1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng của pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền tại Việt Nam

11 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 32,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hành vi nào của doanh nghiệp bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cạnh tranh không lành mạnh nhằm hạ bệ đối thủ cạnh tranh với mục đích cuối cùng là thống lĩnh thị trường, chiếm vị trí độc quyền về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Trang 1

Với xu thế phát triển của đời sống xã hội nên nhiều doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra đời nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp đã, đang và sẽ hình thành muốn tồn tại và phát triển thì luôn tìm mọi cách kinh doanh bằng việc lôi kéo sự quan tâm của khách hàng về với doanh nghiệp của mình bằng việc chiếm ưu thế về thị phần trên thị trường có liên quan Trong quá trình lôi kéo sự quan tâm của khách hàng thì doanh nghiệp tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật cho phép (gọi là cạnh tranh lành mạnh) Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp để tồn tại trên thị trường kinh doanh luôn tìm cách phát huy năng lực cạnh tranh để trở thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, mà ở mức độ cao hơn là có vị trí độc quyền và để làm được như vậy các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp luôn tìm cách cạnh tranh không lành mạnh nhằm hạ bệ đối thủ cạnh tranh với mục đích cuối cùng là thống lĩnh thị trường, chiếm vị trí độc quyền về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Giữ được vị trí thống thị trường, vị trí độc quyền thì không có gì là xấu cả nhưng doanh nghiệp một khi mà đã bước chân vào thị trường kinh doanh thì phải tuân thủ “luật chơi” trên thương trường hay nói đúng hơn là phải tuân thủ các quy định của pháp Luật Cạnh Tranh

Thời gian vừa qua trên thị trường kinh doanh tại Việt Nam, xảy ra hàng loạt vụ việc có dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền Đó là vụ của Công ty Tân Hiệp Phát khiếu nại Công ty liên doanh nhà máy bia Việt Nam; vụ Vinapco lạm dụng vị trí độc quyền; vụ Megastar bị khiếu nại có hành vi lạm dụng áp đặt giá bán hàng hóa Mặc dù Luật Cạnh Tranh ra đời từ năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp vẫn vi phạm các hành vi bị cấm trong nhóm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

Vậy thế nào là doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền? căn cứ vào đâu để nhận ra được là một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền? Những hành

vi nào của doanh nghiệp bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành? Nội dung bài tiểu luận này, người viết sẽ làm làm rõ các câu hỏi này Trong bài viết này, người viết chỉ giới hạn

đề tài nghiên cứu là “Thực trạng của pháp luật về hành vi lạm dụng

Trang 2

vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền tại Việt Nam” để hiểu

một phần nào đó Pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã có những quy định cụ thể điều chỉnh các hoạt động cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1: Khái quát chung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền nhằm cạnh tranh tại Việt Nam 3

1 Khái niệm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 3

2 Khái niệm doanh nghiệp có vị trí độc quyền 3

3 Đặc điểm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 3

4 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền nhằm cạnh tranh tại Việt Nam 4

4.1 Nhóm hành vi mang tính bốc lột: 4

4.2 Nhóm hành vi lạm dụng mang tính độc quyền 6

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền tại việt nam 7

1 Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam 7

2 Doanh nghiệp có vị trí độc quyền tại Việt Nam 7

KẾT LUẬN 9

Trang 3

Chương 1: Khái quát chung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền nhằm cạnh tranh tại Việt Nam

1 Khái niệm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Doanh nghiệp chiếm thị phần trên thị trường liên quan từ 30% trở lên thì doanh nghiệp đó doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh trên thị trường hoặc doanh nghiệp có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể

Ngoài doanh nghiệp thì luật còn quy định “nhóm doanh nghiệp” có tổng thị phần từ 50% trở lên đối với nhóm hai doanh nghiệp, từ 65% trở lên đối với nhóm ba doanh nghiệp và từ 75% trở lên đối với nhóm bốn

doanh nghiệp trên thị trường liên quan thì cũng xác định là “nhóm doanh nghiệp” có vị trí thống lĩnh thị trường

2 Khái niệm doanh nghiệp có vị trí độc quyền

Vị trí độc quyền là một trường hợp đặc biệt của vị trí thống lĩnh thị trường vì doanh nghiệp này chiếm hầu như 100% thị phần và không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp đó đang kinh doanh trên thị trường liên quan

Doanh nghiệp có vị trí độc quyền là doanh nghiệp “duy nhất” cung

ứng hoặc thu mua hàng hóa trên thị trường

3 Đặc điểm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí

độc quyền

Đặc điểm về chủ thể: hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là

doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp, còn đối với hành vi lạm dụng vị trí độc quyền thì chủ thể là doanh nghiệp

Đặc điểm về thị trường sản phẩm có liên quan là thị trường của những

hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả” Khả năng thay thế cho nhau của hàng hóa dịch vụ phản

ánh mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp, khi đã có thể thay thế cho nhau thì lúc đó hàng hóa dịch vụ đó đã có chung mục đích là đáp ứng cho một nhu cầu của thị trường Mục đích sử dụng hàng hóa dịch vụ có thể thay thế cho nhau được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chủ

Trang 4

yếu nhất của hàng hóa dịch vụ đó, các hàng hóa dịch vụ không phải lúc này cũng có cùng mục đích sử dụng duy nhất vì tùy thuộc đặc tính của hàng hóa dịch vụ Giá cả hàng hóa dịch vụ khi cơ quan có thẩm quyền

phân tích yếu tố này thì chính là tiến hành xác định phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi về giá cả của sản phẩm Việc xác định đặc tính cũng như mục đích sử dụng có thể thay thế cho nhau để xác định việc các sản phẩm đó đáp ứng cho cùng một nhu cầu trên thị trường Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu trên thị trường lại phụ thuộc vào thái độ của khách hàng Do vậy, việc điều tra để chứng minh về khả năng thay thế của các sản phẩm cần phải được kiểm chứng thông qua thái độ của khách hàng đối với sản phẩm khi thay đổi giá trên thị trường Chỉ khi nào khách hàng sẵn sàng thay đổi thói quen sử dụng một sản phẩm nào đó sang sử dụng một sản phẩm khác thì khi đó mới có căn cứ xác định rằng

Đặc điểm về “thị trường địa lý liên quan” cụ thể thay thế cho nhau với

các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu

vực lân cận” (Khoản 1 Điều 3 của LCT và tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định số

116/2005/NĐ-CP) Khu vực địa lý mà doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc tiến hành hoạt động Nói cách khác, là khu vực địa lý nhất định, trong đó, doanh nghiệp tiến hành các hoạt động mà không có bất kỳ sự ngăn cản nào Ở một khu vực có sự tập trung những sản phẩm tương tự có thể thay thế cho nhau, giữa khu vực thay thế cho nhau đó với những khu vực liền kề tồn tại điều kiện cạnh tranh khác nhau

4 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc

quyền nhằm cạnh tranh tại Việt Nam

4.1 Nhóm hành vi mang tính bốc lột:

a) Áp đặt giá mua bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý, hoặc ấn định giá

bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

Hành vi “áp giá” bị coi là bất hợp lý nếu giá mà khách hàng mua tại

cùng thị trường liên quan được đặt ra thấp hơn giá thành sản xuất trong khi chất lượng của sản phẩm đặt mua không kém hơn chất lượng hàng hóa đã mua trước, không có biến động làm giảm giá buôn bán cung ứng

sản phẩm trên thị trường dưới giá thành sản xuất

1 http://luatsuphamtuananh.com/bai-viet -tin-tuc/tieu-chi-xac-dinh-doanh-nghiep-co-vi-tri-thong-linh-thi-truong/

Trang 5

Ấn định giá gây thiệt hại cho người mua là hành vi khống chế không cho các nhà phân phối, các điểm bán lẻ bán sản phẩm thấp hơn mức giá niêm yết trên sản phẩm

Với hai hành vi đa nói, thì khách hàng là người chịu thiệt hại bởi do sản phẩm mà họ mua so với giá trị thực tế là cao, hoặc buộc phải bán thấp hơn giá đã của sản phẩm từ nhà cung ứng Giá mua hay bán sản phẩm trên thị trường không do hành vi cạnh canh hop pháp mà do các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường hoặc độc quyền có hành vi áp giá, ấn định giá

b) Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý, giới hạn thị trường cản trở phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng

Hạn chế là hành vi làm giảm sản lượng hàng hóa cung ứng ra thị trường, cung ứng nhỏ giọt, từ từ, lượng phân phối không ổn định trên thị trường có liên quan trong hoàn cảnh trên thị trường không có biến động lớn về cung ứng và nhu cầu của khách hàng, không có khủng hoản trong nền kinh tế, không xảy ra sự cố lớn của nhà cung ứng dẫn đến tình trạng phải hạn chế phân phối hàng hóa ra ngoài Việc hạn chê này ra ngoài thị trường gây thiệt hại cho người có nhu cầu bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh khi doanh nghiệp có sức mạnh thị trường khi hành vi chỉ cung ứng hàng hoá, dịch vụ trong một khu vực địa lý nhất định làm cho các khách hàng ở những khu vực địa lý khác trên thị trường liên quan không có cơ hội được thỏa mãn nhu cầu, không được tiêu dùng các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất hoặc phân phối, ấn định lượng hàng hóa ở mức vừa đủ để tạo sự kham hiếm trên thị trường nhưng vẫn thực chất là cố thủ lại để tìm thời cơ tung thị trường váo thời điểm khan hiếm gây mất ổn định xã hội

Hành vi của doanh nghiệp giới hạn thị trường bằng thủ đoạn chỉ phân phối hoặc cung ứng ra ngoài thị trường trong một nơi, một khu vực địa bàn địa lý nhất định để tạo nguồn khan hiếm hàng hóa tạo cơ hội tăng giá đột biến gây mất ổn định kinh tế hoặc hành vi giới hạn là chỉ mua

hàng hóa từ một nguồn cung ứng nhất định loại trừ nguồn cung ứng khác không có hàng hóa để đáp ứng do bên mua đặt ra

Gây thiệt cho khách hàng từ hành vi cản trở phát triển kỹ thuật, công nghệ là khi có mục đích mua các sáng chế về kỹ thuật, công nghệ nhưng không sử dụng mà chỉ để tiêu hủy gây ảnh hưởng đến tâm lý, suy nghĩ

tiêu cực về công nghệ đó, rồi còn dùng thủ đoạn ép nhà nghiên cứ ra

Trang 6

công nghệ phải dừng nghiên cứu không cho việc nghiên cứu phát triển rộng ra

c) Hành vi phân biệt đối xử trong thương mại:

Hình thức thể hiện là các hiệp hội ngành nghề từ chối mà không có lý

đo để doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập mà không cho họ gia nhập để cùng cạnh tranh công bằng trong thị trường hàng hóa hiện nay dẫn đến doanh nghiệp sẽ có nhìu khó khăn bất lợi, nếu không từ chối cũng là hạn chế bất hợp lý vào hoạt động có liên quan trong kinh doanh nhằm

gây ảnh hưởng mục đích kinh doanh của thành viên doanh nghiệp

Phân biệt đối xử tạo ra những ưu thế cho khách hàng được tính rẻ hơn người khác hoặc thời gian giao hàng được sớm hơn trong tình trạng bất lợi hơn như áp đặt các điều kiện giao hàng hóa

d) Hành vi áp đặt ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc buộc chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

Ví dụ: Công ty A chiếm thống lĩnh thị trường bán hàng hóa cho B và buộc B phải bán hàng hóa tại một địa điểm do A ấn định trước, không được bán tại các địa điểm khác mà B đang mong muốn Hành

vi này mang tính áp đặt cho doanh nghiệp khi cần bán hàng hóa mà không bán tại địa điểm theo ý chí của mình mà phải lệ thuộc vào

doanh nghiệp có lợi thế thống lĩnh trên thị trường, hành vi tự do kính

doanh vốn là hành vi được pháp luật bảo vệ nên việc áp đặt như thế nào dĩ nhiên là sai và không được chấp nhận

Công ty A (có vị trí thống lĩnh thị trường) bán điện thoại di động cho B và buộc B phải mua thêm sản phẩm ốp lưng điện thoại, sản phẩm ốp lưng điện thoại không có liên quan đến hàng hóa là đối tượng của hợp đồng là hành vi buộc người mua phải mu thêm một sản phẩm có liên quan liền kề với sản phẩm đã mua nhưng không bổ trợ tuyệt đối tức là không cần sản phẩm bổ trợ thì sản phẩm chính

vẫn phát huy công dụng, hành vi gây thêm tốn kém cho khách hàng không có nhu cầu, nếu muốn bán kèm thì chỉ cần khuyến khích,

quảng bá để khách hàng tự quyết định bằng ý chí tự chủ

4.2 Nhóm hành vi lạm dụng mang tính độc quyền

a) Hành vi bán hàng hoá, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại

bỏ đối thủ cạnh tranh

Trang 7

doanh nghiệp khi inh doanh trong ngành nghề hay dịch vụ nào đấy đều có đối thủ cạnh tranh nhưng kinh doanh lành mạnh thì kinh doanh

một cách trung thực để có khách hàng ổn định chứ không như kiểu chụp giật tranh giành khách hàng, khuyến khích dụ dỗ khách hàng bằng hình thức bán hàng với giá rất thấp dưới giá thành của hàng hóa đó so với

hàng hóa cùng loại của các đối thủ khác nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình gây bất lợi cho các doanh nghiệp khác trên trường kinh doanh

b) Hành vi ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh

mới

Doanh nghiệp thì ai cũng mong muốn là có vị trí duy nhất trong lòng khách hàng, luôn muốn khách hàng lựa chon sản phẩm của doanh nghiệp mình tiêu thụ bền vững nhưng nhu cầu thị hiếu của khách hàng thì mong muốn những cái mới, cái lạ đó là tạm lý và nắm bắt được điều

này nhiều doanh nghiệp mới phát triển không ngừng, cái đến sau luôn học hỏi được kinh nghiệm của những người đi trước nên hoàn thiện tốt hơn Còn khách hàng thấy có cái mới là mong muốn sở hữu và so sánh ,

còn doanh nghiệp thì có tính ganh đua nên luôn tìm hành vi ngăn cản

không cho sự phát triển của đối thủ ngang bằng với mình, tao ra rào cản về giá, rồi tìm cách phá nguồn tiêu thũ hay nguyên liệu đầu vào của đối thủ mới Bên cạnh đó tìm cách cản trở khách hàng, de dọa nhà cung cấp phân phối, nhà bán nhỏ lẻ không được phân phối hàng hóa hay sản

phẩm gì của doanh nghiệp mới nhằm gây sự mất công bằng để cạnh

tranh lành mạnh

Trang 8

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền tại việt nam

1 Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam

Bộ TT&TT vừa ban hành Danh mục doanh nghiệp viễn thông, nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnh thị trường đối với các dịch vụ

viễn thông quan trọng có hiệu lực từ 15/6/2015 Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) chính thức trở thành doanh nghiệp duy nhất thống lĩnh trên thị trường viễn thông Việt Nam (SMP) đối với dịch

vụ thông tin di động mặt đất, bao trọn cả 3 mảng dịch vụ điện thoại, nhắn tin và truy nhập Internet Cụ thể, theo Thông tư 15 sửa đổi một số quy định của Thông tư số 18/2012/TT-BTTTT, Bộ Thông tin và Truyền thông vừa ban hành danh mục doanh nghiệp viễn thông, nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnh thị trường đối với các dịch vụ viễn thông quan trọng So với Thông tư số 18, hai nhà mạng lớn khác là MobiFone và VinaPhone đều đã được đưa ra khỏi nhóm doanh nghiệp viễn thông SMP và gia nhập nhóm doanh nghiệp không thống lĩnh thị trường để cùng cạnh tranh với Viettel

Nếu vẫn ở trong nhóm doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, MobiFone và VinaPhone sẽ bị quản lý chặt hơn Khi muốn thay đổi giá cước, giảm giá dịch vụ, họ phải đăng ký với Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) Và chỉ khi được Cục Viễn thông đồng ý chấp thuận, họ mới được triển khai Đặc biệt, nếu là doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, họ không được phép ban hành giá cước dịch vụ viễn thông thấp hơn giá thành Đồng thời, họ phải thống kê, kế toán riêng để xác định giá thành dịch vụ viễn thông chiếm thị phần khống chế Thoát khỏi danh mục doanh nghiệp SMP sẽ đồng nghĩa với việc VinaPhone, MobiFone khi điều chỉnh giá cước và thực hiện khuyến mãi giảm giá đối với dịch vụ thông tin

di động chỉ cần thông báo với Cục Viễn thông, cũng như không bị cấm ban hành giá cước thấp hơn giá thành

Tóm lại, theo quy định của pháp luật cạnh tranh với những doanh nghiệp chiếm trên 30% thị phần, việc ban hành mức giá cước để tính cho khách hàng thì nghĩa vụ của doanh nghiệp là đăng ký gia cước cho cơ

quan để quản lý gói cước nhằm tránh kinh doanh dưới giá đã đăng ký

Còn đối với doanh nghiệp không chiếm thị phần khống chế, thì giá cước là không phải đăng ký thì quyền ban hành là tự chủ có thể thấp hơn cả

Trang 9

giá thành của mình nhưng không quá thấp so với mức trung bình hiện có trên thị trường

2 Doanh nghiệp có vị trí độc quyền tại Việt Nam

Vụ Công ty Cổ phần Xăng dầu Hàng không (Vinapco), lợi dụng vị trí là doanh nghiệp bán nhiên liệu bay duy nhất trên thị trường, đơn phương chấm dứt bán hàng cho Jestar Pacific Airlines

Vinapco đã ký hợp đồng (HĐ) cung cấp xăng năm 2008 cho PA với giá cố định Trong HĐ thương mại, thỏa thuận về giá cả là thỏa thuận quan trọng nhất Tự ý thay đổi giá cả đã cam kết là hành vi vi phạm nghiêm trọng hợp đồng Lấy lý do giá cả thị trường thay đổi, để có quyền thay đổi giá đã cam kết, là lý do chưa bao giờ được chấp nhận trong thương mại quốc tế Vì chấp nhận nó, cũng có nghĩa là chấp nhận sự vô nghĩa của một cam kết thương mại Chính là để được bảo đảm giá mua bán không thay đổi-dù giá cả thị trường có biến động- các doanh nghiệp mới giao kết hợp đồng, cam kết bảo đảm cho nhau các điều kiện mua bán ổn định, loại trừ rủi ro của thị trường Tuy vậy, đối với Vinapco và rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước khác, sự thay đổi chi phí đầu vào của họ-đặc biệt là khi vì vậy mà bị lỗ- là lý do đương nhiên để họ ngừng thực hiện hợp đồng, buộc đối tác trong nước chấp nhận giá mới Quan niệm và cách hành xử như thế rất xa lạ với tập quán quốc tế và góp phần quan trọng hạ thấp ý thức tôn trọng các cam kết pháp lý (HĐ), đồng thời làm người ta luôn nghi ngờ sự ổn định và do đó cả tính có thể dự đoán được từ các cam kết này Rõ ràng không thể xây dựng được một hệ thống tư pháp hiệu quả khi sự không tôn trọng giao kết tự nguyện như thế thể hiện ở rất nhiều nơi, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống

Tóm lại, doanh nghiệp có vị trí độc quyền thì phải tuân thủ quy định của Luật Cạnh tranh tức là phải kinh doanh đúng như thỏa thuận cam kết, không được lạm dụng vị trí độc quyền mà đơn phương thay đổi thỏa thuận đã cam kết

Trang 10

KẾT LUẬN

Luật Cạnh tranh năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2005) đã thiết lập nền tảng pháp lý đầu tiên cho môi trường cạnh tranh ở Việt Nam, Luật Cạnh tranh ra đời nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể, cũng như hạn chế, ngăn chặn, xử lý các hành vi gây thiệt hại doanh nghiệp Tuy nhiên, sau hơn 10 năm áp dụng, Luật Cạnh tranh đang bộc lộ rõ những điểm bất cập không phù hợp với thực tiễn hiện nay, một số quy định trong Luật Cạnh tranh hiện hành không còn phù hợp với bối cảnh và xu hướng phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu, rộng với khu vực và thế giới Nhiều hành vi phản cạnh tranh mới, đa dạng chưa, đặc biệt trong vấn đề các hành vi vi phạm thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền để nhằm hạn chế cạnh tranh Hạn chế cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền phụ thuộc nhiều vào yếu tố thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan Trong khi đó, các yếu tố để xác định thị trường liên quan không phù hợp với thực tế và gây nhiều khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật

Có thể nói luật hiện hành quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một trong những công cụ để Nhà nước thực hiện quản lý cạnh tranh và điều tiết kinh tế, góp phần hiệu quả vào sự phát triển ổn định nền kinh tế Tuy nhiên, hiện nay, có một số Doanh nghiệp bất chấp, vì mục đích lợi nhuận đã thực hiện không đúng quy định của luật chơi Việc thống lĩnh thị trường, độc quyền sẽ trở thành rào cảng gây khó khăn cho môi trường cạnh tranh lành mạnh Vì vậy, trước tiên

Ngày đăng: 26/06/2021, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w