---***--- LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng TRẦN MINH Đ
Trang 1-*** -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
TRẦN MINH ĐỨC
Trang 2Mã số: 8340201
Họ và tên: Trần Minh Đức
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Thu Hương (Viện KTKDQT)
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ
lệ nợ xấu của các Ngân hàng Thương mại cổ phần Sở hữu vốn Nhà nước tại
Việt Nam” là của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Minh Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc lòng biết ơn chân thành đến các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngoại Thương cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Thu Hương người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 01 tháng 07 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Minh Đức
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU 6
1.1 Tổng quan về nợ xấu 6
1.1.1 Khái niệm nợ xấu 6
1.1.2 Phân loại nợ xấu 8
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 10
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan 10
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan 10
1.1.4 Tác động của nợ xấu 12
1.1.4.1 Đối với hệ thống NHTM 12
1.1.4.2 Đối với nền kinh tế 12
1.1.4.3 Đối với khách hàng 13
1.1.5 Các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu 13
1.2 Tổng quan về NHTM Cổ phần Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam 14
1.2.1 Khái quát về NHTM 14
1.2.1.1 Khái niệm NHTM 14
1.2.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM 15
1.2.1.3 Chức năng của NHTM 16
1.2.2 Khái quát về ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam 17
Trang 61.2.2.2 Khái quát về các ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam 18
1.3 Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các NHTM CP Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam 23
1.3.1 Các nhân tố bên trong 23
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài 28
1.4 Mô hình nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 33
2.1 Thực trạng nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam 33
2.1.1 Tổng quan về hoạt động của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam 33
2.1.1.1 Sự phát triển về quy mô và mạng lưới 33
2.1.1.2 Hoạt động huy động vốn 35
2.1.1.3 Hoạt động tín dụng 37
2.1.1.4 Về kết quả hoạt động kinh doanh 41
2.1.2 Tình hình nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP SỞ HỮU VỐN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 45
3.1 Phương pháp nghiên cứu 45
3.1.1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 45
3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 47
3.1.3 Phương pháp nghiên cứu 47
3.3.1.1 Thống kê mô tả 47
3.3.1.2 Phân tích hồi quy 48
3.3.1.3 Các kiểm định 49
3.3.1.4 Phân tích kết quả 50
3.2 Kết quả nghiên cứu 50
3.2.1 Thống kê mô tả 50
3.2.2 Phân tích tương quan 52
3.2.3 Lựa chọn phương pháp ước lượng hồi quy 52
Trang 73.2.5 Kết quả phân tích hồi quy 56
3.2.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 58
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG TMCP SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 62
4.1 Mục đích và căn cứ đề xuất giải pháp 62
4.1.1 Dựa vào thực tế nợ xấu tại Việt Nam, kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại các nước và kết quả phân tích 62
4.1.2 Dựa vào định hướng phát triển của hệ thống Ngân hàng TMCP đến năm 2025 62
4.1.2.1 Định hướng phát triển chung 62
4.1.2.2 Định hướng hạn chế và xử lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam 64
4.2 Các giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà Nước tại Việt Nam 66
4.2.1 Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ 66
4.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh 66
4.2.3 Đối với việc tăng trưởng các khoản vay 67
4.2.4 Đối với công tác trích lập dự phòng rủi ro 68
4.2.5 Kiểm tra đánh giá chính xác tình hình nợ xấu hiện nay 68
4.2.6 Nâng cao hệ thống quản trị rủi ro và kiểm soát dòng tiền của khách hàng vay vốn 69
4.2.7 Một số giải pháp khác: 69
4.3 Kiến nghị 74
4.4 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 79
Trang 8Từ viết tắt Tiếng Việt
BCTC Báo cáo tài chính
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
Trang 9Bảng 1 1: Phân loại nợ theo IMF 8
Bảng 1 2: Phân loại nợ theo BIS 9
Bảng 1 3: Lịch sử tăng vốn ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 19
Bảng 1 4: Tỷ lệ trích lập dự phòng theo nhóm nợ 25
Bảng 1 5: Các biến trong mô hình nghiên cứu 31
Bảng 2 1: Vốn điều lệ các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn nhà nước ở Việt Nam 34
Bảng 2 2: Tổng tiền gửi khách hàng của các ngân hàng TMCP 35
Bảng 2 3: Tổng dư nợ cho vay khách hàng của các ngân hàng TMCP 38
Bảng 3 1: Bảng tổng hợp biến và mô tả các biến 46
Bảng 3 2: Mẫu thống kê nghiên cứu 51
Bảng 3 3: Ma trận tương quan 52
Bảng 3 4: Lựa chọn mô hình hồi quy 53
Bảng 3 5: Kết quả kiểm định Chow với F-test 54
Bảng 3 6: Kết quả kiểm định Hausman –Test 54
Bảng 3 7: Kết quả kiểm định VIF 55
Bảng 3 8: Kết quả kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi 56
Bảng 3 9: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 56
Bảng 3 10: Kết quả ước lượng bằng phương pháp FEM với Robust 57
Trang 10Hình 1 1: Cơ cấu cổ đông NHTMCP Vietcombank 20Hình 1 2: Cơ cấu cổ đông NHTMCP Vietinbank 21Hình 1 3: Cơ cấu cổ đông NHTMCP BIDV 22Hình 2 1: Tổng tiền gửi khách hàng của các ngân hàng TMCP Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2019 36 Hình 2 2: Tổng dư nợ cho vay khách hàng của các ngân hàng TMCP Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2019 39 Hình 2 3: Lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng TMCP Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2019 41 Hình 2 4: Tổng lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng TMCP Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2019 41 Hình 2 5: Tình hình nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam từ năm 2005-2019 42 Hình 2 6: Tỷ lệ dự phòng rủi ro của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2019 44
Trang 11
Với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam” luận văn đã nêu ra cơ sở
lý luận về nợ xấu: Khái niệm nợ xấu, Phân loại nợ xấu, Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, Tác động của nợ xấu và Các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu Luận văn cũng đưa ra tổng quan về NHTM Cổ phần Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam
Tiếp đó luận văn phân tích thực trạng nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam Phần này luận này văn chia làm 2 phần:
+ Phân tích định tính vềt tình hình nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam
+ Phân tích định lượng: với mục đích phân tích các nhân tố tác động đến tỷ
lệ nợ xấu xấu các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước Kết quả nghiên cứu các yêu tố ảnh hưởng thuận chiều lên tỷ lệ nợ xấu là: tỷ lệ nợ xấu năm trước, giữa tỷ lệ tăng trưởng tín dụng Còn các yếu tố ảnh hưởng ngược chiều lên tỷ lệ nợ xấu là: lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, tỷ lệ lạm phát
Dựa trên các kết quả nghiên cứu luận văn đưa ra các giải pháp hạn chế và xử
lý nợ xấu tại các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà Nước tại Việt Nam
Bên cạnh cách giải pháp, luận văn cũng nêu ra những hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đạt được rất nhiều thành quả khi ngày càng gia nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Trong những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam ngày một phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm đạt trên 8% Đặc biệt năm 2006 đánh dấu một quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam trong xu thế hội nhập khi gia nhập WTO, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức WTO vào ngày 07/11/2006 Các sự kiện trọng đại này tạo ra rất nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là đối với ngành ngân hàng là ngành mạch máu của nền kinh tế Với những cam kết để gia nhập WTO, ngành ngân hàng được đánh giá là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất
Để hội nhập thành công trên “sân nhà”, các NHTM Việt Nam đặc biệt là các NHTM vốn Nhà nước - những đầu tàu mũi nhọn của hệ thống ngân hàng Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh, lành mạnh hoá tài chính theo chuẩn mực quốc
tế Một trong những nội dung hội nhập trong kinh doanh ngân hàng là tham gia vào những hiệp Ước quốc tế, trong đó có các cam kết về quản trị rủi ro ngân hàng Quan trọng nhất trong các hiệp Ước quốc tế về quản trị rủi ro ngân hàng là Hiệp Ước mới
về vốn (Basel II) của uỷ ban Basel, có hiệu lực từ 01/01/2007 với những chuẩn mực
về an toàn vốn và những nguyên tắc thiết yếu trong vấn đề quản trị rủi ro ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng
Hoạt động cho vay là hoạt động chính mang lại lợi nhuận cho ngân hàng tuy nhiên cũng là hoạt động mang đến rủi ro chính cho ngân hàng Rủi ro tín dụng chuyển thành khoản nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng lên một cách đáng kể trong danh mục cho vay của ngân hàng thì sẽ gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có thể gây nên sự đổ vỡ của ngân hàng và gây
ra rủi ro cho toàn bộ hệ thống ngân hàng
Trang 13Vì thế nghiên cứu về nợ xấu nhằm giảm thiểu chúng là một vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lẫn các nhà quản trị ngân hàng và các nhà điều hành chính sách của quốc gia trên thế giới
Với định hướng chính sách kinh tế của chính phủ, Doanh nghiệp nhà nước luôn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô
Đặc biệt, chính sách tiền tệ (CSTT) là công cụ để chính phủ đóng góp vào sự thành công ổn định kinh tế vĩ mô Trong đó có vai trò quan trọng của các NHTM vốn Nhà nước Bám sát các chủ trương của Chính phủ, chỉ đạo của NHNN, các NHTM vốn Nhà nước đã kịp thời và nỗ lực triển khai các giải pháp, hiện thực hóa bằng các hoạt động cụ thể trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu chính trị Các NHTM vốn Nhà nước luôn là những TCTD đi đầu trong việc thực thi các chính sách lãi suất, tỷ giá, điều hành tín dụng… Có thể khẳng định, đây chính là những đơn vị chủ đạo, góp phần tạo lập sự ổn định trên thị trường tiền tệ, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, ổn định kinh tế vĩ mô Chính vì tầm quan trọng của NHTM vốn Nhà nước mà việc kiểm soát rủi ro tín dụng của các NHTM vốn Nhà nước lại càng được đặc biệt quan tâm
Đặt trong bối cảnh đó tác giả chọn đề tài: "Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ
lệ nợ xấu của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam" cho luận văn của mình
2 Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu ngoài nước
Inekwe Murumba (2013) với tựa đề “Mối quan hệ giữa GDP và nợ xấu:
Bằng chứng từ Nigeria (1995 - 2009)” Dựa trên hệ số tương quan Pearson r, chuỗi thời gian phân tích Kết quả của bài này là tìm ra mối quan hệ có ý nghĩa và cùng chiều giữa GDP thực tế và nợ xấu trong ngành ngân hàng Nigeria Điều này trái với những phát hiện của những nghiên cứu trước đây
Hippolyte Fofack (2005) phân tích nhân quả dựa trên dữ liệu bảng để tìm
hiểu các nhân tố gây ra nợ xấu ở các quốc gia vùng Sahara Châu Phi Kết quả bài
Trang 14nghiên cứu chỉ ra rằng lãi suất thực, tốc độc tăng GDP, chỉ số lạm phát, thu nhập trên tổng tài sản (ROA), thu nhập lãi cận biện (NIM) có ảnh hưởng đến nợ xấu
Salas và Saurina (2002) nghiên cứu giai đoạn từ 1985 đến 1997 bằng dữ
liệu bảng tác giả so sánh cùng một nhóm các nhân tố ảnh hưởng tới nợ xấu của các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư ở Tây Ban Nha, kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng tăng trưởng GDP, quy mô ngân hàng và nợ xấu có quan hệ ngược chiều với nhau, các ngân hàng cho vay quá mức có khả năng tăng nợ xấu trong tương lai
Mwanza Nkusu (2011) nghiên cứu những yếu tố vĩ mô tác động đến cho
vay thông qua nghiên cứu dữ liệu 26 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1998 đến
2009 bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với các biến: Tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Đồng thời tác giả sử dụng mô hình tự hồi quy Vector để xem xét mức độ của những cú sốc khác nhau đã tác động đến nợ xấu
Marijana Curak, Sandra Peur và Klime Poposki (2013) nghiên cứu các
yếu tố tác động đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Đông Nam Châu Âu (2003- 2010) thông qua dữ liệu bảng, nghiên cứu 69 ngân hàng tại 10 quốc gia, kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu
Các nghiên cứu trong nước
Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013) nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-2011 kết quả nghiên cứu cho thấy lạm phát và tăng trưởng GDP có tác động đến nợ xấu, nợ xấu có ảnh hưởng đến nợ xấu năm tiếp theo và quy mô ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu
Nguyễn Thị Hồng Nhi (2015): Bài viết “Yếu tố tác động đến nợ xấu các
ngân hàng thương mại Việt Nam” của Nguyễn Thị Hồng Nhi- Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế năm 2015 đã phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu của ngân hàng thương mại VN giai đoạn 2007-2014, kết quả nghiên cứu cho thấy cả yếu tố đặc thù và vĩ mô đều tác động đến nợ xấu hệ thống NHTMVN Trong đó khả năng sinh lời và tăng trưởng kinh tế là những nhận tố
Trang 15chính tác động ngược chiều đến nợ xấu, nợ xấu trong quá khứ, quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng có tác động cùng chiều với nợ xấu Bài viết cũng chỉ ra bằng chứng vốn chủ sở hữu và lạm phát tác động có ý nghĩa đến tỷ lệ nợ xấu của các NHTMVN
Nguyễn Huy Hùng và Đặng Thị Bạch Vân (2015) phân tích ảnh hưởng
của các yếu tố nội tại đến nợ xấu các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp dữ liệu bảng, phân tích trong giai đoạn 2004-2014 kết quả nghiên cứu cho thấy
nợ xấu các NHTM VN chịu tác động các yếu tố nội tại ngân hàng như chất lượng quản trị, rủi ro đạo đức ngoài ra chưa tìm thấy bằng chứng cho thấy đa dạng hóa hoạt động có thể làm giảm tỉ lệ nợ xấu
3 Mục tiêu nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung: Nghiên cứu về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam là các ngân hàng: Vietcombank, BIDV, Vietinbank
Trang 16+ Về không gian: Nghiên cứu các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam
+ Về thời gian: số liệu được lấy từ báo cáo tài chính các ngân hàng TMCP
Sở hữu vốn Nhà nước từ năm 2005 đến năm 2019 Riêng đối với dữ liệu vĩ mô nguồn dữ liệu được tổng hợp từ tổng cục thống kê
Dữ liệu trong bài nghiên cứu là dữ liệu bảng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu, xác định và phân tích ảnh hưởng tác động của các nhân tố đến tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam, luận văn sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp định tính: Dùng thống kê mô tả, phương pháp thu thập và phân
tích thông tin, phương pháp thống kê, tổng hợp, phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp định lượng: Để lựa chọn mô hình phù hợp trong ba mô hình,
tiến hành kiểm định giữa mô hình POOLS và FEM, dùng kiểm định F theo phương pháp Likelihood ratio để so sánh lựa chọn giữa mô hình POOLS và FEM Sau đó, kiểm định Hausman để so sánh giữa mô hình FEM và REM, xem mức độ phù hợp của mô hình nào tốt hơn
6 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận và các phục lục bao gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu Chương 2: Thực trạng nợ xấu của các Ngân hàng TMCP sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam
Chương 3: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam
Chương 4: Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà Nước tại Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU
1.1 Tổng quan về nợ xấu
1.1.1 Khái niệm nợ xấu
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu, nợ xấu “Non-performing loan” (NPL) được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể bị quá hạn và bị nghi ngờ vì khả năng trả nợ của khách hàng Một số quan điểm về nợ xấu:
Theo quỹ tiền tệ (IMF): Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hoá, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thoả thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiện rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xoá nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của
khoản vay đó hoặc thu hồi khoản thay thế (IMF‘s Complilation Guide on Financial
Soundness Indicators, 2004)
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Chuẩn mực kế toán về Ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impairred) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL) Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000 và lần 2 đầu tháng 12 năm 2003) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp hạng một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống
do những tổn thất chất lượng nợ xấu gây ra
Về cơ bản IAS 39 chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp này để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và là phương pháp phân tích dòng tiền trong tương lai hoặc xếp hạng khoản vay Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn
Trang 18Theo uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS): Trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc các khoản nợ được cho là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc
cả hai sự kiện sau đây xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã
quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel committee on banking Supervision, 2002)
BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của Ngân hàng Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực
tế nhận được
Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu xuất hiện từ khi quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ra ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam
Gần đây nhất, thông tư 02/2013/TT-NHNN thay thế cho quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định 18/2007/QĐ-NHNN thì nợ xấu là những khoản
nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn); các nhóm nợ trên có các khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn
từ 90 ngày trở lên
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm nợ xấu
về cơ bản cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Các khoản dư nợ đã quá hạn
từ 90 ngày trở lên; (ii) khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại nghi ngờ
về khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ
Trong bài nghiên cứu, tác giả tính toán tỷ lệ nợ xấu là những khoản nợ nhóm
3, nhóm 4 và nhóm 5 trên tổng dự nợ NHTM
Trang 191.1.2 Phân loại nợ xấu
Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và các đặc điểm tương đồng của khoản vay Việc phân loại nợ xấu giúp cho ngân hàng có thể đánh giá, kiểm soát được chất lượng cho vay và có biện pháp xử lý khi xảy ra vấn đề trong các khoản vay Hiện nay có ba quan điểm chính về phân loại nợ:
Quan điểm thứ nhất: IMF và WB đưa ra một số đặc điểm để sắp xếp các
khoản tín dụng và từng nhóm với chất lượng tín dụng khác nhau như sau:
Bảng 1 1: Phân loại nợ theo IMF Nhóm nợ Những đặc thù
Đạt tiêu chuẩn Không nghi ngờ về khả năng trả nợ; TSĐB hoàn toàn bằng tiền
hoặc tương đương tiên; Quá hạn dưới 90 ngày
Cần theo dõi Các điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ; Các
điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn; Quá hạn dưới
90 ngày
Dưới chuẩn Các yếu điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ; Các khoản nợ đã được thỏa thuận lại; Quá hạn từ 90 – 180 ngày Nghi ngờ Không chắc chắn thu được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện
tại; Có khả năng thất thoát; Quá hạn từ 180 -360 ngày
Mất vốn Các khoản vay không thu hồi được; Luôn có khả năng thu hồi được
một phần; Quá hạn trên 360 ngày
Nguồn: The Bank Credit Analysis Handbook
Quan điểm thứ hai: Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39, các khoản cấp
tín dụng được phân vào 5 nhóm: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn); Nhóm 2 (Nợ cần chú ý); Nhóm 3 (Nợ dưới chuẩn); Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ); Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu là các khoản nợ bị phân từ nhóm 3 trở xuống, cụ thể:
Trang 20- Nhóm 3 (Nợ dưới chuẩn): Việc trả nợ đầy đủ và đúng hạn bị nghi ngờ do thiếu các điều kiện bảo đảm; nợ gốc và lãi đã quá hạn trên 90 ngày
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Bao gồm các đặc thù của nhóm 3; việc thu hồi hoặc thanh toán toàn bộ khoản vay trở nên rất nghi ngờ và không chắc chắn; nợ gốc
và lãi đã chậm quá 180 ngày
- Nhóm 5: (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ bị đánh giá là không có khả năng thu hồi; nợ gốc và lãi đã quá hạn một năm
Quan điểm thứ ba: Theo phương pháp của BIS, nợ xấu được phân thành 5
nhóm và nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay rơi vào 3 nhóm cuối, cụ thể:
Bảng 1 2: Phân loại nợ theo BIS Nhóm nợ Những đặc thù
Không vấn đề Các khoản vay sẽ thu hồi được
Chú ý đặc biệt Các khoản cho vay các doanh nghiệp có thể gặp khó khăn khi thu
hồi nợ
Dưới chuẩn Các khoản cho vay mà tiền trả lãi và gốc đã quá hạn trên 3 tháng
Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 10% trên phần vốn cho vay không được bảo đảm và được xác định là dưới chuẩn
Nghi ngờ Khả năng thanh toán toàn bộ khoản cho vay tỏ ra đáng nghi ngờ,
cho thấy có khả năng sẽ mất vốn, tuy nhiên mất bao nhiêu thì chưa rõ Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 50% cho các khoản vay này
Mất vốn thật sự
và không có khả
năng thu hồi
Các khoản cho vay này được cho là không có khả năng thu hồi Các ngân hàng trích lập dự phòng 100% cho khoản vay này
Nguồn: BIS
Như vậy, việc phân loại nợ có sự tương đồng giữa các quan điểm nhưng khi
áp dụng vào thực tế lại tạo ra những trở ngại nhất định Hiện nay vẫn chưa có sự
Trang 21thông nhất mang tính quốc tế về phân loại nợ và trích lập dự phòng Quá trình phân loại và trích lập dự phòng phụ thuộc nhiều vào sự đánh giá, quyết định của ngân hàng, cơ quan giám sát Do đó, hệ quả tất yếu là kết quả phân loại và trích lập dự phòng là khác nhau giữa các chủ thể là các ngân hàng, kiểm toán độc lập, cơ quan giám sát và giữa các quốc gia
Tóm lại, có nhiều quan điểm và phương pháp tính toán nợ xấu khác nhau, điều này dẫn đến con số nợ xấu của các ngân hàng là khác nhau tuỳ thuộc vào sự đánh giá của cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Biến động của môi trường tự nhiên: Những thay đổi lớn trong môi trường tự
nhiên như thiên tai, hạn hán, lũ lụt có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của người đi vay, đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp, một trong những lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế Việt Nam Khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh làm cho các doanh nghiệp không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, dẫn đến sự gia tăng nợ xấu
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội: Ngân hàng là trung gian tài chính, cũng
là ngành nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự phát triển của nền kinh tế, tình hình chính trị trong nước,… Khi tình hình kinh tế không ổn định, bất ổn xã hội hay những tác động khủng hoảng kinh tế thế giới đều tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp suy giảm, ảnh hưởng đặc biệt đến lĩnh vực tín dụng của ngân hàng, nợ xấu tăng cao
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng: Hệ thống văn bản quản lý chưa
đồng bộ, chưa hoàn thiện đã cản trở nhiều hoạt động, gây ra rủi ro tiềm ẩn cho ngành ngân hàng Sự bất cập và chồng chéo của các văn bản luật sẽ khiến ngân hàng gặp khó khăn trong quá trình xử lý và thu hồi nợ, đặc biệt đối với tài sản đảm bảo là bất động sản, theo quy định hiện hành thì khôg thể đổi tên bất động sản nếu
Trang 22chủ sở hữu chưa đồng ý, nếu mang ra toà thì thủ tục rườm rà, phức tạp, thời gian kéo dài,… ảnh hưởng đến chất lượng và giá trị của tài sản đảm bảo Các quy định
về kiểm toán chưa đủ sức mạnh thực hiện khiến số liệu không đảm bảo cho quá trình thẩm định cho vay
Năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng còn kém: Việc xếp hạng tín dụng nội
bộ khách hàng của cá TCTD mang tính chất chủ quan Một số ngân hàng chưa xây dựng thước đo lượng hoá rủi ro, dẫn đến việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng không đúng thực tế cũng như không có khả năng ngăn ngừa rủi ro thị trường Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vay vốn đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, báo cáo tài chính không được kiểm toán, nếu năng lực quản trị của ngân hàng yếu kém dễ dẫn đến các khoản vay rủi ro cho ngân hàng
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ yếu kém: Tín dụng là lĩnh vực đòi hỏi cán
bộ không chỉ giỏi trong công tác tiếp thị mà phải đảm bảo vững vàng trong chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt quy trình và nhạy bén trước diễn biến của nền kinh tế Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý các khoản vay
có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu dễ dẫn đến rủi ro tín dụng tiềm ẩn
Vấn đề đạo đức của đội ngũ cán bộ ngân hàng: Phẩm chất đạo đức của một số
cán bộ tín dụng chưa đủ, việc sử dụng và đãi ngộ nhân viên chưa thoả đáng, một số cán
bộ không chấp hành nghiêm túc chính sách tín dụng và các điều kiện cho vay, cấu kết với khách hàng làm sai quy định là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ở NHTM
Thị trường mua bán nợ chưa phát triển: Mặc dù đã được triển khai trong
những năm gần đây nhưng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam vẫn khá mới mẻ, cơ chế, chính sách cho thị trường mua bán nợ ở Viêt Nam cũng chưa hoàn chỉnh; chức năng, nhiệm vụ của công ty mua bán nợ đặc biệt là công ty mua bán nợ tư nhân chưa rõ ràng vì vậy nợ xấu vẫn không thể xử lý dứt điểm
Nhóm các nhân tố gây ra từ phía khách hàng: Sử dụng vốn sai mục đích,
không đúng như phương án vay vốn ban đầu dẫn đến mất khả năng trả nợ Khả năng quản trị kém của lãnh đạo làm cho doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh bị phá sản mất khả năng trả nợ ngân hàng Đặc biệt, thiện chí trả nợ của khách hàng là yếu
Trang 23tố quan trọng để ngân hàng có thể thu hồi vốn và lãi vay Khách hàng chưa được truyền thông và hiểu rõ vấn đề nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến chính việc vay vốn của khách hàng trong tương lai Nếu tất cả các yếu tố tài chính của khách hàng tốt nhưng không có thiện chí trả nợ thì gánh nặng nợ của ngân hàng cũng sẽ tăng cao
1.1.4 Tác động của nợ xấu
1.1.4.1 Đối với hệ thống NHTM
Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn vốn của các NHTM bị thất thoát, trong khi đó, ngân hàng này vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, điều này khiến các ngân hàng thương mại sử dụng vốn kém hiệu quả, giảm lợi nhuận, chịu rủi ro dòng tiền, giảm khả năng thanh toán cho các khoản thanh toán của ngân hàng Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng
1.1.4.2 Đối với nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút
và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế Do đó, rủi ro tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế
Ở mức độ thấp, rủi ro tín dụng khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế
Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước
Trang 241.1.4.3 Đối với khách hàng
Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín
Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi ro tín dụng buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản
1.1.5 Các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu
Tổng nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ
khoản nợ xấu của ngân hàng Tuy nhiên chỉ tiêu này mang tính tổng quát, chưa phản ánh được trong tổng số dư nợ ngân hàng thì dư nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu
và nợ không có khả năng thu hồi là bao nhiêu Theo thông tư số NHNN, nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5
02/2013/TT-Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ tín dụng (02/2013/TT-Tỷ lệ nợ xấu): Chỉ tiêu này phản ánh mức
độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đơn vị tiền khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền mà ngân hàng không có khả năng thu hồi,
tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao Thông tư 22/2019/TT-NHNN ngày
15 tháng 11 năm 2019 có nói rõ “Quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” thì tỉ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ của ngân hàng được xem là an toàn nếu tỷ lệ này dưới 3%
Tỷ lệ dự phòng rủi ro/ Nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi no có
khả năng bù đắp bao nhiêu cho khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành nợ mất vốn
Tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi ro đủ bù đắp thiệt hại có thể xảy
ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao
Trang 251.2 Tổng quan về NHTM Cổ phần Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam
1.2.1 Khái quát về NHTM
1.2.1.1 Khái niệm NHTM
NHTM là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Ngân hàng đã hình thành, tồn tại và phát triển từ rất lâu đời, khoảng 3000 năm trước công nguyên Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập quốc tế, các NHTM không ngừng phát triển, hình thành mạng lưới rộng khắp toàn cầu, hoạt động của ngân hàng có tính hệ thống cao, được xem là kênh trung chuyển vốn quan trọng và cung ứng các dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng, phong phú, tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế
Cho đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Theo Ngân hàng Thế giới: Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ
yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm)
Tại Mỹ, NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung
cấp các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu
tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản,
ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế
Tại Pháp, theo đạo luật ngân hàng Pháp năm 1941, NHTM là những xí
nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ủy thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và cung cấp dịch vụ tài chính
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 59/2009 NĐ-CP, NHTM là ngân hàng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.
Như vậy, NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới
Trang 26các hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch
vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế nhằm mục tiêu lợi nhuận
1.2.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM
NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn cho nền kinh tế Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau:
Hoạt động huy động vốn: Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất và ảnh
hưởng tới chất lượng của hoạt động ngân hàng Theo luật các TCTD, hoạt động huy động vốn bao gồm việc nhận tiền gửi, phát hành các giây tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD và vay vốn NHNN dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại điều 30 luật các TCTD Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, đồng thời uy tín của ngân hàng ngày càng cao, từ đó ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân
cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Do đó NHTM phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa Phương, từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhất tạo hiệu quả cho quá trình huy động tiền phục vụ mục
đích phát triển kinh tế
Hoạt động sử dụng vốn: Là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, NHTM không
chỉ huy động vốn mà còn phải sử dụng vốn huy động được để cho vay và đầu từ các tài sản có tính sinh lời Các NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của nhà nước Hoạt động tín dụng của các NHTM cũng được đa dạng hoá từ hình thức đầu tư đến các loại vốn cho vay với thời hạn và điều kiện khác nhau nhằm thu lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hang với mục đích cuối là an toàn và sinh lời Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh
Trang 27tranh của ngân hàng đó trên thị trường Do vậy ngân hàng cần phải nghiên cứu và
đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Để đảm bảo chi phí lưu thông và
tăng độ an toàn, thuận tiện cho các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh, ngân hàng thực hiện dịch vụ thu chi hộ và thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do NHNN quy định Ngoài ra, ngân hang còn thực hiện các dịch vụ ngân quỹ là dịch
vụ thu phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời tổ chức và tham gia các hoạt động thanh toán nội bộ và hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước và quốc tế Hoạt động này ngoài đem lại thu nhập cho ngân hàng còn có tác dụng thu hút khách hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, từ đó thu hút khách hàng sử dụng các hoạt
động tài chính khác
Các hoạt động khác: Để tạo lợi thế kinh doanh cũng như tận dụng mọi khả
năng vốn có của mình, NHTM ngoài các hoạt động cơ bản trên còn thực hiện các hoạt động khác như góp vốn cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, tư vấn cùng các dịch vụ khác có liên quan
đến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật
1.2.1.3 Chức năng của NHTM
Một là chức năng trung gian tài chính: là chức năng quan trọng nhất của
NHTM Khi thực hiện chức năng trung gian tài chính, NHTM đứng ra tập trung nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế để điều chuyển cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn, góp phần đẩy nhanh tốc độ luận chuyển vốn, điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế Mặt khác, NHTM cũng là một chủ thể tham gia trên thị trường tài chính bằng các hoạt động đầu tư sinh lời, cung cấp dịch
vụ tài chính khác cho các chủ thể trong nền kinh tế, như vậy, NHTM cũng là một trong những chủ thể tham gia vào việc phân phối tài chính cho nền kinh tế
Hai là chức năng trung gian thanh toán: NHTM là người quản lý tiền trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, do đó NHTM thực hiện được chức năng trung gian thanh toán cho khách hàng Trong chức năng này, NHTM đóng vai trò là một tổ chức trung gian thực hiện việc thanh toán, chi trả thay cho khách hàng có
Trang 28nhu cầu thanh toán qua ngân hàng theo sự uỷ nhiệm của khách hàng Chức năng trung gian thanh toán mang lại sự tiện nghi chi khách hàng trong hoạt động thanh toán; việc lưu thông hàng hoà, dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn đồng thời góp phần tạo điều kiện thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế tới mức tối đa, nâng cao uy tín và thương hiệu của ngân hàng
Ba là chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ
bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng taọ tiền cho nền kinh
tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ,… Với chức năng này,
hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng như cầu thanh toán, chi trả của xã hội NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN đã áp dụng với NHTM Do vậy NHNN có thể tăng tỷ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn
1.2.2 Khái quát về ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam
1.2.2.1 Khái niệm ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước
Theo Nghị định số 59/2009 NĐ-CP của Chính Phủ về tổ chức và hoạt động
của Ngân hàng thương mại thì “Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng
thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần…”
Bên cạnh đó, Nghị định số 59/2009 NĐ-CP cũng đề cập tới khái niệm Ngân
hàng thương mại nhà nước “Ngân hàng thương mại Nhà nước là ngân hàng thương
mại trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.”
Trang 29Từ hai khái niệm trên, ta có thể nhận ra, Ngân hàng thương mại cổ phần Sở hữu vốn nhà nước sẽ là tập con giữa Ngân hàng thương mại cổ phần và Ngân hàng thương mại Nhà Nước, cụ thể:
Ngân hàng thương mại cổ phần sở hữu vốn nhà nước là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và có sự góp vốn của Nhà Nước
Thông thường, đại diện vốn Nhà nước (Do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đóng vai trò cổ đông) sẽ chiếm đa số vốn trong cơ cấu vốn của Ngân hàng TMCP
Sở hữu vốn Nhà Nước tại Việt Nam
1.2.2.2 Khái quát về các ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước tại Việt Nam
Tính đến thời điểm 31/12/2019, ở Việt Nam có 3 Ngân hàng TMCP Sở hữu vốn Nhà nước là: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank); Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) và Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Đây là những ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng ở nước ta
❖ Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/1963 với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Là ngân hàng thương mại Nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách là một ngân hàng thương mại cổ phần vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM Ngân hàng đã trải qua quá trình tăng vốn và phát triển mạnh mẽ qua từng thời kỳ
Trang 30Bảng 1 3: Lịch sử tăng vốn ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Thời gian Hình Thức
Tỷ lệ
%/
Mệnh giá
Số cổ phần phát hành
Tổng số cổ phần sau phát hành
06/02/2008
Chính thức chuyển đổi thành
NH TMCP Ngoại Thương Việt Nam
cổ đông chiến lược Mizuho
và 2,45% cho cổ đông GIC
10% 111.109.873 3.708.877.448
Nguồn: Báo cáo thường niên TMCP Ngoại Thương Việt Nam qua các năm
Trang 31Hiện tại, cổ đông lớn nhất của VCB là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đại diện vốn Nhà nước tại VCB), nắm giữ 74.8% vốn điều lệ Cổ đông chiến lược Mizuho
Hình 1 1: Cơ cấu cổ đông NHTMCP Vietcombank
Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Mizuho Corporate Bank Ltd nắm giữ 15% vốn điều lệ Các cổ đông khác (bao gồm tổ chức và cá nhân trong nước, tổ chức và cá nhân nước ngoài) nắm giữ 10.2% vốn điều lệ của VCB
Trong các năm gần đây, VCB luôn là ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất, có lợi nhuận cao nhất trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam Đặc biệt, Ngân hàng ghi nhận mức lợi nhuận kỷ lục 23.155 tỷ đồng trong năm 2019
❖ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Ngân hàng Công thương trước đây, nay là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 26/03/1988, trên cơ sở tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Ngày 25/12/2008, Ngân hàng Công thương Việt Nam tổ chức bán đấu giá cổ phần ra công chúng thành công và thực hiện
Trang 32chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần Ngày 03/07/2009, Ngân hàng Nhà nước ký quyết định số 14/GP-NHNN thành lập và hoạt động Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Đến Ngày 16/07/2009 cổ phiếu của VietinBank chính thức được niêm yết và giao dịch trên HOSE với mã giao dịch là CTG
Hiện tại VietinBank có cơ cấu cổ đông tương đối đa dạng nhưng cổ đông lớn nhất vẫn là Ngân hàng Nhà Nước với 64,46%, tiếp theo đó là đối tác chiến lực Ngân hàng của Nhật Bản – MUFJ sở hữu 19,73%
Hình 1 2: Cơ cấu cổ đông NHTMCP Vietinbank
Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
❖ Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Thành lập ngày 26/4/1957, BIDV tự hào là định chế tài chính lâu đời nhất trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại Việt Nam, có uy tín và giá trị hàng đầu Việt Nam Lịch sử của BIDV là hành trình liên tục của một tổ chức luôn đồng hành với những nhiệm vụ trọng tâm của đất nước Bản thân tên gọi của ngân hàng qua 4 lần thay đổi đã nói lên mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược đồng hành xây dựng đất nước qua các thời kỳ: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (1957-1981); Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (1981-1989); Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam -
Trang 33BIDV (1989-2012); Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV - Tên đầy đủ tiếng Anh là: Bank for Investment and Development of Vietnam JSC (từ 01/05/2012)
Ngày 23/4/2012, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành giấy phép về việc thành lập và hoạt động Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với vốn điều lệ hơn 23.000 tỷ đồng Đến ngày 24/01/2014 cổ phiếu của BIDV chính thức được niêm yết và giao dịch trên HOSE với mã giao dịch là BID Với mức giá chào sàn 18.700 đồng/CP, vốn hóa thị trường của cổ phiếu BIDV chiếm hơn 5% tổng mức vốn hóa thị trường và đưa ngành ngân hàng trở thành ngành chiếm giá trị vốn hóa lớn nhất, khoảng 27% trên sàn chứng khoán tập trung
Tương tự với VCB và Vietinbank, Ngân hàng Nhà nước nắm giữ 80,99% cổ phần của BIDV, bên cạnh đó là cổ đông chiến lược KEB Hana Bank, Co., Ltd Với 15% số cổ phần
Hình 1 3: Cơ cấu cổ đông NHTMCP BIDV
Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 34Đặc biệt, Kết thúc năm 2019, tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đạt 1.458.740 tỷ đồng, giữ vững vị thế là ngân hàng thương mại có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 10.768 tỷ đồng
1.3 Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các NHTM CP
Sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam
1.3.1 Các nhân tố bên trong
* Thứ nhất, quy mô tổng tài sản (SIZE):
Quy mô ngân hàng= Tổng tài sản của NHi
- Tài sản có của ngân hàng là toàn bộ tài sản có giá trị mà ngân hàng hiện
có quyền sở hữu hoặc có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một cách hợp pháp Được hình thành trong quá trình sử dụng nguồn vốn Tài sản có bao gồm tài sản có sinh lời và tài sản có không sinh lời
Quy mô ngân hàng càng lớn ngân hàng càng có nhiều cơ hội gia tăng thêm các khoản mục kinh doanh bên cạnh hoạt động tín dụng nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng, hạn chế rủi ro khi tác động từ nền kinh tế Nếu ngân hàng có đặc điểm có thể dùng đòn bẩy tài chính quá mức để gia tăng các khoản vay có chất lượng thấp sẽ tạo nên nhiều rủi ro cho ngân hàng
Giả thuyết: Quy mô tài sản của ngân hàng tác động lên nợ xấu theo chiều hướng tích cực (Rajan và Dhal, 2003), tiêu cực (Salas và Saurina, 2002)
Trang 35Thứ hai, tốc độ tăng trưởng tín dụng Loan i,t :
Tăng trưởng tín dụng là tỷ lệ gia tăng dư nợ tín dụng của năm này so với năm trước đó:
Tốc độ tăng trưởng tín dụng = Dư nợ năm nay –Dự nợ năm trước
Dự nợ năm trước Chỉ tiêu này dùng để so sánh tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm
để đánh giá tình hình cho vay của ngân hàng Sự cạnh tranh trong thị phần cho vay khiến các ngân hàng chạy đua mức tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tín dụng cao thường hệ lụy kéo theo khi nền kinh tế khủng hoảng, các ngân hàng có nguy cơ gặp phải những khoản vay kém chất lượng dẫn đến nợ xấu trong tương lai
Trong những yếu tố bên trong ngân hàng ảnh hưởng đến NPL, chúng ta có thể đề cập đến tốc độ tăng trưởng tín dụng Những nghiên cứu thực nghiệm xác định rằng tốc độ tăng nhanh của tỷ lệ tăng trưởng tín dụng có liên quan đến nợ xấu Bercoff et al (2002) kiểm định dựa trên dữ liệu ngân hàng Argentine và đưa đến kết luận rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng có ảnh hưởng đến nợ xấu Thêm vào đó, những khoản cho vay vượt trội được cung cấp bởi ngân hàng thì thông thường xem
là yếu tố chính ảnh hưởng đến nợ xấu (Sinkey and Greenwalt,1991; Keeton, 1999; Salas and Saurina, 2002; Jimenez and Saurina, 2006)
Giả thuyết: Sự tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu (Salas và Saurina 2002)
Thứ ba, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng: LLR I,t
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = Dự phòng rủi ro tín dụng
Tổng dư nợ tín dụng Căn cứ điều 3 thông tư 02/2013/NHNN về “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”, các khoản dự phòng và nợ xấu được hiểu:
Trang 36Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung
Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể
Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể
Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc nhóm 3,4 và 5
Mức trích lập dự phòng đối tới từng nhóm nợ theo điều 12, thông tư 02/2013/TT-NHNN:
Bảng 1 4: Tỷ lệ trích lập dự phòng theo nhóm nợ Nhóm nợ Phân loại theo số ngày quá hạn Tỷ lệ trích lập dự phòng
Nguồn: Thông tư 02/2013/TT-NHNN
Việc trích lập dự phòng ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của ngân hàng nên đây được xem là nguyên nhân khiến các ngân hàng trích không đúng và đủ dự phòng theo quy định Áp lực kinh doanh, sức ép từ phía cổ đông, uy tín, thương hiệu khiến các ngân hàng giấu những khoản nợ đáng lẽ phải trích dự phòng
Những ngân hàng dự đoán trước mức độ cao trong sự tổn thất về vốn có thể tạo ra mức dự phòng cao hơn để giảm những biến động trong lợi nhuận Dự phòng rủi ro tín dụng thể hiện thái độ về quản trị rủi ro của ngân hàng Quản trị tốt là yếu
tố góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu NHTM
Trang 37Nhân tố tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất nhiều đến nợ xấu của
Sự ảnh hưởng ở đầu là tương quan cùng chiều với nợ xấu Kết quả này khá phù với
lý thuyết kỳ vọng, Đây cũng là kết quả nghiên cứu của Hasan va Wall (2004) và trái ngược với kết quả tìm thấy bởi Boudriga et al (2009)
Giả thuyết tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tương quan nghịch biến với nợ xấu (Boudriga và cộng sự, 2009)
Thứ tư, Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Lợi nhuận ròng trên VCSH = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Lả chỉ số lợi nhuận đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn, ROE cao chứng tỏ rằng ngân hàng sử dụng hiệu quả, cân đối hài hòa giữa vốn của cổ đông và vốn vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô
Dựa trên công thức Dupont có thể thấy ROE được cấu thành từ ba yếu tố: Thứ nhất là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, yếu tố này phản ánh trình độ quản lý doanh thu và chi phí của doanh nghiệp Thứ hai là vòng quay toàn bộ vốn, yếu tố này phản ánh trình độ khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp Thứ ba là hệ
số vốn/ vốn chủ sở hữu, đây là yếu tố phản ánh trình độ quản lý tổ chức nguồn vốn cho hoạt động của ngân hàng Do đó, ROE tăng xuất phát từ việc gia tăng tỷ suất sinh lợi trên doanh thu hoặc vòng quay tổng tài sản hoặc vòng quay tổng tài sản thì đây là dấu hiệu tích cực trong dấu hiệu kinh doanh của NH
Trong nghiên cứu tác giả sử dụng ROE năm t-1 để xác định ảnh hưởng của lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu đối với tỷ lệ nợ xấu năm t
Godlewski (2004) sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA) là một chỉ số thực hiện Ông cho rằng tác động của lợi nhuận của các ngân hàng là âm đến mức
độ tỷ lệ nợ xấu Tuy nhiên, sử dụng 1 bảng của 129 ngân hàng áp dụng ở Tây Ban Nha trong giai đoạn 1993-2000, Garcia-Marco and Robles-Fernandez (2008) chỉ ra rằng mức độ cao của lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được theo sau bởi rủi ro
Trang 38lớn hơn trong tương lai Họ lập luận rằng chính sách của tối đa hóa lợi nhuận được
đi kèm với mức độ rủi ro cao
Giả thuyết: Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu nghịch biến với nợ xấu (Godlewski, 2004)
Thứ năm, vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP):
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản = Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản ngân hàng
Tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thường được sử dụng hơn giá trị tuyệt đối của vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn điều lệ, các quỹ và lợi nhuận chưa phân phối Vốn chủ sở hữu đóng vai trò quan trong trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cung cấp nguồn lực ban đầu cho ngân hàng hoạt động là
cơ sở niềm tin khách hàng giao dịch Tỷ số vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản đánh giá khả năng tự chủ tài chính của Ngân hàng và khả năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu, bên cạnh đó tạo điều kiện để ngân hàng cho vay dễ dàng hơn Các nghiên cứu chỉ ra rẳng các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thấp thường gặp phải rủi ro đạo đức khi mà các nhà quản lý ngân hàng thực hiện các danh mục vay có rủi ro cao
Trong nghiên cứu của Berger and DeYoung (1997) đánh giá sự tồn tại của các yếu tố: chất lượng khoản vay, hiệu quả chi phí, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, mức vốn hóa ngân hàng ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu Nghiên cứu sử dụng dữ liệu các ngân hàng thương mại Mỹ 1985-1994
Giả thuyết: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có quan hệ nghịch biến với
tỷ lệ nợ xấu (Berger và DeYoung, 1997; Podpi-era& Weil, 2008)
Thứ sáu, tỷ lệ nợ xấu giai đoạn trước
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN:
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ nhóm 3,4,5
Tổng dư nợ cho vay
Trang 39Nợ xấu phát sinh đáng kể từ sự yếu kém trong quá trình thu hồi nợ, nguồn dự phòng không cân xứng với khoản nợ xấu chưa giải quyết tạo nên gánh nặng phải xử
lý cho các khoản nợ trong tương lai Bên cạnh đó tồn đọng nợ xấu sẽ dẫn đến tình trạng bảng cân đối kế toán của các ngân hàng vẫn chiếm tỷ lệ nợ xấu cao, ngân hàng không thể cho vay, chi phí hữu hình và vô hình đối với nợ xấu càng lớn
Những khoản cho vay vượt trội được cung cấp bởi ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu giai đoạn thì thông thường xem là yếu tố chính ảnh hưởng đến nợ xấu (Sinkey and Greenwalt,1991; Keeton, 1999; Salas and Saurina, 2002; Jimenez and Saurina, 2006)
Trong nghiên cứu tác giả sử dụng tỷ lệ nợ xấu giai đoạn trước là nợ xấu năm t-1
Giả thuyết: Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn trước tác động cùng chiều tỷ lệ nợ xấu hiện tại (Louzis et al, 2010; Salas và Saurina, 2002)
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội hằng năm (GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường tất cả hàng hóa và dịch
vụ cuối cùng sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là một quốc gia) trong một thời kì nhất định (thường là một năm) Đây là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất Nó phản ánh mối quan hệ tương hỗ trong quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng của sản phẩm cuối cùng của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong toàn nền kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) gồm có GDP danh nghĩa và GDP thực: GDP danh nghĩa là giá trị tổng sản phẩm quốc nội theo giá cả đương thời khi hàng hóa và dịch vụ xuất ra
GDP thực là giá trị của tổng sản phẩm quốc nội danh nghĩa có điều chỉnh bởi lạm phát
Chỉ tiêu này tăng thể hiện nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng kéo theo sự mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng cùng với đó thu nhập của các khách hàng doanh nghiệp và cả cá nhân cũng tăng theo, đáp ứng khả năng chi trả
Trang 40của các khoản vay, tuy nhiên khi nền kinh tế đi xuống ảnh hưởng đến nguồn thu của khách hàng dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu vì vậy, tốc độ tăng trưởng GDP có tính độ trễ theo thời gian
Saurina (2006) trình bày một nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu ở Tây Ban Nha, kết quả cho thấy sự tăng lên trong tốc độ tăng trưởng GDP, cùng với sự giảm xuống của tỷ lệ lãi suất thực thì kết hợp với giảm xuống vấn để khoản vay Tác giả cũng phát hiện thêm tốc độ tăng trưởng của 4 năm về trước có mối tương quan dương với NPL, nghĩa là tốc độ tăng trưởng nhanh của tín dụng ngày hôm nay đưa đến kết quả những chuẩn tín dụng thấp hơn và tăng rủi ro cho khoản vay dựa trên cở sở lập luận rằng việc tăng lên những khoản vay có thể khuyến khích những nhà quản lý của những ngân hàng cho vay một cách vượt trội trong suốt giai đoạn khủng hoảng Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cũng xác định được rằng có mối tương quan dương giữa tăng trưởng tín dụng và NPL (Khemraj and Pasha (2009)và Dash and Kabra (2010)
Giả thuyết: Tăng trưởng GDP có quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ xấu, (Salas và Saurina, 2002), (Fofack, 2005), (Nguyễn Thị Hồng Vinh, 2015)
Thứ hai, tỷ lệ lạm phát hàng năm (INF)
Lạm phát làm mức giá chung của nền kinh tế tăng theo thời gian, lạm phát làm mất giá trị thị trường của đồng tiền hay giảm sức mua của đồng tiền
Về cơ bản lạm phát làm giảm giá trị của của các khoản vay nên khả năng trả
nợ của khách hàng sẽ thuận lợi hơn, nhưng bên cạnh đó lạm phát cũng ảnh hưởng đến thu nhập thực của khách hàng, làm cho thu nhập thực của khách hàng giảm, tiền lương có tốc độ tăng chậm hơn thì lạm phát sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu Trong trường hợp áp dụng lãi suất thả nổi cho khoản vay thì lạm phát tăng cao dẫn đến lãi suất trong hợp đồng tín dụng tăng cao, khi lạm phát tăng cao chính sách tiền tệ thắt chặt
để chống lại lạm phát cũng làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh, tăng nguy cơ không trả được nợ của khách hàng Tóm lại việc gia tăng lãi suất làm gia tăng gánh nặng nợ, làm suy yếu khả năng trả nợ của khách hàng vay