1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CỦA SINGAPORETỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2016

13 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn này, đây là một nước không ổn định chính trị xã hội và không phát triển kinh tế, đầu tư nước ngoài và sự công nghiệp hóa do nhà nước chỉ đạo đã tạo ra một nền kinh tế dựa chủ y

Trang 1

Chương 3:

PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CỦA SINGAPORE

TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2016

1 Tổng quan về Singapore:

1.1 Thông tin sơ lược:

Quốc đảo Singapore có tên chính thức là nước Cộng hòa Singapore (Republic

of Singapore)là một thành bang và đảo quốc tại Đông Nam Á

Đảo quốc này nằm ngoài khơi mũi phía nam của bán đảo Mã Laivà cách xích đạo 137 km về phía bắc; với diện tích khoảng 712km², trong đó diện tích đất là 682,7 km² với chiều dài bờ biển khoảng 150,5 km

Lãnh thổ Singapore gồm có một đảo chính hình thoi, và khoảng 60 đảo nhỏ hơn Singapore tách biệt với Malaysia bán đảo qua eo biển Johor ở phía bắc, và tách biệt với quần đảo Riau của Indonesia qua eo biển Singapore ở phía nam Singapore là quốc gia đô thị hóa cao độ, chỉ còn lại ít thảm thực vật nguyên sinh Lãnh thổ của Singapore liên tục mở rộng thông qua hoạt động cải tạo đất

Singapore có dân số khoảng 5,638,700 người (năm 2013) và mật độ dân số là 7.796 người/km² Đất nước này có thành phần dân tộc đa dạng, song các dân tộc châu Á chiếm ưu thế: 75% dân số là người Hoa, các cộng đồng thiểu số đáng kể

là người Mã Lai, người Ấn Độ, và người Âu-Á

Năm 1965 Singapore được công nhận nền độc lập, với rất ít tài nguyên thiên nhiên Giai đoạn này, đây là một nước không ổn định chính trị xã hội và không phát triển kinh tế, đầu tư nước ngoài và sự công nghiệp hóa do nhà nước chỉ đạo

đã tạo ra một nền kinh tế dựa chủ yếu trên xuất khẩu hàng điện tử và gia công

Trang 2

1.2 Dân số:

Bảng dân số Singapore 2007 – 2016

(Số liệu được lấy vào ngày 1/7 hằng năm)

Dân số Singapore tăng từ 4732785 người (năm 2007) lên đến 5696506 người (năm 2016) (theo Phòng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp) Tuy nhiên, tốc độ gia tăng dân số trong mười năm này lại giảm từ 2,56% xuống chỉ còn 1,66%

Độ tuổi trung bình là 41 tuổi, trong đó phân bố thành 3 nhóm tuổi như sau: dân số dưới 15 tuổi chiếm 13,8%, dân số từ 15 đến dưới 65 tuổi chiếm 77% và dân số trên 65 tuổi chiếm 9,2% (năm 2017)

Mô hình đơn giản hóa của tháp dân số Singapor Singaore là một trong những quốc gia phát triển có tỉ lệ thất nghiêp thấp nhất,

tỉ lệ thất ngiệp tại đây không vượt quá 4% trong thập kỉ vừa qua, chạm mức cao 3% trong khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009 và giảm xuống 1,9% vào năm 2011

1.3 Chế độ chính trị:

Singapore là một nước cộng hòa nghị viện, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử

Hiến pháp của quốc gia thiết lập trên hệ thống chính trị dân chủ đại diện

Trang 3

Quyền hành pháp thuộc về Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo và ở một mức độ thấp hơn rất nhiều so với Tổng thống

2 Tình hình Kinh tế Singapore (từ năm 2007 đến năm 2016):

2.1 Tổng sản phẩm quốc nội & sản lượng quốc gia:

2.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP):

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và

dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định

Các thành tố của GDP:

Trong đó:

• Tiêu dùng (C) • Đầu tư (I) • Chi tiêu của chính phủ (G) • Xuất khẩu ròng (NX)

a, GDP danh nghĩa:

Giá trị GDP danh nghĩa được đo lường bằng cách sử dụng giá hiện hành

GDP danh nghĩa chưa loại trừ yếu tố lạm phát.

Y = C + I + G + NX

(Đơn vị: billion) p))

$US

Trang 4

Từ năm 2007 đến năm 2016, GDP danh nghĩa của Singapore tăng 129782 triệu đô la Mỹ, hơn 72% so với giá trị năm 2007 Trong đó, ở từ năm 2007-2009, GDP danh nghĩa nằm ở mức trung bình 188.204 triệu $US Tổng sản phẩm quốc nội của Singapore sau năm 2009 bắt đầu tăng trưởng mạnh ở 2 năm 2010, 2011

và từ 2012 trở đi nền kinh tế tăng trưởng dần ổn định hơn Trong 10 năm này, GDP đạt ngưỡng cao nhất ở năm 2014 là 311,539 triệu $US

* Tốc độ tăng trưởng của GDP danh nghĩa:

Tốc độ tăng trưởng của GDP danh nghĩa năm 2007 là 21.77% cho thấy sự tăng trưởng khá mạnh mẽ, tuy nhiên giai đoạn 2008 – 2009 lại bị giảm mạnh Mặc dù chỉ số GDP ngày càng tăng cao hơn so với những năm 2007-2009 nhưng

Trang 5

tốc độ tăng trưởng thì ngày càng giảm dần sau sự gia tăng tốc độ tăng trưởng mạnh vào năm 2010

b GDP thực:

Giá trị GDP thực được đo lường bằng cách sử dụng giá của một năm nào đó làm gốc GDP thực được điều chỉnh theo lạm phát

Từ năm 2007 đến năm 2016, GDP thực của Singapore tăng 96395 triệu

$US,tương đương gần bằng 48% GDP thực năm 2007 Đăc biệt giai đoạn sau năm 2009 GDP thực tăng khá ổn định

(Đơn vị: billion) p))$US

Trang 6

So sánh GDP thực và GDP danh nghĩa trong vòng 10 năm (2007-2016) từ biểu đồ trên , có thể thấy được GDP thực của Singapore có sự biến động

 Giai đoạn 2007 đến 2014, GDP của Singapore tăng mạnh đặc biệt là giai đoạn 2009-20011 và sự khác biệt giữa GDP thực so với GDP danh nghĩa (2011-2014) ngày càng lớn Điều đó cho thấy hiện tượng lạm phát ở Singapore ngày càng tăng

 Giai đoạn 2015 trở về sau, sự chênh lệch giữa GDP thực và GDP danh nghĩa giảm dần, cho thấy mức giá chung của Singapore trong những năm gần đây ít có biến động, giá cả ổn định

* Tốc độ tăng trưởng của GDP thực:

Tốc độ tăng trưởng của GDP thực vào năm 2007 là 9,11%, nhưng trong 2 năm tiếp theo (2008-2009) tốc độ tăng trưởng lại bị giảm mạnh và chỉ dạt mức

âm 0.6% vào năm 2009 Tuy nhiên sau đó đã được phục hồi nhanh chóng và ổn định hơn,đặc biệt vào năm 2010 đã đạt được 15,24%

Trang 7

c GDP bình quân đầu người:

Nhìn chung trong 10 năm này (2007-2016) GDP bình quân đầu người tăng, tuy nhiên giai đoạn 2007-2009 do chịu sự tác động sâu sắc bởi các yếu tố bên ngoài nên có nhiều sự biến động Mức sống người dân ngày được nâng cao

So với các nước trên thế giới thì GDP bình quân đầu người của Singapore nằm trong top đầu thế giới, vượt qua nhiều cường quốc lớn như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh,…

So với các nước trong khu vực thì GDP bình quân đầu người của Singapore đứng đầu và có sự lệnh lệch rất lớn (gấp rất nhiều lần so với các nước trong khu vực)

Trang 8

* Tốc độ tăng trưởng của GDP/người:

Giai đoạn 2007-2009 do chịu sự tác động sâu sắc bởi các yếu tố bên ngoài nên có nhiều sự biến động dẫn đến tốc độ tăng trưởng GDP bình quân theo đầu người giảm mạnh và chỉ đạt mức -3,55% vào năm 2009

Giai đoạn 2010 trở về sau đã hồi phục và ổn định hơn

2.1.2 Tổng sản lượng quốc gia (GNP):

a, GNP danh nghĩa:

GNP danh nghĩa và GDP danh nghĩa có hình dáng và biến động gần như tương tự nhau, tuy nhiên giá trị của GNP danh nghĩa thấp hơn

Trang 9

b, GNP thực:

0

50

100

150

200

250

300

350

GDP và GNP thực của Singapore từ 2007-2016

GDP thực GNP thực

GNP thực và GDP thực có hình dáng và biến động gần như tương tự nhau, tuy nhiên giá trị của GNP thực thấp hơn

2.2 Cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu ngành kinh tế gồm các thành phần : Chi tiêu hộ gia đình, chi tiêu chính phủ, đầu tư , xuất và nhập khẩu Trong đó, chi tiêu tiêu dùng cuối cùng là tổng của chi tiêu chính phủ và chi tiêu hộ gia đình chiếm trung bình khoảng 46,64% GDP

Trang 10

* Tốc độ tăng trưởng các thành phần cơ cấu kinh tế:

Qua biểu đồ ta thấy tốc độ tăng trưởng cơ cấu ngành kinh tế của Singapore trong 10 năm ( từ 2007 đến 2016) khá đồng đều Trong đó, tổng đầu tư thể hiện

Trang 11

quá trình tăng trưởng rõ rệt nhất, tốc độ tăng trưởng của đầu tư là nhanh nhất ở năm 2008 là 29,26% và chậm nhất là vào năm 2009 là -11,14% Xuất và nhập khẩu gần như có tốc độ tăng trưởng như nhau từ năm 2009 trở đi.Tốc độ tăng trưởng theo GDP thực của các cơ cấu ngành kinh tế Singapore dần trở nên ổn định hơn sau năm 2011 nhưng với mức tăng trưởng thấp

2.3 Ngân sách quốc gia:

* Ngân sách chính phủ:

Trong suốt các năm từ 2007-2016, ngân sách Chính phủ luôn đạt được giá trị thặng dư Giá trị thặng dư ngân sách cao nhất trong 10 năm này là 17,132 triệu

$US (2007 ) và thấp nhất là 2,000 triệu $US (2015 ) Số giá trị thặng dư trong ngân sách Chính phủ đã giảm dần từ 2007-2009, sau đó đã tăng dần từ

2009-2014 và lại sụt giảm ở những năm 2015 và 2016

2.4 Xuất nhập khẩu:

Qua số liệu ta có thể thấy rõ Singapore là 1 nước xuất khẩu, xuất khẩu có

tỉ lệ trung bình là 1,15 lần so với nhập khẩu Singapore có diện tích nhỏ nên nền nông nghiệp không phát triển, vì vậy các mặt hàng nhập khẩu phần lớn là lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước Tuy nhiên, Singapore có một số ngành công nghiệp phát triển hàng đầu châu Á nên số giá trị xuất khẩu từ các mặt hàng công nghiệp lớn hơn so với giá trị nhập khẩu Vào năm 2007, tỉ lệ giữa xuất khẩu với nhập khẩu là 1,16 nhưng tới năm 2016, tỉ lệ này là 1,18, đã tăng 0,02 lần so với 2007

2.5 Mức cung tiền:

Trang 12

 Theo bảng số liệu thì, tốc độ tăng cung tiền của Singapore không cao và khá ổn định

 Nguyên cung tiền nhân là do tỷ lệ lạm phát của Singapore luôn được duy trì ở mức thấp (<7%) Trong đó giai đoạn 2009-2015 , là giai đoạn nền kinh tế của Singapore có dấu hiệu suy thoái (giảm phát) nhưng tốc độ cung tiền lại khá thấp và hầu như không thay đổi Giai đoạn sau khủng hoảng đó, nền kinh tế Singapore hồi phục, tốc độ tăng cung tiền đều đặn

 Như quan sát biểu đồ ta thấy Singapore đang thực hiện chính sách tiền tệ

mở rộng làmđầu tư và sản lượng tăng, tình trạng thất nghiệp cũng giảm đáng kể Tuy nhiên, nếu trong tương lai, chính phủ Singapore tiếp tục thực hiện chính sách này sẽ có nguy cơ dẫn đến lạm phát tăng cao

2.6 Lạm phát:

Tình hình lạm phát (%∆p theo cpi)

Theo bảng số liệu ở trên thì nền kinh tế Singapore có nhiều biến động, dù vậy nó vẫn ở dưới mức 7% cho thấy chính phủ đã ứng phó nhanh chóng và xử lí kịp thời nhiều thời điểm khó khăn

• Chỉ số lạm phát cao nhất là 6,6% vào năm 2008, nguyên nhân là khủng hoảng giá dầu thế giới làm cho giá cả tăng chóng mặt Nhưng chỉ sau 1 năm thì

tỷ lệ lạm phát giảm sâu, chỉ còn 0,62% chứng tỏ mặc dù tình trạng nền kinh tế bị ảnh hưởng vẫn còn, chính phủ Singapore đã có chính sách vận hành nền kinh tế tốt, khả quan như mở kho dự trữ chứa đầy ắp gạo để người dân không hoang mang khi giá gạo tăng cao

• Lạm phát tại Singapore năm 2011 tăng mạnh, nguyên nhân chính bởi giá nhà và chi phí vận tải tăng cao Chính sách lúc bấy giờ đang cho phép đồng đôla Singapore tăng giá và giúp hãm bớt áp lực lạm phát.Cũng từ năm 2011 trở đi, chỉ

số lạm phát giảm dần đến mức giảm phát vào năm 2015 và 2016 Nền kinh tế

Trang 13

biến động tích cực một cách từ từ và dần đi vào quĩ đạo ổn định Nhìn chung chính phủ Singapore có thể kiểm soát giá một cách đủ nhanh để chỉ số lạm phát không thể làm người dân hoang mang và bất ổn

2.7 Thất nghiệp:

• Nhìn chung, chính phủ Singapore đã kiểm soát được tình trạng thất nghiệp

có hiệu quả Tỷ lệ thất nghiệp thấp, chỉ trừ năm 2009 ( cao nhất trong các giai đoạn là 4,38%) do khủng hoảng giá dầu làm gia tăng lạm phát gây ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người dân

• Tuy vậy chỉ số có việc làm tăng lên không đáng kể chỉ khoảng 2%/năm Nguyên nhân là do nhu cầu làm việc vẫn cao hơn nhu cầu tuyển dụng

• Bên cạnh đó, tăng trưởng lao động chậm lại cũng đồng nghĩa với việc các công ti sẽ phải hoạt động với ít nhân viên hơn và phải thiết kế lại công việc để tăng hiệu suất lao động, đầu tư vào các kĩ năng, công nghệ đồng thời tìm ra mô hình nhân lực để phát triển hơn

Ngày đăng: 26/06/2021, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w