1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ THU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

19 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 310,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, quản lý nhà nước về tài chính giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội; Quản lý thu ngân sách, khi nền kinh tế thị

Trang 1

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU 1

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ THU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 2

1 Một số vấn đề lý luận về thuế: 2

a Khái niệm về thuế: 2

b Phân loại thuế: 2

c Vai trò của Thuế: 2

d Hệ thống thuế ở Việt Nam: 2

e Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thuế ở nước ta hiện nay: 3

II Cơ sở lý thuyết Thuế đánh vào đầu tư 5

1 Tác động của Thuế đến hành vi đầu tư 5

2 Các loại thuế: 7

3 Phương pháp tính thuế: 7

4 Những tranh luận ủng hộ trợ cấp thông qua đánh thuế thu nhập chuyển nhượng vốn: 8

a Chống lại lạm phát 8

b Cải thiện hiệu quả các giao dịch vốn 8

c Khuyến khích sự khởi nghiệp 8

5 Ở Việt Nam: 9

a Thuế từ lãi tiền gửi lãi cho vay vốn: 9

b Thuế cổ tức: 10

c Chuyển nhượng vốn 11

d Chuyển nhượng bất động sản: 12

6 Tác động của việc đánh thuế vào đầu tư ở Việt Nam: 13

Trang 2

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15

1 Kết luận 15

2 Kiến nghị 16

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU

Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, quản lý nhà nước về tài chính giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội; Quản lý thu ngân sách, khi nền kinh tế thị trường phát triển, nguồn thu từ nội địa là then chốt trong tổng thu ngân sách quốc gia, đặc biệt nguồn thu từ thuế, trong đó các khoản thu thuế Công thương nghiệp ngoài quốc doanh (CTN-NQD) chiếm tỷ trọng khá lớn, đóng vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN), góp phần tích cực trong việc điều tiết cân đối thu chi ngân sách

Ngày nay vai trò của thuế càng được nâng cao, thuế thực sự là công cụ có hiệu lực góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đồng thời phục vụ yêu cầu

kiểm soát, hướng dẫn mọi hoạt động kinh tế Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, đảm bảo tính pháp lý cao, thể hiện được tính đơn giản, rõ ràng, công khai, dân chủ, công bằng xã hội, khuyến khích tăng trưởng sản xuất phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo chủ trương, chính sách quản lý kinh tế của đảng, nhà nước

Từ những chính sách phát triển kinh tế tích cực của Nhà nước đã góp phần

đáng kể trong việc tăng thu NSNN Song song đó, Luật thuế Giá trị gia tăng

(GTGT), Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN), ra đời là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật Trong những năm gần đây, nguồn thu thuế của tỉnh An Giang nói chung, thành phố Long Xuyên nói riêng, nhờ sự tác động của nền kinh tế thị trường mà nguồn thu thuế của thành phố phát triển rõ rệt, số thu năm sau đều cao hơn năm trước Để thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế CTN-NQD, hạn chế khả năng thất thu thuế, góp phần thể hiện tính công bằng xã hội và hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra

Vì vậy tôi chọn đề tài tiểu luận cuối khoá là: “Tăng thuế có ảnh hưởng đấn

đầu tư không ?” Qua đó phân tích cụ thể những mặt đạt được và chưa đạt được để

đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh nhằm góp phần nâng cao hiệu lực quản lý thu thuế trong tương lai

Trang 4

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA

ĐẢNG, CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ THU Ở

NƯỚC TA HIỆN NAY

1 Một số vấn đề lý luận về thuế:

a Khái niệm về thuế:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội

Thuế là nghĩa vụ của người dân đối với nhà nước

b Phân loại thuế:

Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế

- Thuế gián thu

- Thuế trực thu

Phân loại theo đối tượng nộp thuế:

- Thuế đánh vào hoạt động kinh doanh, dich vụ như: thuế giá trị gia tăng

- Thuế đánh vào hàng hoá tiêu dùng đặc biệt như: thuế tiêu thụ đặc biệt

- Thuế đánh vào thu nhập như: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp

- Thuế đánh vào tài sản như : thuế nhà đất, lệ phí trước bạ

- Thuế đánh vào việc sử dụng một số tài sản quốc gia như: thuế tài nguyên, thuế

sử dụng đất nông nghiệp

Việc phân loại nhiều sắc thuế và nhiều đối tượng đánh thuế khác nhau nhằm đảm bảo cho hệ thống thuế bao quát hết các nguồn thu để động viên cho ngân sách nhà nước, phát huy tác dụng của từng sắc thuế và bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu, yêu cầu chung của hệ thống thuế

c Vai trò của Thuế:

- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách

- Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế

- Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng

xã hội

- Thuế là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động SXKD

d Hệ thống thuế ở Việt Nam:

- Thuế GTGT

- Thuế TNDN

Trang 5

- Thuế TTĐB

- Thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu

- Thuế Môn bài

- Thuế thu nhập cá nhân

e Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thuế ở nước ta hiện nay:

Nghị quyết của Đảng lần thứ XI chỉ rõ: Tiếp tục hoàn thiện chính sách và

hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng, các chính sách về thu nhập, tiền lương, tiền công Thực hiện cân đối ngân sách tích cực bảo đảm tỷ lệ tích lũy hợp lý cho đầu tư phát triển; phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty Quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nước ngoài; giữ mức nợ chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an toàn Tăng cường vai trò giám sát ngân sách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 được Quốc hội thông qua ngày 15/4/1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001quy định:

Điều 22: “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải

thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn

và tài sản hợp pháp được nhà nước bảo hộ”

Điều 80: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy

định của pháp luật” Căn cứ vào các quy định nêu trên của hiến pháp, hàng loạt các luật và văn bản pháp qui về thuế thể hiện nghĩa vụ của pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước được ban hành như: Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập cá nhân,…Dựa vào các quy định nêu trên,

hệthống thuế Việt Nam đã hình thành và ngày càng hoàn thiện, thể hiện đầy đủ hơn nghĩa vụ của công dân, đơn vị SXKD đối với nhà nước

Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu lực, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện cho người nộp thuế tăng tích tụ, tăng khả năng cạnh tranh, thực sự là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu lực, hiệu lực của Đảng và Nhà nước; xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu lực; công tác quản lý thuế và phí, lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học theo thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao

Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách điều tiết, điều chỉnh trong công tác quản lý thuế nhằm từng bước phù hợp và nâng cao hiệu lực trong công tác động viên nguồn thu vào NSNN, đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế của đất nước, chẳng hạn như:

Trang 6

Để khuyến khích cũng như thu hút đầu tư của các Doanh nghiệp trong và ngoài nước Đảng và Nhà nước ban hành chính sách ưu đãi đầu tư đối với những vùng kinh tế ở địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn, thể hiện ở Nghị định

124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp; Thông tư 130/2008/TT- BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định 124/2008/NĐ-CP của Chính phủ

Ban hành những chính thuế mới như thuế Thu nhập cá nhân, thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp,…để sửa đổi, bổ sung một số loại thuế không còn phù hợp, nhằm mục đích phù hợp với tình hình hội nhập kinh tế quốc tế,…

Trang 7

II Cơ sở lý thuyết Thuế đánh vào đầu tư

1 Tác động của Thuế đến hành vi đầu tư

Ảnh hưởng đến quyết định của công ty: Lượng đầu tư ròng của doanh nghiệp trong một giai đoạn là khoản gia tăng tài sản vật chất trong thời kỳ đó

Có 3 mô hình:

+ Mô hình gia tộc: yếu tố quyết định khối lượng đầu tư là sự thay đổi sản lượng đầu ra, do đó các khoản giảm thuế cho đầu tư phần lớn không có tác động gì đến đầu tư vật chất Hay nói cách khác, các khoản trợ cấp thuế đối với vốn có thể làm cho vốn rẻ hơn, nhưng mô hình này thì điều đó không quan trọng bởi vì nhu cầu vốn không phụ thuộc vào giá cả của nó

+ Mô hình tân cổ điển: khi chi phí vốn tăng, các doanh nghiệp lựa chọn kỹ thuật cần ít vốn và ngược lại Khi chính sách thuế làm giảm chi phí vốn thì doanh nghiệp có thể tăng vốn và như vậy sẽ tăng đầu tư Hệ thống thuế công ty làm tăng chi phí sử dụng vốn; lượng đầu tư thật sự là khá nhạy cảm với những thay đổi do thuế gây ra đối với chi phí sử dụng vốn

+ Mô hình lưu lượng tiền mặt: trong giới kinh doanh thì lưu lượng tiền mặt quyết định lượng đầu tư của họ Chi phí cho việc sử dụng các quỹ nội bộ thấp hơn

so với chi phí sử dụng vốn vay khi đó lượng đầu tư sẽ phụ thuộc vào lưu lượng của các quỹ nội bộ này, tức lưu lượng tiền mặt

Quyết định loại tài sản nên mua:Hệ thống thuế rất có khả năng gây ảnh hưởng

đến chủng loại tài sản mà doanh nghiệp mua sắm

Quyết định cách thức tài trợ vốn:Bên cạnh các quyết định thực tế liên quan

đến đầu tư vật chất, các chủ doanh nghiệp còn phải quyết định tài trợ vốn cho các hoạt động của DN như thế nào và nên phân phối lợi nhuận hay giữ lại Thu nhập công ty là đối tượng của nhiều thứ thuế khác nhau, vì vậy khi cổ tức được chi trả,

cổ đông sẽ có một nghĩa vụ thuế, trong khi lợi tức giữ lại không bị đánh thuế Sự thật là việc giữ lại lợi tức tạo nên một khoản lời trên vốn cho cổ đông nhưng họ không có nghĩa vụ thuế nào cho đến khi khoản lời được thực hiện

+ Tác động thuế đến chính sách cổ tức: Thuế làm gia tăng số lợi tức giữ lại của các công ty thay vì chia cổ tức, đây là điều cần thiết bởi vì gia tăng lợi tức giữ lại thì doanh nghiệp sẽ có nhiều tiền hơn dành cho đầu tư

+ Tài trợ bằng nợ vay với tài trợ bằng vốn tự có: một quyết định tài chính quan trọng của DN là làm cách nào để có thêm tiền DN có hai lựa chọn: đi vay, DN phải trả lãi vay hoặc DN có thể phát hành cổ phiếu và cổ đông có thể nhận cổ tức trên cổ phần của minh Theo Hệ thống thuế Hoa kỳ, DN được phép khấu trừ các khoản lãi

Trang 8

vay ra khỏi thu nhập chịu thuế nhưng không được khấu trừ cổ tức Như vậy, luật thuế xây dựng nhằm vào tài trợ vốn bằng cách vay mượn Khó có thể ước tính chính xác tác động của hệ thống thuế này đối với sự lựa chọn giữa nợ và vốn tự có Hệ thống thuế gây tác động đến việc tài trợ bằng nợ vay, việc gia tăng tỉ lệ nợ dẫn đến khả năng phá sản cao hơn

+Mô hình đầu tư tài chính:Mô hình cơ bản về thuế và việc chấp nhận rủi ro của Domar và Musgrave (phát triển 1944 trong khuôn khổ rủi ro đầu tư tài chính) nói rằng cá nhân sẽ lựa chọn đầu tư vào tài sản an toàn với lợi nhuận thực bằng không

và đầu tư vào tài sản rủi ro với tỷ suất lợi nhuận dương trong một số trường hợp Chính phủ sẽ đánh thuế khi lợi nhuận từ tài sản rủi ro dương và cho phép chuyển vào thu nhập chịu thuế tất cả các khoản lỗ khi đầu tư Trong trường hợp này, Domar

và Musgrave chỉ ra rằng việc đánh thuế vào thu nhập nhận được từ tài sản rủi ro sẽ làm tăng việc chấp nhận rủi ro do bởi bất cứ thuế nào đánh vào lợi nhuận hoàn toàn

có thể tránh được bằng cách chấp nhận rủi ro nhiều hơn

Để chứng minh cho điều này xét ví dụ qua bảng 1

Bảng 1.Đánh thuế và mức chấp nhận rủi ro của Ông X

Đầu

Nhận được nếu lãi

Nhận được nếu lỗ

Thuế suất nếu lãi

Thuế giảm trừ nếu lỗ

Lãi sau thuế

Lỗ sau thuế

Giả sử nhà nước chưa đánh thuế: Ông X đầu tư 100$ vào thương vụ mạo hiểm với cơ hội 50% tăng gía trị lên 120$(tức được lợi 20$) và 50% giảm giá trị xuống còn 80$(tức lỗ 20$) Việc đầu tư này mang lại lợi nhuận kỳ vọng là bằng

0(20$x0.5+(-20$x0.5)=0$)(xem dòng 1 bảng 1)

Nhà nước lúc này tính thuế 50% và cho phép chuyển toàn bộ lỗ vào thu nhập chịu thuế.Do vậy Ông X chỉ giữ lại được 50% lợi nhuận thu được vì bị đánh thuế 50% và nếu lỗ thì Ông X chỉ lỗ 50% vì lỗ được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế nên

cơ sở đánh thuế giảm và bù đắp 50% số lỗ còn lại (điều này có nghĩa là chính phủ

Trang 9

sẽ chịu 50% trên mỗi đôla lỗ) Với chính sách này thì ông X chỉ kiếm được 10$ khi đầu tư thành công vì 10$ còn lại phải chịu thuế (xem dòng 2 bảng 1) Khi bị lỗ thì ông X chỉ lỗ 10$ vì ô ta được chuyển toàn bộ số lỗ 20$ này vào thu nhập chiụ

thuế,nên thuế phải trả cũng giảm đi 10% (xem dòng 2 bảng 1) Lợi nhuận kỳ vọng trường hợp này cũng là bằng 0 nhưng ông X lúc này chịu ít rủi ro hơn trường hợp nhà nước không đánh thuế

Nếu ông X tăng đầu tư lên 200$ (giống dòng 3 bảng 1) thì kết quả giống dòng 1 do vậy thuế làm tăng mức chấp nhận rủi.Điều này cũng cho thấy rằng ông X cũng có thể tránh được tác động của chính phủ

Nếu như không được chuyển lỗ (như dòng 4 bảng 1) hoặc bị đánh thuế lũy tiến (như dòng 5 bảng 1) thì ông X không thể tránh được tác động của chính phủ, do vậy việc chấp nhận rủi ro không nhất thiết tăng lên trong điều kiện đánh thuế

Từ những vấn đề trên ta kết luận rằng: Nếu một chủ thể kinh tế có thể tránh

được sự tác động của chính phủ để quay lại điểm cân bằng ban đầu khi chính phủ chưa đánh thuế thì họ sẽ làm như vậy (hay nói cách khác họ sẽ gia tăng đầu tư) Và từ đó cũng cho thấy hàm ý quan trọng đối với chính sách thuế: nếu đánh thuế vào thu nhập trên vốn, chính phủ có thể tăng được nguồn thu

mà không giảm đi sự thịnh vượng của cá nhân

2 Các loại thuế:

Thuế đánh vào lãi tiền gửi ngân hàng:Là loại thuế đánh vào lãi tiền gửi ngân hàng của cá nhân và doanh nghiệp Đánh thuế trên số tiền dồn tích: là thuế phải nộp tính theo thời gian số tiền lời kiếm được của tài sản đó

Thuế đánh vào cổ tức: Là loại thuế đánh vào cổ tức nhận được của cổ đông Đánh thuế trên số tiền dồn tích: là thuế phải nộp tính theo thời gian số tiền lời kiếm được của tài sản đó

Thuế chuyển nhượng vốn: Là loại thuế đánh vào lợi nhuận do điều chuyển vốn – nghĩa là sự chênh lệch giữa giá mua và bán tài sản

3 Phương pháp tính thuế:

Đánh thuế trên số tiền dồn tích: là thuế phải nộp tính theo thời gian số tiền lời kiếm được của tài sản đó

Đánh thuế trên cơ sở phát sinh: là số thuế phải nộp trên tiền lời khi tài sản bán được

Thuế đánh trên cơ sở phát sinh hơn là cơ sở dồn tích nói chung, dẫn đến việc giảm nghĩa vụ nộp thuế đối với người nắm giữ tài sản Bằng việc nộp thuế khi bán tài sản thay vì nộp thuế trên giá trị dồn tích, bạn có thể kiếm được tiền lãi trên cái

Trang 10

mà bạn phải thực hiện nghĩa vụ thuế Đây là trợ cấp thuế ngầm định đối với tiết kiệm dưới dạng các loại tài sản có khả năng tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn Nhưng việc trợ cấp này rất khó để loại trừ đối với rất nhiều lợi tài sản có tính chất vốn vì:

Không thể đo lường được gía trị phát sinh dồn tích đối với rất nhiều tài sản: đối với cổ phiếu thì có thể đánh thuế theo giá trị dồn tích hàng năm, bằng sự thay đổi giá trị cổ phiếu từ năm này qua năm khác Nhưng đối với nhà thi không đánh giá được giá trị phát sinh hàng năm hay một tác phẩm nghệ thuật

Nếu như chính phủ đo lường được giá trị dồn tích một cách hợp lý thì cá nhân

có thể không có khả năng để tài trợ cho các yêu cầu trả thuế.Giả sử giá trị của cổ phiếu tăng rất nhanh và gấp đôi thì làm cho tài sản của cá nhân đó tăng rất lớn và không có cách nào trả thuế hàng năm ngoại trừ bán khối lượng lơn cổ phiếu.Mà việc buộc cá nhân từ bỏ một tài sản đang sinh lợi cao chỉ vì để nộp thuế là không hiệu quả

Vấn đề nâng giá trị tại thời điểm người sở hữu tài sản qua đời: Đối với những tài sản được chuyển sang cho người thừa kế, điểm cơ bản này được tiến gần đến giá thị trường cho đến khi qua đời

4 Những tranh luận ủng hộ trợ cấp thông qua đánh thuế thu nhập chuyển nhượng vốn:

Việc trợ cấp thông qua thuế thu nhập chuyển nhượng vốn bằng việc đánh thuế với thuế suất thấp hơn so với thu nhập ở những dạng khác, nhưng các tranh luận tập trung chủ yếu vào ba vấn đề:

a Chống lại lạm phát

Do lạm phát nên chính sách thuế hiện hành đã phóng đại qui mô thu nhập từ chuyển nhượng vốn Thuế phải nộp tính trên tiền lời danh nghĩa, chứ không phải tiền lời vốn thực

b Cải thiện hiệu quả các giao dịch vốn

Lập luân này cho rằng việc hạ thấp thuế suất thuế thu nhập chuyển nhượng vốn cho rằng cá nhân sẽ trì hoãn việc bán tài sản vốn để hạ thấp hiện giá chiết khấu của gánh nặng thuế hiện tại Thời gian trì hoãn càng lâu thì hiện gía chiết khấu của giá trị trả thuế càng thấp Chính sách này dẫn đến hiệu ứng ngưng giao dịch (lock-in effect): trong đó cá nhân sẽ trì hoãn việc bán tài sản vốn nhằm tối thiểu hóa hiện giá chiết khấu của số tiền thuế thu nhập chuyển nhượng vốn phải nộp.Hiệu ứng

(lock-in effect) gây thiệt hại vì làm giảm tính thanh khoản của thị trường vốn

c Khuyến khích sự khởi nghiệp

Nhiều chủ doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh có được sự giàu có không

Ngày đăng: 26/06/2021, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w