp đặc biệt không có nhà tái định cư để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở
mới; mức hỗ bằng 60% giá trị đất và 60% giá trị nhà đang thuê [18]
- Đối với cây trồng hàng năm thì mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch đó Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của
vụ cao nhất trong 3 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất [18]
- Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm, mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế [18]
Trang 19- Đối với hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất có thể tháo dời và di chuyển được, thì chỉ được bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt; mức bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định [18]
Quy định về bồi thường đối với người lao động bị mất việc làm:
- Tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh, có thuê lao động theo hợp đồng lao động, bị ngừng sản xuất kinh doanh khi NN thu hồi đất thì người lao động được áp dụng BT theo chế độ trợ cấp ngừng việc (Được quy định tại khoản 3 Điều 62 của Bộ luật Lao động; đối tượng được BT là người lao động quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Lao động; thời gian tính BT là thời gian ngừng sản xuất kinh doanh, nhưng tối đa không quá 6 tháng) [18]
Quy định về chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, HT tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở, HT
ổn định đời sống và sản xuất, HT đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; HT thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; HT người đang thuê nhà không thuộc sở hữu NN; HT thu hồi đất công ích xã, phường, thị trấn; HT khác [22]
- Về hỗ trợ di chuyển:
Hộ gia đình, cá nhân khi NN thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được HT kinh phí để di chuyển Tổ chức được NN giao đất, cho thuê đất hoặc đang SDĐ hợp pháp khi NN thu hồi mà phải di chuyển cơ sở sản xuất, kinh doanh thì được HT kinh phí để tháo dỡ, di chuyển và lắp đặt [22]
- Hỗ trợ tái định cư:
Nhà ở, đất ở TĐC được thực hiện theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với mức BT và khả năng chi trả của người được TĐC Đối với hộ gia đình, cá nhân khi NN thu hồi đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở TĐC, hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở TĐC mà số tiền được BT, HT nhỏ hơn giá trị một suất TĐC tối thiểu thì được HT khoản chênh lệch đó, trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu TĐC thì được nhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó, hộ gia đình, cá nhân khi NN thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự lo chỗ ở thì được HT một khoản tiền bằng suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộ gia đình tại khu TĐC tập trung [22]
- Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất:
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi NN thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 21 Nghị định 69/2009) thì được HT ổn định đời sống theo quy định: Thu hồi từ 30% đến
Trang 2070% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được HT ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở, trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian HT tối đa là
24 tháng Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được HT ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở, trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian HT tối đa là 36 tháng [22]
Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh, thì được HT cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của ba năm liền kề trước đó được
cơ quan thuế xác nhận [22]
Hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi NN thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp,hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được HT bằng tiền Mức HT cao nhất bằng giá đất BT tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương [22]
Hộ gia đình, cá nhân được BT bằng đất nông nghiệp thì được HT ổn định sản xuất, bao gồm: HT giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch
vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp
- Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở:
Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở, đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được BT theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được HT bằng 30% - 70% giá đất ở của thửa đất đó, diện tích được HT không quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương [22]
Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn, thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được BT theo giá
Trang 21đất nông nghiệp còn được HT bằng 20% - 50% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo quy định trong Bảng giá đất của địa phương, diện tích được HT không quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương UBND tỉnh quy định cụ thể tỷ lệ HT, diện tích đất HT và giá đất ở trung bình để tính HT cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm:
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi NN thu hồi đất nông nghiệp thì ngoài việc được BT bằng tiền quy định còn được HT chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như sau:
Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, diện tích được HT không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương [22]
Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp Việc áp dụng theo hình thức này được thực hiện đối với các địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở và người được HT có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà giá trị được HT theo quy định tại điểm a khoản này lớn hơn hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, phần giá trị chênh lệch được HT bằng tiền [22]
Việc áp dụng hình thức HT chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng một (01) suất đất ở hoặc một (01) căn hộ chung cư hoặc một (01) suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp chỉ thực hiện một lần khi có đủ các điều kiện quy định
- Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước:
Hộ gia đình, cá nhân đang hợp đồng thuê nhà không thuộc sở hữu NN, khi NN thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được HT chi phí di chuyển theo quy định (khoản 1
và khoản 4 Điều 18 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP)
- Hỗ trợ khác:
Ngoài việc HT quy định nói trên (tại các Điều 18, 19, 20, 21 và 22 Nghị định 69/2009/NĐ-CP), căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định biện pháp HT khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất, trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định [22]
Quy định về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Nguồn kinh phí
chi trả bồi thường đối với đất, tài sản gắn liền với đất bị thu hồi; hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất do ngân sách nhà nước chi trả; trong trường hợp nhà đầu tư
Trang 22ứng vốn chi trả thì sẽ được ngân sách nhà nước hoàn trả toàn bộ trên cơ sở bù trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà nhà đầu tư phải nộp để được sử dụng đất; trường hợp người sử dụng đất được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã phê duyệt được tính vào vốn đầu tư của dự án [22]
Quy định về việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Việc thực
hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại địa phương, UBND cấp tỉnh có thể giao cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thành phố, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện [22]
Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản
lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất
Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả
Trang 23Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm
2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật
áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn
Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu
tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu
hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi
b) Một số hạn chế của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất:
- Về cơ sở thực hiện quy định của chính sách bồi thường và tính đồng bộ giữa các chính sách:
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất là một chính sách kinh tế xã hội tổng hợp, liên quan đến nhiều quy định trong các chính sách khác, như: chính sách đất đai, chính sách sở hữu tài sản, chính sách quản lý xây dựng, chính sách nhà ở, chính sách lao động việc làm, nhưng trong chính sách hiện nay được quy định, sửa đổi bổ sung hoàn thiện và hướng dẫn tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật (04 Nghị định của Chính phủ); một số quy định trong chính sách hiện còn dẫn chiếu áp dụng theo quy định trong chính sách khác; có quy định còn chung chung chưa cụ thể hoặc chưa thật phù hợp với thực tế và thiếu cơ sở để xác định khi áp dụng, như: quy định xác định bồi thường đất nông nghiệp, đất phi nông nhiệp, đất ở trong trường hợp người sử dụng thửa đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất sử dụng đất; bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại; quy định về xác định hộ gia đình phải di chuyển chỗ ở khi bị thu hồi đất được bố trí tái định cư; quy định xác định đất nông
Trang 24nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư để tính
hỗ trợ; quy định xác định bồi thường giá trị thực tế của vườn cây; Mặt khác, những quy định của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư với các quy định trong các chính sách khác có liên quan cũng chưa đồng bộ, đôi khi còn những điểm chồng chéo
Do đó, một số quy định của chính sách trong Nghị định của Chính phủ khi thực hiện
áp dụng phải tra cứu nhiều văn bản, nhiều quy định trong chính sách khác có liên quan nên đã phát sinh vướng mắc trong áp dụng và làm giảm tính khả thi của chính sách
- Về quy định phạm vi áp dụng chính sách bồi thường đối với các trường hợp thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế:
Tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP (điều 1) quy định phạm vi áp dụng của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và “mục đích phát triển kinh tế quy định tại điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm
2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai” để phục vụ yêu cầu xây dựng phát triển kinh tế của đất nước, trong Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ (điều 67) đã quy định bãi bỏ điểm đ khoản 1 và điểm b khoản 2 điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, đồng thời quy định sửa đổi, bổ sung về thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế quan trọng, khu dân cư, phát triển kinh tế trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn; thu hồi đất để xây dựng các khu kinh doanh tập trung có cùng chế độ sử dụng đất (điều 34 và điều 35) và đây là những trường hợp thu hồi đất phải áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ, nhưng trong chính sách còn chưa có quy định khi thu hồi áp dụng chính sách bồi thường theo quy định nào Quy định chưa đầy
đủ của chính sách dẫn đến trong thực tế thực hiện thu hồi đất quy định tại điều 34, điều
35 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, còn thiếu căn cứ cơ sở pháp lý để áp dụng hoặc không áp dụng chính sách bồi thường của Chính phủ đối với các trường hợp này
- Về quy định cho phép thỏa thuận bồi thường khi thực hiện dự án thuộc trường hợp nhà nước phải thu hồi đất:
Trong Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định cho phép thỏa thuận bồi thường khi thực hiện dự án thuộc trường hợp nhà nước phải thu hồi đất và đối với các trường hợp chủ đầu tư đã thực hiện thỏa thuận và bồi thường được trên 50% số tổ chức, hộ gia đình bị thu hồi đất, mà còn vướng mắc thì nhà nước
sẽ ra quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện bồi thường đối với các hộ còn lại Quy định này đã và đang làm nẩy sinh trong việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với đất nhà nước thu hồi tại địa phương và ngay trong cùng một dự án có mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khác nhau và không thống nhất theo quy định chính sách, làm phát sinh vướng mắc trong tổ chức thực hiện và tạo ra lý do khiếu nại của người bị thu hồi đất ngày càng tăng thêm
Trang 25- Về quy định trừ tiền nghĩa vụ tài chính về đất đai còn thiếu hoặc nợ vào tiền được bồi thường, hỗ trợ:
Theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP (điều 14) quy định khi nhà nước thu hồi đất người được bồi thường, hỗ trợ mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước Tuy nhiên, các khoản tiền nghĩa vụ tài chính về đất đai cụ thể hiện chưa được quy định cụ thể phải trừ gồm những khoản nào, dẫn đến việc xác định và thực hiện khấu trừ nghĩa
vụ tài chính về đất đai đối với các hộ gia đình, cá nhân ở các địa phương còn có sự khác nhau, có địa phương chỉ khấu trừ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất còn nợ hoặc phải nộp theo nghĩa vụ, có địa phương tính trừ cả thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
lệ phí trước bạ,…và có trường hợp khấu trừ cả những khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai không thuộc nghĩa vụ của người đang sử dụng đất bị thu hồi phải nộp
- Về tái định cư cho người bị thu hồi đất:
Hiện chính sách quy định đối tượng được bố trí tái định cư là những hộ gia đình khi bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư) hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi [39] Tuy nhiên, việc xác định không còn chỗ ở nào khác dựa vào tiêu chí nào, cơ sở nào (thuộc sở hữu hay không thuộc sở hữu) thì còn chưa quy định rõ cụ thể; mặt khác, việc xác định hộ gia đình, cá nhân không còn chỗ ở nào khác đối với các khu vực đô thị thường rất khó khăn và phức tạp; do vậy, việc áp dụng chính sách còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến phát sinh khiếu nại Quy định việc đầu tư xây dựng các khu, điểm để phục vụ tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất do UBND các địa phương chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thực hiện; nhưng chưa quy định rõ nguồn vốn, kinh phí được bố trí hoặc sử dụng để đầu tư xây dựng các khu, điểm tái định cư Nên trong thực tế triển khai áp dụng chính sách thiếu căn cứ cơ sở để thực hiện, gặp vướng mắc trong việc quyết định sử dụng nguồn vốn để đầu tư xây dựng các khu, điểm tái định cư phục vụ các dự án bị thu hồi đất trên địa bàn, dẫn đến các địa phương thực hiện còn khác nhau
và ngay giữa các dự án trong cùng một địa phương cũng có sự thực hiện khác nhau, gây ra sự thiếu và chậm trễ trong việc tạo lập nhà, đất tái định cư, dẫn đến kéo dài tiến
độ thực hiện GPMB đất nhà đối với đất thu hồi để thực hiện các dự án
- Về quy định khoản hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất:
Chính sách đang quy định đối với các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi từ 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng trở lên thì được
Trang 26hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất [22] Mức hỗ trợ chia làm hai mức là từ 30%-70%
và trên 70% Mức phân chia như trên là quá xa nhau, dẫn đến những thiệt thòi cho những người bị thu hồi nhiều đất
- Về quy định khoản hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm:
Chính sách đang quy định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thuộc khu vực nông thôn và nằm ngoài khu dân cư thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng tiền với mức từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi [22] Tuy nhiên, hộ gia đình, cá nhân cũng trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thuộc khu vực đô thị và trong khu dân cư nông thôn thì không được hưởng khoản hỗ trợ này và đã dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện
- Về mức chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư: Chính sách quy định chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư với mức tối đa bằng 2% tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ của dự án; trong thực tế thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án thu hồi đất ở đô thị khác với thu hồi đất ở nông thôn, thu hồi toàn bộ đất ở khác với toàn bộ đất nông nghiệp, thực hiện dự án thu hồi đất đối với công trình giao thông theo tuyến dài khác với dự án thu hồi đất một khu vực để xây dựng công trình sản xuất kinh doanh tập trung; nên khi thực hiện đối với nhiều dự án chưa đủ bảo đảm cho thực hiện công tác này Bên cạnh đó, nội dung chi cho công tác tổ chức thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư còn nhiều khoản chi chưa được quy định cụ thể; các khoản chi cho công tác tổ chức thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư chưa quy định định mức chi, nên gặp vướng mắc trong thực hiện xác định, kiểm tra giám sát, xử lý thanh quyết toán, dẫn đến công tác tổ chức thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư gặp khó khăn và vướng mắc
Tóm lại, qua nghiên cứu, phân tích chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Việt Nam cho thấy các chính sách đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp hơn với xu hướng phát triển của đất nước Trên thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích được đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng Cùng với sự đổi mới về tiến trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan lập pháp và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trong những năm gần đây đã có nhiều điểm đổi mới thể hiện chính sách ưu việt của một nhà nước của dân, do dân, vì dân Tuy nhiên, hiện nay vấn đề GPMB diễn ra rất chậm, chưa hiệu quả, còn nhiều sai sót gây khiếu kiện trong nhân dân làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, triển khai dự án, đồng thời công tác quy hoạch và quản lý xây dựng còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến tiến độ của các dự án
Trang 27Từ thực tế tình hình quản lý nhà nước và các chính sách đất đai, chính sách bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ và hiện tại, tôi nhận thấy rằng việc sửa đổi, bổ sung chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất là cần thiết nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ GPMB thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá, ổn định đời sống nhân dân
1.2 Cơ sở thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Nghiên cứu chính sách liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu nhà nước Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân lao động Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất
Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho cơ quan nhà nước, phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc là cho thuê đất
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất
Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường do người
sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất
là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000-2.175.000 nhân dân tệ/ha
Trang 28Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp TĐC, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất
Về nguyên tắc bồi thường: các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của họ có thể mua được căn hộ mới Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng một nơi
Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi thường cũng không mua nổi một căn hộ để ở Những đối tượng trong diện giải toả mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thị trường
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải toả mặt bằng: Cục quản lý tài nguyên đất đai
ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải toả mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi
sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải toả mặt bằng khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải toả
Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất để thực hiện các
dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về TĐC của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông "đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện TĐC"[34]
Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về công tác bồi thường tái định cư đang từng bước thay đổi, nhận thức về hậu quả xấu có thể xảy ra đối với các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường trong quá trình thu hồi đất và di dân, mặt khác, từ thực tế khách quan
và sự chuyển biến về nhận thức, người bị ảnh hưởng quan tâm ngày càng lớn về quyền lợi và phúc lợi cho họ, vì vậy tái định cư ngày nay được xem là chương trình phát triển của quốc gia Kinh nghiệm thực tiễn đã giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các nhà thực thi đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho
Trang 29những tổn thất do sự thiếu quan tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách tái định cư có thể lớn hơn rất nhiều chi phí tái định cư đúng đắn Hơn nữa, những người
bị bần cùng hoá, đến một thời điểm nhất định sẽ là nguyên nhân làm kiệt quệ nền kinh
tế quốc dân Do vậy, tránh hay giảm thiểu những ảnh hưởng xấu trong việc di dân tái định cư, cộng với việc khôi phục thoả đáng cho những người bị ảnh hưởng, ngoài việc đạt được lợi ích về mặt kinh tế, còn đảm bảo tính công bằng đối với họ, điều này giúp cho các chủ thể an tâm trong quá trình triển khai thực hiện dự án
Tái định cư được thực hiện theo ba yếu tố quan trọng:
- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ và phương tiện phù hợp
- Trợ cấp khôi phục để ít nhất người bị ảnh hưởng có được mức sống đạt hoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án
Đối với các dự án có di dân tái định cư, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung di dân là yếu tố không thể thiếu ngay từ chu kỳ đầu tiên của việc lập dự án đầu tư và những nguyên tắc chính phải được đề cập đến gồm:
- Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di dân bắt buộc, nếu không thể tránh được khi triển khai dự án
- Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng kinh tế, xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp không có dự án: đất đai, nhà cửa, cơ sở hạ tầng thích hợp và các loại bồi thường khác tương xứng như trước khi có dự án phải được cấp cho người bị ảnh hưởng Chú trọng đến người dân bản địa (các dự án nước ngoài), dân tộc thiểu số, nông dân vì họ là những người có quyền lợi hoặc quyền hoa lợi theo phong tục đối với đất và các tài sản khác bị dự án chiếm dụng
- Các dự án về tái định cư phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt, các kế hoạch tái định cư phải được soạn thảo và xác lập tương ứng với thời gian và ngân sách phù hợp, người di chuyển được hưởng các cơ hội về nơi ở, nguồn lực ổn định cuộc sống càng nhanh càng tốt
- Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường tái định cư, người bị ảnh hưởng được hỗ trợ ở mức cao nhất
về hoà nhập cộng đồng dân cư địa phương bằng cách mở rộng lợi ích của dự án đến cả các cộng đồng dân cư địa phương
- Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất, trong đó có những người không hoặc chưa có quyền hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ gia
Trang 30đình do phụ nữ làm chủ đồng thời, có kế hoạch xác định quyền hợp pháp của họ, hạn chế những trường hợp coi lý do ngăn trở bồi thường tái định cư là việc thiếu quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hợp pháp
- Để không ngừng cải tiến sự hỗ trợ của ngân hàng với các dự án trong lĩnh vực nhạy cảm này, Chính phủ Inđônêxia đã thông qua và thực hiện một số chính sách bồi thường tái định cư bắt buộc Chính sách này nêu rõ các mục tiêu và phương pháp, định
ra các tiêu chuẩn trong hoạt động của các tổ chức ngân hàng khi tham gia đầu tư vào các công trình tái định cư [25]
1.1.2.3 Hàn Quốc
Luật BT thiệt hại của Hàn Quốc quy định hai chế BT:
Một là: BT thiệt hại cho đất công cộng theo thủ tục thương lượng của pháp luật Hai là: “Sung công đất” theo quy định cưỡng chế của công pháp
Quy định “Sung công đất” được thiết lập trước vào năm 1962 Sau đó pháp luật quy định, ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì phải đảm bảo quyền tài sản của công nên Luật này đã được ban hành vào năm 1975 và Hàn Quốc đã triển khai chính sách BT, HT thiệt hại trong thu hồi đất cho đến nay Nếu thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “Sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế và nhưng quá trình này sẽ bị trùng hợp làm cho thời gian BT, HT có thẻ bị kéo dài hoặc chi phí BT sẽ tăng lên Do đó luật BT thiệt hại mới của Hàn Quốc đã ra đời và thực hiện theo hướng:
Thứ nhất, tiền BT thiệt hại về đất sẽ được giám định viên công cộng đánh giá trên
tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc BT Mỗi năm Hàn Quốc cho thi hành đánh giá đất trên 27 triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm tiêu chuẩn và thông qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá quy định cho việc BT Giá BT thiệt hại về đất không dựa vào lợi nhuận khai thác đã đảm bảo tính khách quan trong BT [28]
Thứ hai, pháp luật quy định không cho phép gây thiệt hại nhiều cho người có
quyền sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi [28]
Thứ ba, biện pháp di dời là điểm quan trọng Quá trình này được NN hỗ trợ tích
cực về mọi mặt nhằm bảo đảm điều kiện sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị di dời Chính sách này đảm bảo lôi cuốn người dân tự nguyện di dời và ảnh hưởng tích cực tới GPMB Theo luật BT, nếu như toà nhà nơi dự án sẽ triển khai thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng hưởng lợi, xây cư
Trang 31trú hoặc HT 30% giá trị của toà nhà đó Còn nếu như là dự án xây nhà chung cư thì cung cấp cho các đối tượng này nhà chung cư hoặc nhà ở với giá thấp hơn giá thành Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng có pháp nhân, các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì chính sách BT mang tính chất “ân huệ”, ngoài biện pháp di dời còn
ưu tiên cung cấp cho họ các cửa hàng hoặc khu vực kinh doanh [28]
Thứ tư, chế độ và luật GPMB: Theo luật sung công đất đai thì nếu như NN đã trả
hoặc đặt cọc tiền BT xong nhưng người sử dụng đất không chịu di dời thì được xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải tỏa theo luật hành chính và quyền thi hành phải theo thủ tục pháp lệnh cưỡng chế [28]
Như vậy, chính sách này đề cao việc thương lượng trong công tác giải phóng mặt bằng, giúp cho người thu hồi đất cũng như chủ dự án có nhữn trao đổi thương lượng trên cơ sở phải đảm bảo quyền tài sản của công Quá trình bồi thường, hỗ trợ được NN
hỗ trợ tích cực về mọi mặt nhằm bảo đảm điều kiện sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị di dời
1.1.2.4 Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư của các tổ chức tài trợ (WB và ADB)
Ngân hàng thế giới là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế đầu tiên đưa ra chính sách về tài định cư bắt buộc Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính sách tái định cư được ban hành dưới dạng một thông báo hướng dẫn hoạt động nội bộ cho nhân viên
Từ đó đến nay chính sách tái định cư đã được sửa đổi và ban hành lại nhiều lần Khi
NN thu hồi đất và tái định cư thì những người bị ảnh hưởng là những người mà do hậu quả của dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, sinh kế do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái [23]
Kinh nghiệm của WB cho thấy việc tái định cư không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm họa nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hóa khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng xã hội và dễ dàng dẫn tới sự bần cùng hóa đời sống dân cư Từ tháng 2/1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã bắt đầu áp dụng bản hướng dẫn hoạt động của WB về tái định cư và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này đã có chính sách riêng về tái định cư bắt buộc Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB là phải BT theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn BT, tái định cư hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện [23]
Trang 32Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường, tái định cư được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của
kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người bị ảnh hưởng và mức độ tác động của dự án
Kế hoạch BT, tái định cư phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ bị ảnh hưởng Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hòa nhập được với cộng đồng mới Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ bị ảnh hưởng, các tổ chức Quốc tế quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác, thậm chí trao quyền cho các hộ bị ảnh hưởng và tìm mọi cách thỏa mãn nhu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch BT tái định cư [23]
Nhìn chung, phương châm trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của ADB cũng tương tự như của WB đều có xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, đồng thời có chính sách thỏa đáng, phù hợp đảm bảo cho người bị ảnh hưởng không gặp phải bất lợi trong cuộc sống Để thực hiện được phương châm đó, thì chìa khóa dẫn tới sự thành công đó là phải chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển mang con người là trung tâm Kinh nghiệm về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, hộ trợ, tái định cư thành công là những chính sách phù hợp của chính phủ bao gồm: Nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương và trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của nhân dân Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan NN có thẩm quyền là yếu tố đồng hành trong quá trình thực hiện các dự án
Có thể nói rằng chính sách nhằm bảo đảm giá đền bù sát với giá thị trường giúp người bị thu hồi được đền bù thỏa đáng, công khai và minh bạch, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người bị thu hồi đất Việc xây tái định cư trước khi dự án triển khai nhằm ổn định đời sống cho người dân khi bị thu hồi đất và di chuyển chổ ở Việc xây dựng kế hoạch trong dự án nhằm đảm bảo thời gian thực hiện theo kế hoạch đề ra, điều này giúp trong quá trình thực hiện có sự điều chỉnh linh động và tạo sự giám sát của các bên có liên quan
1.1.2.5 Nhận xét, đánh giá
Việc xây dựng và phát triển các công trình đều cần có đất Do đất đai có hạn, vì thế mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi nước, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong Hiến pháp hoặc tại Bộ Luật Đất đai hoặc một số Bộ luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất,
Trang 33trưng thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy định
Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, GPMB của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, GPMB ở một số điểm sau:
Cần hoàn thiện các quy định về định giá đất nói chung và định giá đất để bồi thường, GPMB nói riêng
Thực hiện thống nhất trình tự, thủ tục thực hiện và thực hiện tốt quy định về thẩm định, phê duyệt, giám sát thực hiện phương án bồi thường, GPMB
Quan tâm hơn nữa tới việc quy hoạch và xây dựng nơi TĐC, tạo việc làm của người có đất bị thu hồi, xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng đất, Nhà nước và nhà đầu tư
1.2.2 Quá trình thiết lập chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
1.2.2.1 Thời kỳ trước khi có Luật đất đai năm 1988:
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) chỉ rõ: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là nhằm bảo toàn lãnh thổ giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ, ” Với mục tiêu người cày có ruộng, ngày 04 tháng 12 năm 1953, Luật cải cách ruộng đất
ra đời nhằm thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai bán nước ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến về chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ
sở hữu ruộng đất của nông dân, đồng thời tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng Cuộc cải cách ruộng đất hoàn thành, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất được chia, cấp Ngay sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc (1954), đảng và nhà nước đã khẳng định con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 14 tháng 4 năm 1959, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 151/TTg quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất đây có thể coi là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan tới bồi thường và tái định cư bắt buộc ở Việt Nam Tiếp sau đó, Liên Bộ Ủy ban Kế hoạch nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư Liên bộ số 1424/TTLB ngày 06 tháng 7 năm 1959 hướng dẫn việc thi hành Nghị định 151/TTg với các nguyên tắc cơ bản như phải đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất; những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm; chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng dụng thừa, hết sức tiết kiệm
Trang 34ruộng đất cày cấy trồng trọt; hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt
sĩ, nhà thờ, chùa, đền; những người có ruộng đất trưng dụng cần được báo trước một thời gian là hai tháng để kịp di chuyển [4]
Khi trưng dụng ruộng đất, nhà nước xác định, cách bồi thường tốt nhất là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người bị trưng dụng để họ tiếp tục sản xuất Trường hợp không làm được như vậy, về đất sẽ được bồi thường bằng tiền từ 1 - 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng dụng Mức bồi thường căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi, đời sống của nhân dân cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định [14] Có thể nói, Nghị định số 151/TTg ra đời phần nào đáp ứng nhu cầu trưng dụng ruộng đất trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định này chưa có quy định cụ thể về mức bồi thường mà chủ yếu dựa vào sự thoả thuận giữa các bên
Ngày 11 tháng 01 năm 1970, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố Nguyên tắc bồi thường theo quy định của Thông tư 1972/TTg là phải bảo đảm thoả đáng quyền lợi kinh tế của các hợp tác xã và của nhân dân, nhưng cũng không vì thiên lệch về phía nhân dân mà nhà nước phải bồi thường quá
Về thể thức bồi thường, trước hết là các ngành, các cơ quan xây dựng phải đến liên hệ với chính quyền các cấp để tiến hành thương lượng với nhân dân, căn cứ vào tài sản hiện có hoặc hoa màu, công sức bỏ ra khai phá và phân loại đất đai của địa phương mà định giá bồi thường cho phù hợp
Mặc dù chính sách bồi thường về đất chưa được quy định trong luật và thể chế thành một chính sách đầy đủ, song quy định về bồi thường khi nhà nước trưng dụng đất tại Thông tư 1792/TTg đã có sự thay đổi so với Nghị định 151/TTg, từ “chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của những người có ruộng đất bị trưng dụng” trước đây sang “đảm bảo thỏa đáng quyền lợi kinh tế của HTX và của nhân dân”, đồng thời những quy định tại Nghị định số 151/TTg trước đây chỉ có tính nguyên tắc thì đến Thông tư số 1792/TTg đã được quy định cụ thể mức bồi thường nhà ở, đất đai, cây lâu năm, hoa màu trên đất
1.2.2.2 Thời kỳ sau khi có Luật đất đai năm 1988:
Sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Hiến pháp năm 1980 ra đời, bước đầu tạo ra sự đổi mới về nhận thức cũng như phương thức quản lý kinh tế Điều 19 của Hiến pháp khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng sự phát triển kinh tế vẫn dựa trên cơ sở chế độ bao cấp Về đất đai, pháp luật không quy định đất có giá và không cho phép đất đai tham gia chuyển dịch dân sự (điều này thể hiện trong Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1980
Trang 35của Hội đồng Chính phủ) Khi có nhu cầu sử dụng đất, nhà nước sẽ cấp đất và không thu tiền sử dụng đất, cần bao nhiêu, nhà nước cấp bấy nhiêu, quan hệ đất đai giữa nhà nước với người sử dụng đất đơn thuần chỉ là quan hệ “giao - thu” [14]
Luật đất đai năm 1987 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1987 và
có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 1988 Luật này không thừa nhận giá trị đất cũng như giá trị của quyền sử dụng đất, không được tự do chuyển quyền sử dụng đất theo nhu cầu của thị trường Nhà nước quyết định thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất
đã giao sử dụng trong những trường hợp có nhu cầu sử dụng đất của nhà nước hoặc của xã hội (điều 14) Người được giao đất có nghĩa vụ phải đền bù thiệt hại thực tế cho người có đất bị thu hồi, bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất (điều 48) Người đang sử dụng đất mà bị nhà nước thu hồi do nhu cầu của nhà nước hoặc của xã hội thì được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khác (điều 49) Ngày 31 tháng 5 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 186 - HĐBT về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, trong Quyết định này có quy định mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào các mục đích khác phải đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng cho nhà nước Khoản tiền bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng mà người được nhà nước giao đất phải nộp được điều tiết về ngân sách Trung ương 30%, còn lại 70% thuộc ngân sách địa phương để sử dụng vào việc khai hoang, phục hoá, cải tạo đất nông nghiệp và định canh, định cư cho nhân dân vùng bị lấy đất Người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi chỉ được bồi thường thiệt hại tài sản trên đất và tài sản trong lòng đất [3]
1.2.2.3 Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003
Khi Hiến pháp 1992 ra đời thay thế Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN”, cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước đã ban hành Luật đất đai năm 1993, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm
1993 thay thế Luật đất đai 1987 Đây là văn kiện quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại cho người bị thu hồi đất của Nhà nước, đồng thời thể hiện đường lối không ngừng đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua
Theo đó, tại Điều 17 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”
Điều 23 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, NN trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định” Điều 27 quy định “Trong trường hợp thật cần thiết, nhà nước thu hồi đất đang sử
Trang 36dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”
Sau khi Luật Đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật, bao gồm:
- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994, quy định về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên Bộ Tài chính - Xây dựng
- Tổng cục địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP
Qua gần năm năm thực hiện, để tiếp tục hoàn thiện Luật Đất đai năm 1993 cho phù hợp với tình hình thực tế, Nhà nước đã tiến hành sửa đổi, bổ sung vào các năm
1998 và 2001 Mặc dầu, sự sửa đổi, bổ sung vẫn dựa trên nền tảng cơ bản có sẵn của Luật củ nhưng cũng đã góp phần hoàn thiện hơn chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, được thể hiện rõ nét thông qua việc ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế cho Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm
1994 Theo Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 thì chính sách đền bù thiệt hại được áp dụng cho mọi trường hợp khi bị nhà nước thu hồi đất, cụ thể như sau:
- Nghị định đã quy định đầy đủ phạm vi, đối tượng áp dụng, điều kiện được đền
bù, chi tiết và cụ thể hóa các trường hợp đền bù thiệt hại về đất, nhà và các tài sản khác gắn liền với đất cho phù hợp thực tế quản lý, sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện Ngoài ra, quy định về giá đất, giá tài sản phù hợp với giá trị thiệt hại thực tế của người có đất bị thu hồi, bên cạnh chính sách bồi thường, nhà nước còn tiến hành một số chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống ở nơi ở
củ hoặc nơi ở mới
- Về nguyên tắc đền bù thiệt hại về đất: Khi nhà nước thu hồi đất thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người có đất bị thu hồi được bồi thường bằng tiền, nhà ở hoặc bằng đất Trường hợp khi đền bù bằng đất mà diện tích, giá trị đất được đền bù thấp hơn diện tích, giá trị đất bị thu hồi thì người bị thu hồi đất được nhận đền bù bằng tiền phần chênh lệch giá trị đó, trừ trường hợp được đền bù bằng đất ở tại khu vực đô thị
- Về điều kiện được đền bù thiệt hại về đất: Do chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử có nhiều thay đổi và do còn nhiều bất cập trong công tác quản lý, sử dụng đất, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã quy định rất cụ thể, chi tiết các trường hợp được bồi thường thiệt hại về đất, về tài sản
Trang 37- Về giá đất để tính bồi thường thiệt hại: Giá đất để tính BT thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với
hệ số điều chỉnh (k) UBND tỉnh quy định để đảm bảo giá đất tính BT phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương
- Về chính sách hỗ trợ: Những người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống trong vòng 06 tháng hoặc 01 năm, với mức trợ cấp tính bằng tiền cho 01 nhân khẩu/01 tháng tương đương 30 kg gạo theo thời giá trung bình ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù, đối với người sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất mà phải chuyển đổi nghề nghiệp thì được nhận khoản hỗ trợ chi phí đào tạo nghề nghiệp theo mức do UBND cấp tỉnh quy định
- Về tái định cư: Chính sách tái định cư được đề cập đầy đủ hơn so với các Nghị định trước đó, việc nhà nước chuẩn bị đủ điều kiện để lập khu tái định cư (bao gồm quỹ đất, quỹ nhà ở và quỹ tiền mặt) là một phần đảm bảo cho công tác GPMB thực hiện nhanh chóng Lập khu tái định cư được cụ thể hoá một chương riêng trong Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, bao gồm quy định thẩm quyền phê duyệt lập khu tái định cư, điều kiện bắt buộc phải có khu tái định cư, nguyên tắc bố trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu tái định cư và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư, ngoài ra còn có một số quy định về chính sách hỗ trợ lập khu tái định cư, góp phần khôi phục cuộc sống của người dân trong vùng giải toả Lập khu tái định cư thể hiện chính sách đổi mới của nhà nước
về quan điểm và mục tiêu lấy con người làm trọng tâm trong quá trình bồi thường thiệt hại đối với người bị thu hồi đất
- Về tổ chức thực hiện: Nếu như các văn bản trước đây mới chỉ quan tâm đến nội dung bồi thường cho đất bị thu hồi và các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, thì Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã có các quy định cụ thể về công tác tổ chức thực hiện, trách nhiệm của UBND các cấp và Hội đồng bồi thường, GPMB cấp huyện trong việc chỉ đạo thực hiện công tác bồi thường, GPMB và tái định cư của các dự
án như lập phương án bồi thường, xác định mức bồi thường hoặc trợ cấp cho từng
tổ chức hộ gia đình, cá nhân và tổ chức thực hiện bồi thường theo phương án được phê duyệt Các quy định này đã giúp cho các địa phương có sự chủ động trong việc lựa chọn phương án bồi thường phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, quỹ đất, tập quán của địa phương [15, 16]
Nhìn chung, trong thời kỳ 1993 - 2003, chính sách thu hồi đất và bồi thường, GPMB đã có những tiến bộ nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước ta Tuy nhiên, cơ chế bồi thường, GPMB khi nhà nước thu hồi đất trong thời kỳ này vẫn còn có một số nhược điểm như sau: Vấn đề xác định giá đất để tính bồi thường cho người bị thu hồi đất chưa được quy định theo một chuẩn mực nhất quán, có nhiều quyết định của UBND các tỉnh về giá đất để tính BT còn thiếu cơ sở, giá đất do các địa
Trang 38phương quy định hầu hết đều thấp hơn giá trên thị trường, người bị thu hồi đất nông nghiệp thường chịu thiệt thòi, người bị thu hồi đất phi nông nghiệp thường được lợi
- Việc thu hồi đất được tiến hành theo dự án, công trình đã được phê duyệt nên người bị thu hồi đất coi đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp như đất phi nông nghiệp theo dự án đang triển khai và thường dẫn đến việc so bì giá bồi thường đất với giá đất phi nông nghiệp
- Nhà đầu tư dự án, công trình thường phải làm việc với rất nhiều đối tác để thực hiện việc bồi thường, GPMB; có trường hợp phải làm việc với UBND cả ba cấp tỉnh, huyện, xã, làm việc với Ban bồi thường, GPMB và làm việc với người có đất bị thu hồi
- Thu hồi đất nhưng không ưu tiên trả bằng đất mà chủ yếu là trả bằng tiền; nhiều trường hợp phải tái định cư cho người bị thu hồi đất nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng, điều kiện của các khu tái định cư không bằng khu dân cư đã thu hồi Chưa có quy định chi tiết về chính sách TĐC, chưa có quy định cụ thể về biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất đã làm ảnh hưởng đến tiến độ GPMB, làm chậm tiến
độ thực hiện dự án, cũng như ảnh hưởng đến đời sống của người bị thu hồi đất sau khi phải di chuyển chổ ở Việc lựa chọn các khu TĐC thường bị động trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm, một số địa phương chưa quan tâm tới việc xây dựng hoặc mở rộng các khu dân cư để bố trí cho các hộ phải di dời
1.2.2.4 Thời kỳ từ năm 2003 đến năm 2013
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01/7/2004 thay thế Luật đất đai 1993, đã có những biến đổi mới quan trọng, nhằm làm rõ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc khắc phục những khó khăn, vướng mắc về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do GPMB cho các công trình của nhà nước, đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất Các điểm mới về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Luật Đất đai năm 2003 là:
- Nhà nước xác định rõ phương thức bồi thường khi thu hồi đất gồm có bồi thường bằng đất, bằng tiền hoặc nhà ở chung cư Mức bồi thường của nhà nước phải tương đương hoặc hơn so với thiệt hại thực tế để người bị thu hồi đất an tâm ổn định cuộc sống
- Người bị thu hồi đất loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất đo tại thời điểm có quyết định thu hồi đất
- Trước khi thu hồi đất chậm nhất chín mươi ngày đồi với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch du chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, GPMB, TĐC
Trang 39- Quy định chi tiết hơn về điều kiện để được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định
cư trước khi thực hiện thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chổ ở Khu TĐC được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
- Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
mà không có đất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề,
bố trí việc làm mới
- Trường hợp người sử dụng đất được nhà nước bồi thường khi hu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong tổng giá trị được bồi thường, hỗ trợ
- Quy định rõ trách nhiệm thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi người bị thu hồi đất không chấp hành chính sách bồi thường của nhà nước khi quy hoạch đã được công khai, phương án bồi thường, hỗ trợ đã được lập theo đúng quy định của pháp luật
- Thành lập tổ chức phát triển quỹ đất để thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng bằng và trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi đối với trường hợp sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư
Để hướng dẫn thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất (thay thế cho chính sách đền bù quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP), tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thêm chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trong các Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 và Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ Việc ban hành chính sách trên cơ sở ngày càng hoàn thiện đã giúp cho công tác GPMB của các dự án đã có nhiều tiến triển rõ rệt, bước đầu đã khắc phục được những khó khăn, vướng mắc ở các địa phương khi thực hiện triển khai dự án, đã hạn chế được nhiều việc khiếu nại tố cáo của người bị thu hồi đất Pháp luật đất đai đã thực sự phát huy tác dụng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Thủ tục hành chính về bồi thường, GPMB đã minh bạch, đã phân cấp và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện và giải quyết hài hòa quyền lợi, lợi ích giữa cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư dự án và người bị thu hồi đất
1.2.2.5 Những điểm mới về chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng theo Luật Đất đai 2013
So với Luật Đất đai 2003, Luật đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ về
Trang 40thi hành Luật có những điểm mới cơ bản về nội dung liên đến thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư đó là: Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất; nguyên tắc thực hiện; chế tài xử lý đối với những trường hợp không chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: Luật
đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường về tài sản thành hai điều riêng biệt (điều 74 và điều 88) Theo đó, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
Thứ hai, quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất khi
Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất Luật đã
bổ sung bồi thường đối với trường hợp sử dụng đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo bình đẳng giữa người sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất (vì những đối tượng này có cùng nghĩa vụ tài chính với nhau) Mặt khác, bổ sung bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai mà chưa được cấp Đây là một tiến bộ mới vì trước đây đối với các trường hợp đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở từ thiện, không phải là đất do Nhà nước giao mà có nguồn gốc
do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hợp pháp hoặc khai hoang trước ngày 01/7/2004 thì không được bồi thường, hỗ trợ điều này gây vướng mắc trong quá trình thực hiện
Thứ ba, cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại được
quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm đất ở, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất Đặc biệt, việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ vào loại đất, đối tượng sử dụng mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với loại đất đó
Thứ tư, bổ sung thêm các trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các
dự án đặc biệt như: Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người