1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VPBANK

120 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Các Quy Định Về Quản Trị Rủi Ro Trong Hoạt Động Cấp Tín Dụng Tại Ngân Hàng VPBank
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng
Người hướng dẫn GS. TS Nguyễn Thị Mơ
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau 27 năm thành lập và phát triển, VPBank đã trở thành một trong những ngân hàng cấp tín dụng cao nhất tại Việt Nam, song song với đó, VPBank luôn quan tâm đến việc áp dụng các quy định

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN TRỊ RỦI

RO TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI

NGÂN HÀNG VPBANK

Ngành: Tài chính – Ngân hàng

NGUYỄN THANH TÙNG

Hà Nội - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt

động cấp tín dụng tại Ngân hàng VPBank” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, được trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các websites… Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứ thực tiễn

Hà Nội, ngày 03 tháng 07 năm 2020

Họ tên

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vi

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 Khái niệm và các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 6

1.1.1 Khái niệm về cấp tín dụng 6

1.1.2 Các hình thức cấp tín dụng 6

1.1.3 Quy trình cấp tín dụng 8

1.2 Khái niệm về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 9

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên nhân phát sinh rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 10

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, các biện pháp và quy trình về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại 15

1.3 Nhóm các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại 24

1.3.1 Lý luận về quy định liên quan đến quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại 24

1.3.2 Phân loại các nhóm quy định về quản trị rủi ro 25

Kết luận Chương 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VPBANK 38

2.1 Tổng quan về VPBank 38

2.1.1 Giới thiệu chung về VPBank 38

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 38

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản trị 39

2.1.4 Hoạt động và kết quả kinh doanh 41

Trang 5

2.2 Thực trạng áp dụng quy định quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng

tại VPBank 43

2.2.1 Thực trạng rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank 43

2.2.2 Thực trạng áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng VPBank 45

2.3 Đánh giá chung về áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng VPBank 64

2.3.1 Thành tựu và kết quả 64

2.3.2 Những hạn chế 67

2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế 70

Kết luận Chương 2 72

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VÀ KIẾN NGHỊ CÁC QUY ĐỊNH QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI VPBANK 73

3.1 Giải pháp tăng cường các quy định quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank 73

3.1.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank 73

3.1.2 Nhóm giải pháp áp dụng hiệu quả quy định quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank 74

3.1.3 Nhóm giải pháp tăng cường áp dụng các quy định nội bộ về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank 78

3.2 Một số kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước và Ngân hàng nhà nước nhằm tăng cường áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng VPBank 81

3.2.1 Một số kiến nghị đối với Nhà nước nhằm tăng cường áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng VPBank 81

3.2.2 Một số kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước nhằm tăng cường áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng VPBank 84

Trang 6

3.2.3 Một số kiến nghị khác đối với các ngân hàng thương mại trong công tác quản trị rủi ro cấp tín dụng 88

Kết luận Chương 3 90 KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO a Phụ lục 1: Một số quy định tại quy định 1636/2014/QĐ-HĐQT của VPBank g Phụ lục 2: Một số quy định tại quy định 1029/2015/QĐi-TGĐ của VPBank về phê duyệt tín dụng tại VPBank n Phụ lục 3: Một số quy định tại Quy định số 36/2014/QĐi-TGĐ r

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Việt Nguyên nghĩa tiếng Anh

CAR Tỷ lệ an toàn vốn Capital adequacy ratio

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Quy trình cấp tín dụng… ……… 09

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức của VPBank……… 40

Bảng 2.1 Tổng tài sản của VPBank giai đoạn 2015 – 2019……… 41

Bảng 2.2 Các chỉ tiêu tổng hợp về kết quả kinh doanh của VPBank………… 42

Bảng 2.3 Các chỉ tiêu về chỉ số tài chính……… 43

Bảng 2.4 Dư nợ cấp tín dụng của VPBank từ năm 2015 – 2019……… 44

Bảng 2.5 Thang điểm xếp hạng tín dụng tại VPBank ……… … 46

Bảng 2.6.Bảng trích lập dự phòng VPBank giai đoạn 2015 – 2019 ……… 49

Biểu đồ 2.1 Hệ số an toàn vốn VPBank 2015-2019………… ……… 52

Bảng 2.7 Cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài ………… …… 56

Bảng 2.8 Dấu hiệu nhận biết các nhóm nợ của VPBank……… f Bảng 2.9 Tỷ lệ khấu trừ với từng loại tài sản bảo đảm ……… j Bảng 2.10 Các cấp phê duyệt……… l

Trang 9

và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho ngân hàng Để đạt được lợi ích đó, việc tuân thủ các quy định về QTRR là yêu cầu có tính bức xúc hiện nay đối với các NHTM, trong đó có VPBank

VPBank là một trong top 10 NHTM uy tín tại Việt Nam và là một trong những NHTM tư nhân được thành lập sớm nhất tại Việt Nam Sau 27 năm thành lập và phát triển, VPBank đã trở thành một trong những ngân hàng cấp tín dụng cao nhất tại Việt Nam, song song với đó, VPBank luôn quan tâm đến việc áp dụng các quy định của pháp luật về QTRR, trong đó rủi ro cấp tín dụng là ưu tiên hàng đầu Tuy nhiên, trong thực tế, công tác áp dụng các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank còn nhiều hạn chế, vì lẽ đó, việc tìm hiểu pháp luật để loại bỏ hạn chế, đảm bảo an toàn trong hoạt động QTRR là rất cần thiết Chính vì lý do đó, tác giả đã chọn

vấn đề: “Áp dụng các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng

VPBank” làm đề tài cho Luận văn cao học của mình

Trong Chương I, Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận về rủi ro, QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM và chỉ ra sự cần thiết phải có các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng Luận văn cũng nêu ra 04 nhóm quy định

về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM là (i) Nhóm các quy định về xếp hạng tín dụng nội bộ, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; (ii) Nhóm các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng, (ii) Nhóm các quy

Trang 10

định về đảm bảo cấp tín dụng nhằm quản trị rủi ro cấp tín dụng, (iv) Nhóm các quy định về xử lý hậu quả rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM

Trong chương 2, Luận văn giới thiệu chung về sự hình thành và phát triển của VPBank và phân tích thực trạng áp dụng QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của VPBank

Trọng tâm của Chương 2 là phân tích thực trạng áp dụng các quy định về QTRR trong hoạt động của VPBank Phân tích về các quy định nội bộ VPBank đã ban hành

để QTRR khi cấp tín dụng và các thành tựu, hạn chế trong công tác này Kết quả mà VPBank thu lại được bao gồm: (i) Thực trạng rủi ro cấp tín dụng tại VPBank; (ii) Cụ thể hóa và tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam trong công tác QTRR cấp tín dụng; (iii) Hệ thống hóa vai trò và trách nhiệm của các đơn vị trong việc thực hiện biên pháp tuân thủ các yêu cầu về quản trị rủi ro cấp tín dụng

Trong Chương 2, luận văn còn chỉ ra những điểm đã đạt được và những điểm hạn chế trong áp dụng các quy định QTRR của VPBank, trong đó có 3 kết quả mà VPBank đã đạt được: (i) VPBank đã tuân thủ các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng; (ii) VPBank cụ thể hóa và có những biện pháp để quản trị rủi

ro cấp tín dụng phù hợp với yêu cầu của pháp luật; (iii) Các chính sách, đào tạo nội

bộ nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro cấp tín dụng

Bên cạnh đó còn những mặt hạn chế của VPBank, đó là: (i) Một số vướng mắc trong công tác quản trị và đạo tạo nhân sự, (ii) Một số quy định nội bộ trong công tác QTRR cấp tín dụng còn chồng chéo và chưa được hoàn thiện, (iii) Hệ thống công nghệ thông tin cần được nâng cao hơn, (iv) Một số vướng mắc trong quá trình cập nhật và ban hành quy định nội bộ

Tại Chương 3, Luận văn đã xác định rõ định hướng và đề xuất các giải pháp áp dụng các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng cho giai đoạn từ năm 2020 đến xa hơn là năm 2025 và đề xuất giải pháp, kinh nghiệm để VPBank hoàn thiện tốt hơn công tác QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng Luận văn cũng đề xuất kiến nghị với Nhà nước, NHNN nhằm tăng cường áp dụng các quy định QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank và với các NHTM khác nâng cao chất lượng của việc áp dụng các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện ngày càng nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, song song với đó, doanh nghiệp và cá nhân cần có nguồn tài chính để có thể đáp ứng nhu cầu của mình Vì vậy, các doanh nghiệp và cá nhân thướng hướng tới nguồn cấp tín dụng mạnh mẽ, một trong số đó là NHTM

Xuất phát từ thực tiễn đó, hoạt động kinh doanh của NHTM đặc biệt là hoạt động tín dụng đã và đang diễn ra phức tạp và luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn Hiện nay, bối cảnh nền kinh tế chung của thế giới và Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, tình trạng nợ quá hạn và nợ xấu của các doanh nghiệp tăng lên nên rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM có xu hướng gia tăng Để đối phó với tình trạng này, NHNN đã ban hành các quy định về QTRR và các NHTM dựa theo đó áp dụng

và ban hành các quy định nội bộ để hạn chế các rủi ro trong công tác cấp tín dụng, góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngân hàng, giúp các NHTM tăng trưởng bền vững Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định về QTRR tại các NHTM gặp nhiều khó khăn và tồn tại nhiều hạn chế, trong đó có VPBank

VPBank là một trong top 10 Ngân hàng hàng đầu Việt Nam và là một trong top

5 Ngân hàng tư nhân có mức cấp tín dụng hàng đầu, tuy nhiên công tác áp dụng các quy định để QTRR trong lĩnh vực cấp tín dụng gần đây mới được chú trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh và vị thế của VPBank Vì vậy, qua thực tiễn công tác và với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích để tìm ra giải pháp,

tôi đã chọn vấn đề: “Áp dụng các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại

ngân hàng VPBank” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng là vấn đề rất được quan tâm và được

đề cập trong nhiều đề tài nghiên cứu Bởi lẽ, nó không chỉ liên quan đến sự an toàn cho hoạt động của NHTM mà còn liên quan đến quá trình phát triển của NHTM đó

Do đó, vào mỗi giai đoạn khác nhau, dưới sự thay đổi về tình hình kinh tế ở trong nước và ngoài nước, các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng lại được thay đổi và cần phải có sự áp dụng các quy định về QTRR vào các NHTM sao cho

Trang 12

triệt để và đảm bảo cho từng hệ thống của NHTM Xuất phát từ tầm quan trọng của các quy định cho nên vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước dưới các góc độ và bình diện rộng, hẹp khác nhau Có thể kể đến một số công trình sau đây:

- Nghiên cứu ở nước ngoài: Các nghiên cứu về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng thường tập trung vào các nước phát triển vì đây tồn tại những ngân hàng có tác động lớn đến thị trường tài chính thế giới, ví dụ như: Luận án tiến sỹ của tác giả Lin

Da có tiêu đề là “Triển khai hệ thống quản lý rủi ro tín dụng dựa trên các kỹ thuật

chấm điểm sáng tạo” (Tiếng Anh là Implementing a credit risk management system

based on innovative scoring techniques, University Birminhham Ph.D, 2012) hoặc

Luận án tiến sỹ của tác giả Xiaoping Li có tiêu đề là “Quản lý rủi ro tín dụng trong

thực tiễn cạnh tranh ở Trung Quốc” (Tiếng Anh là Credit risk management in the

current competitive condition in the Chinese banking industry, University of Wales

Institute Ph.D, 2015) Nội dung của 02 Luận án này nghiên cứu về QTRR và hệ thống QTRR tín dụng của các NHTM theo các chuẩn mực kỹ thuật và thực tiễn cạnh tranh

- Nghiên cứu ở trong nước: Quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng đã được các nhà khoa học tại Việt Nam nghiên cứu và thực tiễn tại một số NHTM, ví

dụ như:

 Năm 1973, tác giả Dương Hữu Mạnh công bố công trình nghiên cứu khoa học có tên gọi “Quản trị rủi ro ngân hàng trong nền kinh tế toàn cầu” Theo đó, tác giả đã phân tích để chỉ ra các rủi ro chủ yếu, quan trọng nhất mà các ngân hàng hiện đại ngày nay thường xuyên phải đối diện và đề xuất giải pháp giải quyết một cách hữu hiệu;

 Năm 2012, các tác giả Ngô Hương, Bùi Quang Tín, Phan Diện Vỹ, Nguyễn Thế Bình xuất bản cuốn sách “Phòng ngừa rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, làm rõ việc hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại hiện nay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã và đang đối mặt với nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro về cấp tín dụng Các tác giả này cũng đưa ra các giải pháp phòng ngừa nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng có khả năng làm thiệt hại đến hoạt động chung của nền kinh tế và của hệ thống ngân hàng

Trang 13

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ đưa ra các ý kiến, quan điểm về công tác quản trị rủi ro tín dụng mà chưa nghiên cứu vào việc áp dụng các quy định về quản trị rủi ro vào một hệ thống ngân hàng cụ thể Chính vì thế, luận văn thạc sỹ này

là luận văn thạc sỹ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng đầu tiên nghiên cứu vấn đề

về “Áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại Ngân

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứ được đặt ra là:

- Nghiên cứ một số lý luận cơ bản về khái luận QTRR, rủi ro trong việc cấp tín dụng và các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cấp tín dụng và sự cần thiết phải có quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM;

- Tìm hiểu các quy định về QTRR trong lĩnh vực cấp tín dụng của Nhà nước

và NHNN nói chung và các quy định nội bộ tại VPBank nói riêng;

- Phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng các quy định QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của VPBank trong thời gian qua, chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế;

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng về QTRR trong lĩnh vực cấp tín dụng tại VPBank trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến QTRR trong hoạt động cấp tín dụng, các quy định về QTRR và thực tiễn áp dụng các quy định của VPBank về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng

Đối tượng nghiên cứu của luận văn còn bao gồm các quy định của pháp luật, của NHNN về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài: “Áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng

tại Ngân hàng VPBank” sẽ giới hạn về phạm vi nghiên cứu Cụ thể:

- Về nội dung: luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một số nội dung quy

định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng, cụ thể là 04 nhóm quy định: (i) Nhóm các quy định về xếp hạng tín dụng khách hàng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; (ii) Nhóm các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng; (iii) Nhóm các quy định về đảm bảo an toàn cấp tín dụng nhằm quản trị rủi ro cấp tín dụng; (iv) Nhóm các quy định về xử lý hậu quả rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu và quy định về QTRR và áp dụng QTRR

tại VPBank

- Về thời gian: Khi đánh giá thực trạng quản trị rủi ro và thực trạng áp dụng

các quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng, luận văn lấy mốc từ năm 2014- năm có văn bản về QTRR đầu tiên được cập nhật theo quy định còn hiệu lực của pháp luật cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích

Tại Chương 1, Luận văn áp dụng phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích để làm rõ một số vấn đề lý luận như khái niểm về rủi ro, QTRR, các quy định về QTRR và các biện pháp để QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM Tại Chương 2, Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp thống

kê và phương pháp so sánh để tập hợp các số liệu và phân tích, so sánh nhằm đánh giá thực trạng áp dụng các quy định vào QTRR tại VPBank

Tại Chương 3, Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm luận giải cho các giải pháp, kiến nghị được đề xuất trọng Luận văn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Trang 15

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng áp dụng các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng VPBank

Chương 3: Giải pháp tăng cường và kiến nghị các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại VPBank

Trang 16

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm và các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về cấp tín dụng

Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các TCTD thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để

tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”

Theo định nghĩa trên, cấp tín dụng được hiểu là quan hệ quan hệ kinh tế giữa một bên

là tổ chức tín dụng và một bên là tổ chức, cá nhân, quan hệ này được thể hiện qua các nội dung sau:

- Tổ chức tín dụng chuyển giao cho tổ chức, cá nhân một khoản tiền hoặc một khoản tiền có điều kiện qua các hình thức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác;

- Bên tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng khoản tiền đó và phải có nghĩa vụ hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo cam kết giữa các bên

1.1.2 Các hình thức cấp tín dụng

Các hình thức cấp tín dụng hiện nay gồm có 06 hình thức cấp tín dụng, đó là cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng, cụ thể:

1.1.2.1 Cho vay

Đây là hình thức cấp tín dụng đặc trưng nhất của NHTM Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh Đối với NHTM, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu

Dựa vào mục đích, hình thức cho vay được phân chia thành: Cho vay bất động sản, cho vay nông nghiệp, cho vay công nghiệp và bất động sản, Còn nếu căn cứ vào thời hạn cho vay có thể chia thành: Cho vay ngắn hạn, dài hạn và trung hạn,

1.1.2.2 Chiết khấu

Trang 17

Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của các ngân hàng là nghiệp vụ NHNN mua ngắn hạn các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, mà các giấy tờ có giá này

đã được các ngân hàng giao dịch trên trên thị trường sơ cấp hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp

NHNN thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của NHNN đối với các ngân hàng nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Căn cứ định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ, Thống đốc NHNN quyết định lĩnh vực NHNN ưu tiên chiết khấu, tái chiết khấu cho các ngân hàng

1.1.2.3 Cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê là các công ty cho thuê tài chính và bên thuê là khách hàng

Bên cho thuê là các công ty tài chính cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê

Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê

đã được hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận

1.1.2.4 Bảo lãnh

Bảo lãnh ngân hàng chính là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền bụ trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng Ngân hàng không bảo lãnh việc bên đối tác có thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình cho bên thụ hưởng hay không mà chỉ đảm bảo sự thanh toán trong phạm vi số tiền trong giấy bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng là sự đảm bảo cho bên thụ hưởng trong trường hợp nếu những hoạt động được chỉ rõ trong hợp đồng không được thực hiện

vì bất kỳ lí do nào thì bên thụ hưởng sẽ được quyền hưởng tiền đền bù

Trang 18

1.1.2.5 Bao thanh toán

Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Trong hoạt động bao thanh toán, ngoài bên bao thanh toán là ngân hàng, còn có các bên tham gia là (i) Bên bán (hay nhà xuất khẩu): các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán và (ii) Bên mua (hay nhà nhập khẩu): còn gọi là người trả tiền, đó là người mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung ứng

1.1.2.6 Phát hành thẻ tín dụng

Thẻ tín dụng là một dịch vụ thanh toán trên cơ sở ngân hàng chấp thuận cho khách hàng đựơc sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng Khi cho vay phát hành phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

Căn cứ vào phạm vi sử dụng mà ngân hàng chia ra làm 02 loại thẻ là thẻ nội địa – thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, đồng tiền giao dịch là đồng tiền nước

đó và thẻ quốc tế - thẻ được sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán, được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu và được hỗ trợ, quản lý trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn như MasterCard, VisaCard

Trang 19

Tiếp xúc, phổ biến và hướng dẫn lập hồ sơ cho khách hàng

Hoàn thành bộ hồ sơ

để chuyển sang bộ phận phân tích

2 - Phân

tích tín

dụng

Hồ sơ đề nghị vay từ giai đoạn 1 chuyển sang

Các thông tin bổ sung

từ phỏng vấn, hồ sơ lưu trữ…

Tổ chức thẩm định về các mặt tài chính và phi tài chính do các

cá nhân hoặc bộ phận thẩm định thực hiện

Báo cáo kết quả thẩm định để chuyển sang

bộ phận có thẩm quyền và quyết định cấp tín dụng

Quyết định cấp tín dụng hoặc từ chối của các nhân hoặc hộ được giao quyền phán quyết

Quyết định cấp tín dụng hoặc từ chối Tiến hành các thủ tục pháp lý như ký HĐTD, các hợp đồng khác

4 – Giải

ngân

Quyết định cho vay

và các hợp đồng liên quan

sở của khách hàng Thu nợ, tái xét và xếp hạng tín dụng

Thanh lý tín dụng

Báo cáo kết quả giám sát và đưa ra các giải pháp xử lý

Lập các thủ tục để thanh lý tín dụng

1.2 Khái niệm về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Trang 20

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và nguyên nhân phát sinh rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm rủi ro cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Theo quan niệm thông thường thì rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm ngoài dự kiến Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế

so với lợi nhuận dự kiến, gây ra thiết hại về vật chất hoặc tinh thần Do đó, rủi ro là điều mà con người không ai mong muốn (Nguyễn Lân, 1998)

Có khá nhiều định nghĩa được đề ra về rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, ví

dụ định nghĩa của Ủy ban Basel quy định: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa đơn giản

nhất là khả năng mà người vay ngân hàng hoặc đối tác sẽ không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận” (Basel Committee on Banking

Supervision, 1999) Cũng theo Ủy ban này, một định nghĩa khác có thể nêu ra là “Rủi

ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vợ nợ của người giao ước trong hợp đồng”,

trong đó sự vỡ nợ được xác định là “bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa

vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi” (Basel Committee on Banking

Supervision, 1999)

Theo định nghĩa được pháp luật Việt Nam quy định tại Khoản 1 Điều 3 của

Thông tư 02/2013/TT-NHNN thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau

đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Từ các định nghĩa khác nhau ở trên, tác giả đưa ra định nghĩa khái quát về rủi

ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM như sau: Rủi ro trong hoạt động cấp tín

dụng là khả năng có tốn thất xảy ra đối với nợ của NHTM do khách hàng không thực hiện đúng một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo nghĩa vụ đã cam kết

1.2.1.2 Đặc điểm của rủi ro cấp tín dụng

Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM có tính đa dạng và

phức tạp Cấp tín dụng là hoạt động mang tính rủi ro bởi tính khó xác định của nó (có

Trang 21

thể xảy ra hoặc không xảy ra, xảy ra ở mức độ nào, thời gian xảy ra rủi ro, nguyên nhân xảy ra?) Do đó, khi cấp tín dụng cho một khách hàng, ngân hàng bao giờ cũng

để tâm tới chuyện nghĩa vụ thực hiện của khách hàng có được đảm bảo hay không

Có thể nói rằng trong thế giới hiện đại ngày nay, cùng với sự phát triển của các kỹ thuật phòng ngừa thì những rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM cũng theo

đó mà phát triển, ngày càng phong phú và phức tạp hơn trước

Thứ hai, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM là tính tất yếu khách

quan: Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, hoạt động kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp để đạt được lợi nhuận tương ứng Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến rủi ro, đặc biệt không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng, nên bất cứ khoản tín dụng nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hoạt động của NHTM Vì vậy, các NHTM đều có các quy trình nội bộ là một hoạt động mang tính chủ động của NHTM, việc có cấp tín dụng hay không đều phụ thuộc vào quyết định tín dụng của người có thẩm quyền Do đó, một khi đã cấp tín dụng thì NHTM bắt buộc phải đánh giá được những rủi ro tiềm tàng từ phía khách hàng và khả năng phòng ngừa của mình… Tính tất yếu cho biết có rủi ro là điều mà cán bộ tín dụng bắt buộc phải ghi sâu trong nhận thức mỗi khi cấp tín dụng, là tiêu chí để các cán bộ tín dụng căn cứ việc chấp nhận hay không rủi ro trong mỗi hình thức cấp tín dụng cho khách hàng

Thứ ba, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM có tính dây chuyền và

ảnh hưởng lan truyền đến lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau Tính chất này thể hiện

ở chỗ: Khi một ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, nghĩa là thu hồi không đầy đủ hoặc không thể thu hồi được số vốn đã cấp tín dụng thì điều đó đồng nghĩa với việc người gửi tiền khó đòi được số vốn của ngân hàng, người được cấp tín dụng cũng khó có cơ hội nhận được các khoản vay mới từ ngân hàng và Nhà nước phải đối mặt với những chỉ trích do việc quản lý, điều hành nền kinh tế đất nước kém hiệu quả Nghiêm trọng hơn là khi người dân mất đi niềm tin ở ngân hàng, họ có thể đồng loạt rút tiền ồ ạt ở nhiều ngân hàng khác nhau khiến không chỉ ngân hàng mà

cả hệ thống ngân hàng đều lâm vào tình trạng sụt giảm nghiêm trọng, mất khả năng chi trả và phá sản ngân hàng là điều có thể xảy ra, đẩy nền kinh tế vào tình trạng khó

Trang 22

khăn suy thoái, gây mất ổn định chính trị Điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008, bắt nguồn từ Mỹ sau đó lan ra toàn thế giới, dẫn đến sự đổ vỡ hai ngân hàng là New Century Financial Corporation và Lehman Brothers, sau đó kéo theo hàng loạt các ngân hàng, TCTD khác của Mỹ thi nhau phá sản (Trung Mến, 2018)

1.2.1.3 Nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, bao gồm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

a Các nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, hệ thống thông tin còn nhiều bất cập Do môi trường kinh tế luôn biến

động, xu hướng tư do hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã khiến thị trường thế giới cạnh tranh ngày càng khốc liệt và có sự biến động nhanh khó dự đoán được, nên thông tin tín dụng của khách hàng trong tương lai (gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính) và đặc biệt là các thông tin thống kê về các chỉ tiêu trung bình ngành phục

vụ cho việc xếp loại khách hàng vay khó có thể minh bạch, chính xác Khả năng các ngân hàng gặp rủi ro khi cấp tín dụng cũng từ đó tăng lên, đặc biệt là các khoản nợ xấu gia tăng do những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ kinh doanh thua lỗ và phá sản Ngay cả bản thân các NHTM cũng phải cạnh tranh gay gắt với nhau với ngân hàng quốc tế, trong khi đó các NHTM trong nước với hệ thống quản trị còn yếu kém dễ làm tăng nguy cơ nợ xấu

Ngoài ra, hệ thống thông tin của Việt Nam hiện nay còn khá nhiều bất cập, Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ Trong thời gian qua, Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) trực thuộc NHNN hoạt động đã đạt được những kết quả đáng khích

lệ trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là

cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả Vai trò kết nối các NHTM của CIC còn lỏng lẻo, chưa đạt được kết quả như mong muốn

Thứ hai, do hệ thống văn bản pháp lý chưa hoàn thiện Mặc dù hành lang pháp

lí để hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng đã được Nhà nước xây dựng khá lâu nhưng hệ thống các văn bản pháp luật này khi đi vào triển khai trong thực tiễn lại gặp phải một số vướng mắc, bất cập, chồng chéo, chưa sát với thực tiễn khiến hoạt động QTRR tại các NHTM chưa thực sự có hiệu quả

Trang 23

Chính phủ thường xuyên ban hành mới các chính sách về thuế, về xuất nhập khẩu, hoặc các quy định về đất đai, nhà ở… Khi một chính sách bị thay đổi đột ngột

sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng đến kế hoạch, cũng như khả năng dự báo sức tiêu thụ trên thị trường của các doanh nghiệp Việc định hướng chiến lược sản xuất, kinh doanh không phù hợp, không chính xác sẽ dẫn đến sản xuất cung vượt cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, giá bán hạ, thua lỗ, khách hàng sẽ không đảm bảo nguồn tiền trả nợ cho các NHTM

b Các nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng gây ra:

- Đối với khách hàng cá nhân:

 Thiếu năng lực tài chính: khách hàng được cấp tín dụng không đủ khả năng tài chính để trả nợ, dẫn tới việc thu hồi nợ của ngân hàng gặp khó khăn

 Thiếu năng lực pháp lý: Khi khách hàng thiếu năng lực pháp lý thì việc thu hồi nợ của ngân hàng gặp nhiều khó khăn về thủ tục, thời gian Ngoài ra, một số khách hàng để đạt được mục đích được cấp tín dụng đã tìm mọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng, cung cấp thông tin sai sự thật, mua chuộc cán bộ ngân hàng

 Sử dụng vốn sai mục đích: Là việc khách hàng dung vốn vay của mình không đúng mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Từ đó dẫn đến khách hàng

có thể làm ăn thua lỗ và không có khả năng trả nợ

 Do đạo đức: Trình độ yếu kém của người được cấp tín dụng trong dự đoán, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ỳ không trả nợ… là những nguyên nhân gây

ra rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng Trên thực tế cho thấy yếu tố đạo đức là nguyên nhân rất quan trọng trong việc trả nợ, người được cấp tín dụng có khả năng trả nợ nhưng cố tình không trả nợ, ảnh hưởng rất lớn tới NHTM

 Do môi trường khách quan của người được cấp tín dụng: Sa thải, thất nghiệp, tai nạn lao động, chịu trách nhiệm hình sự… dẫn đến mất nguồn thu nhập để trả nợ cho ngân hàng

- Đối với khách hàng doanh nghiệp:

 Doanh nghiệp bị mất năng lực pháp lý: Do trong quá trình hoạt động kinh doanh doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép kinh doanh hoặc bị các quyết định của cơ

Trang 24

quan nhà nước yêu cầu tạm dừng hoạt động, kinh doanh, sản xuất, dẫn đến sản xuất kinh doanh không được và không có khả năng trả nợ ngân hàng

 Năng lực chuyên môn yếu kém, quản lý không tốt, uy tín lãnh đạo giảm sút của doanh nghiệp, thiếu quan tâm để thực hiện tốt các khâu của quá trình tổ chức, điều hành sản xuất kinh doanh hay do hạn chế về nghề nghiệp chuyên môn của nhân viên doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp làm ăn thua lỗ

 Do môi trường khách quan tác động vào doanh nghiệp: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp ước quốc tế về giảm thuế dẫn đến các doanh nghiệp khó

có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế dẫn đến giảm sút thị trường tiêu thụ, hạ giá sản phẩm để cạnh tranh dẫn đến doanh nghiệp thua lỗ

 Các startup ngày càng xuất hiện nhiều nhưng các doanh nghiệp startup này khởi đầu với quy mô tài sản nhỏ, năng lực yếu kém, tình hình tài chính thiếu minh bạch, sổ sách kế toán cung cấp cho ngân hàng chỉ mang tính hình thức, thiếu trung thực

 Sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu hồi nợ của ngân hàng

Thứ hai, nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân các NHTM, cụ thể:

- Áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng tăng, nhiều ngân hàng có

xu hướng dựa vào một số chỉ tiêu đơn giản để cấp cho vay nhằm thu hút khách hàng Tại nhiều NHTM, công tác QTRR cấp tín dụng mới chỉ tập trung vào việc đo lường rủi ro chứ chưa chú trọng vào việc phát hiện, cảnh báo các nguy cơ rủi ro, và mức độ rủi ro cũng như chưa được nhìn nhận đầy đủ tầm quan trọng của rủi ro, do đó vẫn chưa quán triệt ở các cấp quản trị thấp hơn Ban giám đốc, HĐQT

- Không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng

- Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lí điều hành của ban quản lý còn nhiều bất cập: cán bộ NHTM bất cập về trình độ hoặc vi phạm đạo đức trong kinh

Trang 25

doanh, dẫn đến cho vay khống, cho vay không đúng mục đích, thẩm định dự án đầu

tư, phương án kinh doanh không chính xác, yếu kém trong quản lí danh mục cho vay…

- Công tác kiểm tra nội bộ của các ngân hàng còn lỏng lẻo, chủ yếu mang tính hình thức, bố trí cán bộ chưa đạt tiêu chuẩn nên đánh giá rủi ro chưa thực sự chính xác

- Vi phạm nguyên tắc trong cho vay, vượt tỷ lệ an toàn hoặc thiếu tài sản thế chấp, cầm cố

- Hạ tầng công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn rất lạc hậu, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực quản trị điều hành của các NHTM

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, các biện pháp và quy trình về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Khái niệm về quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại

Thuật ngữ QTRR được sử dụng để chỉ việc xác định, phân cực và phân tích các mối đe dọa hoặc rủi ro có thể ảnh hưởng đến vốn và thu nhập của bất kỳ tổ chức nào Theo Tổ chức Moody’s Analytics, QTRR cấp tín dụng là một quá trình thực hiện các biện pháp giảm tổn thất bằng cách hiểu một cách đầy đủ về vốn và dự phòng rủi ro cấp tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định Với quan điểm này thì QTRR cấp tín dụng thực chất là việc nhà quản trị có những biện pháp để quản lý vốn

và dự phòng cho rủi ro cấp tín dụng (Lê Thu Hương, 2019)

Còn với Ủy ban Basel cho rằng, QTRR cấp tín dụng là việc thực hiện các biện pháp tối đa hóa tỷ suất sinh lời điều chỉnh theo rủi ro cấp tín dụng bằng cách duy trì

số dư tín dụng trong phạm vi các tham số cho phép Khái niệm về QTRR cấp tín dụng của Ủy ban Basel đã làm rõ được vấn đề đó là mục đích của QTRR cấp tín dụng là tối đa hóa lợi nhuận dựa trên cơ sở đảm bảo tổn thất do rủi ro cấp tín dụng gây ra nằm trong giới hạn mà ngân hàng có thể chấp nhận được (Lê Thu Hương, 2019)

QTRR của NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của các nhà quản trị ngân hàng lên các đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, từ đó nâng

Trang 26

cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn của mỗi ngân hàng QTRR không có nghĩa là né tránh rủi ro mà

là đối diện với rủi ro để lựa chọn rủi ro nào sẽ lưu giữ và rủi ro nào phải chuyển giao Mục tiêu của QTRR là tối thiểu hóa hậu quả của tổn thất, loại trừ tốn thất từ các rủi

ro bất ngờ, tối thiểu hóa các tổn thất có thể xuất hiện

Từ định nghĩa về rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng và QTRR nói chung trong

kinh doanh của NHTM, ta có thể hiểu: QTRR trong hoạt động cấp tín dụng là quá

trình xem xét, xác định các rủi ro tiềm ẩn và từ đó tìm cách quản lí, hạn chế một cách tối đa các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng đối với các NHTM

Có thể nói rằng, QTRR trong hoạt động hoạt động cấp tín dụng là nghiệp vụ chủ đạo và cũng là thước đo năng lực phát triển, tồn tại hay tiêu vong của một NHTM

1.2.2.2 Đặc điểm của quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng

Hoạt động QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM có những đặc điểm

cơ bản như sau:

Thứ nhất, chủ thể trực tiếp tiến hành các hoạt động để hạn chế rủi ro trong quá

trình cấp tín dụng luôn là các NHTM NHNN chỉ đóng vai trò là cơ quan tổ chức và xây dựng các chính sách pháp luật về QTRR tín dụng Trên cơ sở các quyết định đó, NHTM phải ban hành và tổ chức thực hiện quy định riêng của mình về QTRR tín dụng

Thứ hai, hoạt động QTRR trong hoạt động cấp tín dụng thường được thực hiện

trong suốt quá trình NHTM cấp tín dụng cho khách hàng: QTRR trong hoạt động cấp tín dụng có mục tiêu chính là hạn chế, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào, do đó trước khi cấp tín dụng, NHTM phải áp dụng các biện pháp QTRR như tiến hành phân tích, đo lường, đánh giá và xếp hàng khách hàng; sau khi cấp tín dụng thì phải thường xuyên theo dõi, giám sát khoản vay còn trong trường hợp khi có rủi

ro xảy ra thì ngân hàng phải tiến hành trích lập dự phòng rủi ro để xử lý

Thứ ba, NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động QTRR trong

hoạt động cấp tín dụng của các NHTM cũng có những đặc trưng khác so với các công

ty, đó là: một số nguồn thông tin tài chính từ phía người vay không rõ ràng khiến NHTM khó đánh giá được chất lượng hoạt động tín dụng và rủi ro; sự đa dạng về đối tượng thụ hưởng rất khó quản lý nên rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng là rất cao,

Trang 27

có thể dẫn tới phá sản; chịu sự quản lý chạt chẽ của Nhà nước với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn trên phạm vi rộng … Do đó, vai trò của hoạt động QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM được coi trọng hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp không phải

là NHTM Bản thân các ngân hàng phải tự đưa ra các quy định cụ thể, rõ ràng như: các hạn chế về hoạt động, yêu cầu về bảo đảm an toàn để QTRR ngày càng minh bạch, hiệu quả hơn…

Thứ tư, hoạt động QTRR trong hoạt động cấp tín dụng được điều chỉnh bởi các

văn bản, các quy phạm pháp luật chuyên ngành trong nước và các quy định chuẩn mực, thông lệ quốc tế về QTRR ngân hàng: quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hòi hệ thống tài chính Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng phải xây dựng những quy định theo hướng hội nhập với thông lệ và chuẩn mực quốc

tế, trong đó hoạt động QTRR không phải là trường hợp ngoại lệ Những quy định về hoạt động QTRR của các NHTM tại Việt Nam vừa phải phù hợp với điều kiện trong nước, vừa đáp ứng các chuẩn mực quốc tế Có vậy mới đảm bảo cho NHTM Việt Nam phát triển tăng cường và bền vững

1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM

Nhân tố ảnh hưởng tới QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM chịu

sử ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Cụ thể là:

a Các yếu tố bên trong

- Chính sách tín dụng tốt Chính sách tín dụng tốt sẽ khuếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng nhằm mục tiêu đã hoạch định của NHTM và hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng ngân hàng Linh hoạt trong điều chỉnh chính sách tín dụng cũng là điều quan trọng trong vận hành của các NHTM Tùy từng giai đoạn của nền kinh tế mà các NHTM điều chỉnh chính sách tín dụng của mình theo hướng mở rộng hoặc thắt chặt Việc điều hành chính sách tín dụng góp phần giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra, đảm bảo được lợi nhuận kinh doanh cho các NHTM

- Quy trình cấp tín dụng chặt chẽ Việc đánh giá một quy trình cấp tín dụng cần tập trung vào phân tích các hướng dẫn ban hành và sổ tay tín dụng đã được áp

Trang 28

dụng và đánh giá năng lực hoạt động của các bộ phận có liên quan đến hoạt động tín dụng, ngoài ra cần đánh giá thêm cách thực hiện các bước lập hồ sơ tín dụng, thẩm định, ra quyết định, giải ngân, giám sát và thanh lý Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình cấp tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của NHTM Điều này góp phần ngân cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tín dụng

- Thông tin tín dụng chính xác, minh bạch Thông tin tín dụng được hiểu là thông tin mà ngân hàng thu thập được về tính cách, tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng được cấp tín dụng, mục đích cấp tín dụng từ các nguồn cung cấp thông tin sơ cấp và thứ cấp Đây là yếu quan trọng tác động đến quyết định cấp tín dụng của NHTM và giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng Thông tin tín dụng thường được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, chính vì vậy thông tin cần phải đầy

đủ, kịp thời và có hiệu quả về chi phí Điều này có mối liên quan đến nguồn nhân lực,

cơ cấu quản lý và kiểm soát, và công nghệ thông tin Thông thường, NHTM có thể thu thập thông tin tín dụng từ ba nguồn chính đó là: từ khách hàng, từ thông tin nội

bộ của ngân hàng và từ các thông tin bên ngoài khác Tuy nhiên việc thu thập thông tin có rất nhiều vấn đề cần chú ý trong đó là vấn đề bất cân xứng thông tin Vấn đề này phát sinh khi NHTM có ít thông tin về uy tín, năng lực tài chính, thiện chí trả nợ, hiệu quả kinh doanh dự án của khách hàng Chính vì vậy, NHTM phải cẩn trọng trong việc thu thập, lựa chọn thông tin và nguồn gốc thông tin để đảm bảo tốt cho công tác thẩm định và ra quyết định cấp tín dụng

- Chất lượng nguồn nhân lực Có thể nói, yếu tố chất lượng nguồn nhân lực luôn được hầu hết các ngân hàng xem là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM cũng như công tác quản trị Chất lượng nguồn nhân lực quyết định đến

sự thành công hay thất bại của một ngân hàng Do đó, dù NHTM có xây dựng được chính sách tín dụng hợp lý, quy trình tín dụng chặt chẽ và đầu tư hệ thống công nghệ thông tin tốt đến đâu thì nếu không có đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng thì sẽ khó đạt những mục tiêu kinh doanh của mình Vì thế, quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM cần chú trọng đến quản trị chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trong hoạt động này

b Các yếu tố bên ngoài

Trang 29

- Hệ thống pháp lý: Các quy định của pháp lý và chính sách điều hành quản lý của Chính phủ được ban hành nhằm điều chỉnh hành vi, đảm bảo lợi ích của toàn xã hội Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các quy định pháp lý và chính sách điều hành quản lý là rất cần thiết nhằm định hướng và đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh của NHTM còn chịu ảnh hưởng và hỗ trợ từ các quy định pháp luật ở các lĩnh vực khác như luật đất đai, luật dân sự, luật doanh nghiệp,… Do đó, một sự thay đổi pháp lý hay chính sách đều có ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến hoạt động của NHTM Vì vậy, hệ thống pháp lý điều hành cần phải thống nhất, quy định một cách đầy đủ cụ thể, rõ ràng cho từng lĩnh vực Có như vậy, thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng

sẽ ổn định và hiệu quả, nhất là trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng

- Hoạt động thanh tra, quản lý của NHNN và Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng: công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN đối với các NHTM trong việc đảm bảo thực thi chính sách tiền tệ, các quy định hoạt động ngành tài chính ngân hàng nhằm ổn định nền kinh tế và môi trường hoạt động ngân hàng tránh bị đổ vỡ Thực tế của Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012 cho thấy trước tình trạng lạm phát

và lãi suất ngân hàng tăng cao, NHNN buộc phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm ổn định kinh tế vĩ mô Với việc kiểm soát nghiêm ngặt của NHNN trong thời gian đó, hoạt động kinh tế trở về trạng thái ổn định, lạm phát giảm dần

- Sự cạnh tranh giữa các NHTM: Với chính sách phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua, ngành ngân hàng đã chứng kiến sự tăng trưởng nhộn nhịp không chỉ về kết quả kinh doanh của ngành mà còn ở số lượng các ngân hàng tham gia thị trường tài chính Đây không chỉ là bước chuyển biến tốt cho ngành mà còn là thách thức Đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong nước và giữa các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên, sự canh tranh gay gắt giữa các ngân hàng và các trung gian tài chính khác tạo ra những quy định dưới chuẩn trong hoạt động cấp tín dụng Để bù đắp khoản lợi nhuận bị mất đi, các nhà quản lý phải hy sinh mục tiêu chuẩn hoá thẩm định tín dụng và trưởng tín dụng thiếu kiểm soát làm tổn hại chất lượng tín dụng trong tương lai, và những khoản tín dụng này sẽ trở thành nợ xấu

1.2.2.4 Các biện pháp QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM

Trang 30

Việc QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM có thể được thực hiện trên

cơ sở phối hợp nhiều biện pháp khác nhau Cụ thể là:

a Các biện pháp hành chính và tổ chức

- Xây dựng mô hình quản trị tại các NHTM thông qua việc xây dựng hệ thống văn bản quy định về tổ chức, quản trị, điều hành nội bộ phù hợp và đồng bộ: Để hoạt động QTRR có hiệu quả cao, yêu cầu cấp tiết đối với mỗi NHTM là phải xây dựng được mô hình tổ chức, quản trị, điều hành có năng lực và trình độ chuyên môn Hệ thống văn bản điều hành nội bộ và QTRR cấp tín dụng trong các NHTM thực chất là các nội quy, quy chế, quy định, quy trình làm việc, quy tình xử lý nghiệp vụ… Hệ thống văn bản này được ví như là cơ sở pháp luật của mỗi NHTM, là cơ sở để cán bộ nhân viên ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng nói chung và công tác QTRR cấp tín dụng nói riêng đúng theo quy định của pháp luật Hệ thống văn bản này được xây dựng dựa trên các văn bản pháp lí do NHNN Việt Nam ban hành liên quan đến công tác QTRR tín dụng Bên cạnh đó, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cả NHNN Việt Nam và các NHTM đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

về tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là năng lực QTRR của các NHTM bằng việc bước đầu xây dựng mô hình QTRR áp dụng theo nguyên tắc của Hiệp ước quốc tế Basel I và II

- Tiến hành kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Đây là công tác có ý nghĩa rất quan trọng trong việc QTRR được Basel II tập trung nhấn mạnh Kiểm tra nội bộ là việc

rà soát, kiểm tra các hoạt động trong ngân hàng nhằm mục đích đảm bảo các quy tắc, quy định được tuân thủ và phát hiện những hành vi vi phạm, xử lý kịp thời để giảm thiểu rủi ro nói chung Đối với rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng thì kiểm soát nội

bộ chủ yếu tập trung vào quy trình tín dụng từ đánh giá khách hàng từ quyết định cấp tín dụng đến quản lý khoản tín dụng sau khi cấp cho khách hàng Nếu quy trình cấp tín dụng có bất cập (không phải do nguyên nhân chủ quan từ cán bộ tín dụng) thì kiểm soát nội bộ sẽ tìm ra cách khắc phục Hoạt động này do những người đứng đầu ngân hàng (Giám đốc) và Ban kiểm soát tiến hành

- Kiểm toán nội bộ là một bộ phận của kiểm soát nội bộ Đây là quy trình kiểm tra, kiểm soát độc lập một lần nữa công việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ đã làm Hoạt động này được thực hiện thông qua việc lập và báo cáo kiểm toán vào cuối năm tài chính

Trang 31

Kết quả của kiểm toán nội bộ là thước đo mức độ tuân thủ quy định, quy chế của ngân hàng cũng như của Nhà nước Kết quả này được công khai, từ đó tạo nên sức ép cho các ngân hàng hoạt động minh bạch hơn và cũng là đảm bảo an toàn cao hơn

b Các biện pháp kinh tế

- Xếp hạng tín dụng khách hàng: Là việc thẩm định, đánh giá khách hàng, dựa trên bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, được coi là nền tảng của phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro cho vay Bộ chỉ tiêu tài chính là việc xây dựng các công cụ của quản lí tài chính, tài chính công ty và thị trường tài chính để mô tả và phân tích các yếu tố tác động đến các quyết định tài chính của công ty Bộ chỉ tiêu phi tài chính

là các tiêu chí như uy tín, năng lực ban lãnh đạo, lịch sử tín dụng tại các ngân hàng khác… đối với khách hàng là doanh nghiệp hoặc tuổi, số con, nhà ở… đối với khách hàng là cá nhân

- Phân loại nợ: Đây là yêu cầu bức thiết đồng thời là việc làm hết sức có ý nghĩa đối với hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng Nếu như không phân loại nợ theo một tiêu chí nhất định thì việc quản lí khách hàng sẽ không có mục tiêu rõ ràng, bởi vì các khoản nợ được phân loại phản ánh khả năng khác nhau của khách hàng trong nghĩa vụ quan trọng nhất là trả nợ Tùy từng nhóm khách hàng vay được xếp vào nhóm các khoản nợ khác nhau mà ngân hàng sẽ có cách quản lí khác nhau

c Các biện pháp pháp lý

- Thiết lập các giao dịch bảo đảm tiền vay: Đây là một biện pháp điển hình để phòng ngừa rủi ro cấp tín dụng Trước hết, tài sản bảo đảm được ngân hàng yêu cầu người được cấp tín dụng cung cấp nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ trong việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đúng và đủ trong thời hạn cấp tín dụng Bên cạnh

đó, khi ngân hàng không có phương pháp nào để thu hồi khoản nợ tín dụng từ phía khách hàng thì tài sản bảo đảm được coi là nguồn thu nợ thứ hai, sau nguồn trả nợ đã được ghi rõ trong đơn xin cấp tín dụng Tuy nhiên, cần lưu ý tới giá trị thị trường, của tài sản bảo đảm Giá trị của bất cứ tài sản nào cũng có thể thay đổi trong tương lại,

do đó để hạn chế rủi ro, các NHTM cần phải đánh giá lại tài sản bảo đảm định kì, đặc biệt là khi thị trường biến động khó lường, hoàn cảnh của người được cấp tín dụng thay đổi, hay là các điều khoản của khoản vay thay đổi về mặt bản chất Các biện

Trang 32

pháp bảo đảm tiền vay hữu hiệu và phổ biến nhất trong hợp đồng tín dụng là cầm cố

và thế chấp

- Thiết lập các quy định về hạn chế cấp tín dụng: Việc cấp tín dụng sao cho hợp lý đòi hỏi ngân hàng phải đưa ra hạn mức cho vay cụ thể Không NHTM nào được phép cho khách hàng tín dụng với mức họ yêu cầu bởi lẽ nó làm tăng sự phụ thuộc không cần thiết về tài chính dễ dẫn đến rủi ro cho hoạt động kinh doanh của cả NHTM và người được cấp tín dụng Ngoài ra, trong một số trường hợp, NHTM cũng cần từ chối cho vay đối với những khách hàng có nhu cầu tín dụng và sẵn sàng trả lãi suất cao, hoặc là chỉ đáp ứng một phần trong toàn bộ nhu cầu tín dụng của khách hàng bởi những khách hàng này thường sử dụng vốn vào những dự án có mức độ rủi ro cao Mọi khoản tín dụng đều phải được làm rõ để tính ra mức thực tế mà người được cấp tín dụng cần tài trợ (ví dụ: NHTM không cho cấp tín dụng để chi nghỉ mát cho cán bộ nhân viên)

- Biện pháp khắc phục hậu quả rủi ro: Khi có thiệt hại xảy ra trên thực tế, nếu biện pháp trợ giúp về mặt tài chính cho khách hàng tín dụng không mang lại hiệu quả, các NHTM sẽ phải sử dụng biện pháp đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, bao gồm: (i) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ: là việc các NHTM đồng ý điều chỉnh thời hạn trả nợ cho khách hàng thông qua 2 hình thức thay đổi kì hạn trả nợ và thay đổi thời hạn trả nợ Việc cơ cầu lại nợ không làm ảnh hưởng đến các điều khoản khác của hợp đồng tín dụng ngoại trừ điều khoản về thời hạn trả nợ Đây được coi là một hình thức NHTM trợ giúp khách hàng cho nên thường được áp dụng trong trường hợp người được cấp tín dụng có thiện chí và quyết tâm trả nợ; (ii) Xử lí tài sản bảo đảm: khi ngân hàng phải sử dụng đến nguồn trả nợ thứ hai của khách hàng thì tài sản đó vẫn phải được phép giao dịch, không xảy ra tranh chấp hay bị áp dụng các biện pháp phong tỏa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc xử lí được tiến hành dựa trên thỏa thuận trước đó của NHTM với khách hàng trong hợp đồng tín dụng Về hình thức, có nhiều cách xử lí như: NHTM phát mại tài sản bằng đấu giá, người được cấp tín dụng tự mình bán tài sản dưới sự giám sát của NHTM và sử dụng số tiền đó để trả

nợ hoặc thay thế tài sản có giá trị khác bằng số tiền trả nợ… Nếu hai bên không thỏa thuận được thì NHTM thường chọn cách đấu giá tài sản (iii) Sử dụng dự phòng để

xử lí rủi ro cấp tín dụng; (iv) Xử lí rủi ro thông qua cơ chế tài phán: Nếu các biện

Trang 33

pháp khắc phục rủi ro nói trên không điều hòa được lợi ích của các bên thì bên bị thiệt hại là các NHTM sẽ có quyền khởi kiện tại cơ quan tài phán như Trọng tài thương mại hoặc Tòa án – giải pháp cuối cùng để ngân hàng đòi lại quyền lợi cho mình theo quy định của Luật tố tụng

Để quá trình QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM đạt hiệu quả cao thì điều quan trọng là các công đoạn trên phải phối hợp hài hòa, liên kết chặt chẽ với nhau QTRR trong hoạt động cấp tín dụng hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ dự đoạn trước và ngân hàng đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó

1.2.2.5 Quy trình quản trị rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng

Việc quan trọng nhất trong QTRR là phải xây dựng được quy trình quản lý rủi

ro Thông thường, QTRR trong hoạt động cấp tín dụng được chia làm 4 bước:

- Phát hiện rủi ro: Nhận diện rủi ro cấp tín dụng là quá trình xác định liên tục

và có hệ thống Bất kỳ khoản tín dụng nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận biết vấn đề và có những biện pháp theo dõi nhanh chóng, chuyên nghiệp giúp các vấn đề, tổn thất có thể giảm đến mức thấp nhất Những dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp NHTM có thể nhận biết và có giải pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả Các dấu hiệu nhận biết phổ biến thường tập trung vào dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính của khách hàng được cấp tín dụng

- Đo lường rủi ro cấp tín dụng: Đo lường rủi ro cấp tín dụng là việc lượng hóa

mức độ các rủi ro cũng như biết được xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi

ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận nó của NHTM Đây là cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định cấp tín dụng cũng như xây dựng biện pháp ứng phó phù hợp, nhanh chóng với rủi ro cấp tín dụng khi tình trạng này xảy ra Để đo lường rủi ro cấp tín dụng các NHTM thường xây dựng các mô hình thích hợp để lượng hóa các rủi ro

- Quản lý và kiểm soát rủi ro cấp tín dụng: Quản lý và kiểm soát rủi ro cấp tín

dụng là khâu trọng tâm nhất trong công tác QTRR cấp tín dụng của một NHTM, đây chính trọng tâm của quy trình rủi ro cấp tín dụng Quản lý và kiểm soát rủi ro cấp tín dụng là một hệ thống những công cụ, chính sách, tiêu chuẩn và biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý rủi ro cấp tín dụng trong một NHTM: chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, bộ máy QTRR cấp tín dụng, các giới hạn tín dụng

Trang 34

- Xử lý rủi ro cấp tín dụng: Đây là bước cuối cùng trong công tác QTRR cấp

tín dụng Ở bước này, NHTM sẽ đưa ra các quyết định và biện pháp để tài trợ, khắc phục và hạn chế thấp nhất chi phí rủi ro và tổn thất mà rủi ro cấp tín dụng đã gây ra cho NHTM

Bốn bước trong quy trình rủi ro cấp tín dụng có quan hệ chặt chẽ lẫn nhau và quyết định rất lớn tới hiệu quả QTRR cấp tín dụng NHTM càng chủ động trong quản

lý và kiểm soát rủi ro thì càng giảm thiểu được tổn thất trong hoạt động tín dụng Từ

đó, có thể thấy, vấn đề cốt lõi trong QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM chính là đưa ra các quy định nội bộ, chính sách để kiểm soát, quản lý, phòng ngừa rủi

họ tham gia vào các quan hệ xã hội Một cách cụ thể hơn, quy định còn được ban hành nhằm đưa ra các hướng dẫn để các tổ chức, cá nhân hiểu và áp dụng nhằm điểu chỉnh các hành vi của mình cho đúng với trật tự xã hội

Với ý nghĩa đó, quy định về QTRR trong hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM

là những quy phạm, quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực trong xử sự, những tiêu chuẩn, định mức về kinh tế, kỹ thuật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh liên quan đến QTRR trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM và buộc các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân thủ Do phạm vi của luận văn này là thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng nên tác giả không phân tích sâu về vấn đề này dưới góc độ pháp luật mà chỉ phân tích thẳng vào các quy định có liên quan đến QTRR trong hoạt động các tín dụng tại các NHTM Vì vậy, khi phân loại, tác giả chia các quy định này thành bốn nhóm quy định dưới đây

Trang 35

1.3.2 Phân loại các nhóm quy định về quản trị rủi ro

1.3.2.1 Nhóm quy định về xếp hạng tín dụng nội bộ, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

có thể trích lập khoản dự phòng phòng ngừa rủi ro Theo quy định tại Điều 30 Thông

tư 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018, hệ thống này phải đảm bảo các yêu cầu: (i)

Mô hình xếp hạng phải lượng hóa các tiêu chí để đánh giá khả năng (xác suất) khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận (bao gồm cả các yếu tố kinh tế - xã hội vĩ mô, môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng); (ii) Có cơ sở dữ liệu và các phương pháp quản lý dữ liệu để lượng hóa rủi ro cấp tín dụng theo yêu cầu; (iii) Kết quả của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được đánh giá độc lập; (iv) Có đầy đủ thông tin về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để cung cấp theo yêu cầu của kiểm toán nội bộ, tổ chức kiểm toán độc lập và các cơ quan chức năng khác khi thực hiện kiểm toán nội bộ, thanh tra, giám sát, kiểm toán độc lập

Hệ thống này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là điều kiện tiên quyết để các NHTM được NHNN phê chuẩn chính sách dự phòng rủi ro của mình vì: NHNN chỉ chấp thuận chính sách dự phòng rủi ro của các NHTM khi hệ thống xếp hàng tín dụng nội bộ được áp dụng thử nghiệm ít nhất 1 năm và phù hợp với hoạt động kinh doanh,

Trang 36

đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khản nợ của TCTD Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ này cũng cần phải được Hội đồng quản trị (đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần), Hội đồng thành viên (đối với tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn), Tổng giám đốc hoặc Giám đốc (đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phê duyệt áp dụng

b Quy định về phân loại nợ

Theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN, hiện nay pháp luật Việt Nam quy định 2 phương pháp: phương pháp định lượng và phương pháp định tính Mặc

dù không có định nghĩa chính thức về 2 phương pháp này nhưng từ 2 điều luật trên

ta có thể hiểu:

Phương pháp định lượng được hiểu là cách thực phân loại nợ dựa trên tuổi nợ, trong đó tuổi nợ là số ngày quá hạn của khoản tín dụng theo đánh giá của NHTM (cấp tín dụng rồi mới phân loại nợ) Theo Điều 6 Thông tư 02/2013/TT-NHNN thì khoản

nợ được phân chia thành 5 nhóm: (i) Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn; (ii) Nhóm 2 - Nợ cần chú ý; (iii) Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn; (iv) Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ; (v) Nhóm

5 - Nợ có khả năng mất vốn Tuy nhiên, một khoản nợ cũng có thể được chuyển xếp vào nhóm có mức độ rủi ro thấp hơn hoặc nhóm có rủi ro cao hơn nếu ngân hàng xác định được nó thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tại khoản 2 và 3 Điều 10 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN

Phương pháp định tính là cách thức đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng theo bảng chấm điểm tín dụng gồm nhiều yếu tố, kết quả cuối cùng không cho ra một số

cụ thể mà là một ký hiệu theo quy ước của từng ngân hàng Điều 11 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ dựa trên kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ Theo

đó, định kỳ hàng quý, các khách hàng sẽ được đánh giá và xếp vào 1 hạng nào đó, ví

dụ là A, B, C,… Căn cứ kết quả xếp hạng này, ngân hàng sẽ phân loại toàn bộ dư nợ của khách hàng vào một nhóm nợ, ví dụ: nếu khách hàng là A thì phân vào nhóm 1, nếu khách hàng là B thì phân vào nhóm 2, C nhóm 3 Khi quyết định cấp tín dụng thì các TCTD cũng căn cứ kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ của khách hàng nên việc phân loại nợ trên thực tế đã có ngay từ lúc thẩm định tín dụng chứ không phải chờ đến lúc cấp tín dụng rồi mới phân loại như cách phân loại định lượng Việc phân loại

nợ theo phương pháp định tính là đánh giá toàn diện năng lực tài chính và khả năng

Trang 37

trả nợ của khách hàng, áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá theo thông lệ quốc tế (Basel II), giúp các NHTM chủ động về chất lượng danh mục tín dụng của mình Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng phương pháp phân loại nợ này chỉ mang tính khuyến khích bởi

sự phức tạp trong quá trình xây dựng cách đánh giá cũng như chưa có hướng dẫn cụ thể của NHNN

c Quy định về trích lập dự phòng rủi ro cấp tín dụng

Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để

dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Hiện tại ở Việt Nam, việc trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Theo quy định tại Điều 6 Thông tư 02/2013/TT-NHNN, TCTD phải có chính sách dự phòng rủi ro tối thiểu đáp ứng các yêu cầu sau: (i) Phù hợp với các quy định pháp luật về chế độ kế toán, tài chính và báo cáo, thống kê; (ii) Có quy trình thu thập thông tin, số liệu về khách hàng, bảo đảm phân loại nợ, cam kết ngoại bảng chính xác, quản lý nợ xấu, quản lý dư nợ cấp tín dụng xấu, trích lập đầy đủ dự phòng theo quy định; (iii) Có quy định cụ thể về việc phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động đối với từng đối tượng khách hàng theo định kỳ, đột xuất; (iv) Có quy định quyền hạn, trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong việc phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động; (v) Có

cơ chế kiểm tra, giám sát và báo cáo các nội dung quy định từ điểm a đến điểm d khoản này

Dự phòng rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng bao gồm: dự phòng cụ thể và dự phòng chung Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ để đề phòng cho những tổn thất có thể xảy ra Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn

về tài chính của các TCTD khi chất lượng của các khoản nợ suy giảm

Trang 38

Nguyên tắc sử dụng dự phòng rủi ro đó là: sử dụng dự phòng cụ thể trước, sau

đó nếu tất cả dự phòng cụ thể và phát mại tài sản bảo đảm vay không đủ để bù đắp tổn thất mới dung tới dự phòng chung Phân loại nợ là điều kiện tiên quyết làm nên tảng để trích lập dự phòng rủi ro cụ thể Tỷ lệ trích lập dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 quy định tại Điều 13 Thông tư 02/2013/TT-NHNN Còn tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể cho 5 nhóm nợ trên lần lượt

là: 0%, 5%, 20%, 50%, 100%

1.3.2.2 Nhóm các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng

a Quy định về đảm bảo an toàn vốn tự có và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

Vốn tự có của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là cơ sở để xác định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) phản ánh mức đủ vốn của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Hệ số CAR là thước đo quan trọng để đo mức độ

an toàn hoạt động của ngân hàng, được các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực ngân hàng thuộc Ủy ban Basel dày công xây dựng và phát triển Năm 1999, hệ số CAR đầu tiên được quy định tại Việt Nam theo Quyết định số 297/1999/QĐ - NHNN ngày 25/8/1999 ban hành quy định về các tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD chính thức Theo đó, Quyết định nêu rõ tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh đầy đủ nội dung Basel I

Qua thực tiễn phát triển kinh tế và tình hình hoạt động của các TCTD, NHNN Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và văn bản sửa đổi quy định này, ngày 30/12/2016, NHNN ban hành Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Thông tư quy định một số công thức tính tỷ lệ an toàn vốn, vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường, tài sản tính theo rủi ro tín dụng và có yêu cầu về chế độ công bố thông tin của các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Đến nay, ngày 15/11/2019, NHNN đã ban hành Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh

Trang 39

ngân hàng nước ngoài, theo đó tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất và riêng lẻ được nâng lên từ 8% lên 9% Thông tư này có hiệu lực vào ngày 01/01/2020

b Quy định về tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi

Hiện theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN, tỷ lệ dư nợ cho vay tối đa của nhóm NHTM nhà nước là 90%, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài là 80% Tuy nhiên, theo thông tư 22/2019/TT-NHNN mới đây, tỷ lệ này tối đa ở mức 85% đối với tất cả các ngân hàng, việc nới lỏng tỷ lệ dư nợ cho vay

so với tổng tiền gửi sẽ giúp nhóm NHTM có nhiều cơ hội đẩy mạnh tín dụng hơn

Số liệu thống kê mới nhất của NHNN cho thấy, tại thời điểm cuối tháng 9/2019,

tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi của khối NHTM có vốn Nhà nước chi phối

là 91,47%, còn ở khối NHTM cổ phần là 84,61% và khối ngân hàng liên doanh - nước ngoài là 65,72% (Nhuệ Mẫn, 2019)

Vì vậy, với quy định mới của Thông tư 22/2019/TT-NHNN, các NHTM cổ phần

tư nhân sẽ thêm cơ hội được đẩy mạnh tín dụng thêm, mà không phải tăng nguồn vốn huy động

1.3.2.3 Nhóm quy định về bảo đảm an toàn cấp tín dụng nhằm quản trị rủi ro cấp tín dụng

a Quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng

Theo điểm a Khoản 1 Điều 126 Luật các TCTD 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017), NHTM không được cho vay đối với thành viên và cha, mẹ, vợ, chồng, con của các thành viên HĐQT, HĐTV, BKS, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương NHTM là Công ty cổ phần không được cho vay đối với pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên HĐQT, BKS NHTM là Công ty TNHH thì không được cấp khoản vay cho pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của chính NHTM đó Bên cạnh đó, NHTM không được phép cho vay trên cơ sở bảo đảm của tất cả các đối tượng trên và đồng thời không được bảo đảm dưới bất kỳ hình thức nào để các đối tượng này đi vay ở NHTM khác (khoản 3 điều 126 Luật các TCTD 2010)

So với Luật các TCTD năm 2010 quy định Điều 126 về các trường hợp không được cấp tín dụng, Luật các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2017 đã mở rộng phạm vi

Trang 40

không được cấp tín dụng là “Việc cấp tín dụng quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5 và 6

Điều này bao gồm cả hoạt động mua, đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp”

Mục đích của việc đặt ra những quy định này là khá rõ ràng NHNN muốn hướng tới việc ngăn ngừa xung đột lợi ích trong TCTD Các quy định sẽ không cho phép giới chủ ngân hàng, người quản trị, điều hành ngân hàng có thể lợi dụng quan

hệ tín dụng để tư lợi, chiếm đoạt vốn và tài sản của ngân hàng

b Quy định về hạn chế cấp tín dụng

NHTM không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cho vay với điều kiện ưu đãi (lãi suất, mức cho vay) đối với các khách hàng có thể đưa ra các quyết định ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng đó, bao gồm: tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên, thanh tra viên đang làm việc tại ngân hàng, kế toán trưởng của chính ngân hàng; các cổ đông lớn (cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên), cổ đông sáng lập; doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 điều 126 Luật này sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó; người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng; các công ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp mà TCTD nắm quyền kiểm soát Yêu cầu: việc cho các đối tượng này phải được HĐQT, HĐTV thông qua, công khai trong NHTM và tổng dư

nợ cho vay không được vượt quá 5% vốn tự có (trừ đối tượng là công ty con, công ty liên kết thì tổng dư nợ không được vượt quá 10% vốn tự có/ một công ty, không vượt quá 20% đối với tất cả các công ty) Sự bổ sung này rất hợp lý, phù hợp với tình hình kinh tế mới và bởi đây cũng là các đối tượng dễ có khả năng được cấp khoản vay không đủ tiêu chuẩn gây rủi ro lớn cho hoạt động của ngân hàng

Hiện tại, Luật các TCTD sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã bổ sung thêm trường hợp hạn chế cấp tín dụng so với Luật các TCTD 2010, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; kế toán trưởng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Cổ đông lớn, cổ đông sáng lập; doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều

126 của Luật này sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó bao gồm cả tổng mức mua, đầu tư vào trái phiếu của các đối tượng này

Ngày đăng: 27/06/2021, 05:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
46. Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân, Luận văn thạc sỹ tài chính ngân hàng, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân
47. Nguyễn Đắc Diệu Hương, Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương, Khóa luận tốt nghiệp, Luật tài chính quốc tế, Hà Nội, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương
49. Nguyễn Lan Khanh, Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam VIB – thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam VIB – thực trạng và giải pháp
50. Nguyễn Lân, Từ điển và ngữ Việt Nam, Tr. 1540, năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển và ngữ Việt Nam
51. Dương Hữu Mạnh, Quản trị rủi ro ngân hàng trong nền kinh tế toàn cầu, sách kinh tế, NXB Lao động – Xã Hội, năm 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro ngân hàng trong nền kinh tế toàn cầu
Nhà XB: NXB Lao động – Xã Hội
52. Nguyễn Thị Phương Nhi, Pháp luật về cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Luật kinh tế, Trường Đại học Luật Huế, Thừa Thiên Huế, năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học
53. Tưởng Thiều Nga, Giải pháp quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại VCB Đồng Nai, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại VCB Đồng Nai
54. Vũ Văn Thực, Nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB, Luận văn tốt nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB, Luận văn tốt nghiệp
55. Ngô Thị Thanh Trà, Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Sài Gòn, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, năm 2010;IV. Tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Sài Gòn
57. LinDa, Implementing a credit risk management system based on innovative scoring techniqueshttps://etheses.bham.ac.uk/id/eprint/3344/, truy cập ngày 04/06/2020 Link
3. Basel II (25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hoạt động ngân hàng) Khác
10. Nghị định 102/2017/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm Khác
12. Nghị định 89/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật giá về thẩm định giá Khác
13. Thông tư 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Khác
14. Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của thống đốc ngân hàng nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Khác
16. Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD Khác
17. Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/04/2011 quy định về chấm dứt huy động và vay vốn bằng vàng của TCTD Khác
19. Quyết định số 13/2018/QĐ-TTg ngày 06/03/2018 quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự đề nghị chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Khác
20. Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp tín dụng hợp vốn của các TCTD đối với khách hàng Khác
21. Thông tư 24/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp tín dụng hợp vốn của các TCTD đối với khách hàng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w