Vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu rõ lý luận về quy luật giá trị và tác động của quy luật giá trị và vận dụng nó trong nền kinh tế thị trường để từ đó hiểu rõ được bản chất của quy luật
Trang 1MỤC LỤC
Phần I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ…… 3
1.Khái niệm……… 3
2.Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị………3
3.Tác động của quy luật giá trị……… 4
Phần II: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG……… 6
1.Kinh tế thị trường……… 6
2.Biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường………….7
Phần III: NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỆU QUẢ QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG……….9
KẾT LUẬN……… 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO………14
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao Tại đó người mua và người bán tác động qua lại với nhau thông qua rất nhiều quy luật trong đó có quy luật giá trị Đây chính là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ
sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa Ở đâu có sản xuất, trao đổi, lưu thông hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát triển của quy luật này Quy luật này tác động cả trong trường hợp giá cả bằng giá cả, giá cả lên xuống xung quanh giá trị Vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu rõ lý luận
về quy luật giá trị và tác động của quy luật giá trị và vận dụng nó trong nền kinh tế thị trường để từ đó hiểu rõ được bản chất của quy luật giá trị và mối qua hệ của nó trong nền kinh tế thị trường
Bên cạnh đó, quy luật giá trị cũng chính là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kì, sự phân hóa giàu nghèo, sự cạnh tranh không lành mạnh,…
Với mong muốn tìm hiểu rõ bản chất, mối quan hệ của quy luật giá trị và
sự tác động của nó trong nền kinh tế thị trường, em quyết định chọn đề tài tiểu luận: “ Quy luật giá trị và sự biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị trường.” Để từ đó có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về quy luật giá trị, ảnh hưởng của nó trong nền kinh tế để rút ra bài học, biện pháp khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của nó đồng thời phát huy những ảnh hưởng tích cực của nó
NỘI DUNG
Trang 3Phần I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1 Khái niệm:
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị Quy luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quy luật kinh tế khác, các quy luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giá trị mà thôi
Quy luật giá trị quyết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tín hiệu nhạy bén nhất của cơ chế thị trường
2 Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị:
- Yêu cầu của quy luật giá trị:
+ Thứ nhất, theo quy luật này, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá khứ và lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của nó phải nhỏ hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, tức là giá cả thị trường của hàng hóa
+ Thứ hai, trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất (tất nhiên chi phí đó phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải bất kỳ chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng
3 Tác động của quy luật giá trị:
- Sự tác động, hay biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị được thể hiện thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá Vì giá trị là cơ sở của giá
cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị
Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: cạnh tranh, cung - cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và lên
Trang 4xuống xoay quanh trục giá trị của nó Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó hình là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng
Tác động của quy luật giá trị:
- Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Tác lộng này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung - cầu
* Nếu cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa là hàng hóa sản xuất ra có lãi, bán chạy Giá cả cao hơn giá trị sẽ kích thích mở rộng và đẩy mạnh sản xuất để tăng cung; ngược lại cầu giảm vì giá tăng
* Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa khó bán, sản xuất không có lãi Thực tế đó,
tự người sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sản xuất; ngược lại, giá giảm sẽ kích thích tăng cầu, tự nó là nhân tố làm cho cung tăng
* Cung cầu tạm thời cân bằng; giá cả trùng hợp với giá trị Bề mặt nền kinh tế người ta thường gọi là “bão hòa”
Tuy nhiên nền kinh tế luôn luôn vận động, do đó quan hệ giá cả và cung cầu cũng thường xuyên biến động liên tục
Như vậy, sự tác động trên của quy luật giá trị đã dẫn đến sự di chuyển sức lao động và tư liệu sản xuất giữa các ngành sản xuất khác nhau Đây là vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị
+ Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua diễn biến giá cả trên thị trường Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt
Trang 5Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá
- Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu được lãi cao Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Để giành lợi thế trong cạnh tranh, và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ
- Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá thành người giàu, người nghèo
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị
kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những người không
có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó
Trang 6Phần II: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Kinh tế thị trường:
1.1 Khái niệm:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, là một hình thức tổ chức sản xuất xã hội hiệu quả nhất phù hợp với trình độ phát triển của xã hội hiện nay
1.2 Các đặc điểm chính của kinh tế thị trường:
-Các chủ thể kinh tế có tính tự chủ cao Mỗi chủ thể kinh tế là một thành phần của nền kinh tế có quan hệ độc lập với nhau, mỗi chủ thể tự quyết định lấy hoạt động của mình
-Tính phong phú của hàng hóa Do các chủ thể kinh tế đều tự quyết định lấy hoạt động của mình nên bất cứ hàng hoá nào có nhu cầu thì sẽ có người sản xuất Mà nhu cầu của con người thì vô cùng phong phú, điều này tạo nên sự phong phú của hàng hoá trong nền kinh tế thị trường
-Cạnh tranh là tất yếu trong kinh tế thị trường Hàng hoá nào có nhu cầu lớn thí sẽ có nhiều người sản xuất Khi có quá nhiều người cùng sản xuất một mặt hàng thì sự cạnh tranh là tất yếu
-Kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mở, trong đó có sự giao lưu rộng rãi không chỉ trong thị trường một nước mà giữa các thị trường với nhau
-Giá cả hình thành ngay trên thị trường Không một chủ thể kinh tế nào quyết định được giá cả Giá của một mặt hàng được quyết định bởi cung và cầu của thị trường
Nền kinh tế thị trường có thể tự hoạt động được là nhờ vào sự điều tiết của
cơ chế thị trường Đó là các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, lưu thông tiền tệ, cạnh tranh…tác động, phối hợp hoạt động của toàn bộ thị trường thành một hệ thống thống nhất
2 Sự biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường:
Trang 72.1 Trong lĩnh vực sản xuất:
Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự điều tiết cua quy luật gái trị
mà chịu sự chi phối của quy luật kinh tế cơ bản của xã hội chủ nghĩa và quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối của nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên quy luật giá trị không phải không có ảnh hưởng đến nền sản xuất Những vật phẩm tiêu dùng cần thiết để bù vào sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất, đều được sản xuất và tiêu dùng dưới hình thức hàng hóa và đều chịu sự tác động của quy luật giá trị Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức là thực hiện sự trao đổi hàng hóa thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng hóa Nguyên tắc này đòi hỏi phải tuân theo quy luật giá trị: sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết Cụ thể:
+ Xét ở tầm vĩ mô: Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết
+ Xét ở tầm vi mô: Mỗi cá nhân khi sản xuất các sản phẩm đều cố gắng làm cho thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội
Do vậy nhà nước đã ra các chính sách để khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn Mỗi doanh nghiệ phải cố gắng cải tiến máy móc, mẫu mã, nâng cao tay nghề lao động cho công nhân Nếu không quy luật gía trị ở đây sẽ thực hiện vai trò đào thải: loại bỏ những cái kém hiệu quả, kích thích các cá nhân, ngành, doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả Tất yếu điều đó dẫn đến sự phát triển của lực lượng sản xuất trong đó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn cao ngày càng tăng, công cụ, trang thiết bị lao động ngày càng cải tiến
Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì trong sản xuất giá trị cá biệt của từng
xí nghiệp phải phù hợp hoặc thấp hơn giá trị xã hội, do đó quy luật giá trị thực hiện chế đọ hoạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh
2.2 Nguồn nhân lực:
Trang 8Nguồn nhân lực là nguồn tài sản chính của đất nước trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay Chi phí lương thấp cũng trở thành một trong những thế mạnh của Việt Nam hiện nay Chính sự gia tăng nhanh chong trong quá trình kinh doanh đi liền với sự cải cách gây ra sự tăng vọt về cầu lao động trong nền kinh tế hiện nay Hiện tượng này dẫn đến sự di chuyển kép: di chuyển về nghề nghiệp từ nông nghiệp đến công nghiệp, dịch vụ; di chuyển
về địa lý từ nông thôn ra đô thị Và trong tình trạng dư thừa nguồn nhân lực vẫn còn phổ biến thì tình trạng luân chuyển quá mức những lao động có trình độ mới chính là vấn đè của doanh nghiệp Cùng với đó là sự thiếu hụt lao động có tay nghề, chuyên môn cao Bởi thế mà nhà nước cần có các chính sách khuyến khích, động viên như điều tiết các xí nghiệp về các vùng nông htoon, mở các lớp đào tạo chuyên môn cho các công nhân,
2.3 Vốn và cơ sở hạ tầng:
Trong những năm gần đây việc phát triển cơ sở hạ tầng của nước ta ngày càng cải cách và có tiến bộ vượt bậc Theo thống kê năm 2017, Việt Nam nằm trong nhóm các nước dẫn đầu về đầu tư cơ sở hạ tầng, chiếm khoảng 5.7%GDP trong những năm gần đây
2.4 Trong lĩnh vực lưu thông:
Theo "mệnh lệnh" của giá cả thị trường lúc lên, lúc xuống xoay quanh giá trị mà có sự di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác, do đó quy mô sản xuất của ngành đó mở rộng Việc điều tiết tư liệu sản xuất và sức lao động trong từng lúc có xu hướng phù hợp với yêu cầu của xã hội, tạo nên những tỷ lệ cân đối nhất định giữa các ngành sản xuất Đó là biểu hiện vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị Nhưng sản xuất trong điều kiện chế độ tư hữu, cạnh tranh, vô chính phủ nên những
tỷ lệ cân đối hình thành một cách tự phát đó chỉ là hiện tượng tạm thời và thường xuyên bị phá vỡ, gây ra những lãng phí to lớn về của cải xã hội Quy luật giá trị không chỉ điều tiết sản xuất mà điều tiết cả lưu thông hàng hoá Giá cả của hàng hoá hình thành một cách tự phát theo quan hệ cung
Trang 9cầu Cung và cầu có ảnh hưởng đến giá cả, nhưng giá cả cũng có tác dụng khơi thêm luồng hàng, thu hút luồng hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao
Vì thế, lưu thông hàng hoá cũng do quy luật giá trị điều tiết thông qua sự lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị
Phần III: NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỆU QUẢ QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Điều tiết khống chế quản lý vĩ mô đồng thời có sự giám sát của xã hội, nhằm khắc phục nhược điểm và mặt tiêu cực của thị trường Muốn thế nhà nước cần có những giải pháp như: Hoạch định chính sách ngành nghề dài hạn cho nền kinh tế quốc dân Thực hiện quản lý, giám sát và bảo vệ trật tự thị trường Hoạch định chính sách thu nhập, điều tiết phân phối thu nhập v.v
2 Nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập, tham gia tổ chức thương mại quốc tế WTO Trong thời gian tới nước ta sẽ bắt đầu tiến trình hội nhập các tổ chức kinh tế trong khu vực và thế giới Vì vậy cần phải nâng cao sức cạnh tranh trên mọi lĩnh vực Bao gồm 3 yếu tố: khả năng cạnh tranh của từng mặt hàng dịch vụ, khả năng cạnh tranh của quốc gia và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Muốn nâng cao sức cạnh tranh cần đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ Bởi vì đầu tư vào khoa học công nghệ làm giảm chi phí cá biệt tăng năng suất lao động, từ đó tăng khả năng cạnh tranh Mặt khác kích thích việc nghiên cứu khoa học công nghệ bằng nhiều cách như: đầu tư về trang thiết bị, xây dựng văn bản pháp luật về "bảo hộ sở hữu trí tuệ" v.v Hiện nay đất nước ta đang cố gắng hoàn thiện nền kinh tế tiến tới tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO WTO là tổ chức thương mại thế giới điều chỉnh những hoạt động buôn bán
đa phương mang tính chất tương đối tự do, công bằng và tuân thủ những luật lệ rõ ràng Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng nhưng cũng không ít thách thức phải đặt ra khi gia nhập tổ chức này Trong quá trình
Trang 10gia nhập tổ chức này chúng ta đang gặp phải một số khó khăn Gia nhập WTO có thể là cuộc trắc nghiệm khó khăn nhất đối với hệ thống pháp luật của Việt Nam Việt Nam phải cam kết thực hiện những tiêu chuẩn quốc tế
về sự minh bạch, tính đồng bộ, tính công bằng và tính hợp lý Tham gia WTO Việt Nam không chỉ được lợi từ mức thuế quan thấp và việc giảm bớt các rào cản phi thuế quan khác đối với hàng công nghiệp từ các nước công nghiệp, mà ngược lại Việt Nam cũng phải thể hiện sự sẵn sàng đáp lại tương xứng và cam kết giảm bớt các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với các công ty nước ngoài
3 Giảm bất bình đẳng xã hội, giải quyết mâu thuẫn giữa hiệu quả và công bằng Về mặt khách quan bộ phận dân cư cần được hỗ trợ của các chính sách xã hội được chia thành hai phần Phần dân cư chịu sự thiệt thòi tự nhiên so với phần còn lại do họ bị khiếm khuyết mặt nào đó trong năng lực
cá nhân và do đó thường xuyên có thu nhập thấp Đó chủ yếu là người tàn tật, thương binh, gia đình chính sách, các dân tộc thiểu số có trình độ văn hoá thấp Phần còn lại bao gồm những cá nhân gặp khó khăn về thu nhập không thường xuyên do biến động của kinh tế, chính trị, chiến tranh và thiên tai Bộ phận này luôn thay đổi theo tình hình phát triển kinh tế của đất nước Nhìn chung gánh nặng phúc lợi xã hội của nước ta khá lớn do hậu quả chiến tranh kéo dài do điều kiện kinh tế xã hội quá thấp và do tốc độ tăng dân số quá nhanh trong khi đất đai, tài nguyên của nước ta không giàu
có lắm Chính phủ không thể không gánh vác vấn đề này Để giải quyết nó chính phủ cần xây dựng phát huy các chính sách như: tạo ra cơ hội có việc làm, mở các trường dạy nghề, giúp đỡ gia đình neo đơn khó khăn Đóng thuế thu nhập cá nhân, gây dựng quỹ phúc lợi xã hội Hiện nay việc giải quyết chế độ cho người thất nghiệp ở Việt Nam còn khá tự phát và lộn xộn tuỳ thuộc chủ yếu vào năng lực taì chính của doanh nghiệp, vào chế độ lương và việc làm của nhà nước trong từng thời kỳ, vào chính sách đào tạo của nhà nước cũng như nhiều yếu tố khác Chính vì chưa có đường hướng