1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến giống lúa mt10 trên đất phù sa tại bình định

134 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến giống lúa mt10 trên đất phù sa tại bình định
Tác giả Dương Thị Mùi
Người hướng dẫn TS Nguyễn Văn Đức
Trường học Trường Đại học Nông lâm Huế
Chuyên ngành Nông học
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là lượng đạm bón nhiều, thời điểm bón phân chưa hợp lý dẫn đến cây lúa thường bị đổ ngã, sâu bệnh nhiều đã làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng....Vì vậy, ngoài các biện ph

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Dương Thị Mùi

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để đề tài được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Giáo viên hướng dẫn, của các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với TS Nguyễn Văn Đức về những góp ý quý báu cho hướng tiếp cận và nội dung của luận văn

Tôi xin cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Nông học, Phòng Sau Đại học - Trường Đại học Nông lâm Huế đã giúp đỡ tôi rất nhiều cho việc hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ, TS Nguyễn Thị Lợi - tác giả của giống lúa MT 10 và các bạn đồng nghiệp

đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn sớm được hoàn thành

Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, bạn đọc và xin trân trọng cảm ơn

Tác giả luận văn

Dương Thị Mùi

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

TÓM TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

2.1 Mục đích của đề tài 2

2.2.Yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Nguồn gốc, vai trò và vị trí của cây lúa 4

1.1.2 Những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón và mật độ trên lúa 7

1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 23

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 23

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa và xuất khẩu gạo ở Việt Nam 26

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa tại Bình Định 33

1.2.4 Vấn đề thực tiễn của đề tài ở địa phương 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tương nghiên cứu 36

Trang 4

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 36

2.2 Nội dung nghiên cứu 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 36

2.3.2 Các biện pháp kỹ thuật 38

2.3.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 Một số tính chất lý hóa tính của đất trước và sau khi thí nghiệm 45

3.2 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến thời gian sinh trưởng của giống lúa MT 10 46

3.3 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến chiều cao cây của giống lúa MT10 49

3.4 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến động thái đẻ nhánh của giống lúa MT 10 54

3.5 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa MT 10 60

3.6 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến lượng chất khô tích luỹ của giống lúa MT 10 64

3.7 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến khả năng chống đổ ngã và sâu bệnh của giống lúa MT 10 68

3.8 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lúa MT 10 73

3.9 Hiệu quả kinh tế của sử dụng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến giống lúa MT 10 80

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 84

4.1 Kết luận 84

4.2 Đề nghị 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 5

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 14

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong một số thập kỷ gần đây 23

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa các khu vực trên thế giới năm 2013 24

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lúa một số nước của Châu Á năm 2013 25

Bảng 1.5 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam qua các thời kỳ 28

Bảng 1.6 Sản lượng và giá trị gạo xuất khẩu Việt Nam qua các thời kỳ 31

Bảng 1.7 Tình hình sản xuất lúa ở Bình Định qua các năm gần đây 34

Bảng 2.1 Diễn biến thời tiết khí hậu trong 2 vụ thí nghiệm 43

Bảng 3.1 Một số tính chất lý hóa tính của đất trước và sau khi thí nghiệm 45

Bảng 3.2 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đếnthời gian sinh trưởng của giống lúa MT 10 (ngày) 47

Bảng 3.3 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến chiều cao cây của giống lúa MT 10 vụ Hè Thu năm 2014 50

Bảng 3.4: Ảnh hưởng liều lượng giống sạ và lượng đạm bón đến chiều cao cây của giống lúa MT 10 Đông Xuân năm 2014 - 2015 52

Bảng 3.5 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến động thái đẻ nhánh của giống lúa MT 10 vụ Hè Thu năm 2014 55

Bảng 3.6 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến động thái đẻ nhánh của giống lúa MT 10 vụ Đông Xuân năm 2014 - 2015 57

Bảng 3.7 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa MT 10 61

Bảng 3.8 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến lượng chất khô tích lũy của giống lúa MT 10 65

Bảng 3.9 Ảnh hưởng lượng đạm bón và lượng giống sạ đếnkhả năng chống đổ ngã và sâu bệnh của giống lúa MT 10 70

Bảng 3.10 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến các yếu tốcấu thành năng suất và năng suất giống lúa MT 10 vụ Hè Thu 2014 74

Bảng 3.11 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lúa MT 10 vụ Đông Xuân 2014 - 2015 75

Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế liều lượng đạm bón và lượng giống sạđến giống lúa MT 10 81

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Biểu diễn diện tích canh tác lúa ở Việt Nam 1970-2014 28

Hình 1.2 Biểu diễn năng suất lúa ở Việt Nam 1970-2014 29

Hình 1.3 Biểu diễn sản lượng lúa ở Việt Nam 1970-2013 30

Hình 1.4 Biểu diễn sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam 1989-2014 31

Hình 1.5 Biểu diễn tổng giá trị gạo xuất khẩu của Việt Nam 1989-2014 32

Hình 3.1 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa MT 10 vụ Hè Thu năm 2014 51

Hình 3.2 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến chiều cao cây của giống lúa MT 10 Đông Xuân năm 2014 – 2015 53

Hình 3.3 Ảnh hưởng liều lượng giống sạ và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của giống lúa MT 10 vụ Hè Thu năm 2014 56

Hình 3.4 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến động thái đẻ nhánh của giống lúa MT 10 vụ Đông Xuân năm 2014 – 2015 58

Hình 3.5 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến nhánh hữu hiệu của giống lúa MT 10 59

Hình 3.6 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa MT 10 vụ Hè Thu 2014 62

Hình 3.7 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ bón đếnchỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa MT 10 vụ Đông Xuân 2014 – 2015 63

Hình 3.8 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ bón đến lượng chất khô tích lũy của giống lúa MT 10 vụ Hè Thu 2014 66

Hình 3.9 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến lượng chất khô tích lũy của giống lúa MT 10 vụ Đông Xuân 2014 – 2015 66

Hình 3.10 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đếnnăng suất của giống lúa MT 10 vụ Hè Thu 2014 78

Hình 3.11 Ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đếnnăng suất của giống lúa MT 10 vụ Đông Xuân 2014 – 2015 79

Trang 8

TÓM TẮT

Ở nước ta nghề trồng lúa nước đã có từ rất lâu và năng suất lúa ngày càng tăng một phần là do sự góp phần quan trọng của công tác chọn giống lúa, bằng phương pháp cổ truyền, chọn lọc theo kiểu phả hệ, lai hữu tính, ứng dụng công nghệ sinh học như tạo biến dị, nuôi cấy mô, biến đổi gen Nhờ chính sách đổi mới và khoa học kỹ thuật trong công tác lai tạo, chọn lọc giống lúa ở các viện, trường, trung tâm và cá nhân trong cả nước, qua nhiều năm đã tạo ra rất nhiều giống lúa có năng suất cao, ngắn ngày thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở từng địa phương Giống lúa MT10 do TS Trần Thị Lợi – Viện KHKT Nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu thực tiển của các địa phương về thời gian sinh trưởng, năng suất và tính chống chịu

Hiện nay, tập quán sản xuất lúa của nông dân còn mang tính truyền thống là sạ dày, bón nhiều phân đạm dẫn đến cây lúa thường hay bị đổ ngã, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng Do đó,

đề tài thực hiện nhằm mục tiêu xác định liều lượng đạm bón và lượng giống sạ thích hợp để cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt và làm tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè Thu 2014 và vụ Đông Xuân 2014 –

2015 tại phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn ô nhỏ (Split – plot Design), ba lần nhắc lại, bao gồm các nghiệm thức: gieo sạ với lượng giống 80 kg/ha, 100 kg/ha, 120 kg/ha, 140 kg/ha; liều lượng đạm bón với mức 80 kgN/ha, 100 kgN/ha, 120 kgN/ha, 140 kgN/ha

Kết quả thí nghiệm cho thấy: Đất Phù sa tại Bình Định là loại đất có độ phì nhiêu khá thích hợp cho trồng lúa nhưng cần tăng cường tỷ lệ kali trong cơ cấu phân bón Giống lúa MT 10, ở vụ Hè Thu thuộc nhóm chín sớm – ngắn ngày (91 – 95 ngày), ở vụ Đông Xuân thuộc nhóm chín trung bình – trung ngày (105-110 ngày) Liều lượng đạm bón và lượng giống sạ khác nhau có ảnh hưởng đến chiều cao cây, khả năng đẻ nhánh, chỉ số diện tích lá, lượng chất khô và khả năng chống chịu là khác nhau Trong cả 2 vụ thí nghiệm, năng suất thực thu cao nhất là công thức S2N3 (100 kg giống/ha + 120 kg đạm/ha) với 74,41 tạ/ha vụ Hè Thu, 78,14 tạ/ha vụ Đông Xuân cao hơn các công thức khác và đạt thấp nhất ở công thức S1N1 (80 kg giống/ha + 80 kg đạm/ha) với 54,60 tạ/ha vụ Hè Thu, 56,57 tạ/ha vụ Đông Xuân) Hiệu quả kinh tế trên một hecta đạt cao nhất ở công thức S2N3 (lãi thuần vụ Hè Thu là 24.785.170 đồng, vụ Đông Xuân là 26.461.566 đồng) Chính vì vậy, đối với giống MT 10 đất Phù sa tại Bình Định có thể khuyến cáo áp dụng rộng rãi lượng giống gieo 100 kg/ha và lượng

bón đạm 120 kgN/ha

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới

Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực nuôi sống phần đông dân số thế giới, đồng thời

có vai trò quan trọng trong công nghiệp chế biến và ngành chăn nuôi

Việt Nam là nước có truyền thống canh tác lúa nước từ lâu đời với diện tích trồng lúa khá lớn, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nghề trồng lúa ở nước

ta đã có nhiều thay đổi tích cực Theo số liệu của Niên giam thống kê Việt Nam, năm

2014 tổng diện tích gieo trồng lúa cả nước hơn 7,8 triệu ha, giảm 96,8 ngàn ha so với năm 2013, nhưng do năng suất đạt 57,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha, nên sản lượng lúa cả nước đạt 44,975 triệu tấn, tăng 93,6 vạn tấn so với năm 2013 [25]

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt khi nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngoài việc nâng cao năng suất cây trồng, còn phải chú trọng đến chất lượng sản phẩm Những năm gần đây,

an ninh lương thực của Việt Nam tương đối ổn định và trở thành một trong các nước xuất khẩu gạo có vị trị đứng trên thế giới

Để đạt được những thành tựu như trên, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng trong sản xuất lúa ở nước ta trong đó nổi bật là công tác chọn tạo giống Đã có nhiều giống lúa mới ra đời cho năng suất và chất lượng tốt, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái và đủ tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu

Sản xuất lúa tại các tỉnh Duyên hải miền Trung đang đối mặt với sự biến đổi khí hậu và sâu bệnh, nhất là rầy nâu Việc đưa giống lúa thuần mới vào sản xuất có năng suất cao, chất lượng khá, khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi để thay thế những giống đã thoái hóa và những giống lúa lai có giá đắt là yêu cầu cấp thiết

Giống lúa MT10 là giống lúa thuần ngắn ngày do TS Trần Thị Lợi – Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ, chọn tạo bằng phương pháp gây đột biến từ giống lúa ĐB6 Giống lúa MT 10 được Cục trồng trọt – Bộ nông nghiệp PTNT công nhận giống cây trồng mới theo Quyết định số 109 ngày 04/04/2014 Đây

là giống có thời gian sinh trưởng vụ Hè Thu 90-95 ngày, vụ Đông Xuân 100-115 ngày, dạng hình gọn, đẻ nhánh trung bình, chịu thâm canh (có thể đạt 85 tạ/ha), phù hợp với nhiều chân đất, cứng cây chống đổ ngã tốt, kháng được sâu bệnh, đặc biệt đối với rầy nâu và đạo ôn, chịu nóng và chịu lạnh tốt, thích ứng với nhiều vùng sinh thái và dễ canh tác

Theo kết quả đánh giá đất của Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Trung (thuộc viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bình Định là 602.555 ha Trong

Trang 10

đó, diện tích đất phù sa là 63.756 ha, chiếm 10,58% diện tích tự nhiên của tỉnh Nơi có diện tích nhiều nhất là Thị xã An Nhơn 12.133 ha, rồi đến Hoài Nhơn 9.455 ha, Tuy Phước 9.041 ha, Hoài Ân 8.351 ha, Phù Mỹ 8.796 ha… Đặc điểm chính của đất phù

sa ở Bình Định chủ yếu được hình thành do sự bồi đắp của các sông chính như: Sông Kôn, sông Lại Giang, sông Hà Thanh và sông La Xiêm Đất phù sa có phản ứng chua vừa (pH 4,5 - 5,5), hàm lượng mùn, đạm, lân và kali tổng số trung bình Tổng số cation kiềm trao đổi từ trung bình đến khá, dung tích hấp thu trung bình Đây là nhóm đất quý đối với sản xuất nông nghiệp ở Bình Định và rất phù hợp cho cây lúa Vì vậy các huyện trên là vùng sản xuất lúa chính của tỉnh Bình Định

Thực tế trong sản xuất nhiều năm qua người nông dân có thói quen và quan niệm lấy lượng bù chất Bên cạnh đó, bà con chưa chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nên thường gieo với mật độ dày, sử dụng phân bón không cân đối Đặc biệt là lượng đạm bón nhiều, thời điểm bón phân chưa hợp lý dẫn đến cây lúa thường

bị đổ ngã, sâu bệnh nhiều đã làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng Vì vậy, ngoài các biện pháp kỹ thuật như bố trí thời vụ, kỹ thuật làm đất, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh thì xác định lượng giống gieo trồng và lượng đạm bón, cách bón là một biện pháp kỹ thuật quan trọng cần được nghiên cứu và áp dụng nhằm làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa

Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng liều lượng

đạm bón và lượng giống sạ đến giống lúa MT 10 trên đất Phù sa tại Bình Định”

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

2.2.Yêu cầu của đề tài

- Theo dõi ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến sinh trưởng,

phát triển, tính chống chịu và năng suất của giống lúa MT 10

- Thu thập và phân tích số liệu về sinh trưởng phát triển và năng suất từ đó đánh giá mức độ chênh lệch của các công thức thí nghiệm Tìm ra liều lượng đạm bón và lượng giống sạ phù hợp để khuyến cáo đưa vào sản xuất đối với giống MT 10 trên đất

Phù sa tại Bình Định

Trang 11

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung lý luận cho việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác trên cây lúa và tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu sự ảnh hưởng liều lượng đạm bón và lượng giống sạ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả năng chống chịu, từ đó tìm ra được liều lượng đạm bón và lượng giống sạ thích hợp để khuyến cáo áp dụng vào sản xuất đối với giống lúa

MT 10 tại Bình Định và các tỉnh khác

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nguồn gốc, vai trò và vị trí của cây lúa

1.1.1.1 Nguồn gốc của cây lúa

Cây lúa trồng hiện nay đã trải qua một lịch sử tiến hóa rất lâu dài và khá phức tạp, với nhiều thay đổi rất lớn về đặc điểm hình thái, nông học, sinh lý và sinh thái để thích nghi với điều kiện khác nhau của môi trường thay đổi theo không gian và thời gian Sự tiến hoá này bị ảnh hưởng rất lớn bởi hai tiến trình chọn lọc: chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo Hiểu biết về nguồn gốc cây lúa trồng, giúp ta hình dung được quá trình tiến hóa và hiểu được điều kiện môi trường cùng những yêu cầu sinh thái tự nhiên mà cây lúa cần cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển đặc biệt của nó Điều này sẽ rất cần thiết cho công cuộc nghiên cứu cải tiến giống và biện pháp kỹ

thuật để gia tăng năng suất lúa

Về nguồn gốc cây lúa, đã có nhiều tác giả đề cập tới nhưng cho tới nay vẫn chưa có những dữ liệu chắc chắn và thống nhất Cây lúa là một trong những cây trồng

có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử phát triển của nhân dân các

nước Châu Á

* Về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa:

Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, di tích khảo cổ tại Trung Quốc, Ấn Độ cây lúa đã có mặt cách đây từ 2000 – 3000 năm Với đặc điểm sinh thái học của cây lúa trồng và sự hiện diện rộng rãi của các loài lúa hoang dại trong khu vực, nhiều người đồng ý rằng nguồn gốc cây lúa là ở vùng đầm lầy Đông Nam Á, rồi từ đó lan dần đi các nơi Thêm vào đó, sự kiện thực tế là cây lúa và nghề trồng lúa đã có từ rất lâu ở vùng này, lịch sử và đời sống của các dân tộc Đông Nam Á lại gắn liền với lúa gạo đã minh chứng nguồn gốc của lúa trồng [7] Một số tác giả đã nghiên cứu như:

Makkey cho rằng vết tích cây lúa cổ xưa nhất được tìm thấy trên các di chỉ đào được ở vùng Penjab Ấn Độ, có lẽ của các bộ lạc sống ở vùng này cách đây khoảng

Trang 13

Chowdhury và Ghosh thì cho rằng những hạt thóc hóa thạch cổ nhất của thế giới đã được tìm thấy ở Hasthinapur (Bang Uttar Pradesh - Ấn Độ) vào khoảng năm

1000 – 750 trước Công Nguyên, tức cách nay hơn 2.500 năm

Theo Grist D.H cây lúa xuất phát từ Đông Nam Á, từ đó lan dần lên phía Bắc Gutchtchin, Ghose, Erughin và nhiều tác giả khác thì cho rằng Đông Dương là cái nôi của lúa trồng De Candolle, Rojevich lại quan niệm rằng Ấn Độ mới là nơi xuất phát chính của lúa trồng Đinh Dĩnh (Trung Quốc) dựa vào lịch sử phát triển lúa hoang ở trong nước cho rằng lúa trồng có xuất xứ ở Trung Quốc Một số nhà nghiên cứu Việt Nam lại cho rằng nguồn gốc cây lúa là ở Miền Nam nước ta và Campuchia

Chang (1976), nhà di truyền học cây lúa của Viện Nghiên Cứu lúa Quốc Tế (IRRI), đã tổng kết nhiều tài liệu khác nhau và cho rằng việc thuần hóa lúa trồng có thể đã được tiến hành một cách độc lập cùng một lúc ở nhiều nơi, dọc theo vành đai trải dài từ đồng bằng sông Ganges dưới chân phía đông của dãy núi Hy-Mã-Lạp-Sơn (Himalayas - Ấn Độ), ngang qua Bắc Miến Điện, Bắc Thái Lan, Lào và Việt Nam, đến Tây Nam và Nam Trung Quốc

* Về nguồn gốc thực vật:

Cây lúa thuộc họ Hòa thảo (Gramineae), Chi Oryza Có nhiều loài, trong đó có

hai loài lúa trồng hiện nay là Oryza sativa L và Oryza glaberrima Steud Loài Oryza sativa L phổ biến trồng ở Châu Á, chiếm đa số diện tích trồng lúa, có nhiều đặc điểm giống tốt và cho năng suất cao Còn loài Oryza glaberrima Steud hạt nhỏ, năng xuất

thấp, mà xuất xứ của nó còn có nhiều nghi vấn

Watt (1892) (theo Oka, 1964) cho rằng tổ tiên của Oryza sativa L là loài lúa hoang phổ biến Oryza sativa f spontanea, và suy luận rằng các giống lúa có hạt trắng không râu đến từ “var rufipogon” của lúa hoang, các giống lúa ở vùng nước sâu và vùng mặn là từ “var coarctata”, vài giống “Aus” và “Aman” (Indonesia) là từ “var bengaliensis” và các giống lúa có chất lượng cao thơm là từ “var abuensis” [7]

Sampath và Rao (1951) cho rằng O perennis Moench (kể cả O longistaminata)

là tổ tiên của cả 2 loài lúa trồng Oryza sativa và Oryza glaberrima

Đinh Văn Lữ (1978), Bùi Huy Đáp (1980) cho rằng Oryza fatua có khả năng là

tổ tiên trực tiếp của lúa trồng hiện nay Sampath (1962) và Oka (1964) xem Oryza perennis Moench, là tổ tiên chung của cả 2 loài lúa trồng ở Châu Á và Châu Phi

Porteres (1956) cho rằng tổ tiên chung của lúa trồng là một loại hình lúa nổi có thể sinh sản bằng căn hành (thân ngầm) nhưng không cho biết tên nó là gì Sharma và

Shastry (1965) thì cho rằng Oryza nivara, một loài lúa hoang hằng niên ở vùng trung

tâm Ấn Độ là tổ tiên trực tiếp của loài lúa trồng Châu Á [7]

Trang 14

Chang (1976) đã tổng kết nhiều tư liệu nghiên cứu và đưa ra cơ sở tiến hóa của các loài lúa trồng hiện nay ở Châu Á và Châu Phi Theo ông, cả 2 loài lúa trồng đều có chung một thủy tổ, do quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên lâu đời, đã phân hóa thành 2 nhóm thích nghi với điều kiện ở 2 vùng địa lý xa rời nhau là Nam – Đông

Nam Châu Á và Châu Phi nhiệt đới Oryza sativa L tiêu biểu nhóm lúa trồng Châu Á

có tổ tiên trực tiếp là Oryza nivara, một loài lúa hoang hằng niên Oryza glaberrima Steud cũng tiến hoá từ một loài lúa hoang hằng niên khác, thường gọi là Oryza breviligulata Chev et Poehr hoặc là Oryza barthii A Chev Hai loài cỏ hằng niên O spontanea và O stapfii cũng có thể lai tạp với các loài lúa hoang tổ tiên để cho ra các

loài lúa trồng tương ứng Hiện nay, nhiều người tỏ ra đồng ý với quan điểm và giả thuyết này Oka (1964) cũng cho 1 sơ đồ tương tự, nhưng cho rằng loài trung gian là

O perennis thay vì O rufipogon và O Longistaminata [7]

1.1.1.2 Vai trò và vị trí của cây lúa

Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới gồm lúa, lúa mì và ngô Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, có 25% dân

số sử dụng trên ½ khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng đến ít nhất 65% dân số trên thế giới

Lúa gạo giữ vai trò thiết yếu trong tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của những người ăn cơm gạo hàng ngày Trong gạo chứa 80% tinh bột, 7,5% protein, 12%

là nước còn lại là các vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể như các vitamin nhóm B (B1, B2, B6), vitamin PP, vitamin E…Hạt gạo là loại thức ăn dễ tiêu hoá và cung cấp loại protein tốt nhất cho cơ thể con người [7]

Lượng lúa được sản xuất ra và mức tiêu thụ gạo cao tập trung ở khu vực Châu

Á Năm 1980, chỉ riêng ở Châu Á đã có hơn 1,5 tỷ dân sống nhờ lúa gạo, chiếm trên 2/3 dân số Châu Á Con số này theo ước đoán đã tăng lên gần gấp đôi Đặc biệt đối với dân nghèo, lúa gạo là nguồn năng lượng chính cho cuộc sống hàng ngày của họ

Theo số liệu của FAO, tổng nhu cầu tiêu thụ gạo trung bình hằng năm của cả thế giới ước từ 410 triệu tấn (2004-2005), đã tăng lên đến khoảng 424,5 triệu tấn (2007), trong khi tổng lượng gạo sản xuất của cả thế giới luôn thấp hơn nhu cầu này Ở Việt Nam hiện nay mức tiêu thụ gạo bình quân vẫn còn ở mức cao, khoảng 120 kg/người/năm, trong khi đó các nước Âu - Mỹ khoảng 10 kg/người/năm [7]

Ngoài cơm ra, gạo còn dùng để chế biến nhiều loại bánh, làm môi trường để nuôi cấy niêm khuẩn, men, cơm mẻ,….Gạo còn dùng để cất rượu, cồn,….Người ta không thể nào kể hết công dụng của nó

Cám hay đúng hơn là các lớp vỏ ngoài của hạt gạo do chứa nhiều protein, chất béo, chất khoáng, vitamin nhất là vitamin nhóm B, nên được dùng làm bột dinh dưỡng

Trang 15

trẻ em và điều trị người bị bệnh phù thũng Cám là thành phần cơ bản trong thức ăn gia súc, gia cầm và triết lấy dầu ăn…

Trấu ngoài công dụng làm chất đốt, chất độn chuồng còn dùng làm ván ép, vật liệu cách nhiệt, cách âm, chế tạo carbon và silic…

Đối với một số quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar), Ấn

Độ thì lúa gạo chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, không phải chỉ

là nguồn lương thực mà còn là nguồn thu ngoại tệ để đổi lấy thiết bị, vật tư cần thiết cho sự phát triển của đất nước

1.1.2 Những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón và mật độ trên lúa

Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta có những bước nhảy vọt, từ một nước thiếu lương thực trầm trọng đã vươn lên sản xuất đủ nhu cầu lương thực đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan Diện tích trồng lúa hầu như không tăng mà có

xu hướng giảm dần, do đô thị hóa và chuyển sang đất chuyên dùng Nhưng sản lượng không ngừng tăng lên từ 35,8 tấn năm 2005, năm 2009 sản lượng lúa nước đạt 39 triệu tấn, năm 2014 sản lượng lúa là gần 44,975 triệu tấn Lượng gạo xuất khẩu đạt cao nhất

là năm 2012 với 7,72 triệu tấn [25]

Các yếu tố kỹ thuật như giống, phân bón, thủy lợi … là tiền đề tạo nên năng suất và phẩm chất Bên cạnh đó, phương pháp thâm canh đã làm thay đổi cấu trúc quần thể của cây lúa như:

Cây lúa sinh trưởng và phát triển cần một lượng dinh dưỡng nhất định, đặc biệt

là phân đạm Lượng dinh dưỡng này một phần có sẵn ở trong đất, phần lớn còn lại là

do con người cung cấp hợp lý sẽ làm cho cây lúa sinh trưởng tốt đạt năng suất cao

Nguyễn Như Hà (1999) [12], đạm có vai trò quan trọng trong việc phát triển bộ

rễ, thân, lá, chiều cao cây và đẻ nhánh của cây lúa Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa đẻ nhánh nhanh lại tập trung, tạo được nhiều dảnh hữu hiệu, là yếu tố cấu thành năng suất có vai trò quan trọng đối với năng suất lúa Đạm có vai trò quan trọng trong việc hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất có vai trò quan trọng nhất đối với số hạt/bông, khối lượng nghìn hạt, tỉ lệ hạt chắc Lượng đạm cần thiết để tạo ra một tấn thóc là 17-25kg, trung bình cần 22,2kg N Ở các mức năng suất cao lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc càng cao

Trong các giai đoạn sinh trưởng, phát triển thì bắt đầu từ đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ hàm lượng N trong thân lá luôn cao sau đó giảm dần Tuy nhiên, thời kỳ hút đạm mạnh nhất quan sát thấy ở lúa lại là từ đẻ nhánh rộ đến làm đòng, mỗi ngày lúa lại hút 3,52 kgN/ha chiếm 34,68% tổng lượng hút, tiếp đến là giai đoạn bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, mỗi ngày cây hút từ 2,74 kgN/ha chiếm 26, 82% tổng lượng hút Ở giai đoạn cuối, tuy lúa hút đạm không mạnh như giai đoạn đầu song giữ một tỷ lệ đạm

Trang 16

cao và sức hút đạm rất có lợi cho quang hợp tích lũy chất khô vào hạt, vì thế một lượng đạm nhất định cần được bón vào giai đoạn cuối (khoảng 20 ngày trước trỗ) là rất quan trọng

Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Nếu giai đoạn đẻ nhánh thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít Nếu không đủ cây lúa sinh trưởng chậm, thân thấp, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá sớm chuyển thành màu vàng, đòng nhỏ, từ đó làm năng suất giảm Nếu bón thừa đạm lại làm cho cây lúa

có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ, đẻ nhánh vô hiệu nhiều, ngoài

ra chiều cao cây phát triển mạnh, trỗ muộn, năng suất giảm [6]

Quan hệ giữa năng suất cá thể (khóm lúa, bông lúa) với năng suất quần thể ruộng lúa là rất chặt chẽ Mật độ cấy là số cây, số khóm trên một đơn vị diện tích với lúa cấy đo bằng số khóm/m2, với lúa gieo thẳng mật độ được đo bằng số hạt mọc/m2 Theo Nguyễn Văn Hoan (1995) [15] thì trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít Tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, vì thế cấy quá dày sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy mật độ quá thưa đối với các giống có thời gian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không đạt được số bông tối ưu Vì vậy, khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt

thóc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy

Khi nghiên cứu về mật độ, cách cấy của ruộng lúa năng suất, tác giả Đào Thế Tuấn (1970) [32] cho biết: mật độ là một trong những biện pháp ảnh hưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyết định diện tích lá và sự cấu tạo quần thể, đến chế độ ánh

sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa mạnh mẽ nhất

Quần thể lúa có quy luật tự điều tiết giữa các cá thể và quần thể nhưng quy luật

đó không đúng trong mọi trường hợp cấy quá dày hay quá thưa Mật độ cấy thích hợp được xác định tùy thuộc chủ yếu vào đặc điểm của giống, đất đai, phân bón và mùa vụ

Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh kéo dài, hạn chế nhánh

vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng Gieo dày các cây còn cạnh tranh về dinh dưỡng, ánh sáng, cây lúa sẽ vươn cao, lá nhiều rậm rạp ảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khả năng chống chịu kém và năng suất cuối cùng không cao Hạt chín không đều, mầm mống sâu bệnh trên hạt có thể tăng do độ

ẩm hạt tăng nhanh chóng trong quá trình bảo quản… ảnh hưởng không nhỏ tới chất

lượng hạt giống

Theo Bùi Huy Đáp (1999) [5], đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối về nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ, nhưng tỷ lệ nhánh hữu hiệu giữa các mật độ lại không thay đổi nhiều Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho

Trang 17

năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới hình thành bông

Nhận xét về mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, Bùi Huy Đáp (1980) [6], cho rằng sự đẻ nhánh của lúa có quan hệ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài Ngược lại diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn Cấy dày ở mật độ cao lúa sẽ không

đẻ nhánh và một số cây mẹ sẽ lụi dần Với lúa khi cấy ở mật độ thưa, mỗi cây sẽ có lượng dinh dưỡng lớn hơn, khả năng hút đạm và cung cấp cho hạt cao hơn nên đã làm

tăng lượng protein trong hạt của lúa nhưng lại làm giảm lượng lipid trong hạt

Mật độ trồng thích hợp, quần thể lúa sẽ sử dụng tốt nước và dinh dưỡng để tạo

ra năng suất cao nhất, mật độ sản xuất giống đảm bảo tạo ra 400-500 bông/m2, có nghĩa là 70-100 cây mạ/m2 là tốt nhất Mật độ thưa sẽ tăng khả năng đẻ nhánh và có thể gây ra biến động lớn về độ chín đồng đều của các bông ảnh hưởng tới chất lượng hạt giống, mật độ thưa làm tăng cỏ dại cũng làm giảm chất lượng hạt giống Mật độ trồng quá cao làm giảm năng suất và chất lượng hạt giống vì cạnh tranh nước và dinh dưỡng, che khuất lẫn nhau, dễ đổ và giảm kích thước hạt

1.1.2.1 Những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón

Cây lúa, muốn có năng suất cao đều cần nguồn dinh dưỡng rất lớn Theo GS-TS Mai Văn Quyền (2002) [27], tổng kết kinh nghiệm trên 60 thí nghiệm khác nhau ở 40 nước có khí hậu khác nhau đã cho thấy: Nếu đạt năng suất 3 tấn thóc/ha, lúa lấy đi hết 50kg N, 26kg P2O5, 80kg K2O, 100kg Ca, 6kg Mg, 5 kg S Và nếu ruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg N, 50kg P2O5, 160kg K2O,

192 kg Ca, 12kg Mg, 10 kg S Trung bình cứ tạo ra 1 tấn thóc cây lúa lấy đi hết 17kg

N, 8kg P2O5, 27kg K2O, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S (Nguồn FIAC, do FAO Rome dẫn trong Fertilizes and Their use lần thứ 5)

Đối với sản xuất nông nghiệp, phân bón đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử dụng phân bón vô

cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ Đặc biệt trong những năm gần đây, có rất nhiều giống lúa mới được đưa vào sử dụng, có khả năng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng tăng năng suất Đối với cây lúa, đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất, nó giữ vai trò quyết định trong việc tăng năng suất

Theo Bùi Huy Đáp thì đạm là dinh dưỡng chủ yếu của lúa Nó ảnh hưởng nhiều đến năng suất thu hoạch vì chỉ khi có đủ đạm các chất khác mới phát huy tác dụng

Yoshida (1985) [26] đã nói: Đạm là yếu tố quan trọng đối với lúa, nếu như không bón đạm thì ở đâu cũng thiếu đạm Điều này rất phù hợp với thực tiễn sản xuất

ở Việt Nam

Trang 18

Khi nghiên cứu về vai trò của đạm đối với cây trồng nói chung, với cây lúa nói riêng, nhiều tác giả đã chỉ rõ: Đạm tham gia cấu tạo nên cơ thể thực vật, đạm có trong Protein, đạm điều tiết các hoạt động sống của cây, tham gia vào các chất kích thích sinh trưởng như các Xytokinin và Vitamin Đạm có hoạt tính sinh học cao, làm tăng hay giảm các hoạt động sinh lý của cây Người ta còn thấy đạm có trong các enzim xúc tiến các quá trình biến đổi sinh hóa trong cơ thể cây Đặc biệt đạm có mặt trong diệp lục tố, vì thế lúa được bón đạm sẽ khác hẳn như: lá to, dài, xanh, quang hợp tốt,

đẻ nhiều Nếu thiếu đạm lá vàng, nhỏ, đẻ ít, bông nhỏ, nhưng nếu quá nhiều đạm lúa

sẽ lốp đổ, sâu bệnh nhiều, hạt lép (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [20]

Mutara (1965); Phạm Văn Cường và cs, 2003 [38], cho thấy ảnh hưởng của đạm đến quang hợp thông qua hàm lượng diệp lục có trong lá Nếu bón lượng đạm cao thì cường độ quang hợp ít bị ảnh hưởng mặc dù điều kiện ánh sáng yếu

Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho thấy các hoạt động sinh lý của cây lúa thay đổi qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau Cường độ hoạt động của chúng phụ thuộc vào hàm lượng đạm có trong đất và sự hoạt động tích cực của bộ rễ

Đạm có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trưởng và tác dụng rõ rệt nhất của đạm đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số nhánh đẻ Tuy nhiên, hiệu suất quang hợp và hiệu suất nhánh đẻ hữu hiệu có ngưỡng nhất định nên khi sử dụng đạm cần phải chú ý điều chỉnh lượng bón và thời điểm bón đạm cho cây lúa Cây lúa hút đạm nhiều nhất vào hai thời kỳ: thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng

Khi tìm hiểu hiệu suất phân đạm đối với lúa, Iruka (1963), Yoshida (1985) [26] đánh giá rằng: Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón đạm lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần, với liều lượng thấp thì bón đạm vào lúc lúa đẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày Năm 1973, Xiniura và Chiba [14] đã thí nghiệm khá công phu là bón đạm theo 9 cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng phát triển và mỗi lần bón với 7 mức đạm khác nhau, hai tác giả đã có những kết luận:

- Hiệu suất của đạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ít

- Có 2 đỉnh cao về hiệu suất, đỉnh cao thứ nhất xuất hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, đỉnh cao thứ hai xuất hiện ở 19 đến 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ hai

Hai tác giả đã đề nghị: Nếu lượng đạm ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ Khi lượng đạm trung bình thì bón 2 lần lúc lúa con gái và 20 ngày trước trỗ Khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái [26]

Viện Nông hóa Thổ nhưỡng cũng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất, mùa vụ và lượng đạm bón vào tỷ lệ đạm cho cây lúa hút

Trang 19

Kết quả nghiên cứu nhiều năm (1985 – 1994) của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả này một lần nữa chứng minh rằng: Trên đất phù sa được bồi đắp hàng năm có bón 60P2O5 và 30K2O làm nền thì khi có bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15,0% lên 48,5% trong vụ Đông Xuân và từ 8,5% lên 35,6% trong vụ Hè Thu Chiều hướng chung của cả 2 vụ là bón đến 90N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức này năng suất lúa không tăng đáng kể (Nguyễn Văn Luật, 2001) [22]

Cần chú ý rằng: Lượng phân đạm bón cho cây lúa chỉ được cây hấp thụ khoảng 40%, trong 60% lượng còn lại thì 40% bị mất đi do bốc hơi, rửa trôi và 20% lưu giữ trong đất có thể một phần được vụ tiếp theo sử dụng Vì vậy, phải có cách bón như thể nào để cho cây lúa hấp thụ được nhiều nhất bằng cách: điều chỉnh lượng đạm bón ở các mùa vụ khác nhau, đối với các chân đất, giống lúa khác nhau và vào thời điểm nào cho thích hợp Việc bón phân đạm đúng lượng sẽ cho hiệu quả cao nhất Lượng phân đạm cần bón còn phụ thuộc vào giá cả, hiệu quả tăng năng suất và tùy theo từng loại giống lúa Việc bón phân đúng lượng sẽ cho thu nhập cao nhất Để sử dụng phân đạm cho lúa một cách có hiệu quả nhất cần áp dụng đồng bộ các yếu tố: Lượng phân và mùa vụ, lượng phân và giống, cách bón và thời điểm bón thì chắc chắn sẽ cho một hiệu quả cao nhất

Nguyễn Như Hà (1999) [12], cho rằng thời kỳ bón đạm ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất lúa Thời kỳ bón đạm phụ thuộc vào đặc điểm giống lúa, mùa vụ thành phần cơ giới đất và trình độ thâm canh Không thể có một hướng dẫn chung về thời kỳ bón đạm cho tất cả các giống, mùa vụ và đất trồng Bón đạm sớm tạo nhiều bông, bón đạm muộn tăng hạt là chủ yếu, bón đạm vào giai đoạn đòng làm tăng tỷ lệ protein trong hạt Thời kỳ bón phân đạm cho lúa thường gồm: bón lót và bón thúc đẻ nhánh, thúc đòng, ngoài ra còn có bón nuôi hạt

* Bón phân lót cho lúa

Trong bón phân cho lúa thường bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân, một phần phân đạm và kali Thường bón lót phân chuồng trong quá trình làm đất, phân lân, phân kali cùng với phân đạm bón trước khi cày bừa lần cuối

Cây hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu và nếu thiếu ở giai đoạn cây con thì cây lúa bị khủng hoảng lân Do vậy, phân lân cần được bón lót toàn

bộ hoặc bón lót và bón thúc sớm Phân lân nên bón rải đều trên bề mặt ruộng trước khi cày bừa lần cuối để gieo cấy

Nên bón nhiều phân kali trong các trường hợp sau: sử dụng giống đẻ nhánh nhiều hay ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ độc sắt, đất có khả năng hấp thu cao hay thiếu kali, mưa nhiều, ngập nước sâu, khí hậu lạnh Trong thực tiễn còn chia tổng lượng kali ra làm nhiều lần để bón thúc Lúa là cây có yêu cầu cung cấp kali vào giai

Trang 20

đoạn rễ lúa ăn nổi trên bề mặt đất - cuối đẻ nhánh đến đầu làm đòng Kali cung cấp từ đất và nước tưới thường giảm đi ở giai đoạn đẻ nhánh của cây lúa

* Bón phân thúc đẻ nhánh

Bón thúc đẻ nhánh cho lúa thường bón bằng phân đạm, kali hay phối hợp thêm với một phần phân lân (nếu còn chưa bón lót hết) Thời gian bón thúc đẻ nhánh vào khoảng 10-25 ngày sau gieo và được chia làm 2 đợt: đợt 1 sau gieo 10-15 ngày khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh và đợt 2 sau gieo 20-25 ngày tương ứng với cây lúa đẻ nhánh rộ Thời gian này bón sớm hay muộn tùy thuộc vào thời gian sinh trưởng của giống, mùa

vụ và điều kiện ngoại cảnh…

Thường dành 2/3 – 4/5 lượng đạm để bón thúc đẻ nhánh nhằm làm cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung, tránh đẻ nhánh lai rai Cần bón thúc đẻ nhánh nhiều đạm cho lúa trong các trường hợp: giống dài ngày hay đẻ nhánh nhiều, mật độ gieo hoặc cấy thưa … Lượng phân kali thường dùng khoảng ½ tổng lượng kali bón cho toàn vụ và bón kết hợp bón thúc đạm đợt 1 nhằm tạo cho cây có khả năng hút đạm cao và cứng cây, phát triển cây cân đối ngay từ giai đoạn đầu

Khi bón thúc ở giai đoạn đẻ nhánh có thể kết hợp với một vài biện pháp cơ giới như: rút nước ra khỏi ruộng, làm cỏ để tránh cây lúa bị nghẹt rễ và làm tăng hiệu lực của phân đạm

* Bón phân thúc đòng

Bón thúc đòng cho lúa thường sử dụng phối hợp phần phân đạm và kali còn lại nhằm tiếp tục cung cấp đạm cho lúa để tạo được bông lúa to, có nhiều hạt chắc, nâng cao hệ số kinh tế cho cây lúa, đạt năng suất cao Bón đòng tốt nhất là bón sau khi phân hóa đòng vào khoảng 40-45 ngày sau khi gieo, cấy Khi bón ít đạm thì bón thúc đòng

là một kỹ thuật quan trọng để nâng cao hiệu suất phân đạm và là thời kỳ bón đạm có hiệu quả nhất Những giống đẻ nhánh ít, bông to, năng suất dựa vào số hạt trên bông thì cần phải chú trọng vào đợt bón đón đòng và nuôi hạt để tạo được bông to, nhiều hạt chắc, đạt năng suất cao

Bón lót càng nhiều lúa sinh trưởng càng tốt thì thời gian bón đón đòng càng muộn và ít Đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng dài cần bón thúc đòng muộn hơn Cần dùng bảng so màu lá lúa đánh giá tình hình sinh trưởng và màu lá trong thời

kỳ đẻ rộ để phán đoán nhu cầu bón thúc đòng

Nên dùng phân kali bón thúc đòng cho lúa trong các trường hợp sau: giống đẻ nhánh từ trung bình đến ít hay giống dài ngày, gieo cấy thưa; đất có điện thế oxy hóa khử rất cao, thành phần cơ giới rất nhẹ, hay trên đất phèn (thiếu lân và ngộ độc sắt), đất kiềm (thiếu kẽm), lân bị đất cố định hay mưa nhiều

* Bón phân nuôi hạt

Trang 21

Sau khi lúa trỗ hoàn toàn có thể bón nuôi hạt bằng cách phun phân bón lá 1-2 lần nhằm tăng số hạt chắc, tăng năng suất Đây là thời kỳ bón phân có hiệu quả rõ khi trồng lúa trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, có khả năng cung cấp dinh dưỡng và giữ phân kém

Theo Nguyễn Như Hà (2005) [13], nhu cầu về đạm của cây lúa có tính chất liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [34], hàm lượng đạm trong cây và sự tích luỹ đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều lượng đạm bón Nhưng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh, lá to, dài, phiến lá mỏng, tăng số nhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồng thời dễ bị lốp đổ và nhiễm sâu bệnh, làm giảm năng suất Ngược lại, thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm

Bón phân cân đối cho lúa là tùy theo yêu cầu của cây lúa về các chất dinh dưỡng và khả năng đáp ứng từng loại chất dinh dưỡng của đất trồng Chẳng hạn: Các giống có thời sinh trưởng trung và dài ngày bón nhiều hơn những giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày và cực ngắn ngày Đất nhẹ cần bón nhiều kali hơn đất nặng, đất phù sa bón ít kali hơn đất xám Đất cát, đất xám, đất bạc màu do hàm lượng kali thấp nên cần bón nhiều kali hơn so với các loại đất khác Trên đất này do hàm lượng hữu cơ

và sét thấp nên phải chia ra làm nhiều lần bón hơn để giảm thất thoát phân bón

Trong rất nhiều trường hợp, hiện tượng lốp đổ là một nhân tố không cho phép được bón cho lúa tới lượng đạm tối đa Nếu cây lúa đổ trước khi trỗ, năng suất có thể giảm 50-60% Giống lúa mới thấp cây có khả năng chống đổ tốt, lượng đạm bón tối thích cao hơn nhiều Nếu vừa thu hoạch hạt thóc, vừa lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì bón phân nhiều hơn, đặc biệt là kali, do khá nhiều kali bị lấy đi khỏi đồng ruộng theo rơm rạ, nhưng nếu không lấy rơm rạ ra khỏi đồng ruộng thì chỉ khoảng 5% lượng kali

bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch qua hạt Khoáng trong đất, rạ và nước tưới là nguồn kali cung cấp cho cây Ở đất nhẹ nhiều cát cây cần kali hơn, đồng thời giống có năng suất cao cần nhiều kali hơn

Hiệu lực của đạm còn phụ thuộc vào các yếu tố dinh dưỡng khác

Khi bón phân cũng phải quan sát không nên bón khi ruộng khô nẻ rồi cho nước vào ruộng thì một phần phân đạm sẽ biến thành khí bốc hơi bay đi Ngược lại nếu bón đạm cho đất ngập nước thường xuyên làm thay đổi dạng đạm (dạng đạm này dễ chuyển thành thể khí bay lên) Khi quan sát thấy trời sắp mưa không nên bón đạm vì như vậy lượng đạm vừa bón sẽ dễ bị rửa trôi; khi nắng nóng gay gắt vào buổi trưa, đầu giờ chiều cũng không nên bón đạm vì đạm dễ bị bay hơi Trời quang đãng, vào buổi sáng hoặc chiều tối là thời điểm bón đạm tốt nhất

Theo De Datta S.K (1984) [37], cho rằng, đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa

có tưới Như vậy, để tăng năng suất lúa nước, cần tạo điều kiện cho cây lúa hút được

Trang 22

nhiều đạm Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xung quanh rễ

mà được quyết định bởi nhu cầu đạm của cây

Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan trọng Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạm tới 50% do nhiều con đường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do phản đạm hoá (Đỗ Thị Thọ, 2004) [30]

Theo Đào Thế Tuấn (1970) [32], lại cho rằng khi bón vãi đạm trên mặt ruộng lúa có thể gây mất tới 60 – 70% lượng đạm bón Chính vì vậy, khi bón đạm cần bón sớm, bón tập trung và bón dúi sâu xuống tầng đất nơi có bộ rễ lúa tập trung nhiều

Cần phải luôn luôn giữ cho đồng ruộng sạch cỏ dại Trước khi bón phân đạm cho lúa cần phải làm sạch cỏ dại bởi vì cỏ sẽ cạnh tranh phân đạm với cây lúa Cỏ càng mọc nhanh sẽ cạnh tranh với lúa không những chỉ phân bón mà cả nước, ánh sáng, không gian chứa khí và điều kiện để sâu bệnh phát sinh phát triển Cần phải làm

cỏ trong vòng 30 ngày sau khi cấy, nếu không làm cỏ ngay trong giai đoạn này thì năng suất lúa sẽ bị giảm rõ rệt

Một điểm chú ý khác khi bón thúc phân đạm là không nên bón khi lá lúa còn ướt bởi phân đạm sẽ dính lại trên lá ướt và với lượng nhiều có thể gây cháy lá; phân đạm đã hòa tan vào những giọt nước trên lá lúa sẽ bị mất vào không khí khi các giọt nước đó bốc hơi, khô đi Cũng không nên bón thúc phân đạm nếu như thấy có mưa to

vì đạm vừa bón sẽ bị trôi đi mất [35]

Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [34], Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới

Theo Nguyễn Văn Bộ (2003) [1], mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% Song do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali Nhưng hiệu quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy mà người dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Theo phòng Quản lý đất và phân bón, Cục Trồng trọt- Bộ NN&PTNT cho biết nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020, cụ thể như sau:

Bảng 1.1 Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020

(Đơn vị tính: nghìn tấn)

Trang 23

Các loại phân Năm

(Nguồn: Phòng quản lý đất và phân bón, cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT, 5/2007)

Nhu cầu về ure và kali từ năm 2010 đến 2020 không tăng lên, do diện tích sản xuất không tăng lên mà chỉ chuyển đổi cơ cấu cây trồng và kỹ thuật thâm canh cân đối các loại phân để hạn chế sâu bệnh phá hoại Chúng ta chủ động lượng ure ở trong nước, không phụ thuộc vào thị trường thế giới Ngược lại, lượng kali trong nước chưa sản xuất được mà hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường thế giới

Các loại phân đạm thích hợp cho lúa là phân đạm amon, ure Ure đang trở thành dạng phân đạm phổ biến đối với lúa nước vì có tỷ lệ đạm cao, lại rất thích hợp để bón trên các loại đất thoái hóa Phân đạm Nitrat có thể dùng để bón thúc ở thời kỳ đòng,

đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn

Hiện nay, trên thị trường có 2 loại lân đơn là lân nung chảy và supe lân Đất chua trồng lúa và trong điều kiện ngập nước bón phân lân nung chảy thường cho kết quả ngang hay có thể cao hơn phân supe lân vì dễ cung cấp cho lúa mà ít bị rửa trôi và còn cung cấp cả silic là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầu cao ở cây lúa Tuy nhiên nếu cần bón thúc lân và trồng lúa trên đất nghèo lưu huỳnh (đất bạc màu bón ít phân hữu

cơ) thì phải dùng supe lân

Loại phân kali thích hợp bón cho lúa là kaliclorua Ngoài ra, còn thường dùng các loại phân NPK, đặc biệt tốt là loại phân chuyên dùng cho lúa, phù hợp với điều

kiện của từng vùng đất trồng

Khả năng chịu chua của cây lúa khá, nhưng ở đất quá chua, cây lúa sinh trưởng kém, có thể do nhôm hòa tan gây ra vì hiện tượng ngộ độc nhôm ít thấy trên các loại đất có pH trên 5,5 Mặt khác, sau khi đưa nước vào ruộng đất có thể bị chua hơn, nên bón vôi là biện pháp quan trọng ở đất lúa nước quá chua và việc bón vôi phải được kết hợp với một chế độ bón phân hợp lý thì mới thu được kết quả mong muốn nhất

Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các giống lúa là mật độ cấy

và mức phân bón Qua nghiên cứu các tác giả đều thấy rằng, không có mật độ cấy và các mức phân bón chung cho mọi giống lúa, mọi điều kiện Nói chung các giống lúa

Trang 24

càng ngắn ngày cần cấy dày như các giống lúa có thời gian sinh tưởng từ 75-90 ngày nên cấy mật độ 40-50 khóm/m2; Những giống lúa đẻ nhánh khỏe, dài ngày cây cao trong những điều kiện thuận lợi cho lúa phát triển thì cấy mật độ thưa hơn Trong vụ mùa nên cấy 25-35 khóm/m2, trong vụ xuân nên cấy từ 45-50 khóm/m2 Mỗi khóm lúa

nên cấy vài ba dảnh

Mặc dù đây là biện pháp kỹ thuật rất quan trọng nhưng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, trình độ áp dụng các biện pháp kỹ thuật, điều kiện sinh thái của từng vùng… Bởi vậy, cần có các công trình nghiên cứu để tìm được mật độ, số dảnh cấy/ khóm tương ứng với các mức phân bón (Đặc biệt là mức phân bón thấp) thích hợp nhất phù hợp với từng vùng canh tác là vấn đề cần phải thực hiện thường xuyên của

các nhà nghiên cứu

1.1.2.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ

Năng suất ruộng lúa do số bông/đơn vị diện tích, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt quyết định:

Năng suất (tạ/ ha) = Số bông/m

2 x Số hạt chắc/bông x Khối lượng 1000 hạt

10000

Một quần thể ruộng lúa có nhiều bông trước hết mỗi cá thể phải đẻ nhiều nhánh, tỷ lệ nhánh thành bông cao Muốn có nhiều hạt chắc trước hết bông lúa phải có nhiều hoa, quá trình thụ phấn, thụ tinh bình thường, tỷ lệ hạt mẩy cao Khối lượng hạt

là chỉ tiêu ổn định do yếu tố di truyền của từng giống quyết định

Số bông của ruộng lúa là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất, đồng thời cũng là yếu tố tương đối dễ điều chỉnh hơn so với hai yếu tố còn lại Số hạt trên bông

và khối lượng 1000 hạt được kiểm soát chặt chẽ hơn bởi yếu tố di truyền, dù cho đầu

tư kỹ thuật cao cũng không thể biến một bông nhỏ, hạt nhẹ thành bông to, hạt nặng được Muốn thay đổi tính trạng này cần phải thay đổi giống

Tác động kỹ thuật làm tăng số bông đến mức tối đa là vô cùng quan trọng trong thâm canh lúa Tuy nhiên, nếu cấy quá dày hoặc quá nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng năng suất sẽ giảm Vì vậy, muốn đạt được năng suất cao thì người sản xuất phải biết điều kiển cho quần thể ruộng lúa có số bông tối ưu mà vẫn không làm cho số bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi Số bông tối ưu của một giống lúa là số bông thu được nhiều nhất mà ruộng lúa có thể đạt được nhưng chưa làm giảm khối lượng hạt vốn có của giống đó Như vậy, các giống lúa khác nhau có khả năng cho số bông tối ưu trên đơn

vị diện tích khác nhau, việc xác định số bông cần đạt trên một đơn vị diện tích quyết định mật độ gieo cấy, khoảng cách cấy và số dảnh cơ bản khi cấy

Trang 25

Trong những yếu tố kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, ngoài phân bón và cách bón phân, thì mật độ quần thể ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng

Sự cạnh tranh quần thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa Khi cây lúa phải sống trong điều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng làm cây lúa trở nên yếu ớt sâu bệnh dễ tấn công và dịch bệnh phát triển mạnh

Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống… Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966)

đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa ngược lại phải cấy dày Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lúa gieo sớm [14]

Mật độ là một kỹ thuật làm tăng quang hợp của cá thể và quần thể ruộng lúa Khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá cho cá thể và quần thể ruộng lúa Đồng thời, ảnh hưởng tới khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu, khả

năng chống chịu sâu bệnh…từ đó mà ảnh hưởng mạnh đến năng suất lúa

Theo Tăng Thị Hạnh (2003) [14] cho rằng, mật độ gieo cấy khác nhau ảnh

hưởng đến khả năng đẻ nhánh của cây lúa Chỉ số diện tích lá tăng khi mật độ tăng từ

25- 165 chồi/m2, nếu cùng số chồi/bụi khi mật độ tăng trong hai giai đoạn nhưng sang

giai đoạn chín sữa khối lượng chất khô sẽ giảm nếu tiếp tục tăng mật độ Công thức

cấy thưa (25-30 bụi/m2) có hiệu suất quang hợp cao nhưng chỉ số diện tích lá thấp hơn nên khối lượng chất khô được tổng hợp qua các thời kỳ ít hơn công thức cấy dày

Về khả năng chống chịu sâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả

và đều chung nhận xét rằng: gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các lá bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi đi nhiều Một trong những biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp là gieo cấy với mật độ thích hợp với từng giống lúa, tránh gieo cấy quá dầy sẽ tạo điều kiện cho bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn và rầy nâu phát

triển mạnh

Mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăng mật độ cấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn đó thì năng suất

sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi

Theo Nguyễn Văn Hoan (2004) [17], thì tùy từng giống để chọn mật độ thích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa đủ thông thoáng, các khóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàng sông rộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảo nhưng lại tạo ra sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu

ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn

Trang 26

Theo Trương Đích (1999) [8], mật độ cấy còn phụ thuộc vào mùa vụ và giống:

Vụ xuân hầu hết các giống cải tiến cấy mật độ thích hợp 45-50 khóm/m2 nhưng vụ mùa thì cấy 55-60 khóm/m2

Nguyễn Thạch Cương và CS (2000) [3], đã làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi Tạp Sơn Thanh trên đất phù sa sông Hồng và đi đến kết luận:

+ Trong vụ Xuân: Với mật độ cấy 55 khóm/m2 trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất là 82,2 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 83,5 tạ/ha, ở vùng đất bạc màu rìa đồng bằng mật độ 55 – 60 khóm/m2 cho năng suất 77,9 tạ/ha

+ Trong vụ Mùa: Mật độ cấy 50 khóm/m2 trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất là 74,5 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất đạt 74,0 tạ/ha, mật

độ 55 khóm/m2 trên đất bạc màu cho năng suất 71,4 tạ/ha

Nguyễn Văn Luật (2001) [22], nhận xét phương pháp canh tác cổ truyền trước đây so với ngày nay: trước năm 1967, người dân trồng lúa thường cấy thưa với mật độ

40 x 40 cm hoặc 70 x 70 cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày nay có xu hướng cấy dày

còn cấy dày thì đẻ nhánh ít

Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: Các giống khác nhau phản ứng với các mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng còn tăng quá năng suất giảm xuống (Suichi Yoshida, 1985) [26] Holiday (1960) cho rằng: Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt là quan hệ parabol, tức là mật độ lúc đầu tăng thì năng suất tăng nhưng nếu tiếp tục tăng mật độ quá thì năng suất lại giảm Trong phạm

vi khoảng cách 50 x 50 cm đến 10 x 10 cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất Năng suất của hạt giống IR-154-451 (Một giống đẻ nhánh ít) tăng lên so với việc giảm khoảng cách 10 x 10 cm Còn giống IR8 (Giống đẻ nhánh khỏe) năng suất cực

đại ở khoảng cách cấy là 20 x 20 cm

Dựa vào sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Đinh Văn Lữ (1978) [23], đã đưa ra lập luận là các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh

Trang 27

hưởng lẫn nhau Theo ông, số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhưng nếu số bông tăng quá cao, số hạt/bông và

tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong 3 yếu tố cấu thành năng suất: số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt thì 2 yếu tố đầu giữ vai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc của quần thể còn khối lượng 1000 hạt của mỗi giống ít biến động Vì vậy năng suất sẽ tăng khi tăng mật độ cấy trong một phạm vi nhất định Phạm vi này phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống, đất đai, phân bón và thời tiết

Theo Nguyễn Công Tạn, Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Trí Hoàn, Quách Ngọc Ân (2002) [28], các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp Sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dày 40-45 khóm/m2

Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ tốt thì chúng ta cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng đất xấu nên cấy dày Để xác định mật

độ cấy hợp lý ta có thể căn cứ vào 2 thông số là: Số bông cần đạt/m2 và số bông hữu

hiệu/ khóm Từ 2 thông số trên có thể xác định mật độ cấy phù hợp theo công thức:

Mật độ (khóm/m2) = Số bông/m

2

Số bông hữu hiệu/khóm Nguyễn Hữu Hồng (1993) [19], theo kết quả đạt được trên những ruộng lúa thâm canh năng suất đạt được được 300kg/sào thì khóm lúa cần có 7-10 bông (thí nghiệm trên Sán ưu quế 99) thì mật độ là: Với 7 bông/khóm cần cấy 43 khóm/m2; với

8 bông/khóm cần cấy 38 khóm/m2 với 9 bông/khóm cần cấy 33 khóm/m2; với 10 bông/ khóm cần cấy 30 khóm/m2

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh Nguyễn Như Hà (2005) [13], kết luận: Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh trên khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh – 14,8% ở vụ xuân, còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm – 25% Về dinh dưỡng đạm của lúa có tác động đến mật độ cấy tác giả kết luận tăng bón đạm ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75khóm/m2 ở vụ xuân Tăng bón đạm ở mật độ cao trong khoảng 55-65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu

Một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ của ruộng lúa là số dảnh cấy/khóm Số dảnh cấy phụ thuộc vào số bông dự định phải đạt/m2 trên cơ sở mật độ cấy đã xác định Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyên tắc chung là dù

ở mật độ nào, tuổi mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giống mạnh yếu thì vẫn phải đạt

Trang 28

được số dảnh thành bông theo yêu cầu, độ lớn của bông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 đạt được số lượng dự định

Theo Nguyễn Công Tạn, Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Trí Hoàn, Quách Ngọc Ân (2002) [28], thì sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa

đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/ khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm Khi sử dụng

mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2-5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cả nhánh đẻ trên mạ Loại

mạ này già hơn 10-15 ngày so với mạ chưa đẻ, vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70% số bông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích lũy, ra lá, lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng 8-15 ngày sau cấy Vì vậy, cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non

Nguyễn Văn Hoan (2002) [16], cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì

để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) Với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo số bông cần đạt nhân với 0,8

Các giống lúa khác nhau có khả năng đẻ nhánh khác nhau, bông to, bông nhỏ khác nhau, kiểu cây khác nhau Bố trí mật độ khoảng cách, số dảnh/khóm, số khóm/m2, phù hợp nhằm tạo ra cấu trúc quần thể với số lượng bông số hạt hợp lý thì đạt được số hạt nhiều hạt to và chắc đồng nghĩa với năng suất đạt tối đa

Qua các kết quả nghiên cứu trên, mật độ và số dảnh cơ bản cấy/khóm là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, khí hậu, dinh dưỡng của đất, đặc điểm của giống và khả năng thâm canh của từng vùng, từng vụ gieo cấy… Cần bố trí mật độ và số dảnh cấy/khóm một cách hợp lý để có được diện tích lá cao thích hợp, phân bố đều trên diện tích đất sẽ tận dụng được tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, đó là biện pháp nâng cao năng suất lúa có hiệu quả cao nhất Đồng thời khi bố trí được số dảnh cấy trên đơn vị diện tích hợp lý (Đặc biệt là đối với lúa lai) còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất lúa hiện nay [14]

Như vậy mật độ cấy có ý nghĩa quan trọng đến cấu trúc quần thể ruộng lúa Một quần thể ruộng lúa tốt phải đảm bảo được những chỉ tiêu nhất định về độ thông thoáng trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phân bố không gian trên một ruộng lúa, đặc biệt là thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật độ thích hợp còn tạo nên sự tương tác hài hòa giữa cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa và mục đích cuối cùng là cho năng suất cao trên một đơn vị diện tích

Hiện nay, lượng giống sạ luôn là vấn đề được quan tâm của bà con nông dân

Từ rất lâu vấn đề sạ thưa hay sạ dày thì tốt hơn luôn là hai quan điểm được tranh cãi

Trang 29

nhiều nhất để làm tăng năng suất rõ rệt Tuỳ theo chân đất, thời vụ, giống lúa, tập quán canh tác, mức phân bón mà xác định lượng giống sạ cho phù hợp

Tóm lại, kỹ thuật bón phân và mật độ gieo là biện pháp kỹ thuật quan trọng Nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống Việc bón phân và

bố trí mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh gây hại, tạo tiền đề cho năng suất cao Ngoài ra, việc bố trí mật độ hợp lý còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa hiện nay Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về bón phân đạm và mật độ chưa nhiều và thiếu các nghiên cứu hệ thống vấn đề này Thực tế đây là một biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh lúa Với mỗi giống lúa, mỗi mức phân bón, mức đầu tư kỹ thuật

và trên các vùng khác nhau thì cần có các nghiên cứu tìm ra phương pháp bón phân và mật độ hợp lý

1.1.2.3 Phương pháp gieo sạ

Trong quá trình sản xuất có nhiều phương pháp để gieo sạ Tuy nhiên, dựa vào điều kiện đất đai và nước tưới mà chọn lựa phương pháp sạ thích hợp Những vùng chủ động được nguồn nước tưới và đất tương đối bằng phẳng thường áp dụng phương pháp sạ ướt Hiện nay, hầu hết diện tích chuyên canh trồng lúa ở tỉnh Bình Định chủ yếu là lúa có năng suất cao Bên cạnh đó, còn một số diện tích đất dùng để sản xuất hạt giống cung cấp cho địa phương và theo yêu cầu của các đơn vị kinh doanh giống ngoài tỉnh Phương pháp sạ ướt được áp dụng nhiều nhất là sạ lan và sạ hàng

a Phương pháp sạ lan

Đặc điểm của phương pháp sạ lan là cây lúa đẻ nhánh sớm, số bông nhiều, năng suất quan hệ chặt chẽ với số bông Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là mật độ thường không đều, bộ rễ ăn cạn, dễ bị chim, chuột phá hoại và lúa thường bị đổ

ngã vào mùa mưa gió nhiều (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) [11]

Phương pháp sạ lan đã được nông dân áp dụng từ khi bắt đầu canh tác lúa cao sản thay thế cho lúa mùa năng suất thấp Phương pháp này tỏ ra có những ưu điểm nổi trội so với phương pháp sạ hoặc cấy lúa mùa về khả năng gia tăng số bông/m2, tính đồng đều về chiều cao và khả năng nhận ánh sáng (Trần Đức Viên, 2007) [33]

Lượng giống cao sản ngắn ngày sạ lan được khuyến cáo lượng giống cao sản là

150 kg/ha (Nguyễn Thành Hối, 2010) [18] Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất thường người dân trồng lúa theo tập quán với mật độ cao, lượng giống gieo sạ từ 200-300 kg/ha (Nguyễn Văn Luật, 2001) [22] Hiện nay tại Bình Định, lượng giống thuần ngắn

Trang 30

ngày và trung ngày sạ lan được khuyến cáo là 100-120 kg/ha Thực tế sản xuất thường người dân trồng lúa lượng giống gieo sạ từ 140-200 kg/ha

Với lượng giống gieo sạ nhiều thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp nhận ánh sáng của từng cây lúa trong quần thể ruộng lúa Bên cạnh đó, có sự cạnh tranh về nhu cầu dinh dưỡng từ đất trồng và tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển Các nhà khoa học đã chứng minh được những yếu tố gây dịch bệnh tích cực nhất là khi cây trồng phải sống trong quần thể chật hẹp thiếu ánh sáng cho các lá dưới, làm cây lúa trở nên yếu ớt sâu bệnh dễ tấn công (Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ, 2005) [2]

b Phương pháp sạ hàng

Hiện nay, sạ hàng đã thể hiện nhiều ưu điểm so với sạ lan truyền thống như: tiết kiệm vật tư mà chủ yếu là giống và phân bón, tạo điều kiện thuận lợi để thâm canh, giảm thiệt hại do sâu bệnh, tăng năng suất so với sạ lan và kết hợp nuôi cá hay nuôi vịt chóng lớn (Nguyễn Văn Luật, 2001) [22]

Ứng dụng kỹ thuật từ mẫu công cụ sạ hàng được cải tiến từ “drum seeder” của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và bắt đầu được thực hiện ở tỉnh Bình Định từ năm 2003 (trong tiểu hợp phần sản xuất giống nông hộ dưới sự hỗ trợ của tổ chức Đan Mạch) cho đến nay Có thể thấy rằng phương pháp sạ hàng tỏ ra hiệu quả so với sạ lan truyền thống Tuy nhiên, việc áp dụng kỹ thuật này cũng gặp một số trở ngại như ốc bươu vàng, diện tích nhỏ khó áp dụng và đất thiếu bằng phẳng (Lê Trường Giang, 2005) [9]

Với phương pháp này, cây lúa có sự phân bố trong quần thể ruộng lúa thích hợp nên đã tận dụng được năng lượng mặt trời cho quá trình quang hợp tạo năng suất và làm giảm thiệt hại do tác động của ngoại cảnh (Nguyễn Văn Luật, 2001) [22]

Dưới điều kiện quản lý đồng ruộng tốt, lượng giống sạ 80-100 kg giống/ha được khuyến cáo để nhận năng suất lúa có chất lượng tốt, cũng như đáp ứng đủ số bông/m2 cho việc chín đồng bộ trong hệ thống canh tác lúa sạ

So với phương pháp sạ lan truyền thống thì phương pháp sạ hàng có thể làm giảm được lượng giống sử dụng từ 50-75% Nhờ vậy, phương pháp sạ hàng có nhiều

ưu điểm so với sạ lan như: giảm được lượng giống gieo sạ, giảm sâu bệnh và có thể tăng năng suất

Trang 31

1.2 Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong một số thập kỷ gần đây

(Nghìn ha)

Năng suất (Tạ/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

(Nguồn: FAOSTART FAO Org) [39]

Hiện nay có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục trên thế giới Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng [7]

Qua bảng 1.1 cho thấy: Diện tích canh tác lúa trên thế giới trong các thập kỷ gần đây có xu hướng tăng Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế kỷ

XX và có xu hướng tăng nhẹ và ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 90 Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,81 tạ/ha năm 1970 lên 45,27 tạ/ha vào năm

2013 Điều này cho thấy cuộc “Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến

bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể

Trang 32

Châu Á được coi là cái nôi của lúa gạo do sản xuất cũng như tiêu thụ chiếm tới trên 90% tổng sản lượng lúa gạo của thế giới và là nơi đã diễn ra cuộc “Cách mạng xanh” giữa thế kỷ XX Đây là châu lục đã lai tạo ra nhiều giống lúa nước ngắn ngày, năng suất cao Chính vì vậy, giống lúa mới đã góp phần vào sự thành công trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ theo hướng sản xuất hàng hóa ở nhiều quốc gia Sự nổi bật của khu vực này có ảnh hưởng quyết định vào tương lai cũng như quá khứ của tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới Hiện nay, Châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo trên thế giới với diện tích lúa cao nhất là 146,4 triệu ha, sản lượng 674,8 triệu tấn

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa các khu vực trên thế giới năm 2013

Khu vực

Diện tích (Nghìn ha)

Năng suất (Tạ/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

(Nguồn: FAOSTART FAO Org) [39]

Các quốc gia dẫn đầu về sản lượng lúa theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Indoniesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar, tất cả đều nằm ở Châu Á

Như vậy, có thể nói Châu Á là vựa lúa quan trọng nhất thế giới

Trang 33

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lúa một số nước của Châu Á năm 2013

Tên nước Diện tích

(Nghìn ha)

Năng suất (Tạ/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

(Nguồn: FAOSTART FAO Org) [39]

Qua bảng 1.3 cho thấy: Nước có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ với diện tích 43,5 triệu ha, sản lượng lúa của Ấn Độ là 159,2 triệu tấn, chiếm 21,3% tổng sản lượng của thế giới Trung Quốc là một nước có dân số đông nhất thế giới Trong vài thập niên gần đây, Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai Do đó, năng suất bình quân đạt 67,2 tạ/ha, sản lượng đạt 205,0 triệu tấn chiếm 27,5% tổng sản lượng của thế giới (đứng đầu về sản lượng lúa trên thế giới) Những năm gần đây, diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không

đủ và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc

Trang 34

Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích 12,37 triệu ha, năng suất bình quân 31,3 tạ/ha, sản lượng trên 38,7 triệu tấn Thái Lan có các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Nhiệm vụ của các cơ sở này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn diện tích lúa

ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay xát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất Điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam Theo hướng này, Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài) [10]

Theo dự báo của FAO, trong giai đoạn 2007-2017, các nước sản xuất gạo ở Châu Á sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới, bao gồm: Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Việt Nam xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo hạt dài đặc biệt và gạo dính Ngược lại với 3 nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, thị phần gạo xuất khẩu dự báo sẽ giảm

ở Hoa Kỳ, Pakistan và Trung Quốc [39]

Dự báo năm 2015, sản xuất lúa gạo trên thế giới nhìn chung không có thay đổi lớn so với năm 2014 nhưng nhóm các nước tiêu dùng lớn như: Trung Quốc, Pakistan, Indonesia, Philippines đang đẩy mạnh chiến lược tự cân đối nhu cầu trong nước Do

đó, thị trường thế giới sẽ chỉ có đột biến khi bất ổn về thiên tai xảy ra

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa và xuất khẩu gạo ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm nghề nông Chính vì vậy, trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc

Nước ta thuộc vùng nhiệt đới nằm ở toạ độ 8030” - 23022” vĩ tuyến Bắc, 102010”

- 109029” kinh tuyến Đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới Với đặc điểm khí hậu này đã phần nào khẳng định thêm Việt Nam là cái nôi hình thành cây lúa

Địa hình nước ta trải dài từ Bắc vào Nam hình thành nên những vùng đồng bằng rộng lớn tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của cây lúa nước

Trang 35

Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở 2 đồng bằng Bắc bộ và Nam Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với năng suất bình quân 13 tạ/ha và sản lượng thóc tương ứng 2,4 - 3,0 triệu tấn Trong thời gian này chủ yếu là các giống lúa cũ, ở miền Bắc sử dụng các giống lúa cao cây, ít chịu thâm canh, dễ đổ, năng suất thấp

Nhà nông có câu” Nhất thì, nhì thục” Từ năm 1963- 1965, ở những vùng chuyên canh lúa do diện tích nhiều, thường có một số diện tích cấy chậm, bị muộn thời

vụ Nhờ tiến bộ kỹ thuật đã đưa vào một số giống lúa xuân thấp cây, ngắn ngày đã đảm bảo được thời vụ Đã chuyển vụ lúa chiêm thành vụ lúa xuân, chuyển từ xuân sớm thành xuân chính vụ Miền Bắc, lúc này chú trọng đến khâu thủy lợi, khai hoang

mở rộng diện tích và cải tạo diện tích đất trước đây chỉ sản xuất một vụ trên năm Do

đó, năm 1970 diện tích đất tăng lên 4,7 triệu ha và năng suất đã tăng lên 21,53 tạ/ha

Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất Việt Nam đã tiếp thu cuộc “Cách mạng xanh” rất nhanh chóng Từ năm 1979 đến 1985, sản lượng lúa cả nước tăng từ 11,8 lên 15, 9 triệu tấn, nguyên nhân là do ứng dụng giống mới, tăng diện tích và năng suất Từ khi thực hiện đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, tính riêng 2 năm 1988 và 1989 sản lượng lương thực tăng thêm 2 triệu tấn/năm Đến năm 1990 sản lượng thóc đạt 19,225 triệu tấn, gấp gần 2 lần

so với năm 1970 Một tốc độ tăng hiếm gặp cũng là cao nhất trong khu vực và cao nhất trong những nước trồng lúa trên thế giới ở các năm tiếp theo

Cụ thể tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây thể hiện qua bảng sau 1.5

Qua số liệu thống kê tại bảng 1.5 và hình 1.1, 1.2, 1.3 cho thấy:

Từ năm 1970-2000 tổng diện tích gieo trồng lúa đã tăng từ 4,72 triệu ha lên 7,66 triệu ha Đặc biệt việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp đã góp phần chủ yếu làm tăng năng suất lúa với tốc độ cao ổn định Tỷ lệ diện tích gieo cấy bằng các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao tăng từ 50% (1991-1995) lên 80% thời kỳ 1996-2000 và trở thành yếu tố cơ bản đưa năng suất lúa một vụ từ 34,3 tạ/ha lên 42,43 tạ/ha

Trang 36

Bảng 1.5 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam qua các thời kỳ

(Nghìn ha)

Năng suất (Tạ/ha)

Sản lượng (Nghìn tấn)

(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam)[25]

Hình 1.1 Biểu diễn diện tích canh tác lúa ở Việt Nam 1970-2014

7666,3

Năm Diện tích (nghìn ha)

Trang 37

Diện tích trồng lúa ở Việt Nam có xu hướng giảm từ năm 2000 trở lại đây, từ 7.666 nghìn ha (2000) xuống còn 7.489 nghìn ha (2010) Đất trồng lúa chủ yếu được chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp: Khu công nghiệp, sân golf đã làm cho diện tích đất trồng lúa cả nước trong 10 năm 2000-2010 giảm gần 370.000ha Tuy nhiên, năng suất trong giai đoạn này liên tục tăng, từ 42,43 tạ/ha (2000) lên 53,42 tạ/ha (2010) và tiếp tục tăng ở các năm tiếp theo Năm 2014 năng suất đạt mức cao nhất từ trước đến nay là 57,6 tạ/ha

Hình 1.2 Biểu diễn năng suất lúa ở Việt Nam 1970-2014

Trong 10 năm (từ 1970 đến 1980), diện tích tăng lên nhiều nhưng năng suất không tăng mà có năm còn giảm dẫn đến sản lượng tăng không đáng kể Từ năm 1990 đến nay, sản lượng lúa gạo Việt Nam liên tục tăng trưởng nhờ biện pháp kỹ thuật canh tác tốt, tăng năng suất và một phần nhờ mở rộng diện tích canh tác hàng năm

Theo FAO đánh giá thì thập kỷ 90 tốc độ tăng sản lượng lúa gạo Việt Nam là 5,3% so với 1,5% của Thế giới và 1,51% của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tốc

độ tương ứng về diện tích là 2,4% so với 0,5% (thế giới) và 0,5% (khu vực), năng suất lúa là 2,8% so với 1,1% (thế giới) và 1,0% (khu vực)

Sản lượng lúa ở nước ta không chỉ dừng lại ở 19,23 triệu tấn (năm 1990) nhưng đến năm 2000 đã đạt được 32,52 triệu tấn Năng suất và diện tích canh tác tăng không ngừng giúp Việt Nam lần đầu tiên đạt sản lượng ở mức cao nhất từ trước đến nay là 44,79 triệu tấn vào năm 2014

Trang 38

Hình 1.3 Biểu diễn sản lượng lúa ở Việt Nam 1970-2013

Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Nghị định 42/2012 về quản lý, sử dụng đất trồng lúa Với những qui định cụ thể về quản lý, quy hoạch sử dụng, cùng chính sách

hỗ trợ cho người sản xuất lúa hàng năm, hỗ trợ trong trường hợp thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh Đây được xem là quyết tâm của Chính phủ trong việc duy trì ổn định 3,8 triệu ha đất trồng lúa nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu

Nói tóm lại, diện tích lúa có xu hướng giảm nhưng sản lượng sẽ vẫn duy trì ở mức ổn định và có thể tăng vì chúng ta sẽ không ngừng cải thiện công tác giống trong sản xuất lúa Đây cũng chính là chiến lược sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới, phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất giống lúa có chất lượng cao xuất khẩu hàng năm từ 6-7 triệu tấn Như vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các loại giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu sản xuất là một nhiệm vụ sống còn, phải đặt thành chương trình cấp Quốc gia

và phải huy động cả “4 nhà” (nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới có hy vọng đạt kết quả như mong muốn

1.2.2.2 Tình hình xuất khẩu gạo ở Việt Nam

Ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã có những thành công lớn trong những năm gần đây Gạo là nguồn lương thực chính và sản xuất lúa gạo đã là căn bản của nền kinh

tế Việt Nam qua mấy ngàn năm lịch sử Sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam, với 75% dân số Việt Nam tham gia trồng lúa gạo Hầu hết nông dân vẫn coi công việc trồng lúa đem lại nguồn thu nhập chính của họ

Do đó, Việt nam từ một nước phải nhập khẩu gạo không những trở thành một nước đảm bảo đủ lương thực mà còn bước vào thị trường xuất khẩu Từ năm 1989, Việt Nam đã xuất khẩu được 1,37 triệu tấn gạo và sản lượng gạo xuất khẩu ngày một tăng lên Thành công trong xuất khẩu gạo đã đem về cho đất nước hàng tỷ USD, cụ thể như sau:

Trang 39

Bảng 1.6 Sản lượng và giá trị gạo xuất khẩu Việt Nam qua các thời kỳ

(triệu tấn)

Giá trị (triệu USD)

(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam [25] và Hiệp hội Lương thực Việt Nam [36])

Hình 1.4 Biểu diễn sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam 1989-2014

Trang 40

Hình 1.5 Biểu diễn tổng giá trị gạo xuất khẩu của Việt Nam 1989-2014

Lượng gạo xuất khẩu 1,46 triệu tấn vào năm 1990 đã tăng lên 2,05 triệu tấn vào năm 1995 Sau 10 năm (2005) lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu 5,20 triệu tấn và đã mang về cho đất nước gần 1,3 tỷ USD Năm 2005 là năm thứ 17 Việt nam liên tiếp xuất khẩu gạo, là năm thứ 3 chúng ta đã xuất khẩu hơn 4 triệu tấn/năm Và lần đầu tiên Việt Nam vượt qua Thái Lan để trở thành nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới vào năm 2011 với sản lượng xuất khẩu 7,1 triệu tấn đã đem về cho đất nước trên 3,5 tỷ USD Tuy nhiên, xuất khẩu gạo của chúng ta không ngừng lại mà ngày càng nhiều và mang lại ngoại tệ ngày càng cao trong những năm tiếp theo Năm 2012 chúng ta đạt một mốc mới trong xuất khẩu gạo (khoảng 7,72 triệu tấn) và cũng là năm thứ 2 liên tiếp ngành sản xuất lúa gạo đem lại hơn 3 tỷ USD về cho đất nước Năm 3013, 2014 lượng gạo xuất khẩu nước ta có chiều hướng đi xuống do nhu cầu thị trường gạo chất lượng cao và thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc…Tuy nhiên, số lượng gạo xuất khẩu vẫn đạt trên 6 triệu tấn/năm Đây là một kết quả cao nhất của Việt Nam trong nỗ lực đẩy mạnh cả về ba mặt (số lượng, chất lượng và giá trị gạo xuất khẩu) kể

từ khi Việt Nam chính thức tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo của thế giới

Hiện nay, Việt Nam vẫn là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn và được chứng minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong sản xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này ngày càng mạnh đối với sản phẩm gạo chất lượng cao Tuy nhiên vẫn còn những câu hỏi đặt ra là làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay Sự tăng trưởng đầy ấn tượng về năng suất và sản lượng lúa là thành quả của những nỗ lực tổng hợp của cả nước trong việc tìm kiếm những giải pháp để đẩy mạnh phát triển kinh tế Cộng đồng

Ngày đăng: 27/06/2021, 08:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bộ (2003), Bón phân cho cây trồng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cho cây trồng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
2. Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ (2005), Ảnh hưởng của phương pháp sạ và các mức độ phân đạm lên sinh trưởng và năng suất lúa ngắn ngày, Tạp chí Khoa học. Trường Đại học Cần Thơ, trang 161-187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phương pháp sạ và các mức độ phân đạm lên sinh trưởng và năng suất lúa ngắn ngày
Tác giả: Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ
Năm: 2005
3. Nguyễn Thạch Cương và CS (2000), Nghiên cứu xác định một số biện pháp canh tác thích hợp đối với lúa lai 2 dòng, 3 dòng trên đất phù sa sông Hồng, Trung tâm thông tin - Bộ Nông nghiệp &PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định một số biện pháp canh tác thích hợp đối với lúa lai 2 dòng, 3 dòng trên đất phù sa sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Thạch Cương và CS
Năm: 2000
6. Bùi Huy Đáp (1999), Một số vấn đề về cây lúa, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về cây lúa
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 1999
8. Trương Đích (1999), Kỹ thuật gieo trồng 265 giống cây trồng mới năng suất cao, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gieo trồng 265 giống cây trồng mới năng suất cao
Tác giả: Trương Đích
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
9. Lê Trường Giang (2005), Năng suất và lợi nhuận của phương pháp sạ hàng trong sản xuất lúa vụ ĐX 2002-2003 tại tỉnh Cần Thơ, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, tr. 23-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất và lợi nhuận của phương pháp sạ hàng trong sản xuất lúa vụ ĐX 2002-2003 tại tỉnh Cần Thơ
Tác giả: Lê Trường Giang
Năm: 2005
10. Mai Thị Giang (2011), Nghiên cứu ảnh hưởng ảnh mật độ cấy và các mức phân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa J01 vụ 2010 và vụ xuân 2011 tại huyện Bắc Quang, Luận văn thạc sĩ ngành trồng trọt Trường Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng ảnh mật độ cấy và các mức phân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa J01 vụ 2010 và vụ xuân 2011 tại huyện Bắc Quang
Tác giả: Mai Thị Giang
Năm: 2011
11. Nguyễn Đình Giao, Nguyễn Thiện Huyên, Nguyễn Hữu Tề và Hà Công Vượng, (1997), Giáo trình cây lương thực, tập 1 – Cây lúa. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lương thực, tập 1 – Cây lúa
Tác giả: Nguyễn Đình Giao, Nguyễn Thiện Huyên, Nguyễn Hữu Tề và Hà Công Vượng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
12. Nguyễn Như Hà (1999), Phân bón cho lúa ngắn ngày thâm canh trên đất phù sa sông Hồng, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bón cho lúa ngắn ngày thâm canh trên đất phù sa sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Năm: 1999
13. Nguyễn Như Hà (2005), Xác định lượng phân bón cho cây trồng cà tính toán kinh tế trong sử dụng phân bón, Chương 3, trong sách Bài giảng cao học, Nguyễn Như Hà (biên tập), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định lượng phân bón cho cây trồng cà tính toán kinh tế trong sử dụng phân bón
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
15. Nguyễn Văn Hoan (1995), Kỹ thuật thâm canh lúa ở hộ nông dân, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật thâm canh lúa ở hộ nông dân
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
16. Nguyễn Văn Hoan (2002), Kỹ thuật thâm canh mạ, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật thâm canh mạ
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
17. Nguyễn Văn Hoan (2004), Cẩm nang cây lúa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang cây lúa
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Nguyễn Hữu Hồng (1993), Luận án thạc sĩ nông nghiệp - Miyazaki -Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án thạc sĩ nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Hồng
Năm: 1993
20. Nguyễn Thị Lẫm (1994), Nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa cạn, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa cạn
Tác giả: Nguyễn Thị Lẫm
Năm: 1994
21. Nguyễn Thị Lẫm, Hoàng Văn Phụ, Dương Văn Sơn, Nguyễn Đức Thạnh (2003), Giáo trình cây lương thực. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lương thực
Tác giả: Nguyễn Thị Lẫm, Hoàng Văn Phụ, Dương Văn Sơn, Nguyễn Đức Thạnh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
22. Nguyễn Văn Luật (2001), Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001
23. Đinh Văn Lữ (1978), Giáo trình cây lúa, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lúa
Tác giả: Đinh Văn Lữ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1978
26. Suichi Yoshida (1985), Những kiến thức cơ bản của khoa học trồng lúa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, Mai Văn Quyền dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cơ bản của khoa học trồng lúa
Tác giả: Suichi Yoshida
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1985
27. Mai Văn Quyền (2002), 160 câu hỏi và đáp về cây lúa và kỹ thuật trồng lúa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: 160 câu hỏi và đáp về cây lúa và kỹ thuật trồng lúa
Tác giả: Mai Văn Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w