1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ cấu tổ chức, chức năng, hoạt động và thẩm quyền của Tòa án công lý quốc tế (ICJ);

8 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa là yêu cầu hàng đầu đặt ra với mỗi quốc gia kèm theo đó là sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, tồn tại một cách tất yếu như mặt trái của quan hệ hợp tác giữa các quốc gia là tranh chấp quốc tế cũng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng đòi hỏi phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình và dựa trên các nguyên tắc, quy phạm của Luật Quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc tế và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế. Một trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là giải quyết thông qua cơ quan tài pháp quốc tế. Không giống với các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế khác, giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán quốc tế là cách thức giải quyết tranh chấp bằng phương pháp, thủ tục tư pháp. Về tổng thể các cơ quan tài phán quốc tế tồn tại chủ yếu ở ba dạng là Tòa án Quốc tế, Trọng tài quốc tế và cơ quan tài phán được thành lập trong khuôn khổ tổ chức quốc tế mà trong phạm vi bài tiểu luận này em xin đề cập đến dạng thức đầu tiên đó là Tòa án công lý quốc tế.

Trang 1

Đề tài 3: Cơ cấu tổ chức, chức năng, hoạt động và thẩm quyền của Tòa án công

lý quốc tế (ICJ);

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa là yêu cầu hàng đầu đặt ra với mỗi quốc gia kèm theo đó là sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, tồn tại một cách tất yếu như mặt trái của quan hệ hợp tác giữa các quốc gia là tranh chấp quốc tế cũng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng đòi hỏi phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình và dựa trên các nguyên tắc, quy phạm của Luật Quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc

tế và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế

Một trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là giải quyết thông qua cơ quan tài pháp quốc tế Không giống với các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế khác, giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán quốc tế là cách thức giải quyết tranh chấp bằng phương pháp, thủ tục tư pháp Về tổng thể các cơ quan tài phán quốc tế tồn tại chủ yếu ở ba dạng là Tòa

án Quốc tế, Trọng tài quốc tế và cơ quan tài phán được thành lập trong khuôn khổ tổ chức quốc tế mà trong phạm vi bài tiểu luận này em xin đề cập đến dạng thức đầu tiên đó là Tòa án công lý quốc tế

PHẦN NỘI DUNG

I Khái quát về tòa án công lý quốc tế

Tiền thân của Tòa án Công lý Quốc tế (The International Court of Justice – ICJ) là Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (The Permanent Court of International Justice – PCIJ) – vốn là tòa án của Hội Quốc Liên ra đời vào năm

1922 Tòa PCIJ tồn tại cùng với sự tồn tại của Hội Quốc Liên cho tới khi UN được thành lập và ICJ ra đời thay thế cho PCIJ vào năm 1946

Tòa án Công lý quốc tế là Tòa án được thành lập và hoạt động trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và Quy chế Tòa án Công lý quốc tế Hiến chương Liên hợp quốc dành toàn bộ Chương XIV từ Điều 92 đến Điều 96 để quy định những vấn đề cơ bản về tổ chức, thẩm quyền và hoạt động của Tòa Quy chế Tòa án

Trang 2

Công lý quốc tế gồm 70 điều được coi là một phần phụ lục gắn bó hữu cơ với Hiến chương Liên hợp quốc Trụ sở của ICJ đặt tại La Hay, Hà Lan

II Cơ cấu tổ chức, chức năng, hoạt động, thẩm quyền của tòa công lý quốc

tế (ICJ)

2.1 Cơ cấu tổ chức của tòa án công lý quốc tế

Tòa án Công lý quốc tế gồm 15 thẩm phán có các quốc tịch khác nhau Thẩm phán Tòa án Công lý quốc tế được Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc bầu với nhiệm kỳ 9 năm và cứ mỗi năm bầu lại 1/3 số thẩm phán Tiêu chuẩn để bầu thẩm phán Tòa án Công lý quốc tế căn cứ vào năng lực cá nhân, tương quan vị trí địa lý và đại diện cho các hệ thống pháp luật trên thế giới Thẩm phán của tòa không được đảm nhiệm chức vụ chính trị, hành chính hoặc nghề nghiệp nào trong thời gian đương nhiệm Bên cạnh các thẩm phán, khi phiên tòa mở ra, các bên tranh chấp có thể lựa chọn các thẩm phán ad-hoc Thẩm phán ad-hoc là thẩm phán do một hoặc các bên tranh chấp không có thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần của tòa đề cử tham gia Hội đồng xét xử

Các phụ thẩm có thể được tòa lựa chọn hoặc theo yêu cầu của các bên tranh chấp tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp nhằm mục đích tranh thủ thêm

sự đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động của tòa, nhất là trong các lĩnh vực kỹ thuật Ban thư ký đảm trách các dịch vụ tư pháp và

là bên lien lạc giữa tòa và các bên tranh chấp

2.2 Chức năng của tòa án công lý quốc tế

Tòa án Công lý quốc tế có 2 chức năng chính:

– Chức năng giải quyết tranh chấp: ICJ là cơ quan có chức năng giải quyết

tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên Liên hợp quốc và các quốc gia không phải thành viên Liên Hợp quốc (thỏa mãn những điều kiện do Đại hội đồng quyết định ) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa được xác định theo

3 phương thức: Chấp nhận thẩm quyền của tòa theo từng vụ việc, Chấp nhận

Trang 3

trước quyền của Tòa trong các điều ước quốc tế, Tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của tòa

– Chức năng đưa ra kết luận tư vấn: ICJ thực hiện chức năng đưa ra kết luật

tư vấn khi Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an Liên hợp quốc yêu cầu, liên quan đến những vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan này Các quốc gia không có quyền yêu cầu tòa đưa ra kết luận tư vấn về tranh chấp của mình Các ý kiến tư vấn chỉ mang tính chất khuyến nghị

2.3 Thẩm quyền của tóa án công lý quốc tế

Tòa ICJ có hai thẩm quyền chính: giải quyết tranh chấp và cho ý kiến tư vấn Ngoài ra Tòa còn có các thẩm quyền phái sinh mang tính thủ tục như thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

2.3.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Tòa có thẩm quyền áp dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tất cả các tranh chấp pháp lý giữa các quốc gia nếu các quốc gia đồng ý với thẩm quyền của Tòa Sự đồng ý chấp nhận thẩm quyền của Tòa của tất cả các bên tranh chấp là

cơ sở pháp lý duy nhất để Tòa có thể xác lập thẩm quyền của mình đối với một tranh chấp cụ thể Điều này phù hợp với một trong những nguyên tắc quan trọng của luật pháp quốc tế: không một quốc gia nào bị buộc phải mang tranh chấp của mình với quốc gia khác ra cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết khi không

có sự đồng ý của quốc gia đó

Sự đồng ý của tất cả các bên tranh chấp có thể được thể hiện bằng nhiều cách như được trù định ở khoản 1 – 5 của Điều 36 Quy chế Tòa

- Các quốc gia có thể chấp nhận thẩm quyền của Tòa thông qua việc tham gia vào điều ước quốc tế có quy định phải chấp nhận thẩm quyền của Tòa (xem danh sách tại đây)

- Các quốc gia có thể tại bất kỳ thời điểm nào đưa ra tuyên bố chấp nhận thẩm quyền của Tòa (xem danh sách tại đây, gồm 73 nước trong đó khu vực Đông Nam Á có Campuchia, Philippines và Đông Timor) Phạm vi chấp nhận

có thể không giới hạn, vô điều kiện hoặc có thể chấp nhận với điều kiện một hay

Trang 4

một số quốc gia nhất định cũng chấp nhận có đi có lại như tế, hoặc giới hạn về nội dung tranh chấp, quốc gia tranh chấp hoặc thời hạn chấp nhận

- Các quốc gia có ký kết thỏa thuận đặc biệt (special agreement) để chấp

nhận thẩm quyền của Tòa đối với một tranh chấp cụ thể sau khi tranh chấp phát sinh

Nói cách khác, thẩm quyền của Tòa có thể xác lập dựa trên quy định của điều ước quốc tế, tuyên bố của các quốc gia và thỏa thuận đặc biệt Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, sự đồng ý chấp nhận thẩm quyền của Tòa có thể

được đưa ra sau khi tuyên bố khởi kiện được đệ trình – trường hợp forum prorogatum.

2.3.2 Thẩm quyền cho ý kiến tư vấn

Thẩm quyền cho ý kiến tư vấn là thẩm quyền chỉ có ở các toà án thường trực

như Toà ICJ và ITLOS mà không có ở các toà trọng tài vụ việc (ad hoc) Cơ sở

pháp lý để Tòa ICJ có thẩm quyền cho ý kiến tư vấn là Điều 96 Hiến chương Liên hợp quốc Điều 96(1) quy định Tòa có thể cho ý kiến tư vấn đối với bất kỳ câu hỏi pháp lý nào theo yêu cầu của Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Điều 96(2) quy định các cơ quan khác của Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên trách

có thể được Đại hội đồng cho phép đệ trình yêu cầu xin ý kiến tư vấn của Tòa về các câu hỏi pháp lý “phát sinh trong phạm vi hoạt động của các cơ quan này”

Có hai điều kiện để Tòa có thẩm quyền cho ý kiến tư vấn:

(i) cơ quan, tổ chức xin ý kiến có quyền xin ý kiến (xem danh sách tại đây), và

(ii) câu hỏi đặt ra cho Tòa phải là câu hỏi pháp lý Câu hỏi pháp lý là câu hỏi “được viết bằng các thuật ngữ pháp lý và nêu lên các vấn đề của luạt quốc tế

… và về bản chất cần trả lời dựa trên luật.”

Một điểm cần chú ý là, khác với quyền xin ý kiến tư vấn không hạn chế của Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an, các cơ quan khác phải thỏa mãn hai điều kiện tiên quyết: (i) được Đại hội đồng cho phép và (ii) câu hỏi phải nằm trong phạm

vi hoạt động của cơ quan xin ý kiến tư vấn Năm 1996 Tòa ICJ đã không cho ý

Trang 5

chức này đưa ra không thuộc phạm vi hoạt động của mình. Mục đích của việc đưa ra ý kiến tư vấn là làm sáng tỏ về mặt pháp lý các vấn đề mà các cơ quan, tổ chức này đang xử lý, qua đó, định hướng được hoạt động của các cơ quan, tổ chức đó

Một điểm quan trọng cần chú ý là các cơ quan, tổ chức có quyền xin ý kiến

tư vấn của Tòa nhưng Tòa cũng có quyền từ chối không cho ý kiến tư vấn Nhưng trường hợp này rất hạn hữu bởi vì một khi cơ quan, tổ chức đã có quyền xin ý kiến thì với tư cách là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc, Tòa không nên từ chối cho ý kiến tư vấn Việc từ chối này khác với việc Tòa không

có thẩm quyền cho ý kiến tư vấn; vấn đề có hay không có thẩm quyền phục thuộc vào việc yêu cầu xin ý kiến tư vấn có thỏa mãn điều kiện ở Điều 96 hay không Việc từ chối cho ý kiến tư vấn đang nói ở đây là trường hợp Tòa xét thấy

có thẩm quyền nhưng Tòa từ chối thực thi thẩm quyền đó! Việc từ chối này chỉ

có thể khi Tòa xét thấy có lý do xác đáng (compelling reasons). Một ví dụ mà

Tòa đưa ra là nếu việc đưa ra ý kiến tư vấn vi phạm nguyên tắc rằng không một quốc gia nào có thể bị buộc mang tranh chấp của mình ra giải quyết ở cơ quan tài phán quốc tế mà không có sự đồng ý của quốc gia đó

2.3.3 Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định ở Điều 41 Quy chế Tòa Điều 41 quy định Tòa sẽ có quyền đưa ra, nếu hoàn cảnh yêu cầu, bất kỳ biện pháp khẩn cấp tạm thời nào nhằm bảo đảm quyền của bất kỳ bên nào trong tranh chấp Tất cả các bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Để có thể ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa cần thỏa mãn:

- Tòa có thẩm quyền prima facie đối với vụ việc,

- Quyền mà bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo đảm phải ít nhất có cơ sở (at least plausible),

- Có mối liên hệ (link) giữa quyền đó và biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được yêu cầu áp dụng,

Trang 6

- Thực sự có nguy cơ gây tổn hại không thể khắc phục đối với quyền của

bên yêu cầu (risk of irreparable prejudice), và

- Tình huống có tính khẩn cấp (urgency)

Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể giống như bên yêu cầu đề nghị hoặc là biện pháp mà chính Tòa cho rằng thích hợp. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực ràng buộc đối với các bên. Xem thêm phân tích về Quyết định áp dụng biển pháp tạm thời trong Vụ Ukraina v Nga (2017), Vụ Qatar v UAE (2018), và Vụ Iran v Mỹ (2018)

2.4 Thực tiễn hoạt động của tòa công lý quốc tế (ICJ)

Tòa án Công lý quốc tế là cơ quan pháp lý chính của Liên hợp quốc Đây không phải là một tổ chức lập pháp mà chỉ là một cơ quan tài phán đưa ra các phán quyết và các kết luận tư vấn trong chừng mực thẩm quyền cho phép Tuy nhiên ngày nay không có một cơ quan tài phán nào giải quyết các vấn đề của cộng đồng quốc tế trong một tổng thể và được các quốc gia sử dụng một các chung nhất trong việc bảo vệ những giá trị của Luật quốc tế như Tòa án Công lý quốc tế

Các phán quyết và kết luận tư vấn của Tòa đã đề cập mọi khía cạnh khác nhau của công pháp cũng như tư pháp quốc tế, liên quan tới tất cả các bên trên thế giới tới việc kiểm tra các hệ thống pháp lý khác nhau Tòa có bước khởi đầu tốt đẹp qua các vụ Eo biển corfou năm 1949, quyền tị nạn 1950, hay các kết luận

tư vấn Bồi thường thiệt hại cho hoạt động các cơ quan của Liên hợp quốc năm 1949

Trong thực tiễn hoạt động của tòa đã có 148 vụ tranh chấp được đưa ra trước tòa (tính đến tháng 6 năm 2010), trong số đó có khoảng 120 vụ tranh chấp đã được tòa xét xử Nhiều phán quyết của ICJ đã có ý nghĩa rất quan trọng Bên cạnh các phán quyết, ICJ đã đưa ra hơn 20 kết luận tư vấn Mặc dù số kết luận

tư vấn đưa ra không nhiều và các kết luận đó cũng không có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các chủ thể nhưng nó có vai trò không nhỏ trong quá trình dàn xếp một số tranh chấp quốc tế

Trang 7

Có thể thấy, trong giai đoạn hiện nay, hội nhập quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa là yêu cầu hàng đầu đặt ra với mỗi quốc gia kèm theo đó là sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, tồn tại một cách tất yếu như mặt trái của quan hệ hợp tác giữa các quốc gia là tranh chấp quốc tế cũng gia tăng cả về

số lượng và mức độ nghiêm trọng đòi hỏi phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình và dựa trên các nguyên tắc, quy phạm của Luật Quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc tế và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế Và tòa án công lý quốc tế

đã thực hiện đúng chức năng của mình khi đứng ra giải quyết các vụ việc quốc

tế một cách công bằng, văn minh

Trang 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Công pháp quốc tế (Quyển 1) do tác giả PGS TS Trần Thị Thùy

Dương - Ths.Nguyễn Thị Yên biên soạn, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2017

2 Sách giáo trình Công pháp quốc tế (Quyển 2) do tác giả PGS TS Trần Thị

Thùy Dương - Ths Nguyễn Thị Yên biên soạn, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2019

3  Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam Sử Dụng Học Tập Môn

Công Pháp Quốc Tế, TS Ngô Hữu Phước – Ths Lê Đức Phương, NXB Hồng Đức, 2017

Ngày đăng: 26/06/2021, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w