Ảnh hưởng của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và bố trí tái định cư đối với người dân có đất bị thu hồi của các dự án nghiên cứu trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Đị
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư của một số dự án trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”
là của bản thân tôi
Các kết quả phân tích nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ luận văn nào Nếu có kế thừa kết quả nghiên cứu của người khác thì đều đã được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Quốc Kha
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn tốt nghiệp, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ rất nhiệt tình và quý báu của quý thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Huế Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Tài nguyên và Môi trường nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình dạy bảo em trong suốt thời gian học tập vừa qua
Đặc biệt, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo, TS Lê Thanh Bồn, người đã dành nhiều thời gian hướng dẫn em từ khi viết đề cương cho đến khi luận văn tốt nghiệp được hoàn thành
Nhân đây, em xin chân thành cảm ơn các anh chị Ban giải phóng mặt bằng thị
xã An Nhơn, tỉnh Bình Định đã hỗ trợ tài liệu và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành tốt đề tài này
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, nhưng do điều kiện về thời gian và năng lực còn hạn chế, nên đề tài không thể tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót Do vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 22 tháng 4 năm 2016
Trần Quốc Kha
Trang 3TÓM TẮT
Những năm gần đây ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã được cải thiện hơn trước nhiều, nhưng việc tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều vướng mắc, vừa làm chậm tiến độ giải phóng mặt bằng, chậm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, vừa ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn Nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư tại các dự án, tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư của một số dự án trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”
Với phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đồng thời tiến hành thu thập thông tin của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong diện giải tỏa bồi thường và bố trí tái định cư thông qua phiếu điều tra hoặc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan, như: Các cấp chính quyền, Ban quản lý các dự án, Hội đồng giải phóng mặt bằng, các cơ quan tổ chức có liên quan khác và phỏng vấn người dân, cán bộ địa phương, để thu thập các thông tin sơ cấp nhằm đạt được mục đích nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy:
- Trên địa bàn thị xã An Nhơn từ năm 2009 đến năm 2014 đã thực hiện GPMB với rất nhiều dự án có thu hồi đất từ 0,1 ha trở lên Để thực hiện tốt công tác này, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với tình hình thực tế của địa phương như: giá đất, giá tài sản áp dụng để bồi thường và hỗ trợ, ổn định đời sống và tạo việc làm
- Đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất tại 2 dự án nghiên cứu, về cơ bản đã có sự thay đổi tích cực, các hộ có thu nhập khá hơn, mua sắm được các tài sản
có giá trị phục vụ cho cuộc sống,
- Sau khi bị thu hồi đất, thu nhập bình quân của một số hộ tăng lên, cụ thể: tại dự
án I là 7.900.000 đồng/tháng (tăng 802.000 đồng/hộ/tháng) và tại dự án II là 8.630.000 đồng/hộ/tháng (tăng 2.500.000 đồng/hộ/tháng) so với trước khi bị thu hồi đất
- Trước khi bị thu hồi đất, nghề nghiệp chủ yếu của các hộ gia đình là sản xuất nông nghiệp, nhưng sau khi thu hồi đất có sự biến chuyển sang hướng kinh doanh dịch
vụ và ngành nghề khác và đi làm thuê Ở dự án I, trước khi bị thu hồi đất thu nhập từ nông nghiệp của người dân chiếm 20,91% trong tổng nguồn thu nhập, sau khi thu hồi đất chỉ còn chiếm 13,62%; ở dự án II, từ 45,0% giảm xuống còn 15,97% Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp tăng mạnh ở cả hai dự án, trong đó tăng nhiều nhất là nguồn thu từ dịch vụ, buôn bán
Tuy vậy, trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư tại các dự án trên địa bàn thị xã An Nhơn vẫn còn những hạn chế, bất cập, cần được khắc phục kịp thời để đạt được hiệu quả cao hơn nữa./
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương 1TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Các khái niệm 3
1.1.2 Bản chất của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư 6 1.1.3 Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư 6 1.1.4 Các văn bản pháp quy và một số chính sách liên quan đến bồi thường hỗ trợ tái định cư của nhà nước hiện hành 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 9
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư 9
1.2.2 Chính sách giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư ở nước ta qua các thời kỳ 18
1.2.3 Tình hình thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và bố trí tái định cư ở nước ta hiện nay 21
1.2.4 Ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư đến sự phát triển của cơ sở hạ tầng và kinh tế - xã hội 23
Chương 2ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG 26
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 52.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 26
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 27
2.4.3 Phương pháp thống kê, phân tích, xử lý số liệu và đánh giá 27
Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 28
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 35
3.1.3 Thuận lợi, khó khăn, thách thức và áp lực của các vấn đề kinh tế, xã hội đối với đất đai 43
3.2 Tình hình quá trình thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và bố trí tái định cư của các dự án nghiên cứu trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 45
3.2.1 Khái quát về 2 dự án 45
3.2.2 Các văn bản liên quan đến 02 dự án 46
3.2.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án nghiên cứu 47
3.2.4 Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại 2 dự án 55
3.3 Ảnh hưởng của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và bố trí tái định cư đối với người dân có đất bị thu hồi của các dự án nghiên cứu trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 57
3.3.1 Kết quả chi tiết điều tra, phỏng vấn các hộ dân về tình hình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tại các dự án 57
3.3.2 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất, bồi thường GPMB đến đời sống của người dân 58 3.4 Đề xuất các giải pháp cho việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và bố trí tái định cư đạt hiệu quả cao 67
3.4.1 Giải pháp về chính sách 67
Trang 63.4.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện 67
3.4.3 Giải pháp đảm bảo đời sống cho người dân có đất bị thu hồi 69
3.4.4 Các giải pháp khác 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7CTSN Công trình sự nghiệp
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GPMB Giải phóng mặt bằng
KDC Khu dân cư
TNMT Tài nguyên Môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Các làng nghề truyền thống tiêu biểu ở An Nhơn 32
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất theo ngành của thị xã An Nhơn giai đoạn 2011-2015 35
Bảng 3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã An Nhơn giai đoạn 2011 - 2015 36 Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu trồng trọt của thị xã 38
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu chăn nuôi của thị xã 39
Bảng 3.6 Tổng diện tích thu hồi đất xã Nhơn Tân 51
Bảng 3.7 Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ 51
Bảng 3.8 Tổng diện tích thu hồi đất 54
Bảng 3.9 Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ 54
Bảng 3.10 Tổng diện tích thu hồi đất 55
Bảng 3.11 Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ 55
Bảng 3.12 Kết quả phỏng vấn về bồi thường, hỗ trợ và thu hồi đất 58
của các hộ dân tại 02 dự án 58
Bảng 3.13 Sự thay đổi về lao động và việc làm của các hộ dân 59
trước và sau khi bị thu hồi đất 59
Bảng 3.14 Đánh giá về tình hình việc làm của các hộ sau khi bị thu hồi đất đến nay 61 Bảng 3.15 Diện tích đất NN bình quân/lao động của các hộ bị thu hồi đất ở 2 dự án 62 Bảng 3.16 Thu nhập bình quân của người dân ở khu vực nghiên cứu 63
Bảng 3.17 Cơ cấu thu nhập từ các ngành nghề của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất 64
Bảng 3.18 Ý kiến của người dân về sự thay đổi thu nhập ở 2 dự án 65
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính của thị xã An Nhơn 29 Hình 3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế thị xã An Nhơn năm 2015 36 Hình 3.3 Vị trí kho bãi tập trung Nhơn Tân chụp từ google earth 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quý báu của quốc gia, là địa bàn để phân
bố dân cư, các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và là nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia Trong quá trình đổi mới, đặc biệt những năm gần đây việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở chung cư, khu công nghiệp, khu đô thị mới,… đã phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước với mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia công cộng, phát triển kinh tế là một khâu quan trọng, then chốt của quá trình phát triển Bồi thường giải phóng mặt bằng là điều kiện cần trong triển khai thực hiện các dự án, là một vấn đề phức tạp tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà nước, của chủ đầu tư, đặc biệt với hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trên phạm vi
cả nước, đến từng địa phương
Trong thời gian gần đây, vấn đề thực hiện cơ chế Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất để giao đất cho các nhà đầu tư vẫn đang gây nhiều bức xúc trong thực
tế triển khai, nhất là những bức xúc của người bị thu hồi đất về thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Mặc dù các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng rõ ràng, cụ thể về nguyên tắc, điều kiện, đơn giá thực hiện bồi thường, hỗ trợ về đất đai và tài sản khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, về lý thuyết kinh tế đất đai, việc bồi thường một giá trị lớn hơn giá trị mà họ nhận được từ đất có thể được coi là đã phù hợp, nhưng đất đai có những đặc trưng riêng, ngày càng khan hiếm, điều này tương ứng với giá đất luôn luôn có xu hướng tăng ngay
cả khi nó không được sử dụng, vì vậy người sử dụng đất luôn có xu hướng yêu cầu giá bồi thường về đất cao hơn nhiều lần so với thực tế Chính điều này đã làm nẩy sinh nhiều vướng mắc trong việc thực hiện các thủ tục khi thu hồi đất
Thị xã An Nhơn tỉnh Bình Định trong những năm qua, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã phát triển khá nhanh Trong quá trình đó, trên địa bàn đã và đang triển khai nhiều dự án với các mục tiêu phát triển các khu công nghiệp, các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội Tuy nhiên, ngoài những ý nghĩa quan trọng trong công tác này thì không thể tránh khỏi những khó khăn, bức xúc chung trong công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng Mặc dù những năm gần đây ở tỉnh Bình Định nói chung và thị xã An Nhơn nói riêng bồi thường giải phóng mặt bằng đã được cải thiện hơn trước rất nhiều, nhưng cả trong nội dung chính sách lẫn việc tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều vướng mắc, vừa làm chậm tiến độ giải phóng mặt bằng, chậm tiến độ thực hiện dự án đầu tư, vừa ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của nền kinh tế Vì thế, việc
Trang 11tìm kiếm cơ sở khoa học và giải pháp để nâng cao hiệu quả, hiệu lực và tác động xã hội tích cực của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là nhiệm vụ cấp thiết
Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư của một số dự án trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”
2 Mục tiêu của đề tài
a Mục tiêu tổng quát
Nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư tại các dự án trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
b Mục tiêu cụ thể
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư các dự án ở địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Rút ra những ưu điểm và vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án trên địa bàn thị xã An Nhơn
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm cho việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ
và TĐC đạt hiệu quả cao, tăng cường củng cố công tác quản lý đất đai theo quy hoạch
phương Đồng thời, thấy được ưu điểm, tồn tại xung quanh vấn đề này
- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho việc đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ và thực hiện tốt chính sách bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất,
áp dụng với địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, bảo đảm cho việc thực hiện chính sách bồi thường TĐC đạt hiệu quả cao, đồng thời tăng cường củng cố công tác quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai
- Các tài sản khác do pháp luật quy định
Bất động sản là loại hàng hóa đặc biệt, tuy nó không thể di chuyển được nhưng
có thể đem lại lợi ích cho chủ sở hữu Do đó, bất động sản có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh tế - xã hội Vì thế, việc định giá bất động sản để áp giá bồi thường cần quy định rõ ràng, cụ thể để công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được đẩy nhanh tiến độ
1.1.1.2 Giá đất
Giá cả được xác định trên thị trường thể hiện bằng tiền và chính sự không ổn định của đồng tiền dẫn đến giá cả không ổn định nên thường định giá theo thời gian và giá cũng có giá trị theo thời gian
Giá đất được xác định là cầu nối các mối quan hệ về đất đai - thị trường - sự quản
lý của nhà nước Hay nói cách khác, giá đất là công cụ kinh tế để người quản lý và người sử dụng đất tiếp cận với cơ chế thị trường đồng thời cũng là căn cứ để đánh giá sự công bằng trong phân phối đất đai để người sử dụng thực hiện theo nghĩa vụ của mình
và nhà nước điều chỉnh các quan hệ đất đai theo quy hoạch sử dụng đất và pháp luật
Giá đất là phương tiện thể hiện nội dung kinh tế của các quan hệ chủ quyền sử dụng đất và là căn cứ tính toán giá trị thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi và tính thuế đất
Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm
có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích
sử dụng
Trang 13Theo Giáo sư Đặng Hùng Võ - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết mức giá này thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường Mức giá cao nhất mà người bị thu hồi đất được trả chỉ bằng khoảng 70 - 80% giá thực tế
Trong thực tế thì luôn luôn tồn tại hai loại giá: Giá đất do nhà nước quy định và giá thị trường Giá thị trường thì luôn cao hơn giá nhà nước, mức độ chênh lệch giữa hai loại giá này xa hơn nếu đó là ở khu vực đô thị - nơi mà thị trường bất động sản phát triển Như vậy, giá đất do nhà nước quy định để tính giá đất bồi thường, bồi thường thiệt hại càng sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở thực tế địa phương thì công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và bố trí tái định cư càng nhanh gọn và hiệu quả
hệ thống giá đất thống nhất, đồng bộ và sát với giá thực tế hơn là rất cần thiết để bồi thường, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư
1.1.1.4 Giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của xã hội
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án,
là khâu đầu tiên thực hiện dự án Trong đó đền bù thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt bằng
1.1.1.5 Bồi thường thiệt hại
Trong đời sống hàng ngày “bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra; giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm
Trang 14gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
Bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất thực chất là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và người được giao đất, thuê đất, người bị thu hồi đất Việc bồi thường thiệt hại về đất không giống với việc trao đổi, mua bán tài sản, hàng hoá trên thị trường Nó vừa phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, nhưng đồng thời phải đảm bảo lợi ích của nhà nước, có nghĩa là phải giải quyết một cách hài hòa giữa các đối tượng tham gia [29]
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất (là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất) tại thời điểm có quyết định thu hồi [7]
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu Vì vậy, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
Có 2 loại bồi thường: Bồi thường về đất và bồi thường về tài sản
Bồi thường về đất là bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất nhà nước thu hồi theo nguyên tắc diện tích đất bị thu hồi bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu Diện tích đất bồi thường là diện tích đất hợp pháp được xác định lại trên thực địa thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng chủ sử dụng đất
Bồi thường về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị nhà nước thu hồi gồm: Nhà, các công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu, mồ mả, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn liền với đất đai bị thu hồi
1.1.1.6 Tái định cư
Theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thì tái định cư được giải thích là: Người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng việc giao đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới
Như vậy có thể nói rằng: Tái định cư là việc người sử dụng đất được bố trí nơi ở mới bằng một trong các hình thức như bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường
Trang 15bằng giao đất ở mới hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới khi họ bị nhà nước thu hồi đất ở và phải di chuyển chỗ ở
Tái định cư có hai hình thức: Tái định cư tự nguyện và tái định cư bắt buộc Tái định cư tự nguyện là những người di chuyển một cách tự nguyện, muốn tìm những cơ hội mới; tái định cư bắt buộc là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển.[17]
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ
sở vật chất, tinh thần tại đó Vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
1.1.2 Bản chất của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư
Việt Nam đang ở trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng là một phần không thể xem nhẹ của nội dung phát triển, bởi vì nó là điều kiện tiên quyết để triển khai các dự
án trong tiến trình chỉnh trang đô thị, phát triển các khu công nghiệp và xây dựng đất nước Tuy nhiên, để thực hiện tốt công việc này đòi hỏi phải tổ chức một cách chặt chẽ, hợp lý, khoa học nhằm đảm bảo được tính công bằng, hợp lý, hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và người bị thu hồi đất, tạo mọi điều kiện cho người bị thu hồi đất sớm
ổn định đời sống sinh hoạt và sản xuất tại nơi ở mới Với quan điểm chung và về đạo
lý thì cần phải xây dựng khu tái định cư có điều kiện sống ít nhất là bằng hoặc cao hơn
so với điều kiện sống trước khi di dời Ngoài ra còn phải quan tâm đến tập quán sản xuất, phong tục xã hội từng nhóm người, quan hệ họ hàng, cộng đồng Có như vậy mới hạn chế được khiếu kiện của nhân dân, đặc biệt là khiếu kiện kéo dài, giúp cho công tác giải phóng mặt bằng được dễ dàng hơn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án
1.1.3 Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư
Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng mang tính nhạy cảm, đa dạng và phức tạp
- Tính nhạy cảm: Khi các quy luật sản xuất hàng hóa thay đổi (đất đai, vật liệu xây dựng, các hàng hóa khác) thì đòi hỏi các văn bản pháp luật về đất đai có liên quan đến công tác giải tỏa bồi thường phải thay đổi theo để phù hợp
- Tính đa dạng: Mỗi một dự án được tiến hành trên nhiều vùng lãnh thổ khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nhất định Tuỳ theo từng vùng, từng địa phương mà khung giá do nhà nước ban hành phục vụ cho công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư để giải phóng mặt bằng là rất khác nhau Tuỳ theo từng dự án mà chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng cũng rất khác nhau Tất
Trang 16cả các đặc điểm trên làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi giải phóng mặt bằng đã mang tính đa dạng rõ rệt
- Tính phức tạp: Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi giải phóng mặt bằng mang tính phức tạp, do các đặc điểm sau:
Thứ nhất, trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi giải phóng mặt bằng phải áp dụng nhiều văn bản pháp luật, phải thông qua nhiều cấp, nhiều ban ngành, để kiểm tra, thẩm định, phê duyệt
Thứ hai, khó khăn phức tạp trong việc xác định đối tượng, điều kiện được bồi thường, vì do nguồn gốc đất đai rất khác nhau, giấy tờ về nguồn sử dụng còn thiếu, hoặc không chính xác
Thứ ba, do quá trình phát triển của nền kinh tế, làm cho giá đất ngày càng tăng, giá cả trên thị trường không ngừng biến động và giá bồi thường ở mỗi thời điểm là khác nhau Điều này làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn
Thứ tư, do dân số ngày càng tăng, nên nhu cầu đất cần cho sự phát triển cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội, đường sá tăng lên, buộc nhà nước phải thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển Trong khi đó, trình độ dân trí của người dân ở một số vùng còn thấp, nên quá trình giải phóng mặt bằng ở những nơi ấy rất phức tạp Mặt khác, cây trồng và vật nuôi cũng đa dạng, không có sự thống nhất một số loại cây trồng, vật nuôi nhất định, nên rất khó khăn cho công tác định giá bồi thường cho người dân
1.1.4 Các văn bản pháp quy và một số chính sách liên quan đến bồi thường hỗ trợ tái định cư của nhà nước hiện hành
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ về Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trang 17- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính về Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT 02/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi Trường về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất, thu hồi đất, thực hiện QSD đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về BT, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
- Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện BT, GPMB khi nhà nước thu hồi đất
Trong những năm qua, sau khi Luật Đất đai 2003 ra đời, Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách nhằm thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Các chính sách nhằm ngày theo hướng đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất Chính vì vậy, luôn có sự điều chỉnh dựa trên thực tiển áp dụng ở các địa phường mà cụ thể Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung, thay thế một số điểm của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004
và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, Bên cạnh đó, ngày càng quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện; thành lập các đơn vị có tư cách pháp nhân, có chuyên môn về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện việc giải phóng mặt bằng ngày càng tốt hơn
Tuy vậy, những bất cập trong quản lý đất đai so với tình hình thực tế hiện nay, ngày 29 tháng 11 năm 2013 Quốc Hội khoá XIII đã thông qua Luật Đất đai 2013 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về chính sách đất đai nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và bảo đảm giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước
Trang 18Cùng với việc ban hành Luật Đất đai mới, năm 2014 Chính phủ đã ban hành các Nghị định, thông tư hướng dẫn cụ thể Luật Đất đai 2013 với các văn bản liên quan đến công tác bồi thường GPMB như:
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về giá đất;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;
- Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất;
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Tại Bình Định, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 09/9/2014 về việc ban hành Quy định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Định
Như vậy, việc nhà nước ban hành các văn bản mới về đất đai nhằm quy định một cách cụ thể hơn quyền và trách nhiệm Nhà nước, những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất phù hợp với từng đối tượng, từng hình thức sử dụng đất, điều kiện để thực hiện các quyền của người sử dụng đất
cả ba bên là Nhà nước, tập thể và cá nhân Tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Vũ
Trang 19Hán, Quảng Châu và một số tỉnh, nhiệm vụ quy hoạch đất đai ở đô thị và nông thôn được Nhà nước Trung Quốc đặc biệt quan tâm triệt để [18]
Trung Quốc xây dựng các chính sách và các thủ tục rất chi tiết rõ ràng Về phương thức BT, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức BT, bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Giá bồi thường theo tiêu chuẩn giá thị trường nhưng đồng thời được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, được Nhà nước tác động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với các dự án phải giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự án cùng với việc dàn xếp kinh tế, khôi phục cho từng địa phương, từng hộ gia đình và từng người bị ảnh hưởng [18]
Công tác bồi thường và tái định cư ở Trung Quốc những năm gần đây đạt được kết quả đáng kể, nguyên nhân là do xây dựng các chính sách và các thủ tục rất chi tiết, ràng buộc các hoạt động tái định cư với nhiều lĩnh vực khác, mục tiêu của chính sách này là cung cấp cơ hội phát triển cho tái định cư, thông qua cách tiếp cận và tạo nơi ở mới ổn định, tạo nguồn lực sản xuất cho người thuộc diện bồi thường và tái định cư Đối với các dự án phải BT để giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự án, cùng với việc dàn xếp kinh tế khối kinh
tế cho từng địa phương, từng gia đình và người bị ảnh hưởng [18]
Thành công của Chính phủ Trung Quốc trong việc thực hiện BT và TĐC là do
hệ thống pháp luật đồng bộ, pháp Luật Đất đai và chính sách đất đai đầy đủ, phù hợp công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai rất năng động, khoa học cùng với một Nhà nước pháp quyền vững chắc, năng lực thể chế của chính quyền địa phương theo thẩm quyền có hiệu lực cao, người dân có ý thức pháp luật nghiêm minh, nhân dân tin tưởng vào chế độ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Chế độ bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc là hạn chế tối đa việc thu hồi đất cũng như một số người chịu ảnh hưởng bởi dự án, như vậy các dự án đầu tư phải trên cơ sở quy hoạch, công tác tạo quỹ đất sạch và thu hồi đất ở những khu vực ít
có người dân sinh sống, ít bị ảnh hưởng do thu hồi đất Chính sách BT, GPMB ở Trung Quốc mang tính triệt để, khách quan, đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất, việc xây dựng giá đất linh động trên cơ sở phải sát với giá thị trường; công tác thực hiện phải đảm bảo quy định về tái định cư [18]
1.2.1.2 Thái Lan
Thái Lan cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình
đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết
Trang 20Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng.000 các công trình công cộng, an ninh quốc phòng Luật này đã quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập và phê duyệt dự án, lên
kế hoạch bồi thường trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt và còn quy định thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường tái định cư, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra tòa án [30]
Thành công trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Thái Lan được dựa trên một số nội dung chủ yếu sau [30]:
- Về giá đất làm căn cứ để tính bồi thường thì căn cứ mức giá do một ủy ban của Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá thị trường chuyển nhượng bất động sản; việc bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt
- Việc chuẩn bị khu tái định cư được chính quyền nhà nước quan tâm đúng mức, luôn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu bố trí đất tái định cư, cho nên họ chủ động được công tác này
- Việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng phải di dời được thực hiện rất tốt, việc bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng rất được quan tâm, các tổ chức chuyên trách thực hiện công tác này
- Sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành giải quyết, sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phân cấp rõ về trách nhiệm, sự phối hợp cao trong quá trình giải quyết vấn đề, cũng góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
Chính sách, pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Hàn Quốc có những điểm đáng lưu ý sau đây [20]:
- Quy trình tham vấn và cưỡng chế Việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
được thực hiện theo phương thức tham vấn và cưỡng chế với các bước cụ thể sau: (i) Thu thập, chuẩn bị các quy định về tài sản và đất đai có liên quan đến việc thu hồi đất; (ii) Xây dựng và công bố phương án bồi thường; (iii) Thành lập Hội đồng bồi thường; (iv) Đánh giá và tính toán tổng số tiền bồi thường; (v) Yêu cầu tham vấn bồi thường;
Trang 21(vi) Hoàn tất hợp đồng bồi thường Các cơ quan công quyền thỏa thuận với người bị thu hồi đất về phương án, cách thức bồi thường Nếu quá trình tham vấn bị thất bại thì nhà nước phải sử dụng biện pháp cưỡng chế Theo ông Kim Jaejeong, Cục trưởng Cục Chính sách đất đai Hàn Quốc, thì ở Hàn Quốc có 85% tổng số các trường hợp nhà nước thu hồi đất thực hiện thành công theo quy trình tham vấn, chỉ có 15% các trường hợp phải sử dụng phương thức cưỡng chế
- Nguyên tắc bồi thường, được ghi nhận trong các đạo luật về bồi thường khi
thu hồi đất Những nguyên tắc cơ bản bao gồm: (i) Chủ dự án bồi thường cho chủ đất
và cá nhân có liên quan về những thiệt hại gây ra do thu hồi đất hoặc sử dụng đất … cho các công trình công cộng; (ii)Việc bồi thường được thực hiện trước khi triển khai
dự án; (iii) Bồi thường cho chủ đất bằng tiền mặt hoặc trái phiếu do chủ thực hiện dự
án phát hành; (iv) tiền bồi thường được chi trả cho từng cá nhân; (v) Thực hiện bồi thường trọn gói, một lần
- Về thời điểm xác định giá bồi thường, trường hợp thu hồi đất thông qua hình
thức tham vấn thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm các bên đạt được thỏa thuận đồng thuận về phương án bồi thường Đối với trường hợp thu hồi đất thông qua hình thức cưỡng chế thì xác định giá tại thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế
- Về xác định giá bồi thường, chủ thực hiện dự án không được tự định giá mà
do ít nhất hai cơ quan định giá thực hiện Đây là các tổ chức tư vấn về giá đất hoạt động độc lập theo hình thức doanh nghiệp hoặc công ty cổ phần có chức năng tư vấn
về giá đất Trong trường hợp chủ đất có yêu cầu về việc xác định giá bồi thường thì chủ đầu tư thực hiện dự án có thể lựa chọn thêm một tổ chức tư vấn về định giá đất thứ
ba Giá đất được lựa chọn làm căn cứ xác định bồi thường là giá trung bình cộng của kết quả định giá của hai hoặc ba cơ quan dịch vụ tư vấn về giá đất độc lập được thuê định giá
- Về bồi thường đất và tài sản trên đất bị thu hồi Bồi thường đối với đất được
thực hiện dựa trên giá đất ở từng khu vực do Chính phủ công bố hàng năm theo Luật Công bố giá trị và Định giá bất động sản Tổ chức định giá sẽ tiến hành so sánh các yếu tố như vị trí, địa hình, môi trường xung quanh… có ảnh hưởng đến giá trị của đất, tham chiếu từ hơn 01 hoặc 02 mảnh đất tham khảo so với mảnh đất cần định giá Quá trình định giá cần đảm bảo sự hài hòa giữa giá đất do tổ chức định giá đưa ra và mức
giá theo khung giá đất công khai, chính thức của Chính phủ Bồi thường đối với tài
sản trên đất bao gồm: nhà ở, cây trồng, công trình xây dựng, mồ mả Đối với các tài
sản khác gắn liền với đất, việc bồi thường được xác định cụ thể như sau: (i) Bồi thường các quyền sử dụng đối với tài sản (quyền khai thác mỏ, quyền đánh bắt cá, quyền sử dụng nguồn nước …) được thực hiện với mức giá phù hợp thông qua định
Trang 22giá chi phí đầu tư, mức lợi nhuận mong đợi; (ii) Bồi thường thiệt hại do việc thu hồi đất dẫn đến tạm ngừng hoặc dừng công việc kinh doanh gây ra; (iii) Bồi thường thiệt hại về hoa màu trên đất nông nghiệp dựa vào việc xác định doanh thu trên mỗi đơn vị diện tích đất nông nghiệp; (iv) Bồi thường thiệt hại về thu nhập cho người lao động bị mất việc hoặc tạm thời nghỉ việc do thu hồi đất gây ra Việc bồi thường được thực hiện dựa trên căn cứ xác định mức lương trung bình của người lao động theo Luật liêu chuẩn lao động
- Về tái định cư khi thu hồi đất ở Chủ thực hiện dự án có trách nhiệm xây dựng
khu tái định cư, trả tiền di dời hoặc trả tiền cho quỹ tái định cư Khu tái định cư phải
có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo cuộc sống của người dân Người bị thu hồi đất ở được ưu tiên mua đất tái định cư với giá ưu đãi thấp hơn 80% so với chi phí phát triển Diện tích mỗi mảnh đất tái định cư rộng từ 165 m2 - 265 m2 ,…
1.2.1.4 Singapore
Luật pháp Singapore quy định Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất và người dân có nghĩa vụ chấp hành quyết định thu hồi đất Việc thu hồi đất được thực hiện dựa trên quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt và tuân thủ các nguyên tắc chủ yếu sau đây: (i) Thu hồi đất bắt buộc để sử dụng đất vào mục đích công cộng; (ii) Hạn chế việc thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân (chỉ thu hồi trong các trường hợp cần thiết); (iii) Việc thu hồi đất phải được sự đồng ý của Chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến của cộng đồng; (iv) Việc thu hồi đất được thực hiện theo quy trình chặt chẽ do pháp luật quy định Nhà nước thông báo cho người bị thu hồi đất biết trước từ 2 đến 3 năm trước khi ra quyết định thu hồi đất Trường hợp người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi đất sẽ bị nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc bị phạt theo Luật xâm chiếm đất công [20]
Chính sách, pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Singapore có những điểm đáng lưu ý sau đây [20]:
- Về mức bồi thường thiệt hại, được xác định căn cứ vào giá trị thực tế bất động
sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ, di chuyển chỗ ở hợp lý; chi phí mua nguyên liệu xây dựng nhà ở mới; thuế nhà ở mới v.v Trường hợp người bị thu hồi đất không tán thành với phương án bồi thường thiệt hại do nhà nước xác định, họ có quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại Nhà nước trả tiền thuê định giá lại
Việc xác định mức bồi thường được xác định là giá trị bất động sản do người bị thu hồi đất đầu tư, không phải là giá trị thực tế của bất động sản Phần giá trị tăng thêm
do sự đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước được bóc tách khỏi giá trị bồi thường Điều này có nghĩa là nhà nước không bồi thường theo giá bất động sản hiện tại mà bồi
Trang 23thường theo giá thấp hơn do trừ đi phần giá trị bất động sản tăng thêm từ sự đầu tư cơ
sở hạ tầng của nhà nước
Bên cạnh đó, nhà nước cũng xem xét bồi thường cho người bị thu hồi đất các thiệt hại sau đây: Trường hợp công trình công cộng đi ngang qua bất động sản gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của người sử dụng đất như tiếng ồn, khói bụi, người đi đường có thể nhìn vào nhà v.v; trường hợp công trình công cộng gây chia cắt manh mún mảnh đất hiện hữu; chi phí để hoàn tất thủ tục đứng tên chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng đối với phần diện tích đất còn lại
Nhà nước chi trả 20% tổng giá trị bồi thường khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ nhà ở Phần giá trị bồi thường còn lại được thanh toán khi người bị thu hồi đất ở hoàn tất việc di chuyển chỗ ở Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu cấp bách về chỗ
ở sẽ được nhà nước cho thuê nhà ở với giá thuê phù hợp
- Những yêu cầu sau đây của người bị thu hồi đất sẽ không được xem xét để bồi thường: (i) Yêu cầu thưởng cho việc di chuyển chỗ ở sớm hoặc cố tình không chịu
thực hiện quyết định thu hồi đất để đòi mức giá bồi thường cao hơn; (ii) Yêu cầu đòi bồi thường phần chi phí đầu tư thêm vào ngôi nhà hoặc xây dựng nhà mới sau khi nhà nước đã có quyết định thu hồi đất; (iii) Yêu cầu bồi thường theo giá mua bán, chuyển nhượng đất đai thực tế; (iv) Trường hợp thu hồi bất động sản đối với hoạt động kinh doanh không có giấy phép; (v) Trường hợp người sử dụng đất không có căn cứ pháp lý
để bồi thường; (vi) Đất sử dụng bất hợp pháp …
- Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về bồi thường khi thu hồi đất Trường hợp
người bị thu hồi đất không nhất trí với mức giá bồi thường họ có quyền khiếu kiện về giá trị bồi thường Hội đồng bồi thường là người có thẩm quyền quyết định về giá trị bồi thường và đưa ra câu trả lời đối với người khiếu kiện Nếu người bị thu hồi đất không đồng ý với câu trả lời của Hội đồng bồi thường thì có quyền khởi kiện vụ việc
ra Tòa Thượng thẩm
Chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất của Singapore được tiến hành thận trọng (đặc biệt đối với đất thuộc sở hữu tư nhân) trên cơ sở các quy định chặt chẽ của pháp luật Nguyên tắc công bằng, minh bạch được đề cao trong quá trình thực hiện nên đã nhận được sự đồng thuận của người dân Tỷ lệ cưỡng chế khi thu hồi đất thấp (dưới 1% tổng số các trường hợp thu hồi đất)
- Vấn đề tái định cư cho người bị thu hồi đất ở rất được Chính phủ Singapore
rất chú trọng thực hiện Chính sách này được triển khai gắn với việc bố trí nhà ở do nhà nước xây dựng (nhà ở công) và cung cấp với giá rẻ đi kèm với một số điều kiện Cục Phát triển nhà (HDB) được thành lập năm 1960 có nhiệm vụ cung cấp nhà ở công cho người dân, trong đó chủ yếu phục vụ công tác tái định cư Tính từ khi thành lập
Trang 24đến nay, HDB đã cung cấp nhà ở cho 85% dân số; trong đó có 2% người dân được thuê căn hộ
Việc tái định cư được thực hiện trên cơ sở điều tra xã hội học một cách cẩn thận, tỉ mỉ nhằm thu thập, xác minh các thông tin: Số lượng thành viên trong hộ gia đình; nguồn thu nhập; nghề nghiệp; nơi làm việc; tình trạng pháp lý của bất động sản tạo căn cứ vững chắc cho quá trình thực hiện tái định cư chính xác, công bằng
Người bị thu hồi đất ở muốn được tái định cư tại các căn hộ do HDB cung cấp phải được Cơ quan quản lý đất đai Singapore (SLA) bảo lãnh và làm thủ tục giới thiệu mua hoặc thuê nhà của Cục Phát triển nhà (HDB) với điều khoản ưu đãi; được miễn thế chấp…Công dân Singapore được ưu tiên tái định cư Trường hợp người bị thu hồi đất ở không sử dụng nhà do HDB cung cấp sẽ được nhà nước hỗ trợ thêm một khoản tiền (khoảng 1.200 đô la Singapore)
Nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân, Chính phủ có các ưu đãi, hỗ trợ cho chương trình phát triển nhà ở của HDB, nhất là các chính sách về tài chính, huy động vốn và hỗ trợ, tạo điều kiện cho người mua nhà HDB cung cấp nhiều nhà ở công nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người dân, trong đó các tòa nhà cao tầng chủ yếu được cung cấp phục vụ tái định cư Bên cạnh đó còn có các loại nhà hạng sang và kể
cả nhà nhỏ khép kín Để hạn chế tình trạng mua bán, đầu cơ nhà ở kiếm lời, Chính phủ Singapore quy định người dân khi mua nhà ở của HDB phải sử dụng để ở sau 5 năm mới được bán và sau 10 năm (kể từ thời điểm bán căn nhà đầu tiên) mới được mua căn nhà thứ 2 của HDB
1.2.1.5 Chính sách bồi thường thiệt hại và tái định cư của các tổ chức tài trợ (WB và ADB)
Ngân hàng thế giới là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế đầu tiên đưa ra chính sách về tài định cư bắt buộc Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính sách tái định cư được ban hành dưới dạng một thông báo hướng dẫn hoạt động nội bộ cho nhân viên Từ đó đến nay chính sách tái định cư đã được sửa đổi và ban hành lại nhiều lần Khi NN thu hồi đất và tái định cư thì những người bị ảnh hưởng là những người mà do hậu quả của dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, sinh kế do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau
để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái [15]
Kinh nghiệm của WB cho thấy việc tái định cư không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm họa nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hóa khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng xã hội và dễ dàng dẫn tới sự bần
Trang 25cùng hóa đời sống dân cư Từ tháng 2/1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã bắt đầu áp dụng bản hướng dẫn hoạt động của WB về tái định cư và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này đã có chính sách riêng về tái định cư bắt buộc Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB là phải BT theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn BT, tái định cư hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện [15]
Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường, tái định cư được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người bị ảnh hưởng và mức độ tác động của dự
án Kế hoạch BT, tái định cư phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ bị ảnh hưởng Ngoài ra còn phải
áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hòa nhập được với cộng đồng mới
Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ bị ảnh hưởng, các tổ chức Quốc tế quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của
dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác, thậm chí trao quyền cho các hộ bị ảnh hưởng và tìm mọi cách thỏa mãn nhu cầu chính đáng của
họ trong suốt quá trình lập kế hoạch BT tái định cư [15]
Nhìn chung, phương châm trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của ADB cũng tương tự như của WB đều có xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, đồng thời có chính sách thỏa đáng, phù hợp đảm bảo cho người bị ảnh hưởng không gặp phải bất lợi trong cuộc sống Để thực hiện được phương châm đó, thì chìa khóa dẫn tới sự thành công đó là phải chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển mang con người là trung tâm Kinh nghiệm về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, hộ trợ, tái định cư thành công là những chính sách phù hợp của chính phủ bao gồm: Nguồn tài chính đầu
tư, khâu tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương và trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của nhân dân Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan
NN có thẩm quyền là yếu tố đồng hành trong quá trình thực hiện các dự án
Có thể nói rằng chính sách nhằm bảo đảm giá đền bù sát với giá thị trường giúp người bị thu hồi được đền bù thỏa đáng, công khai và minh bạch, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người bị thu hồi đất Việc xây tái định cư trước khi dự án triển khai nhằm ổn định đời sống cho người dân khi bị thu hồi đất và di chuyển chổ ở Việc xây dựng kế hoạch trong dự án nhằm đảm bảo thời gian thực hiện theo kế hoạch đề ra, điều này giúp trong quá trình thực hiện có sự điều chỉnh linh động và tạo sự giám sát của các bên có liên quan
Trang 261.2.1.6 Úc (Australia)
Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân Quyền và nghĩa vụ của chủ
sở hữu được luật pháp bảo hộ tuyệt đối Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để
sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế xã hội đồng thời gắn với việc Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường
Cơ quan chức trách có thể thu hồi lại đất đai bằng hai cách: thoả thuận tự nguyện và cưỡng bức Về bồi thường, luật quy định chủ sở hữu sẽ được bồi thường thiệt hại do việc thu hồi đất
Nguyên tắc bồi thường bao gồm:
- Giá thị trường mảnh đất của chủ sở hữu;
- Giá trị đặc biệt dành cho chủ sở hữu cao hơn hoặc trên giá trị thị trường của mảnh đất;
- Những thiệt hại gây ra khi thu hồi đất;
- Thiệt hại về việc gây phiền hà;
- Các khoản chi phí về luật pháp và thẩm định giá
Bất cứ người nào có quyền lợi trên mảnh đất đó đều có thể khiếu nại về bồi thường
Quy định mức bồi thường: khi tính toán mức bồi thường cần xem xét 6 yếu tố
sau: giá trị thị trường của mảnh đất; sự chia cắt đất đai; những phiền nhiễu; các khoản chi phí về chuyên môn hoặc pháp lý hợp lý; người đi thuê, có thể khiếu nại mức bồi thường cho bất cứ tài sản nào bị ảnh hưởng mà bạn quản lý theo hợp đồng cho thuê; tiền bồi thường về mặt tinh thần
Thanh toán khoản bồi thường gồm thanh toán ứng trước và thanh toán cuối cùng
- Thanh toán ứng trước: Chính phủ sẽ thanh toán cho chủ nhân toàn bộ khoản bồi thường một khi đơn khiếu nại đã được xem xét Nếu Chính phủ không chấp thuận toàn bộ các khoản mục trong đơn khiếu nại thì Chính phủ sẽ thanh toán trước ít nhất là 90% số tiền đã được định ra
- Thanh toán cuối cùng: Chính phủ sẽ thanh toán đầy đủ số tiền bồi thường ngay sau khi tổng số tiền cuối cùng đã được chấp thuận [19]
* Một số kinh nghiệm khác trong đền bù thiệt hại khi giải toả:
- Có chính sách hỗ trợ tối đa về thiệt hại và tạo điều kiện công ăn việc làm cho người nông dân khi chuyển thành thị dân (chủ yếu trong thời gian cách đây 20 - 30 năm) Tuy nhiên, do số lượng nông dân không nhiều nên đây không là vấn đề nghiêm trọng Đối với các hộ kinh doanh thương mại hoặc cơ sở công nghiệp, hướng đền bù bằng tiền mặt và căn cứ vào thu nhập thực tế trước đó Đối với các cơ sở tôn giáo như
Trang 27chùa, nhà thờ khi giải tỏa được bố trí xây dựng mới trên địa điểm và diện tích khu đất phù hợp (thường rộng rãi hơn), nhằm phục vụ khu dân cư mới Việc giải tỏa, di dời ít làm xáo trộn công ăn việc làm của người dân (do đất nước Singapore quá nhỏ bé nên việc đi lại thuận tiện)
- Không có trường hợp người nông dân tự chuyển nhượng đất cho nhà đầu tư
để xây dựng các khu dân cư (như ở Việt Nam) Lý do là thời gian sử dụng đất khác nhau và nhà nước không cho phép Mọi việc chuyển nhượng làm thay đổi mục đích
sử dụng phải thông qua cơ quan nhà nước Nhà nước đóng vai trò trung gian giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư, tránh những tiêu cực trong việc đền bù giải tỏa và không để ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện dự án theo quy hoạch nói riêng và phát triển kinh tế nói chung
- Theo thông tin do phía Singapore cung cấp, tính bình quân, tiền đền bù chỉ chiếm khoảng 9% tổng giá trị đầu tư một dự án (trong khi đó, tỷ lệ này ở Việt Nam có thể đến 70-80%) Kiểm soát tốt giá đền bù là một trong những lý do giúp chương trình phát triển hạ tầng và phúc lợi công cộng thành công
1.2.2 Chính sách giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định cư ở nước ta qua các thời kỳ
1.2.2.1 Trước khi có Luật Đất đai 2003
a) Trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Luật Đất đai năm 1988 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý Tại Khoản 4 Điều 48 quy định: “Đền bù thiệt hại thực tế cho người đang sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình, bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật.”
Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 186-HĐBT ngày 31/5/1990, về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác Căn cứ
để tính mức bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng tại Quyết định này
là diện tích, chất lượng và vị trí đất Toàn bộ tiền bồi thường phải nộp vào ngân sách Nhà nước và được điều tiết theo phân cấp ngân sách trung ương 30%, địa phương 70%
để sử dụng vào mục đích khai hoang, phục hoá và định canh, định cư cho nhân dân vùng bị thu hồi đất
Hiến pháp 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp Luật Đất đai nói chung và chính sách bồi thường, GPMB nói riêng, đó là:
+ Tại Điều 17 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật”
Trang 28+ Tại Điều 18 quy định “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”
+ Tại Điều 23 quy định “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích của quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc
tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”
b) Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003
Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường, GPMB qua các Điều 17, Điều18 và Điều 23
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Với quy định "đất có giá" và người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường, GPMB của Luật Đất đai năm 1993
Những quy định về bồi thường, GPMB của Luật Đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai đã được thông qua ngày 29/6/2001
Để cụ thể hoá các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường, GPMB đã được ban hành, bao gồm:
- Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP;
Trang 29- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; thay thế Nghị định số 90/CP nói trên;
- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ
* Chính sách bồi thường, GPMB cụ thể theo quy định của Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC:
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC đã quy định rõ phạm vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối tượng phải bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi thường thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, việc lập khu TĐC cũng như việc tổ chức thực hiện
1.2.2.2 Sau khi có Luật Đất đai 2003
- Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2004 Để hướng dẫn việc bồi thường, GPMB theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, một số văn bản sau đã được ban hành:
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường,
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ - CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Về cơ bản, chính sách bồi thường, GPMB theo Luật Đất đai 2003 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường, GPMB hiện nay
Tuy nhiên, để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường, GPMB, ngày 25/5/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy
Trang 30định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Thông tư 145/2007/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT của Bộ Tài chính
và Bộ Tài nguyên & Môi trường ngày 31/01/2008 về Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bãi bỏ một số điều Nghị định số 181/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP về một số vấn đề cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định 69/2009/NĐ-CP là đảm bảo quyền và lợi ích của người
sử dụng đất, thực hiện hài hòa 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà đầu tư và quyền của Nhà nước theo quy định của pháp luật
1.2.3 Tình hình thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và bố trí tái định cư ở nước ta hiện nay
Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Với những đổi mới tích cực như đã nghiên cứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay
a) Về diện tích đất nông nghiệp, đẩt ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và công trình công cộng
Trong 5 năm, từ năm 2005 đến năm 2010, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước) Trong số đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha [14]
Trang 31Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha ), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh phúc (5.573 ha) Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước,
tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là duới 0,5% [14]
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người thấp, có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70% - 80% diện tích đất canh tác
b) Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng
có số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ, tái định cư, Tuy nhiên, trên thực
tế có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định [14]
Việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất Theo kết quả điều tra thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động bị mất việc làm Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm, từ 2005 đến 2008 đã có gần 80.000 lao động bị mất việc làm Tính đến hết năm 2010, Hà Nội có khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất Thành phố Hà Nội đã có nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động là 3,8 triệu đồng Tuy nhiên việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả cao [14]
Tại thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 05 năm trở lại đây, thành phố đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới 60.203.074 m2; tổng số
hộ bị ảnh hưởng là 53.853 hộ, trong đó có 20.014 hộ bị giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng
Trang 32Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận tiền đền bù, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm, có gia đình trở nên giàu có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng) nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp [14]
Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì họ có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được để thừa kế từ thế hệ này cho các thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn toàn, mặc
dù, nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Sau khi bị thu hồi đất, chỉ có 32,3% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số hộ cho rằng đời sống không có gì cải thiện, và số hộ còn lại khẳng định đời sống của họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất
Như vậy, có đến 67,7% số hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của họ kém đi hoặc không có gì cải thiện hơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các dự án khác về phát triển kinh tế -
xã hội tại các địa phương [14]
Khi trả lời câu hỏi về những vấn đề cần ưu tiên nhất từ phía Nhà nước và doanh nghiệp đối với các hộ dân sau khi bị hồi đất thì có 38,4% đề nghị được thu hút vào các doanh nghiệp trên địa bàn; 22,7% đề nghị được hỗ trợ đào tạo nghề bằng tiền, số còn lại đề nghị cho vay vốn ưu đãi và các ưu tiên khác [14]
1.2.4 Ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường và hỗ trợ tái định
cư đến sự phát triển của cơ sở hạ tầng và kinh tế - xã hội
1.2.4.1 Đối với sự phát triển của cơ sở hạ tầng
Ớ mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội có một sự phát triển thích ứng của hạ tầng kinh tế - xã hội Với tư cách là những phương tiện vật chất kỹ thuật, hạ tầng Kinh tế -
xã hội lại trở thành lực lượng sản xuất quyết định đến sự phát triển của kinh tế - xã hội
mà trong đó GPMB là điều kiện bắt buộc để dự án cơ sở hạ tầng có được triển khai là điều kiện quan trọng khi phát triển kinh tế
- Về mặt tiến độ hoàn thành của dự án
+ Tiến độ thực hiện các dự án phụ thuộc vào điều kiện khác nhau như tài chính, lao động, công nghệ, điều kiện tự nhiên, tập quán của những người dân trong diện bị giải tỏa Nhìn chung, vấn đề này phụ nhiều vào thời gian tiến hành GPMB
+ GPMB thực hiện đúng tiện độ đề ra sẽ tiết kiệm thời gian và việc thực hiện dự
án có hiệu quả Ngược lại, GPMB kéo dài gây ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng của các công trình, ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động cũng như chi phí cho dự án, có gây ra
Trang 33thiệt hại không nhỏ cho đầu tư xây dựng Chẳng hạn, một dự án dự kiến hoàn thành đến hết mùa khô nhưng do GPMB chậm kéo dài nên việc xây dựng phải tiến hành vào mùa mưa gây khó khăn cho việc thi công như tập trung vốn, lao động, công nghệ do
dự này và ảnh hưởng đến việc thực hiện các dự án khác
- Về mặt kinh tế của dự án
+ GPMB thực hiện tốt sẽ giảm tối đa chi phí cho giải tỏa bồi thường, có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho các công trình khác GPMB kéo dài dẫn đến chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành dư án dẫn đến sự quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh do không đáp ứng được tiến độ đầu tư, vì vậy, nhiều dự án mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thấp Còn đối với các dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kép dài, tiến
độ thi công ngắt quãng gây ra sự lãng phí rất lớn và ảnh hưởng tới chất lượng công trình Đặc biệt các nhà đầu tư trong nước có nguồn vốn hạn hẹp thì việc vay vòng vốn
là cần thiết để đảm bảm tận dụng cơ hội đấu thầu của các công trình khác
Thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng, các địa bàn khác trong
cả nước nói chung còn đọng lại khá nhiều dự án phải dừng lại do không giải phóng được mặt bằng hoặc ngắt quãng Một phần do không có sự đồng bộ về chính sách bồi thường thiệt hại của Nhà nước Mặt khác, các dự án đó chưa được quan tâm cần thiết của các cấp, các ngành trên địa bàn đó cũng như sự ủng hộ của người dân sở tại gây ra
sự trì truệ kéo dài Đây cũng là một trở ngại lớn tác động tiêu cực đến khả năng thu hút vốn đầu tư, công nghệ nước ngoài vào lĩnh vực xây dựng và phát triển cơ ở hạ tầng ở Việt Nam
1.2.4.2 Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Hạ tầng kinh tế - xã hội là một khác niệm dùng để chỉ những phương tiện làm
cơ sở, nhờ đó phục vụ cho hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, quốc tế dân sinh như cung cấp điện năng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thủy lợi,đê điều, trạm
xá, trường học
Sự phát triển cơ sở hạ tầng của một quốc gia phản ánh trình độ phát triển kinh tế cũng như nền văn minh của quốc gia đó cho nên nhìn vào bộ mặt đô thị người ta có thể đánh giá nền kinh tế của quốc gia này mạnh hay yếu
Ở Việt Nam, công tác quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết đã không thực hiện trong thời gian dài do đó việc phát triển mở rộng đô thị mang tính tự phát không có quy mô rõ rệt, đường phố chật hẹp các quy định về kiến trúc khu phố cũng như việc kết hợp cảnh quan không được thiết lập, bộ mặt đô thị xuống cấp Nguyên nhân của vấn đề này một phần do buông lỏng quản lý, nhất là trật tự xây dựng Mặt khác, do dấn
số đô thị tăng lên nhanh chóng, diện tích nhà ở bình quân ngày càng thu hẹp, nhu cầu
Trang 34nhà ở ngày càng tăng cộng với ý thức về kiến trúc độ thị của người dân thấp, mạnh ai nấy làm, ai mở rộng được bao nhiêu thì mở gây ảnh hưởng khó khăn trong việc sắp xếp lại đô thị cũng như xây dựng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị
Trong những năm gần đây, các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở Bình Định đã nhanh chóng được cải tạo khôi phục phát triển, phần nào đã bắt kiệp với yêu cầu của
sự chuyển đổi kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị, thúc đẩy sự chuyển đổi kinh tế và thay đổi dần bộ mặt một số khu vực ở nông thôn Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ở Bình Định thời gian qua chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông vận tải, công nghiệp, đô thị Công tác quy hoạch đã được chú trọng Bình Định có quy hoạch tổng thể đến 2020 và bộ mặt kiến trúc đã có nhiều đổi thay Đặc biệt, công tác GPMB lấy đất phục vụ các dự án đã có nhiều chuyển biến rõ rệt Cơ chế chính sách phục vụ GPMB được thiết lập khoa học, hợp lý, số lượng dự án GPMB được hoàn thành năm sau cao hơn năm trước tạo nhiều động lực mới cho công tác GPMB
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Dự án xây dựng kho mì tại xã An Tân
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thị xã An Nhơn
- Đánh giá quá trình thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và
bố trí tái định cư của các dự án nghiên cứu trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Ảnh hưởng của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và bố trí tái định cư đối với người dân có đất bị thu hồi của các dự án nghiên cứu trên địa bàn thị
xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Đề xuất các giải pháp cho việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và bố trí tái định cư đạt hiệu quả cao
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Điều tra, thu thập số liệu, tài liệu là việc làm đầu tiên và rất quan trọng khi tiến hành nghiên cứu đề tài
- Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo, số liệu, tài liệu tại các phòng,
ban, đơn vị chức năng của thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định để có được thông tin cơ bản của vùng nghiên cứu Thu thập những văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trung ương
và địa phương về chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, chính sách giải quyết việc làm cho người có đất thu hồi từ các cơ quan nhà
Trang 36nước Thu thập thông tin từ những công trình nghiên cứu đã được công bố, những bài báo, báo cáo, tài liệu hội thảo,
- Thu thập số liệu sơ cấp: Thu thập thông tin của các tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân trong diện giải tỏa bồi thường và bố trí tái định cư thông qua phiếu điều tra hoặc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan, để thu thập thông tin nhằm đạt được mục đích nghiên cứu Cụ thể, điều tra 30 hộ dân bị thu hồi đất trên quốc lộ 19 nơi thực hiện dự án tại xã Nhơn Tân và 30 hộ dân tại kho bãi tập trung Nhơn tân
2.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Phương pháp này là một trong những phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu chi tiết một địa phương nào đó Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành đi thực địa, điều tra khảo sát, quan sát, chụp ảnh thực tế nhằm kiểm tra lại các thông tin đã thu thập được
2.4.3 Phương pháp thống kê, phân tích, xử lý số liệu và đánh giá
Nguồn dữ liệu mà chúng tôi thống kê là:
- Thống kê qua tài liệu, báo cáo và sổ sách lưu trữ
- Thống kê qua kết quả thu được của quá trình điều tra khảo sát thực địa và phỏng vấn các đối tượng
- Thống kê qua các phiếu điều tra nông hộ theo các chỉ tiêu cần thiết Sau đó phân tích, xử lý số liệu và đánh giá, đảm bảo các số liệu thu thập có tính đồng bộ cao và tính chính xác của thông tin
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã An Nhơn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bình Định và cách trung tâm thành phố Quy Nhơn về hướng Đông khoảng 20km, có tổng diện tích đất tự nhiên 242,64km2, dân số 182.066 người, chiếm
- Về tọa độ địa lý:
+ Kinh độ Đông: 109000 - 109011
+ Vĩ độ Bắc: 13042 - 13049
- Về ranh giới địa lý hành chính:
+ Phía Bắc giáp huyện Phù Cát
+ Phía Đông giáp huyện Tuy Phước
+ Phía Tây giáp huyện Tây Sơn và huyện Vân Canh
+ Phía Nam giáp huyện Vân Canh và huyện Tuy Phước
Thị xã An Nhơn được chia thành 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 5 phường: Bình Định, Đập Đá, Nhơn Hòa, Nhơn Hưng, Nhơn Thành và 10 xã: Nhơn An, Nhơn Phong, Nhơn Hạnh, Nhơn Mỹ, Nhơn Hậu, Nhơn Khánh, Nhơn Phúc, Nhơn Thọ, Nhơn Lộc, Nhơn Tân
Phường Bình Định là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của thị xã cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km về phía Tây Bắc
Lợi thế quan trọng của huyện là nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có tuyến Quốc lộ 1A Bắc Nam, tuyến đường sắt Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh chạy qua và là đầu mối phía Đông của đường Quốc lộ 19 nối giữa duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi để thị xã An Nhơn khai thác các thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên trên địa bàn thị xã, phục vụ cho việc mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm, giao lưu thông thương với các huyện, thành phố trong tỉnh và với cả nước, đẩy mạnh thu hút đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 38- Địa hình vùng đồi núi có diện tích 7.150 ha phân bố ở khu vực phía Nam của huyện, ven quốc lộ 19 và ở khu vực phía Tây giáp huyện Tây Sơn
Nhìn chung địa hình của huyện thuận lợi cho cơ giới hoá đồng ruộng, phát triển nền nông nghiệp hàng hoá với các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến và thuận lợi cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và giao lưu phát triển kinh tế với bên ngoài
Trang 39vùng miền núi Phía Tây có độ dốc lớn, lòng sông hẹp, ít có bãi bồi, về phía hạ lưu lòng sông mở rộng Chế độ nước của các sông phụ thuộc vào chế độ mưa Vào mùa mưa lượng nước sông dâng cao gây hiện tượng lụt lội khu vực ven sông, mùa khô lượng nước các sông cạn kiệt gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Do ở gần các cửa biển nên chế độ nước của các sông trên địa bàn huyện chịu ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông, đặc biệt là vào mùa khô nước các sông cạn kiệt nguồn nước mặn xâm nhập gây nhiễm mặn, phèn đất khu vực ven sông
3.1.1.4 Khí hậu
Do nằm trong khu vực có gió mùa kết hợp với điều kiện địa hình, đặc biệt là
dãy Trường Sơn có ảnh hưởng lớn đến các yếu tố khí hậu của huyện An Nhơn có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa theo mùa Một năm có hai mùa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9, kết thúc vào tháng 12 dương lịch Mùa khô bắt đầu từ tháng 01, kết thúc vào tháng 8
năm sau
Chế độ nhiệt: Có nền nhiệt cao ít biến động, nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,20C, cao nhất vào tháng 8 (30,70C), thấp nhất vào tháng 2 (23,40) Tổng tích ôn trung bình năm là 99000C
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1.750 mm, phân bố không đều theo mùa Lượng mưa vào các tháng mùa mưa chiếm tới 80% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 9,10, và 11 Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 20% thời kỳ khô hạn nhất là vào các tháng 4, 5, 6, và 7
Nắng: Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm khoảng 2.331 giờ, phân bố không đều giữa các tháng trong năm Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 5 (273 giờ), tháng thấp nhất là tháng 12 (107 giờ)
Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi hàng năm tương đối ổn định, ít biến động Lượng bốc hơi các tháng mùa khô thường giao động từ 100 - 140 mm, các tháng mùa mưa từ 60 - 90 mm Lượng bốc hơi bình quân ngày mùa mưa đạt 2,5 mm, mùa khô 4,22 mm
Độ ẩm không khí trung bình 76% - 85% biến đổi theo mùa và theo gió mùa Các tháng mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 4) độ ẩm không khí khoảng 80%, các tháng mùa mưa (tháng 6 đến tháng 11) khoảng 85%
Gió: Có 2 hướng gió chính là gió Đông, Đông Bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Gió Tây, Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 11 An Nhơn nằm trong khu vực
ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, tuy nhiên vào đầu mùa mưa có thể xuất hiện gió lốc, hay giông mạnh làm ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân
Trang 403.1.1.5 Tài nguyên nước
Nguồn nước ngọt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của huyện là nước mưa tại chỗ và nguồn bổ sung từ sông Kôn và nguồn nước ngầm Trữ lượng nước có khả năng đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dân sinh
- Nguồn nước mặt: Nguồn nước từ sông Kôn và hồ Núi Một được dẫn qua hệ
thống kênh, rạch là nguồn nước mặt chủ yếu, quan trọng phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, tuy nhiên do lưu vực các sông trên địa bàn huyện An Nhơn hẹp do vậy vào mùa khô lượng nước các sông xuống thấp gây thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Chất lượng nước mặt (sông, rạch, ao, hồ) cũng diễn biến theo mùa Ngoài ra lượng mưa hàng năm cũng là nguồn nước ngọt chính vô cùng quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống
- Nguồn nước ngầm: Chưa có số liệu đánh giá cụ thể trữ lượng nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện An Nhơn tuy nhiên theo khảo sát sơ bộ của tỉnh Bình Định, huyện An Nhơn nằm trong khu vực triển vọng có trữ lượng nước ngầm khá dồi dào, chất lượng tốt, có thể khai thác cho sản xuất và sinh hoạt ở độ sâu trung bình 20 m Hiện tại đã có 9 giếng dọc sông Tân An cung cấp nước cho thành phố Quy Nhơn, về lâu dài có khả năng cung cấp nước cho An Nhơn và các vùng lân cận khác
Nhìn chung, An Nhơn có trữ lượng nước dồi dào, tuy nhiên phân bố không đều theo mùa, mùa mưa lượng nước các sông lớn gây hiện tượng lũ lụt, mùa khô nước các sông cạn kiệt gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt
- Nguyễn Nhạc thời Tây Sơn và tỉnh lỵ thời Nhà Nguyễn nên còn lưu lại nhiều di tích lịch sử có giá trị; đặc biệt là tháp Cánh Tiên (xã Nhơn Hậu), tháp Phú Lốc (xã Nhơn Thành), Khu lò gốm cổ Gò Sành (Nhơn Hòa), thành Hoàng Đế (xã Nhơn Hậu), thành Bình Định (thị trấn Bình Định) An Nhơn còn có Chùa Thập Tháp (xã Nhơn Thành) – một ngôi chùa cổ được xây dựng cách đây hơn 300 năm
Ngoài ra với đặc điểm nhiều làng nghề truyền thống (khoảng 20 làng nghề - xem bảng sau đây) Các làng nghề này tập trung xung quanh khu vực thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế ngày xưa trong vòng bán kính chừng 10 km, có cảnh quan đẹp với đồng ruộng, vườn dừa, lũy tre xanh… mang đậm chất nông thôn đồng bằng Ngoài ra,
An Nhơn còn có các làng trồng cây cảnh như Háo Đức, Vĩnh Liêm Với nhiều di tích lịch sử và làng nghề truyền thống, An Nhơn thực sự có tiềm năng du lịch, có thể tham gia là một điểm trong tuyến du lịch Quy Nhơn, An Nhơn và Tây Sơn