Trong luận văn của mình, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề gian lận và giả mạo đối với một số loại chứng từ cụ thể trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế đặc biệt là đối với ph
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 5
1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế 5
1.1.2 Vai trò của tài trợ thương mại quốc tế 5
1.1.3 Các loại tài trợ thương mại quốc tế 9
1.2 Khái niệm chứng từ và vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 26
1.2.1 Khái niệm chứng từ 26
1.2.2 Vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 26
1.3 Khái niệm gian lận và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 28
1.2 Khái niệm chứng từ và vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 30
1.2.1 Khái niệm chứng từ 30
1.2.2 Vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 31
1.3 Khái niệm gian lận trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 32
1.3.1 Khái niệm gian lận thương mại và giả mạo chứng từ 32
1.3.2 Các dấu hiệu lừa đảo, gian lận thương mại chứng từ trong tài trợ thương mại quốc tế 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ GIẢ MẠO CHỨNG TỪ TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 38
Trang 42.1 Tình hình chung về gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt
động tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam 38
2.1.2 Các tình huống về gian lận và giả mạo đối với một số loại chứng từ cụ thể 44
2.3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chứng từ bị làm giả 54
2.3.1 Nguyên nhân chung 54
2.3.2 TỪ phía ngân hàng 55
2.3.3 Từ phía doanh nghiệp XNK 56
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ GIẢ MẠO CHỨNG TỪ TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 58
3.1 Giải pháp từ phía ngân hàng thương mại 58
3.1.1 Quản lý chặt chẽ hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 58
3.1.2 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nghiệp vụ trong ngân hàng thương mại 59
3.1.3 Hoàn thiện hệ thống các văn bản 60
3.2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 60
3.2.1 Đối với doanh nghiệp xuất khẩu 62
3.2.2 Đối với doanh ngiệp nhập khẩu 65
3.3 Một số kiến nghị 67
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 67
3.3.2 Kiến nghị với ICC 68
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
ICC Phòng thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce)
ISBP Thực tiễn ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ
theo tín dụng chứng từ (International Standard Banking Practice for the Examination of Documents under Documentary Credits)
UCP Quy tắc hợp thành Bộ tập quán và thực hành thống nhất về tín
dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credit)
URC Quy tắc thống nhất về nhờ thu (The Uniform Rules for Collection)
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài: “Gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam” là do tự bản thân thực
hiện Các thông tin thứ cấp sử dụng trong Luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày 09 tháng 7 năm 2020
Tác giả
Phạm Thị Phương Dung
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, xin trân trọng cảm ơn giáo viên hướng dẫn PSG TS Đặng Thị Nhàn đã tận tình giúp đỡ, định hướng cách tư duy, cách làm việc khoa học và cho tôi những nhận xét quý báu, chỉnh sửa sai sót của tôi trong bản thảo luận văn để tôi có thể hoàn thành bài luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô thuộc khoa Tài chính Ngân hàng đã tận tình giảng dạy cho tôi trong thời gian học tập
Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô để bài luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 7 năm 2020
Tác giả
Phạm Thị Phương Dung
Trang 8TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Toàn cầu hoá đang ngày càng trở thành xu thế tất yếu lôi cuốn các quốc gia và bao trùm hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt đối với nền kinh tế Xu thế này không những thúc đẩy hợp tác mà còn tăng sức ép cạnh tranh giữa các quốc gia Trong bối cảnh hiện nay, hầu hết các quốc gia đều tham gia vào hoạt động giao lưu thương mại quốc
tế Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những cầu nối quan trọng đưa các nước bước chân thị trường kinh tế thế giới Cùng với sự phát triển vượt trội của thương mại quốc tế, hoạt động tài trợ thương mại cũng ngày càng đa dạng, phong phú với nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, việc phát triển các hình thức tài trợ thương mại quốc
tế cũng đi kèm với các rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là tình trạng gian lận thương mại và giả mạo chứng từ Đề tài nghiên cứu: “Gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam” với mục đích phân tích thực trạng vấn đề đang diễn ra tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm đảm bảo sự an toàn cho các bên tham gia Bằng các phương pháp nghiên cứu, luận văn đã đạt được các kết quả sau:
Thứ nhất, luận văn đã giới thiệu cơ bản về hoạt động tài trợ thương mại quốc
tế, khái quát về vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế Bên cạnh đó, luận văn đi sâu vào phân tích khái niệm gian lận và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Thứ hai, luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng về gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam Vì phạm
vi của đề tài tương đối rộng và quỹ thời gian hạn hẹp nên luận văn tập trung vào phân tích tình hình gian lận và giả mạo chứng từ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Từ đó, tổng hợp ra được các dấu hiệu lừa đảo, gian lận thương mại chứng từ và nguyên nhân dẫn đến tình trạng chứng từ bị làm giả gây khó khăn và tổn thất cho các bên tham gia giao dịch thương mại quốc tế
Thứ ba, từ những phân tích về thực trạng, luận văn đã đưa ra các gợi ý về giải pháp từ phía ngân hàng cũng như các doanh nghiệp xuất - nhập khẩu nhằm ngăn chặn gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Trang 9tại Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và Phòng Thương mại quốc tế nhằm sớm hoàn thiện các văn bản pháp lý
để bảo về quyền lợi của các Ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển kinh tế của quốc gia thì không thể chỉ dựa vào hoạt động sản xuất trông nước mà còn phải tìm kiếm các mối quan hệ, giao lưu thương mại với các nước trên thế giới Do có sự khác nhau về điều kiện địa lý, trình độ phát triển mà mỗi quốc gia có thể mạnh trong việc sản xuất một mặt hàng nhất định, vì thế các quốc gia sẽ phải phụ thuộc lẫn nhau về các loại hàng hóa cần thiết cho sản xuất và tiêu dùng Chính từ nhu cầu có được sản phẩm chất lượng cao với giá thành rẻ hơn từ các nước khác đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm có thế mạnh của mình các quốc gia đã hình thành nên hoạt động thương mại quốc tế Tài trợ thương mại là một mảng không thể tách rời đối với hoạt động thương mại quốc tế nói chung
và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, song cũng được đánh giá là lĩnh vực có nhiều rủi ro với việc lừa đảo trong hoạt động xuất nhập khẩu, gây thiệt hại không nhỏ đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Hội nhập quốc tế góp phần quan trọng nâng tầm thế và lực cho Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao thu nhập cho người dân; tạo sức ép và điều kiện để tích cực hoàn thiện thể chế kinh tế; nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm… Bên cạnh những thuận lợi, cơ hội mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng thường xuyên đang phải đối mặt với các khó khăn, thách thức không nhỏ (Nguyễn Thị Quy, 2014) Một trong những thách thức lớn hiện nay là phải giảm thiểu các rủi ro gian lận thương mại trong tài trợ thương mại quốc tế mà phương thức tín dụng chứng từ (L/C) là phương thức phổ biến được nhiều các doanh nghiệp lựa chọn
Mặc dù thực tế là tín dụng chứng từ có ý nghĩa tạo thuận lợi cho quá trình thương mại quốc tế, nhưng đặc điểm cụ thể của chúng có thể làm tăng rủi ro gian lận trong khi được sử dụng trong tài trợ thương mại quốc tế Nhiều yếu tố như sử dụng chứng
từ làm cơ sở thanh toán, khoảng cách địa lý, sự đa dạng của hệ thống pháp lý ở cấp
độ toàn cầu và áp dụng hạn chế quy tắc gian lận có thể được coi là lý do cho gian lận L/C Mặc dù hàng tỷ đô la bị mất hàng năm do gian lận trong quá trình hoạt động
Trang 11L/C, nhưng lỗ hổng này có thể dẫn đến việc giảm mức độ phổ biến toàn cầu của tín dụng chứng từ là phương thức phổ biến được sử dụng trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế (Hamed Alavi, 2016)
Các hậu quả do gian lận thương mại gây ra đã tác động rõ rệt và nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống xã hội, phá hoại môi trường cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế Thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Vì thế tôi đã quyết định chọn
“Gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu này Do phạm vi của đề tài khá rộng và
phức tạp, cùng với thời gian hoàn thành luận văn hạn chế nên bài viết chỉ tập trung vào tình trạng gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Hamed Alavi (2016) về Giảm thiểu rủi ro gian lận trong tín dụng chứng từ được đăng trên tạp chí Baltic Journal of European Studies Vol 6, No
1 (20) Nghiên cứu đã phân tích các khía cạnh lý thuyết của gian lận trong thư tín dụng chứng từ, đưa ra các phương pháp khác nhau để giảm thiểu rủi ro gian lận bằng cách xem xét các phương pháp phòng ngừa khác nhau mà người mở thư tín dụng, người thụ hưởng và ngân hàng có thể áp dụng để giảm thiểu sự gian lận như cũng như các bước khác nhau mà doanh nghiệp nên thực hiện khi bị lừa đảo
Nghiên cứu của Lijia Yi (2012) về Gian lận chứng từ trong tín dụng chứng từ - Nghiên cứu so sánh luật ở Anh Quốc và Trung Quốc Bài viết giới thiệu thách thức pháp lý của gian lận chứng từ liên quan đến L/C và trình bày khuôn khổ pháp lý vận hành hệ thống L/C, các trường hợp gian lận chứng từ đặc biệt đối với chứng từ vận tải hàng hải Tác giả đã phân tích việc có nhiều vận đơn gốc được phát hành, những sai sót trên bề mặt vận đơn cũng là nguy cơ gây ra rủi ro gian lận Nghiên cứu này cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về hệ thống L/C và cũng đưa ra những phân tích pháp lý quan trọng để ngăn chặn hành vi gian lận, đặc biệt là từ phía người mua
Trang 122.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của TS Phan Thị Hồng Hải và PGS.,TS Đặng Thị Nhàn (2017) về
“Gian lận và giả mạo chứng từ trong hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại quốc
tế tại các ngân hàng thương mại” Bài viết đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng gian lận và làm giả chứng từ trong hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân cũng như hậu quả của vấn
đề Các tác giả đã chỉ ra ở Việt Nam, các chứng từ bị làm giả hoặc gian lận trong hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại quốc tế thường tập trung vào một số chứng từ như: Vận tải đơn, giấy chứng nhận xuất xứ và hoá đơn thương mại… Cuối cùng, bài viết nêu lên một số đề xuất nhằm phòng ngừa, hạn chế vấn đề gian lận và giả mạo chứng từ trong hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại quốc tế
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quy (2014), Tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C và một số gợi ý cho các doanh nghiệp khi tham gia giao dịch được đăng trên Tạp chí ngân hàng số 3/2014 Bài viết này nhằm mục đích tổng hợp các dạng tranh chấp thường phát sinh trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng dưới góc độ các doanh nghiệp có kinh doanh xuất nhập khẩu, phân tích hành vi gian lận thương mại đối với bộ chứng từ giả mạo, các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và gợi ý một
số biện pháp nhằm giúp các doanh nghiệp giảm thiểu các rủi ro cũng như giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả
2.3 Khoảng trống nghiên cứu
Trong và ngoài nước đã có nhiều bài nghiên cứu về gian lận thương mại quốc
tế tuy nhiên các nghiên cứu hầu như chưa đi sâu vào gian lận và giả mạo chứng từ Trong luận văn của mình, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề gian lận và giả mạo đối với một số loại chứng từ cụ thể trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế đặc biệt là đối với phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ, phương thức được dùng phổ biến nhất trong giao thương hàng hóa quốc tế tại Việt Nam, dưới góc độ của ngân hàng thương mại
Trang 133 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình gian lận thương mại đặc biệt là vấn đề giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Mục tiêu chính của bài viết này là:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về tài trợ thương mại quốc tế và gian lận thương mại
- Nêu ra thực trạng tình hình gian lận thương mại và giả mạo chứng từ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và trên thế giới Kết hợp với lý luận thực tiễn để rút
ra nguyên nhân từ những thực trạng trên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn chặn hành vi này đem lại kết quả tốt hơn cho hoạt động của hệ thống Ngân hàng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Phạm vi nghiên cứu: tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành dựa trên phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, so sánh và tổng hợp để thực hiện nghiên cứu
6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tài trợ thương mại quốc tế và gian lận thương mại
- Chương 2: Thực trạng về gian lận thương mại và giả mạo chứng từ trong hoạt
động tài trợ thương mại quốc tế tại Việt Nam
- Chương 3: Các giải pháp ngăn chặn gian lận thương mại và giả mạo chứng từ
trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế
Tài trợ thương mại quốc tế là hoạt động hỗ trợ và cung cấp dịch vụ tài chính trực tiếp hay gián tiếp như dịch vụ tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh thương mại trên thị trường thế giới Mục đích của hoạt động thương mại quốc tế là nhằm mục đích sinh lợi (Đinh Xuân Trình, 2012, tr.460)
Có thể nói tài trợ thương mại là dòng chảy của thương mại quốc tế Hoạt động này tồn tại nhằm giảm thiểu rủi ro trong giao dịch thương mại quốc tế Tài trợ thương mại quốc tế bao gồm hai bên: bên tài trợ là bên cung cấp và hỗ trợ các phương tiện tài chính để giúp bên nhận tài trợ là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) hoàn thành nghĩa vụ thanh toán của mình trong quá trình hoạt động thương mại quốc tế Tài trợ thương mại quốc tế có thể tài trợ cho tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất, nhưng cũng có thể tài trợ cho một hoặc một số công đoạn sản xuất tùy thuộc vào quy mô giá trị của sản phẩm lớn hay bé, tính chất kinh doanh hoặc yêu cầu tài trợ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế quyết định Trong lĩnh vực ngân hàng, nghiệp vụ tài trợ thương mại quốc tế là hoạt động mang tính ổn định và đưa về doanh thu đáng kể cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Đối với một số NHTM tại Việt Nam như Vietcombank, Vietinbank…, đây được xem như mảng nghiệp vụ mũi nhọn Khác với tài trợ thương mại trong nước, tài trợ thương mại quốc tế hoàn toàn sử dụng ngoại tệ Đây được xem như một nguồn vốn lưu động giúp cho các nhà xuất khẩu và nhập khẩu tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế cần tài sản lưu động Nghiệp vụ tài trợ thương mại quốc
tế bao gồm nhiều sản phẩm tài chính mà các ngân hàng và doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế
1.1.2 Vai trò của tài trợ thương mại quốc tế
1.1.2.1 Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (bên nhận tài trợ)
Trang 15Hầu hết các công ty dựa vào nguồn vốn bên ngoài để trả chi phí cho các hoạt động kinh doanh khác nhau đặc biệt là các chi phí cố định như nghiên cứu và phát triển, quảng cáo Bên cạnh đó, họ cũng có thể sử dụng số vốn này để chi trả cho các khoản mua nguyên liệu đầu vào, thanh toán lương cho công nhân, hàng tồn kho, máy móc thiết bị sản xuất và các chi phí khác trước khi bán hàng, đồng thời đầu tư trang thiết bị sản xuất nhằm hiện đại hóa quy trình sản xuất từ đó tăng hiệu suất kinh doanh
và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Các hoạt động xuất khẩu liên quan đến chi tiêu trả trước, buộc các công ty phải dựa vào nguồn tài chính bên ngoài từ các ngân hàng thương mại, nhà đầu tư Ngoài ra, một số chi phí có thể phát sinh như vận chuyển, thuế và nghĩa vụ bảo hiểm vận tải hàng hóa, một số trong đó phát sinh trước khi thu về doanh thu xuất khẩu Hơn nữa, việc giao hàng xuyên biên giới có thể mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành trái ngược với các đơn đặt hàng trong nước
Và điều này sẽ làm tăng nhu cầu về vốn lưu động cho các nhà xuất khẩu Ví dụ, thời gian vận chuyển quá cảnh đường biển có thể kéo dài vài tuần có khi lên đến hàng tháng trong khi công ty xuất khẩu thường phải chờ thanh toán từ nhà nhập khẩu
Do đó, các tổ chức tài chính đã tạo ra các công cụ tài chính khác nhau để tài trợ cho các hoạt động thương mại quốc tế Những công cụ này được sử dụng và đôi khi được điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu của các nhà xuất khẩu Vai trò của tài trợ thương mại trong thương mại quốc tế là rất quan trọng Trên thực tế, có tới 90% các giao dịch thương mại quốc tế phụ thuộc vào một hoặc nhiều công cụ tài trợ thương mại Các ngân hàng và tổ chức tài chính cung cấp các sản phẩm tài trợ thương mại nhằm hai mục đích Đầu tiên, tài trợ thương mại đóng vai trò là nguồn vốn lưu động cho các cá nhân và các công ty quốc tế cần tài sản lưu động Thứ hai, tài trợ thương mại được xem như bảo hiểm tín dụng chống lại các rủi ro liên quan đến thương mại quốc tế, chẳng hạn như biến động giá cả hoặc tiền tệ, hoặc rủi ro chính trị Tùy theo đặc thù của từng loại hình kinh doanh, các ngân hàng sẽ dùng cung cấp cho doanh nghiệp sản phẩm hỗ trợ tài chính nhất định và phù hợp
Tài trợ thương mại có thể giúp giảm rủi ro liên quan đến thương mại toàn cầu bằng cách dung hòa các nhu cầu khác nhau của một nhà xuất khẩu và nhập khẩu Điển hình như việc một nhà xuất khẩu muốn nhà nhập khẩu trả trước cho một lô hàng
Trang 16xuất khẩu để tránh rủi ro nhà nhập khẩu nhận lô hàng nhưng từ chối trả tiền cho hàng hóa Tuy nhiên, nếu nhà nhập khẩu trả tiền trước cho nhà xuất khẩu, nhà xuất khẩu
có thể chấp nhận thanh toán nhưng từ chối vận chuyển hàng hóa
Một giải pháp chung cho vấn đề này là ngân hàng của nhà nhập khẩu cung cấp thư tín dụng cho ngân hàng của nhà xuất khẩu thanh toán khi nhà xuất khẩu xuất trình chứng từ chứng minh việc giao hàng ví dụ như là vận đơn Thư tín dụng đảm bảo rằng một khi ngân hàng phát hành nhận được bằng chứng rằng nhà xuất khẩu đã vận chuyển hàng hóa và các điều khoản của thỏa thuận đã được đáp ứng, họ sẽ tiến hành thanh toán cho nhà xuất khẩu Với Thư tín dụng, ngân hàng của người mua chịu trách nhiệm thanh toán cho người bán Ngân hàng của người mua sẽ phải đảm bảo người mua đủ khả năng tài chính để thực hiện giao dịch Tài trợ thương mại giúp cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu xây dựng niềm tin trong giao dịch với nhau và do đó tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển Bên cạnh đó, thông qua các công cụ tài trợ thương mại ngân hàng sẽ đứng ra gánh vác các rủi ro liên quan đến chính trị, tỷ giá, lãi suất… thay cho doanh nghiệp
1.1.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại (bên tài trợ)
Việc cung cấp các công cụ tài trợ thương mại quốc tế đã mang lại cho các ngân hàng doanh thu và lợi nhuận đáng kể dựa trên các khoản thu từ lãi suất và phí dịch
vụ Các hợp đồng tài trợ thương mại quốc tế thường có giá trị ở mức vừa và lớn vì vậy các khoản phí thu được dựa trên những hợp đồng này thường rất cao Bên cạnh
đó, các nghiệp vụ khác của ngân hàng như cho vay tín dụng, kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế cũng được liên kết với nhau tạo ra những mắt xích không thể thiếu trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng
Tài trợ thương mại quốc tế góp phần giúp cho các NHTM giảm thiểu được rủi
ro và tăng cường tính an toàn Thông qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, ngân hàng có thể kiểm soát được các nguồn thanh toán một cách tập trung bằng các tài khoản thanh toán tại chính ngân hàng Hơn nữa, các ngân hàng thương mại có thể hạn chế được các rủi ro từ việc giảm thiểu được việc sử dụng vốn sai mục đích với bên đăng ký tài trợ
Trang 17Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế cũng góp phần giúp các NHTM tiếp cận được với thị trường tài chính toàn cầu và mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng trên toàn thế giới Việc hợp tác giúp các ngân hàng hiểu biết lẫn nhau, từ đó tạo niềm tin và tăng cường mối quan hệ làm ăn lâu dài Từ đó, các NHTM có điều kiện nâng cao vị thế cũng như uy tín của mình, sẵn sang tham gia vào các tiến trình tự do hóa thị trường tài chính - ngân hàng và xu hướng hội nhập kinh tế
1.1.2.3 Đối với nền kinh tế
Tài trợ thương mại quốc tế thúc đẩy hoạt động XNK diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả, từ đó, góp phần đem lại nguồn thu ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nội địa, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá Bên cạnh đó, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế còn thúc đẩy quá trình nhập khẩu, chuyển giao công nghệ hiện đại hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất tạo ra những sản phẩm chất lượng, tăng năng lực cạnh tranh và hạ giá thành sản phẩm Thông qua tài trợ thương mại quốc tế của các NHTM, doanh nghiệp có điều kiện hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp, góp phần loại bỏ các tệ nạn xã hội, đồng thời hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước Một vai trò vô cùng quan trọng của tài trợ thương mại quốc tế đối với nền kinh
tế quốc dân đó là gắn liền thị trường quốc gia vơi thị trường quốc tế Hoạt động xuất nhập khẩu của các nước trên thế giới được diễn ra song hành Hàng hóa dịch vụ của các nước khác nhau sẽ cùng cạnh tranh để giành được vị trí xuất khẩu sang quốc gia khác Vì vậy, để tồn tại và phát triển việc sản xuất hàng hóa dịch vụ phải được các doanh nghiệp xem xét tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế và tài trợ thương mại quốc tế chính là một trong những cầu nối hữu hiệu để thắt chặt thêm sự gắn kết giữa thị trường quốc gia và thị trường quốc tế
Cuối cùng, tài trợ thương mại quốc tế góp phần phục vụ các chương trình, mục tiêu phát triển của đất nước, góp phần mở rộng mối quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới; tăng cường sự hợp tác lẫn nhau trên cơ sở các bên cùng có lợi
Trang 181.1.3 Các loại tài trợ thương mại quốc tế
1.1.3.1 Căn cứ vào người tài trợ
Tài trợ thương mại quốc tế của Chính phủ
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, thực hiện việc quản lý, điều hành, giám sát mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của đất nước Vì vậy, các chủ trương, đường lối, kế hoạch và yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước là do Chính phủ định ra, trong đó có hoạt động thương mại quốc tế
Chính phủ là người đề ra các chính sách tài chính và tín dụng nhằm hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp về mặt tài chính cho các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực kinh doanh thương mại quốc tế
Chính phủ là người tập trung trong tay các nguồn tài chính khổng lồ từ nguồn thu của ngân sách, từ nguồn tài trợ từ các nước, các tổ chức quốc tế và các nguồn thu nhập khác của Chính phủ ở nước ngoài Với vị thế này, Chính phủ trở thành “Người tài trợ cuối cùng” của nền kinh tế quốc dân
Đặc trưng của tài trợ thương mại quốc tế của Chính phủ là tài trợ gián tiếp thông qua các tổ chức như Ngân hàng Trung ương, các trung gian tài chính, kho bạc, các tổ chức tài chính của Chính phủ Công cụ tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp của Chính phủ là các chính sách và biện pháp kinh tế và tài chính như chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ tài chính như kích cầu, miễn giảm thuế và lệ phí, thưởng xuất khẩu, chính sách bảo hiểm tín dụng xuất khẩu…
Tài trợ thương mại quốc tế của Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Trung ương là một định chế tài chính cao nhất và lớn nhất của một quốc gia, là đầu não của hệ thống ngân hàng mỗi nước, là “ngân hàng của các ngan hàng” thay mặt cho Chính phủ thực hiện các chính sách tài chính, tín dụng và hợp tac quốc tế trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, là “người cho vay cuối cùng” có vai trò như
là “bà đỡ” của nền kinh tế quốc dân và là cơ quan phát hành giất bạc của quốc gia Ngân hàng Trung ương là nơi huy động và tập trung các nguồn lực tài hcinhs khổng lồ để tài trợ cho nền kinh tế quốc dân, trong đó dành một nguồn lực tài chính đáng kể để tài trợ cho hoạt động thương mại quốc tế
Trang 19Những nguồn lực tài chính lớn được huy động và tập trung vào tay Ngân hàng Trung ương bao gồm: nguồn vốn tài chính từ ngân sách quốc gia; các nguồn vay nợ, viện trợ của các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế, của các chính phủ nước ngoài; các nguồn vốn được huy động và tập trung dưới mọi hình thức vào các loại quỹ của Nhà nước, như quỹ dự trữ bắt buộc của các trung gian tài chính, quỹ dự trữ ngoại tệ quốc gia, các loại quỹ dự phòng tập trung, quỹ bình ổn giá tập trung, quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ hỗ trợ đầu tư và phát triển…
Đặc trưng tài trợ thương mại quốc tế của Ngân hàng Trung ương là tài trợ vừa trực tiếp vừa gián tiếp, nhưng phần lớn là tài trợ gián tiếp Thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, các trung gian tài chính khác, Ngân hàng Trung ương tài trợ cho thương mại quốc tế bằng các hình thức cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu, bảo lãnh nhà nước hoặc bằng cách chỉ đạo thực hiện các chính sách tài chính và tín dụng của Chính phủ nhằm tạo ra các điều kiện tài chính và cơ hội kinh doanh có lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thương mại quốc tế như chính sách tỷ giá, chính sách chiết khấu, chính sách lãi suất, chính sách cung kết nối, chính sách phá giá hay nâng giá tiền tệ…
Tài trợ thương mại quốc tế của các trung gian tài chính
Đứng ở giác độ huy động vốn ngắn hạn và không kỳ hạn từ nền kinh tế quốc dân, các trung gian tài chính có thể được chia thành hai loại tổ chức khác nhau: tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính khác
Các tổ chức tín dụng gồm có NHTM, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, công ty Factoring, công ty Forfaiting, các ngân hàng (accepting house), công ty cho thuê tài chính, ngân hàng nhà, hợp tác xã tín dụng… Các tổ chức trung gian tài chính khác bao gồm công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, nhà cầm đồ, quỹ đầu tư… Tổ chức tín dụng chiếm đa số trong các trung gian tài chính của một quốc gia Tại các nước kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Đức…, các NHTM chiếm tỷ trọng gần 70% các tổ chức trung gian tài chính, cong ở Việt Nam tỷ trọng này có thể lên tới 90% Điều đó cho thấy, ngân hàng thương mại là người tài trợ chủ yếu cho hoạt động thương mại quốc tế
Trang 20Đặc trưng của tài trợ thương mại quốc tế của các tổ chức tín dụng là tài trợ trực tiếp từ người tài trợ đến người nhận tài trợ, không phải thông qua các tổ chức trung gian
Các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của các tổ chức trung gian tài chính chủ yếu là: tín dụng (Credit), bảo lãnh (Guarantee), chiết khấu chứng từ (Documentary Discount), bao thanh toán (Factoring/Forfaiting), thuê mua (Leasing), tín dụng chứng từ (Documentary Credit), tín dụng dự phòng (Stanby Credit), nhờ thu (Collection), biên lai tín thác (Trust Receipt), chấp nhận hoặc tái chấp nhận hối phiếu (Bill’s Acceptance/Re-Acceptance)…
- Tín dụng chứng từ hay Thư tín dụng (Letter of Credit - L/C) là cam kết của
một ngân hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở L/C)
về việc trả một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng L/C), hoặc sẽ chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát trong phạm vi số tiền đó với điều kiện người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C Có thể nói, công cụ được sử dụng chính trong tài trợ thương mại là Thư tín dụng L/C có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng thanh toán: Bộ chứng từ xuất trình để đòi tiền theo L/C thông thường là những chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa, chứng minh việc người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng đã ký với người mua, là cơ sở
để ngân hàng thực hiện thanh toán
- Chức năng tín dụng: Thư tín dụng là văn bản thể hiện loại tín dụng do ngân hàng cấp cho nhà nhập khẩu và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng với nhà xuất khẩu Trong nghiệp vụ này, chữ “tín dụng” cần được hiểu theo nghĩa rộng là nghĩa
“tín nhiệm” chứ không chỉ là khoản tiền vay theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này Trong thực tế, khi nhà nhập khẩu yêu cầu mở thư tín dụng mag ngân hàng yêu cầu ký quỹ 100% thì lúc này ngân hàng không cấp cho nhà nhập khẩu một khoản tín dụng nào, có chăng ngân hàng chỉ cho nhà nhập khẩu “vay sự tín nhiệm” của ngân hàng mà thôi
- Chức năng đảm bảo: Tín dụng chứng từ là cam kết độc lập của ngân hàng mở L/C đối với nhà xuất khẩu Trong đó, ngân hàng mở L/C đảm bảo nghĩa vụ thanh
Trang 21toán cho nhà xuất khẩu ngay khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp mà không phụ thuộc vào ý muốn hay khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu Mặt khác, thông qua phương thức thanh toán này, quyền lợi của nhà nhập khẩu cũng được bảo vệ vì ngân hàng mở L/C đóng vai trò trung gian kiểm soát chứng từ
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được chỉ dẫn thực hành bởi các Quy tắc hợp thành Bộ tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for documentary Credit - UCP) do Phòng thương mại quốc tế tại Paris (International Chamber of Commerce - ICC) ban hành Tuy chỉ là những quy định của Phòng thương mại quốc tế - một tổ chức phi chính phủ lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong các lĩnh vực thương mại, ngân hàng nhưng bộ tập quán đã được coi như Luật quốc tế trong giao dịch tín dụng chứng từ Đây là tài liệu không thể thiếu của mọi doanh nghiệp kinh doanh XNK, đặc biệt là đối với cán bộ làm công tác tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng thương mại UCP được ban hành nhằm thống nhất các quy định trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng trên phạm vi toàn cầu cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia UCP 600 được ban hành năm 2007 là bản quy tắc mới nhất hiện đang được áp dụng trong thanh toán tín dụng chứng từ Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ các ngân hàng trong việc ra quyết định bộ chứng từ có phù hợp hay không cũng như để làm rõ hơn các nội dung về chứng từ bổ sung cho UCP, ICC đã ban hành bản quy tắc Thực tiễn ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế
để kiểm tra chứng từ theo tín dụng chứng từ (International standard banking practice for the examination of documents under documentary credits - ISBP) ISBP 745 là bản tập hợp mới nhất các quy tắc về kiểm tra chứng từ quy định trong L/C với tên gọi
là Thực tiễn ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế trong việc kiểm tra chứng từ theo UCP 600 được ICC ban hành năm 2013 Ngoài ra, Quy tắc riêng về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo L/C (Uniform rules for bank to bank reimbursement under documentary credit – URR 725) do ICC ban hành năm 2018 được dùng cho Ủy quyền hoàn trả giữa các ngân hàng Đối với Thư tín dụng dự phòng, ICC đã cho ban hành bản quy tắc Thực tiễn L/C dự phòng quốc tế (International Stand by Practice –ISP 590) vào năm 1998
Trang 22Những nội dung cơ bản của thư tín dụng gồm có loại thư tín dụng, người thụ hưởng thư tín dụng, thời hạn hiệu lực, nơi thư tín dụng hết hạn hiệu lực, trị giá của thư tín dụng, hình thức thanht toán của thư tín dụng, các quy định về bộ chứng từ thanh toán, dẫn chiếu UCP áp dụng
Trên thực tế, thư tín dụng có rất nhiều loại:
- Thư tín dụng không hủy ngang (Irrevocable Letter of Credit) là loại L/C chỉ được điều chỉnh hay hủy bỏ khi được sự đồng ý của tất cả các bên liên quan (Người yêu cầu, Ngân hàng mở L/C, Người thụ hưởng L/C và Ngân hàng xác nhận, nếu có)
- Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C) là loại L/C mà hiệu lực của
nó có thể bị hủy bỏ bát cứ lúc nào Việc hủy ngang L/C này chỉ được thực hiện thông qua ngân hàng mở L/C và do chính ngân hàng này thông báo việc hủy ngang cho các bên Tuy nhiên việc hủy ngang chỉ có hiệu lực khi người thụ hưởng chưa xuất trình chứng từ tại ngân hàng chỉ định thanh toán Trong thực tế, loại L/C này rất hiếm khi được sử dụng bởi người hưởng lợi không được đảm bảo quyền lợi, không thể biết được vào thời điểm nào L/C hết hiệu lực
- Thư tín dụng không xác nhận là loại L/C mà người hưởng lợi chỉ nhận được một cam kết trả tiền từ ngân hàng mở L/C
- Thư tín dụng xác nhận là loại L/C mà người hưởng lợi được đảm bảo chắc chắn của ngân hàng xác nhận, cộng thêm vào sự cam kết của ngân hàng mở L/C Người hưởng lợi sẽ được ngân hàng xác nhận thanh toán miễn truy đòi nếu xuất trình chứng từ phù hợp, ngay cả trong trường hợp ngân hàng mở L/C không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán Hơn nữa, người thụ hưởng còn tránh được cả những rủi ro về ngoại hối (chính sách hạn chế chuyển đổi ngoại tệ của nước nhập khẩu) hay những rủi ro quốc gia của các ngân hàng mở L/C
- Thư tín dụng trả tiền ngay (L/C payable by Draft at sight) là loại L/C trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền (hay thông qua ngân hàng đại lý của mình thực hiện việc trả tiền ngay) khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C
- Thư tín dụng trả chậm (L/C available by Deffered Payment) là loại L/C trong
đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền hoặc làm cho việc trả tiền được thực hiện vào
Trang 23một ngày xác định với điều kiện người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C Loại thư tín dụng này có thể không có hối phiếu đi kèm bộ chứng từ
- Thư tín dụng chấp nhận (L/C available by Acceptance) là loại L/C trong đó ngân hàng mở L/C thực hiện chấp nhận hối phiếu hoặc chỉ định một bên thứ ba chấp nhận hối phiếu với điều kiện người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C Ngân hàng mở L/C trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải thanh toán hối phiếu đã chấp nhận, một khi các điều kiện của L/C được đáp ứng đầy đủ
- Thư tín dụng trực tiếp (Straight L/C) là loại L/C trong đó nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng mở L/C chỉ giới hạn duy nhất đối với người thụ hưởng của L/C Dạng L/C này thường yêu cầu người thụ hưởng xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân hàng
mở L/C (hết hạn hiệu lực tại thời điểm giao dịch của ngân hàng phát hành)
- Thư tín dụng cho phép chiết khấu (L/C available by Negotiation) là loại L/C trong đó ngân hàng mở L/C ủy quyền cho một ngân hàng nhất định (trường hợp hạn chế - Restricted Negotiation) hoặc cho phép bất kỳ ngân hàng nào (trường hợp không hạn chế - Freely Negotiation) mua lại bộ chứng từ hoàn hảo do người thụ hưởng xuất trình
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C) là loại L/C theo đó người thụ hưởng thứ nhất (First Beneficiary) có quyền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị của thư tín dụng gốc (Prime L/C) cho người thụ hưởng thứ hai (Second Beneficiary)
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to Back L/C) là loại L/C được phát hành dựa vào một L/C khác “Giáp lưng” được hiểu là một giao dịch thương mại được mua bán qua trung gian bằng hai L/C khác nhau
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C) là loại thư tín dụng mà giá trị của nó được tái tạo nhiều lần ngay khi nghĩa vụ thanh toán của lần trước được thực hiện xong L/C tuần hoàn thường được sử dụng trong thanh toán với các bạn hàng quen thuộc, với số lượng, chủng loại hàng hóa mua bán ổn định trong một thời gian dài Lợi thế của loại L/C này là nhà nhập khẩu chỉ cần mở một L/C cho cả đơn đặt hàng
và nhà xuất khẩu không phải chờ đợi một L/C mới
Trang 24- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause L/C) là loại L/C trong đó có ghi một điều khoản đặc biệt cho phép một ngân hàng (được chỉ định cụ thể) được phép ứng trước một khoản tiền cho người thụ hưởng trước khi giao hàng Thực chất là một ủy quyền của ngân hàng phát hành cho một ngân hàng khác ứng trước tiền hàng cho người xuất khẩu để người xuất khẩu có thể giao hàng hóa theo L/C quy định Khi người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán thì ngân hàng chỉ phải trả phần giá trị còn lại sau khi đã khấu trừ phần thanh toán ứng trước
- Thư tín dụng dự phòng (Stanby L/C) thực chất là một hình thức bảo lãnh của ngân hàng Thư tín dụng dự phòng là một công cụ rất đa năng, sử dụng được ở bất cứ lĩnh vực nào có nhu cầu đảm bảo Nó có thể dùng để đảm bảo thanh toán cho các khoản vay, ứng tiền trước, đền bù tổn thất do vi phạm cam kết, không thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng, cả trong lĩnh vực tài chính và phi tài chính
Các chủ thể tham gia trong phương thức thanh toán L/C:
- Người xin mở thư tín dụng (Applicant) là người yêu cầu ngân hàng phát hành thư tín dụng cho người thụ hưởng
- Ngân hàng phát hành (Issuing Bank) là ngân hàng mở L/C theo đề nghị của người xin mở thư tín dụng
- Ngân hàng thông báo (Advising Bank) là ngân hàng thực hiện thông báo L/C đến người thụ hưởng
- Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank) là ngân hàng đại lý được ngân hàng
mở L/C yêu cầu xác nhận (thường là ngân hàng có hạn mức tín dụng dành cho ngân hàng mở L/C)
- Ngân hàng thanh toán, chiết khấu, chấp nhận (Paying/Negotiating/Accepting Bank) là ngân hàng được ngân hàng mở L/C ủy quyền thanh toán, chiết khấu, chấp nhận hối phiếu và chứng từ do người thụ hưởng xuất trình
- Ngân hàng bồi hoàn (Reimbursing Bank) là ngân hàng đại lý được ngân hàng
mở L/C ủy quyền hoàn trả trực tiếp cho ngân hàng thanh toán, chiết khấu, chấp nhận theo điều kiện của L/C
- Người thụ hưởng (Beneficiary) thường là người bán hàng/nhà xuất khẩu
Trang 25Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Thương mại quốc tế được đảm bảo vận hành trơn tru nhờ rất nhiều vào Thư tín dụng Người xuất khẩu tránh được rủi ro trong thanh toán, thời gian thu hồi vốn nhanh, còn người nhập khẩu nhận được hàng hóa đúng số lượng, chất lượng, đúng thời gian Người nhập khẩu cũng là người kiểm tra cuối cùng bộ chứng từ thanh toán và là người có quyền từ chối thanh toán cuối cùng
Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao do tính phức tạp của phương thức này tuy nó đem lại thu nhập cao cho ngân hàng và tạo điều kiện nâng cao uy tín của ngân hàng Đây là nghiệp vụ chứa đựng rủi ro ở tất cả các khâu nghiệp vụ, do vậy đòi hỏi cán bộ tác nghiệp tính cẩn trọng và thực thi nghiêm chỉnh quy trình thanh toán đã đề ra
Đối với nhà nhập khẩu, đây là cơ hội để mở rộng nguồn cung cấp hàng hóa cho
và giảm thiểu thời gian công sức trong việc tìm kiếm đối tác có uy tín Bên cạnh đó, cùng với sự tham gia của các ngân hàng nên người nhập khẩu sẽ được ngân hàng kiểm tra mọi chứng từ xuất trình khi thực hiện thanh toán Người mua (người nhập khẩu) chỉ phải thanh toán khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện, điều khoản trong L/C và trong quá trình L/C chưa hết hiệu lực thì người nhập khẩu có thể yên tâm về tiền của mình Ngoài ra, người nhập khẩu còn được ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích như cho vay vốn để nhập khẩu, tư vấn thị trường, đồng tiền thanh toán, ưu đãi về phí, lãi vay, tỷ giá…
Đối với nhà xuất khẩu, phương thức tín dụng chứng từ sẽ đảm bảo được việc thu hồi tiền vì bản thân L/C là một cam kết của ngân hàng chắc chắn sẽ trả tiền cho
họ khi người xuất khẩu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình Người bán chắc chắn sẽ thu được tiền hàng với bộ chứng từ hoàn hảo Việc thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu Người xuất khẩu sẽ thu hồi được vốn, không bị đọng vốn trong thời gian thanh toán Bên cạnh đó, người bán có thể thực hiện chiết khấu bộ chứng từ, bán hay vay vốn ngân hàng bằng cách thế chấp bộ chứng từ
- Nhờ thu là nghiệp vụ xử lý của ngân hàng đối với các chứng từ (chứng từ tài
chính hoặc chứng từ thương mại) theo đúng chỉ thị nhận được, nhằm thu hộ tiền cho người ủy nhiệm hoặc chuyển giao chứng từ theo những điều kiện nhất định Xét theo
Trang 26góc độ lịch sử phát triển thương mại quốc tế và cá phương thức thanh toán quốc tế, nhờ thu là cơ sở hình thành và phát triển của phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ Nắm vững cơ chế nhờ thu là tiền đề cần thiết để tìm hiểu sâu bản chất và nguyên
lý thực hành phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không có luật riêng về nhờ thu
Vì vậy, Quy tắc thống nhất về nhờ thu (The Uniform Rules for Collection – URC) do ICC biên soạn và phát hành đã và đang được áp dụng rộng rãi trong nhờ thu ở nhiều nước trên thế giới nhằm tạo điều kiện cho việc thống nhất các nguyên tắc thực hành nghiệp vụ nhờ thu trong thương mại quốc tế và nắm bắt kịp thời sự tiến triển của kinh
tế thế giới URC 522 bản mới nhất được ban hành năm 1995 được điều chỉnh dựa trên URC 322 URC 522 được áp dụng cho tất cả các nghiệp vụ nhờ thu khi được dẫn chiếu vào chỉ thị nhờ thu và ràng buộc tất cả các bên liên quan, trừ khi có thỏa thuận khác trái với quy chế và hoặc luật phá các quốc gia
Trong thanh toán quốc tế nhờ thu được phân thành hai loại:
- Nhờ thu trơn (còn gọi là ủy thác không kèm chứng từ - Clean Collection) là việc thực hiện nhờ thu cho các chứng từ tài chính như hối phiếu, Séc, các công cụ nợ khác… Trong phương thức nhờ thu trơn, người bán/người xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua/người nhập khẩu căn cứ vào hối phiếu
do mình lập ra, còn chứng từ thương mại (chứng từ giao hàng) thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection) là việc thực hiện nhờ thu các chứng từ thương mại có hoặc không kèm theo chứng từ tài chính Trong phương thức này, người bán/người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay thực hiện cung ứng dịch vụ ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền hàng từ người mua/người nhập khẩu không những căn cứ vào hối phiếu, hóa đơn đòi tiền mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng thanh toán đổi lấy chứng từ, hoặc chấp nhận thanh toán đổi lấy chứng từ, hoặc thực hiện các điều kiện và điều khoản quy định đổi lấy chứng từ
So với nhờ thu trơn, nhờ thu kèm chứng từ là phương thức được dử dụng chủ yếu trong thanh toán thương mại quốc tế và được chia thành hai loại:
Trang 27- Nhờ thu theo điều kiện chứng từ đổi lấy chấp nhận (Documents against Acceptance - D/A): theo hình thức này người trả tiền/người nhập khẩu chỉ cần chấp nhận trả tiền hối phiếu (có thể ký chấp nhận trực tiếp vào hối phiếu hoặc chấp nhận bằng văn bản) để được ngân hàng trao cho bộ chứng từ nhận hàng Khi đến hạn thanh toán, người nhập khẩu có trách nhiệm thanh toán cho người xuất khẩu Thực chất đây
là hình thức thanh toán trả chậm, trong đó người nhập khẩu được người xuất khẩu cấp tín dụng
- Nhờ thu theo điều kiện chứng từ đổi lấy thanh toán (Documents against Payment): đây là hình thức nhờ thu theo đó người nhập khẩu chỉ lấy được bộ chứng
từ khi đã chuyển vào ngân hàng đủ số tiền phải thanh toán Hình thức nhờ thu này được áp dụng trong trường hợp trả tiền ngay
Các chủ thể tham gia trong phương thức thanh toán nhờ thu:
- Người Ủy nhiệm - Principal (thường đồng nhất với người xuất khẩu hay người hưởng lợi): là người ủy quyền xử lý nghiệp vụ nhờ thu cho ngân hàng
- Ngân hàng chuyển chứng từ - Remitting Bank: là ngân hàng được Người Ủy nhiệm ủy quyền xử lý nhờ thu
- Ngân hàng xuất trình - Presenting Bank: là ngân hàng ở nước người nhập khẩu, thực hiện chuyển giao chứng từ nhờ thu cho người nhập khẩu theo đúng chỉ thị nhờ thu
- Ngân hàng thu hộ - Collecting Bank: là bất kỳ ngân hàng nào có liên quan đến nghiệp vụ Nhờ thu, nhưng không phải là ngân hàng chuyển chứng từ (thường được hiểu chung với nghĩa ngân hàng xuất trình)
- Người trả tiền – Drawee: là người được xuất trình chứng từ theo đúng chỉ thị nhờ thu
Khi thanh toán theo phương thức nhờ thu, giao dịch thương mại quốc tế có thể nhờ vậy mà giảm bớt được phần nào rủi ro trong kinh doanh ngoại thương đối với cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu, đồng thời hạn chế sự chậm trễ trong khâu thanh toán cho nhà xuất khẩu Trong phương thức này, mặc dù bên mua nắm quyền chủ động trong quyết định thanh toán, nhưng bên mua sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý khi từ
Trang 28chối thanh toán hối phiếu của bên bán, đồng thời uy tín sẽ bị tổn hại nếu không thực hiện đúng cam kết thanh toán và nghĩa vụ hợp đồng đối với bên bán
Ngoài ra, chi phí sử dụng phương thức nhờ thu thấp hơn so với phương thức tín dụng chứng từ và dễ nhận được tài trợ của ngân hàng Đối với nhà xuất khẩu, phương thức nhờ thu giúp người xuất khẩu kiểm soát hàng hóa và được ngân hàng hỗ trợ trong việc thu tiền hàng Đối với nhà nhập khẩu thì không làm ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng đã có tại ngân hàng
- Bao thanh toán đối ứng (Factoring) là việc các tổ chức tài chính/tổ chức tín
dụng mua bán các khoản thu ngắn hạn từ việc mua bán hàng và thực hiện dịch vụ của khách hàng trên cơ sở thỏa thuận khung dài hạn
- Bao thanh toán tuyệt đối (Forfaiting) là việc các tổ chức tài chính/tổ chức tín
dụng mua bán miễn truy đòi người bán các khoản thu Người mua các khoản phải thu
đó chấp nhận rủi ro tín dụng của người có nghĩa vụ thanh toán nếu như người có nghĩa vụ thanh toán không thể thanh toán khoản phải thu đó
- Biên lai tín thác (Trust Receipt) là một hình thức tài trợ nhập khẩu ngắn hạn
để cấp vốn cho Bên mua nhằm thanh toán tiền hàng trong đó quyền sở hữu hàng hóa được ngân hàng cho vay nắm giữ nhưng cho phép Bên mua giữ hàng hóa theo hình thức tín thác để sản xuất kinh doanh trước khi thanh toán cho ngân hàng vào ngày đến hạn của biên lai tín thác Tài trợ theo hình thức biên lai tín thác được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu theo phương thức Thư tín dụng hoặc Nhờ thu
- Chiết khấu hối phiếu là hình thức tài trợ mà người bán hoặc người hưởng lợi
hối phiếu xuất trình hối phiếu chưa đến hạn trả tiền cho ngân hàng Nếu họ cần bán hối phiếu để lấy tiền ngay, ngân hàng sẽ mua hối phiếu đó với một giá thấp hơn số tiền ghi trên tờ hối phiếu đó Nếu hai bên đồng ý, người hưởng lợi hối phiếu sẽ thực hiện nghiệp vụ ký hậu để chuyển nhượng hối phiếu cho ngân hàng
Tài trợ thương mại quốc tế của các doanh nghiệp hoạt động trong thương mại quốc tế hay còn gọi là các tổ chức phi tài chính
Có thể chia ra hai loại doanh nghiệp tham gia vào quy trình tái sản xuất sản phẩm cho xuất khẩu là các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và các doanh nghiệp bán hàng xuất khẩu Phần lớn vốn lưu động và vốn chi phí sản xuất của các doanh
Trang 29nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phải huy động từ nguồn đi vay và hoặc mua chịu trả chậm của các doanh nghiệp khác Ngược lại, đối với các doanh nghiệp bán hàng xuất khẩu, có tới 100% vốn lưu động phải đi vay ngân hàng hoặc mua chịu trả chậm của các doanh nghiệp khác Khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường thế giới, các doanh nghiệp này không dễ gì bán hàng lấy được tiền ngay, mà thường là thu tiền sau dưới hình thức hàng đổi hàng, ghi sổ…
Đặc trưng của tài trợ thương mại quốc tế của các tổ chức phi tài chính là tài trợ ngắn hạn, trực tiếp lẫn cho nhau, không có sự tham gia của các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng Loại tài trợ này thường được gọi là “tài trợ lòng tin”, vì vậy độ rủi ro rất cao Để hạn chế rủi ro này, các doanh nghiệp tài trợ lẫn cho nhau thường liên kết với loại hình tài trợ của các tổ chức trung gian tài chính mà trong mối liên kết này các tổ chức trung gian tài chính có vai trò như người bảo lãnh
Trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp tham gia tài trợ thường là các nhà xuất khẩu và các nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu tài trợ cho nhà nhập khẩu nước ngoài
là nhằm bán được hàng khi mà khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu chưa sẵn sàng Ngược lại, nhà nhập khẩu tài trợ cho nhà xuất khẩu nước ngoài nhằm hỗ trợ về vốn cho nhà xuất khẩu với mức lãi suất ưu đãi hơn so với sử dụng tài trợ từ các tổ chức tài chính khác
Các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của các tổ chức phi tài chính thường
là tín dụng thương mại (Commercial Credit) như bán chịu bằng hối phiếu trả chậm (Unsance Draft), thanh toán ghi sổ (Open Account), thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause Letter of Credit), ứng tiền trước (Payment in Advance)…
1.1.3.2 Căn cứ vào cách tài trợ
Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp (International Direct Trade Spondorship)
Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp là tập hợp các biện pháp hoặc hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các doanh nghiệp để đầu tư cho một hoặc một số hoặc tất
cả các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu
Đặc trưng của tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp được thể hiện trên các mặt sau đây:
Trang 30- Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài trợ thương mại quốc tế của một quốc gia;
- Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp quyết định xu hướng phát triển của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế trong dài hạn;
- Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp được tiến hành chủ yếu thông qua các thị trường tài chính như thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng;
- Chất lượng của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp bị chi phối bởi các thành tố cấu thành thị trường tài chính mà thông qua đó hoạt động tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp thực hiện như lãi suất, thời hạn, điều kiện sử dụng, môi trường, mức độ tín nhiệm của người nhận tài trợ, luật lệ và tập quán và đặc biệt là các chính sách và biện pháp tài chính của nhà nước điều chỉnh đến hoạt động của loại tài trợ này;
- Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp là tài trợ có thời hạn, có hoàn lại, đền bù Dưới sự tác động của xu hướng quốc tế hóa, sự tập trung và tích tụ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp ngày một phát triển Điển hình của mức độ tích tụ tài trợ là sự ra đời và phát triển ngày càng nhanh loại hình tài trợ Bao thanh toán đối dứng (Factoring) và Bao thanh toán tuyệt đối (Forfaiting) trong thương mại thế giới Tài trợ hợp vốn (Syndicated Sponsorship) và tài trợ bằng các nguồn vốn của các tổ chức tài chính đa quốc gia (Composit Sponsorship) như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tề quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)… là biểu hiện của sự tập trung tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp
Trang 31Tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp (International Indirect Trade Sponsorship)
Tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp là tập hợp các chính sách hoặc biện pháp
hỗ trợ tài chính nhằm tạo ra các điều kiện tài chính và cơ hội kinh doanh có lợi cho các doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế tăng thu lợi nhuận
Các chính sách và biện pháp kinh tế và tài chính thường được sử dụng bao gồm: chính sách thuế, phí và lệ phí; chính sách tỷ giá; chính sách tín dụng…
Đặc trưng của tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp được thể hiện qua các mặt sau đây:
- Người tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp là Chính phủ và hoặc các tổ chức tài chính quốc tế;
- Tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp là tài trợ không hoàn lại và không đền bù;
- Thời hạn tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp phụ thuộc vào thời hạn hiệu lực của chính sách hoặc biện pháp tài chính do Chính phủ quy định;
- Bất cứ doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế đều có quyền hưởng những điều kiện hoặc cơ hội có lợi do tài trợ thương mại gián tiếp đem lại, không phân biệt mức độ tín nhiệm, quy mô kinh doanh hoặc ngành nghề của người nhận tài trợ
Kinh nghiệm cho thấy, hiệu ứng của tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp rất cao
và đặc biệt nhạy cảm, nếu Chính phủ ban hành đúng đắn các chính sách và biện pháp tài chính và quản lý có hiệu quả, ngược lại, hậu quả xấu khó lường
1.1.3.3 Căn cứ vào phương tiện tài trợ
Tài trợ tài chính (International Financial Sponsorship)
Tài trợ tài chính là loại tài trợ bằng tiền, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài trợ thương mại quốc tế Người tài trợ dùng vốn huy động của mình để tài trợ cho khách hàng trong thời hạn thỏa thuận Hết hạn, người nhận tài trợ sẽ hoàn trả vốn và đền bù bằng tiền lãi cho người tài trợ
Đặc trưng của loại hình tài trợ thương tài chính thể hiện trên các mặt sau đây:
- Ngân hàng thương mại là người cung ứng tài trợ tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế;
Trang 32- Quyền lợi và nghĩa vụ của người tài trợ và người nhận tài trợ, điều kiện cung ứng và sử dụng tài trợ đều được quy định trong hợp đồng tài trợ;
- Người cung ứng tài trợ tài chính thường xuyên phải đối mặt với rủi ro tín dụng như nợ xấu, lãi suất biến động, tiền tệ mất giá, người đi vay phá sản, khủng hoảng tài chính và tín dụng…
Các loại hình tài trợ tài chính gồm có tín dụng xuất nhập khẩu, chiết khấu thương phiếu, bao tín dụng tương đối và tuyệt đối…
Tài trợ bằng hàng hóa, dịch vụ của người cung ứng tài trợ
Tài trợ bằng hàng hóa hoặc dịch vụ là hình thức tài trợ thương mại quốc tế phát triển lâu đời nhất so với loại hình tài trợ tài chính
Người cung ứng tài trợ loại này không phải là các tổ chức trung gian tài chính như ngân hàng mà là các nhà sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ hoạt động trong thương mại quốc tế
Các hình thức tài trợ bằng hàng hóa và dịch vụ thường gồm có bán chịu trả chậm bằng hối phiếu kỳ hạn, cho thuê tài chính, thương mại bù trừ kỳ hạn…
Tài trợ bằng “chữ tín” của người tài trợ
Người tài trợ mang toàn bộ địa vị, uy tín và thương hiệu của mình đứng ra cam kết thanh toán hay cam kết bồi thường cho người thụ hưởng, nếu người nhận tài trợ không hoàn thành nghĩa vụ quy định trong thư tín dụng, thư bảo lãnh
Người tìa trợ chủ yếu của loại tài trợ này là các tổ chức trung gian tài chính và các tổ chức của Chính phủ, tuy nhiên chủ yếu vẫn là các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với các tài trợ ngắn hạn
Loại hình tài trợ này rất thông dụng ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phát triển kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Do đó, nhu cầu với loại hình bảo lãnh thanh toán và hoặc bảo lãnh đầu tư là rất lớn Bên cạnh sự gia tăng về tốc
độ cũng như về quy mô của loại hình bảo lãnh đơn, loại “đồng bảo lãnh” cũng phát triển rất ngoạn mục
Trang 33Các loại hình tài trợ bằng “chữ tín” thường là bão lãnh, chập nhận thanh toán hối phiếu, tín dụng dự phòng, tín dụng chứng từ… trong số đó, tín dụng chứng từ và bảo lãnh ngân hàng được sử dụng nhiều nhất
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết của ngân hàng phát hành (Bên bảo lãnh) sẽ thanh toán cho Bên thụ hưởng (Bên nhận bảo lãnh) một số tiền nhất định trong khoảng thời gian nhất định nếu Bên thụ hưởng xác nhận rằng Bên đề nghị bảo lãnh (Bên được bảo lãnh) không thể hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc các nghĩa vụ khác đã được thỏa thuận và có liên quan Bảo lãnh ngân hàng thường được sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của Bên đề nghị Một số hình thức bảo lãnh ngân hàng thường gặp: Bảo lãnh dự thầu, Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Bảo lãnh ứng trước tiền hàng hay đặt cọc, Bảo lãnh thanh toán, Bảo lãnh nhận hàng…
Tài trợ bằng dịch vụ tài chính và ngân hàng
Trong kinh doanh thương mại quốc tế, khách hàng không thể tự mình thực hiện
cá nghiệp vụ có liên quan đến thanh toán quốc tế, hối đoái, ký gửi và bảo quản tiền
tệ, séc, thẻ ngân hàng, hối phiếu và các chứng từ có giá khác… mà phải ủy thác cho các tổ chức trung gian tài chính thực hiện
Đặc trưng của loại hình tài trợ này là người cung ứng tài trợ sẽ thu phí từ khách hàng sau khi hoàn thành nghiac vụ cung ứng dịch vụ cho khách hàng Thực ra, người cung ứng dịch vụ có thể thu phí trước, bởi vì một khi chưa hoàn thành nghĩa vụ cung ứng dịch vụ, thì cũng chưa có cơ sở để tính phí Ngoài ra do đặc tính của thương mại dịch vụ là sản xuất và tiêu thụ dịch vụ xảy ra đồng thời, nhu cầu dịch vụ đến đâu thì sản xuất dịch vụ cung ứng đến đó, vì vậy việc tính phí dịch vụ chỉ có thể sau khi cung ứng dịch vụ đã thực hiện
Có thể nói đặc trưng của thương mại dịch vụ là bán chịu hay nói một cách văn hoa hơn, thương mại dịch vụ gắn liền với tài trợ dịch vụ Theo thống kê phổ cập từ ngân hàng các nước phát triển, phí dịch vụ chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thu nhập của NHTM, có khi tới trên dưới 40% hàng năm
Trang 341.1.3.4 Căn cứ vào nguồn tài trợ huy động trong hay ngoài nước
Tài trợ thương mại quốc gia
Tài trợ thương mại giữa người cư trú với nhau, không có sự tham gia của người không cư trú gọi là tài trợ thương mại quốc gia
Nguồn tài trợ từ trong nước chủ yếu được huy động từ thị trường tín dụng và thị trường vốn trung và dài hạn Thị trường tín dụng cung ứng vốn ngắn hạn là chủ yếu Thị trường tín dụng được cấu thành bởi hai thị trường:
- Thị trường tín dụng ngân hàng là nơi huy động tất cả các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hình thành trong xã hội vào trong tay ngân hàng để tái phân phối bằng tiền cho nền kinh tế quốc dân theo nguyên tắc tín dụng
- Thị trường tín dụng thương mại là nơi mà các doanh nghiệp và hoặc các tổ chức kinh tế (không phải là tài chính) cho vay lẫn nhau không bằng tiền, mà bằng hàng hóa hoặc dịch vụ
Thị trường vốn trung và dài hạn mà chủ yếu là thị trường chứng khoán, là kênh huy động và phân phối vốn trung và dài hạn của nền kinh tế quốc dân bằng cách phát hành trái phiếu và cổ phiếu trên thị trường sơ cấp
Các doanh nghiệp hoạt động thương mại quốc tế có thể huy động vốn từ các thị trường nêu trên hoặc là để cấu thành các thị trường nêu trên hoặc là để cấu thành vốn
cố định, hoặc là để bổ sung vốn lưu thông đưa vào quy trình tái sản xuất hàng hóa cho xuất khẩu Đặc trưng của dòng vốn tài trợ từ thị trường vốn trong nước là bằng nội tệ, do đó không chịu rủi ro tỷ giá hối đoái
Tài trợ thương mại quốc tế
Tài trợ thương mại quốc tế là tài trợ thương mại giữa người cư trú và người không cư trú hoặc giữa người không cư trú với nhau Ngày nay, người ta không cần căn cứ vào quốc tịch khác nhau của những người cung ứng và người nhận tài trợ để phân loại quốc gia hay quốc tế
Tài trợ thương mại quốc tế là sự vận hành hai chiều của dòng vốn tài trợ quốc
tế khác nhau Một là dòng vốn cung ứng từ người cư trú cho người không cư trú Hai
là dòng vốn tiếp nhận của người cư trú từ người không cư trú
Trang 35Dòng vốn tài trợ thương mại quốc tế được cấu thành bởi hai dòng vốn khác nhau: Dòng vốn tài trợ từ các tổ chức cá nhân, trong đó chủ yếu là ngân hàng thương mại phân bổ cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế thông qua thị trường tín dụng, theo nguyên tắc cho vay, có hoàn trả và đền bù bằng tiền lãi
và dòng vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế được phân bổ trực tiếp cho các nước thành viên và các tổ chức chỉ định của nhà nước
1.2 Khái niệm chứng từ và vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
1.2.1 Khái niệm chứng từ
Thương mại quốc tế là một hoạt động kinh tế giữa các quốc gia và hoặc công
ty Thực tế, mỗi quốc gia đều có văn hóa kinh doanh, tiền tệ và hệ thống kinh tế riêng trong đó bao gồm hệ thống chứng từ Các loại chứng từ có thể thay đổi dựa trên quy định của từng quốc gia Các thỏa thuận thương mại giữa nhà nhập khẩu và nhà cung cấp hoặc giữa các quốc gia yêu cầu cần phải có chứng từ để bảo vệ quyền của cả hai bên trong quá trình giao dịch
Theo Khoản (b) Điều 2 của URC 522, chứng từ là các chứng từ tài chính và hoặc các chứng từ thương mại Chứng từ tài chính là những văn bản chứa đựng thông tin về thanh toán giữa người mua và người bán Chứng từ tài chính bao gồm hối phiếu,
kỳ phiếu, séc hoặc các loại chứng từ tương tự khác dùng để thu tiền Chứng từ thương mại là những văn bản chứa đựng thông tin về hàng hóa, vận tải, bảo hiểm để chứng minh một sự việc, để nhận hàng, để khiếu nại đòi bồi thường… Ngoài ra, chứng từ thương mại còn là những bằng chứng có giá trị pháp lý, làm cơ sở cho việc giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ thương mại Chứng từ thương mại bao gồm hoá đơn, chứng từ vận tải, các chứng từ về quyền sở hữu hoặc các chứng từ tương tự hoặc bất cứ chứng từ nào khác miễn không phải là các chứng từ tài chính
1.2.2 Vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Chứng từ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, đặc biệt đối với nhà xuất khẩu và nhập khẩu lựa chọn phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ
Trang 36Đối với nhà xuất khẩu, chứng từ là cơ sở pháp lý chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa theo quy định của hợp đồng và cũng là cơ sở pháp lý để thực hiện nghĩa vụ nhận thanh toán
Đối với nhà nhập khẩu, chứng từ là cơ sở pháp lý để thực hiện nghĩa vụ nhận hàng theo quy định của hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán
Đối với các ngân hàng thương mại, đây là căn cứ để kiểm tra sự phù hợp của hoạt động thanh toán quốc tế với quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối, ngoại thương cũng như là căn cứ để thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng theo quy định trong thỏa thuận với khách hàng về dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng Bên cạnh
đó, bộ chứng từ có thể được các ngân hàng tài trợ thông qua nghiệp vụ chiết khấu (Negotiation)
Theo UCP 600, chứng từ là căn cứ để các bên đòi và trả tiền trong phương thức thanh toán bằng thư tín dụng Do đó, chứng từ đóng vai trò không thể thiếu đối với hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của các NHTM trong công tác kiểm tra, giao dịch và cân nhắc thanh toán hoặc ứng trước cho nhà xuất khẩu Theo Điều 5 của UCP 600: “Các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không phải bằng hàng hoá, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan” Bên cạnh đó, theo Điều 34 UCP 600: “Ngân hàng không có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với hình thức, sự hoàn bị, tính chính xác, tính chân thực, sự giả mạo hoặc hiệu lực pháp lý của bất cứ chứng từ nào hoặc đối với các điều kiện chung hoặc điều kiện riêng quy định
ở trong một chứng từ hoặc ghi thêm vào chứng từ đó; hoặc không có nghĩa vụ hoặc trách nhiệm đối với mô tả hàng hoá, số lượng, trọng lượng, chất lượng, điều kiện, bao gói, giao hàng, giá trị hoặc sự hiện hữu của hàng hoá, dịch vụ hoặc các thực hiện khác
mà bất cứ chứng từ nào thể hiện, hoặc về thiện chí hoặc các hành vi hoặc các thiếu sót, khả năng thanh toán, thực hiện nghĩa vụ hoặc địa vị của người gửi hàng, người chuyên chở, người giao nhận, người nhận hàng hoặc người bảo hiểm hàng hoá hoặc của bất cứ người nào khác” Chính vì đặc điểm này là một lỗ hổng lớn khiến cho việc
kẻ gian lợi dụng để làm giả chứng từ Rủi ro đối với các bên bị lừa đảo luôn tiềm ẩn khi ngân hàng nhận phải các chứng từ bị làm giả và quyết định tiến hành thanh toán
Trang 37hoặc ứng trước tiền hàng cho người bán dẫn đến tổn thất không những về vật chất mà còn về uy tín cho các bên liên quan
1.3 Khái niệm gian lận và giả mạo chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Gian lận là hành vi sử dụng các biện pháp không trung thực để lấy được thứ
có giá trị từ người khác Gian lận thương mại là hành vi lừa đảo trong thương mại nhằm mục đích thu về khoản lợi bất chính cho mình Gian lận thương mại thường
có đặc tính quốc tế và hoạt động này gây trở ngại cho thương mại quốc tế, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của nền kinh tế quốc gia Gian lận thương mại quốc
tế không phải là một hiện tượng mới, nó là một tập quán đã phát triển trong nhiều thế kỷ và vẫn đang phát triển Hoạt động thương mại quốc tế phát triển ở giai đoạn càng cao thì càng dễ xảy ra gian lận thương mại điển hình là các vụ lừa đảo với thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp và liên quan đến nhiều bên trong mỗi giao dịch, trong
đó đặc trưng nhất là lừa đảo qua phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ UCP
đã cố gắng phân bổ rủi ro gian lận dựa trên vai trò của các ngân hàng liên quan
Thư tín dụng trong thương mại quốc tế có thể được sử dụng làm công cụ để giao dịch gian lận, điển hình như các bên cố gắng để có được khoản thanh toán bất hợp pháp cho hàng hóa bị lỗi hoặc không tồn tại Bất kỳ bên nào liên quan đến thương mại quốc tế đều có thể là nạn nhân của lừa đảo, cho dù đó là người mua, người bán, công ty thương mại, ngân hàng, công ty bảo hiểm hoặc công ty chuyên nghiệp (người thuê tàu, đại lý vận chuyển, chủ tàu) ICC mô tả gian lận hàng hải xảy ra khi một trong các bên tham gia thương mại quốc tế (ví dụ: người mua, người bán, chủ tàu, người thuê tàu, thuyền trưởng hoặc thuyền viên, công ty bảo hiểm, ngân hàng hoặc đại lý) nhận được tiền hoặc hàng hóa một cách bất hợp pháp từ một bên khác mà bề ngoài có vẻ như họ đã thực hiện các nghĩa vụ thương mại, vận chuyển và tài chính cụ thể Một số hình thức gian lận thương mại được liệt kê sau đây:
- Gian lận về hàng hóa: Đây là dạng lừa đảo dễ xảy ra đối với những đối tác có quan hệ buôn bán lần đầu Chính nguyên tắc “tất cả các bên liên quan trong Tín dụng thư chỉ thực hiện căn cứ trên chứng từ, không căn cứ vào hàng hóa” là điểm mấu chốt, nhưng cũng là điểm yếu nhất, dễ bị kẻ xấu lợi dụng để lừa đảo trong phương
Trang 38thức thanh toán bằng Tín dụng chứng từ Đôi khi, chúng còn tìm cách tăng khả năng thành công bằng cách yêu cầu L/C xác nhận bởi một ngân hàng khác
- Giả mạo chứng từ: là việc lập ra một hay một số hay tất cả bộ chứng từ khống, sai thông tin với mục đích lừa đảo Bộ chứng từ (làm giả) hoàn hảo nhưng không có
lô hàng nào được giao Khả năng xấu nhất là L/C đã được ngân hàng xác nhận chiết khấu miễn truy đòi, còn nhà nhập khẩu chấp nhận từ bỏ hàng hóa cho ngân hàng
“phát mại” hoặc tuyên bố phá sản
L/C giả mạo: Dạng lừa đảo này thường xảy ra đối với loại L/C được mở trực tiếp cho người thụ hưởng, không sử dụng ngân hàng thông báo, hàng hóa được gửi thẳng cho một cái tên đích danh Liên quan đến giao dịch này có thể có L/C giáp lưng hoặc chuyển nhượng khó xác định người mua đích thực
- Lừa đảo có sự tiếp tay của bên mua và hoặc bên bán: Người nhập khẩu đề nghị ngân hàng mở L/C, người thụ hưởng xuất tình bộ chứng từ giả và đem chiết khấu, khi nhận được yêu cầu hoàn trả tiền (cho ngân hàng chiết khấu) thì ngân hàng mở L/C không thể liên lạc được với người nhập khẩu
- Rửa tiền: L/C bị các tổ chức tội phạm lợi dụng để rửa các khoản tiền có nguồn gôc bất hợp pháp Việc phát hành và thanh toán L/C diễn ra hoàn toàn bình thường Các ngân hàng không thể biết tình trạng thực của hàng hóa
UCP 600 không giải quyết các vấn đề về gian lận Các ngân hàng thương mại chỉ tham khảo về gian lận tại Điều 34 của UCP 600 là: “Ngân hàng không có nghĩa
vụ và trách nhiệm đối với hình thức, sự hoàn bị, tính chính xác, tính chân thực, sự giả mạo hoặc hiệu lực pháp lý của bất cứ chứng từ nào hoặc đối vói các điều kiện chung hoặc ghi thêm và chứng từ đó; hoặc không có nghĩa vụ hoặc trách nhiệm đối với mô
tả hàng hóa, số lượng trọng lượng, chất lượng, điều kiện, bao gói, giao hàng, giá trị hoặc sự hiện hữu của hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà bất cứ chứng từ nào thể hiện, hoặc về thiện chú hoặc các hành vi hoặc các thiếu sót, khả năng thanh toán, thực hiện nghĩa vụ hoặc địa vị của người gửi hàng, người chuyên chở, người giao nhận, người nhận hàng hoặc người bảo hiểm hàng hóa hoặc của bất cứ người nào khác”
Trang 39Đối với thanh toán hàng nhập khẩu, khi hợp đồng mua bán quy định phương thức thanh toán là phương thức chuyển tiền và nhờ thu thì trách nhiệm kiểm tra chứng
từ là của nhà nhập khẩu, ngân hàng chỉ có trách nhiệm kiểm tra chứng từ để tiến hành thanh toán khi hợp đồng ngoại thương quy định sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C Tuy nhiên, đối với thanh toán hàng xuất khẩu, dù phương thức thanh toán được chọn là phương thức nào thì việc khách hàng mang bộ chứng từ đến ngân hàng để chiết khấu thì ngân hàng vẫn phải kiểm tra chứng từ rất cẩn thận trước khi ra quyết định thanh toán hoặc tài trợ cho người xuất khẩu Do đó, tội phạm lợi dụng vào lỗ hổng trong việc chỉ kiểm tra trên bề mặt chứng từ mà không kiểm tra hàng hóa của ngân hàng để thực hiện hành vi gian lận thương mại đặc biệt là giả mạo chứng từ để chuộc lợi cho mình cũng như gây tổn thất và thiệt hại lớn đến các bên tham gia mua bán xuất nhập khẩu và cả các ngân hàng
1.2 Khái niệm chứng từ và vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
1.2.1 Khái niệm chứng từ
Thương mại quốc tế là một hoạt động kinh tế giữa các quốc gia và hoặc công
ty Thực tế, mỗi quốc gia đều có văn hóa kinh doanh, tiền tệ và hệ thống kinh tế riêng trong đó bao gồm hệ thống chứng từ Các loại chứng từ có thể thay đổi dựa trên quy định của từng quốc gia Các thỏa thuận thương mại giữa nhà nhập khẩu và nhà cung cấp hoặc giữa các quốc gia yêu cầu cần phải có chứng từ để bảo vệ quyền của cả hai bên trong quá trình giao dịch
Theo Khoản (b) Điều 2 của URC 522, chứng từ là các chứng từ tài chính và hoặc các chứng từ thương mại Chứng từ tài chính là những văn bản chứa đựng thông tin về thanh toán giữa người mua và người bán Chứng từ tài chính bao gồm hối phiếu,
kỳ phiếu, séc hoặc các loại chứng từ tương tự khác dùng để thu tiền Chứng từ thương mại là những văn bản chứa đựng thông tin về hàng hóa, vận tải, bảo hiểm để chứng minh một sự việc, để nhận hàng, để khiếu nại đòi bồi thường… Ngoài ra, chứng từ thương mại còn là những bằng chứng có giá trị pháp lý, làm cơ sở cho việc giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ thương mại Chứng từ thương mại bao gồm hoá
Trang 40đơn, chứng từ vận tải, các chứng từ về quyền sở hữu hoặc các chứng từ tương tự hoặc bất cứ chứng từ nào khác miễn không phải là các chứng từ tài chính
1.2.2 Vai trò của chứng từ trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Chứng từ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, đặc biệt đối với nhà xuất khẩu và nhập khẩu lựa chọn phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ
Đối với nhà xuất khẩu, chứng từ là cơ sở pháp lý chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa theo quy định của hợp đồng và cũng là cơ sở pháp lý để thực hiện nghĩa vụ nhận thanh toán
Đối với nhà nhập khẩu, chứng từ là cơ sở pháp lý để thực hiện nghĩa vụ nhận hàng theo quy định của hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán
Đối với các ngân hàng thương mại, đây là căn cứ để kiểm tra sự phù hợp của hoạt động thanh toán quốc tế với quy định của Nhà nước về quản lý ngoại hối, ngoại thương cũng như là căn cứ để thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng theo quy định trong thỏa thuận với khách hàng về dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng Bên cạnh
đó, bộ chứng từ có thể được các ngân hàng tài trợ thông qua nghiệp vụ chiết khấu (Negotiation)
Theo UCP 600, chứng từ là căn cứ để các bên đòi và trả tiền trong phương thức thanh toán bằng thư tín dụng Do đó, chứng từ đóng vai trò không thể thiếu đối với hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của các NHTM trong công tác kiểm tra, giao dịch và cân nhắc thanh toán hoặc ứng trước cho nhà xuất khẩu Theo Điều 5 của UCP 600: “Các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không phải bằng hàng hoá, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan” Bên cạnh đó, theo Điều 34 UCP 600: “Ngân hàng không có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với hình thức, sự hoàn bị, tính chính xác, tính chân thực, sự giả mạo hoặc hiệu lực pháp lý của bất cứ chứng từ nào hoặc đối với các điều kiện chung hoặc điều kiện riêng quy định
ở trong một chứng từ hoặc ghi thêm vào chứng từ đó; hoặc không có nghĩa vụ hoặc trách nhiệm đối với mô tả hàng hoá, số lượng, trọng lượng, chất lượng, điều kiện, bao gói, giao hàng, giá trị hoặc sự hiện hữu của hàng hoá, dịch vụ hoặc các thực hiện khác
mà bất cứ chứng từ nào thể hiện, hoặc về thiện chí hoặc các hành vi hoặc các thiếu