1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIÊU LUẬN KTMT CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÍ BẢO VỆMÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP

20 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 136,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc áp dụng phí môi trường với mục đích chính nhằm thay đổi hành vi của các đối tượng gây ô nhiễm, khuyến khích họ giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra ngoài môi trường.. Để có vốn đầu t

Trang 1

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÍ BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP

1.1 Phí bảo vệ môi trường và các khái niệm liên quan

1.1.1 Công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế là các công cụ chính sách sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong các

hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường

Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường thường được áp dụng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle, PPP) và "Người hưởng thụ phải trả tiền (Benefitciary Pays Principle, BPP)"

"Người gây ô nhiễm phải trả tiền" có nghĩa là người gây ô nhiễm (doanh nghiệp, cá nhân hay chính quyền) phải trả hoàn toàn các chi phí về sự phá hoại môi trường do hoạt động của họ gây

ra Điều này sẽ khuyến khích người gây ô nhiễm giảm sự tác động tiêu cực đến môi trường, ít nhất là ở mức mà chi phí biên của việc giảm ô nhiễm bằng chi phí biên của sự tổn hại do ô nhiễm

đó gây ra

Đối nghịch với nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền", nguyên tắc "Người hưởng thụ phải trả tiền" đưa ra giải pháp bảo vệ môi trường với một cách nhìn nhận riêng theo hướng người hưởng thụ một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản phí Mục tiêu của nguyên tắc này là tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm đều phải nộp phí Nguyên tắc chủ trương việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất gây ô nhiễm

Trang 2

Các loại công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm có: thuế và phí môi trường, giấy phép xả thải có thể mua bán được, ký quỹ môi trường, trợ cấp môi trường, quỹ môi trường và nhãn sinh thái

- Thuế và phí môi trường: Thuế là khoản thu vào ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết các hoạt động môi trường quốc gia, bù đắp các chi phí mà xã hội bỏ ra để giải quyết các vấn đề như: chi phí y tế, chi phí phục hồi môi trường, chi phí xử lý và ngăn ngừa ô nhiễm Phí là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức quản lý hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp thuế

- Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay “quota ô nhiễm”: là một loại giấy phép xả thải chất thải có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp, v.v được phép thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường

- Ký quỹ môi trường: là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây ô nhiễm môi trường Nội dung chính là yêu cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo

vệ môi trường Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp gây ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường

- Trợ cấp môi trường gồm các dạng: Trợ cấp không hoàn lại, các khoản cho vay ưu đãi, cho phép khấu hao nhanh và ưu đãi thuế Chức năng chính của trợ cấp là giúp đỡ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc phải xử lý ô nhiễm môi trường

Trang 3

- Quỹ môi trường: là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường

- Nhãn sinh thái: là một loại nhãn được cấp cho những sản phẩm thoả mãn một số tiêu chí nhất định do một cơ quan Nhà nước hoặc một tổ chức được Nhà nước uỷ nhiệm đề ra Các tiêu chí này tương đối toàn diện nhằm đánh giá tác động đối với môi trường trong những giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản phẩm: từ giai đoạn sơ chế, chế biến, gia công, đóng gói, phân phối, sử dụng cho đến khi vứt bỏ Cũng có trường hợp chỉ quan tâm đến một tiêu chí nhất định như đặc trưng cho sản phẩm, ví dụ mức độ khí thải phát sinh, khả năng tái chế v.v

Việc thực hiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nhằm hướng tới hai mục tiêu chính:

- Mục tiêu thứ nhất là điều chỉnh hành vi của người tiêu dùng và các nhà sản xuất Các công cụ được áp dụng trong trường hợp này thường được gọi là các công cụ khuyến khích Mục đích này thường đạt được thông qua việc thay đổi giá cả do người tiêu dùng và người sản xuất giao dịch trên thị trường thông qua việc áp dụng các hệ thống thuế và phí môi trường

- Mục tiêu thứ hai là tìm ra các nguồn tài chính cho sản xuất hàng hoá hay dịch vụ công cộng Mục đích này còn được gọi là mục đích bồi hoàn chi phí Các công cụ kinh tế áp dụng để đạt được mục đích này là thuế hay phí đánh vào người sử dụng dịch vụ Đây là loại phí mà các hộ gia đình hay các doanh nghiệp phải chi trả khi sử dụng một loại hàng hoá hay một loại dịch vụ

cụ thể Các loại thuế/phí liên quan đến môi trường nếu được áp dụng sẽ cho phép tăng nguồn thu cho ngân sách ở mức độ nhất định với những chi phí thấp

Trang 4

Hình 1.1 Mục tiêu áp dụng các công cụ kinh tế

1.1.2 Phí bảo vệ môi trường

Phí bảo vệ môi trường: là các khoản thu nhằm bù đắp chi phí của Nhà nước cho việc thực hiện

nhiệm vụ bảo vệ môi trường Đây là những khoản thu bắt buộc những người được hưởng dịch vụ phải đóng góp vào ngân sách Nhà nước hoặc trả cho các tổ chức quản lý làm dịch vụ đó, trực tiếp phục vụ lại cho người đóng phí

Phí bảo vệ môi trường là một loại hình công cụ kinh tế nhằm đưa các chi phí môi trường vào giá sản phẩm theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" Việc áp dụng phí môi trường với mục đích chính nhằm thay đổi hành vi của các đối tượng gây ô nhiễm, khuyến khích họ giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra ngoài môi trường Ngoài ra phí bảo vệ môi trường còn có mục đích khác là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để đầu tư, khắc phục cải thiện môi trường (thu gom xử lý phế thải, nước thải, hỗ trợ các nạn nhân của ô nhiễm)

Trang 5

Hiện nay nước thải, khí thải và các loại chất rắn của các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà hàng v.v đang là nguồn gây ô nhiễm chính môi trường đất, nước, không khí Để có vốn đầu tư, khắc phục và cải thiện môi trường cũng như khuyến khích các đối tượng gây ô nhiễm có biện pháp kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm, Chính phủ đã xây dựng chương trình thu phí bảo vệ môi trường như một giải pháp sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường

Các loại phí bảo vệ môi trường bao gồm:

- Phí đánh vào nguồn ô nhiễm: Là loại phí đánh vào các chất ô nhiễm được thải ra môi trường nước (BOD, COD, TSS, v.v ), khí quyển (SO2, cacbon, CFCs), đất (rác thải, phân bón) hoặc gây tiếng ồn, ảnh hưởng tới môi trường xung quanh Biện pháp này có tác dụng khuyến khích các tác nhân gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăng thêm nguồn thu cho Chính phủ để sử dụng vào việc cải thiện chất lượng môi trường Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng (nồng độ) các chất gây ô nhiễm

- Phí đánh vào người sử dụng: là tiền phải trả do được sử dụng các hệ thống công cộng xử lý và cải thiện chất lượng môi trường như hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý rác thải, phí sử dụng nước sạch, phí sử dụng đường và bãi đỗ xe, v.v Các khoản thu từ loại phí này được dựng để góp phân bù đắp chi phí bảo đảm cho hệ thống dịch vụ công cộng hoạt động Loại phí này chủ yếu được áp dụng đối với các loại chất thải có thể kiểm soát, vì vậy có 2 cách thu chủ yếu là thu theo số lượng và chất lượng chất thải và thu theo mức cố định đối với tổ chức/cá nhân (phí vệ sinh) Mục đích chính của loại phí này là tăng nguồn thu cho Chính phủ và đối tượng thu là những cá nhân hay đơn vị trực tiếp sử dụng hệ thống dịch vụ công cộng Phí đánh vào người sử dụng còn nhằm mục đích hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường

- Phí đánh vào sản phẩm: là loại phí được áp dụng đối với những loại sản phẩm gây tác hại tới môi trường một khi chúng được sử dụng trong các quá trình sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ Loại

Trang 6

phí này được áp dụng với những sản phẩm chứa chất độc hại và với một khối lượng nhất định chúng sẽ gây tác hại tới môi trường như: PVC, CFCs, kim loại nặng, xăng pha chì, chai, hộp, túi nilong v.v Phí đánh vào sản phẩm có thể được sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm nếu vì lý do nào đó người ta không thể trực tiếp tính được phí đối với các chất gây ô nhiễm Loại phí này có thể đánh vào nguyên liệu đầu vào, sản phẩm trung gian hay thành phẩm tuỳ theo từng trường hợp Phí này có mục đích là khuyến khích giảm ô nhiễm bằng giảm việc sử dụng, tiêu thụ các sản phẩm bị thu phí và tăng nguồn thu cho Chính phủ

Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp: Là loại phí đánh vào các chất ô nhiễm

được thải ra môi trường nước (BOD, COD, TSS, v.v ) của các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn thu cho Quỹ bảo vệ môi trường để thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường Mục tiêu hàng đầu của chính sách thu Phí BVMT đối với nước thải là gián tiếp làm cho “người gây ô nhiễm” thay đổi hành vi theo hướng thân thiện với môi trường Người gây ô nhiễm buộc phải trả tiền cho hành động gây ô nhiễm của họ với nguồn nước Nếu người gây ô nhiễm phải đúng phí ở mức cao tương ứng với công suất thải cũng như các chất gây ô nhiễm trong nước thải thì họ sẽ sử dụng nguồn nước đầu vào tiết kiệm nhất cũng như thay đổi công nghệ ít ô nhiễm nhằm tạo ra lượng nước thải ở mức thấp nhất Ngoài ra, việc áp dụng Phí BVMT đối với nước thải còn nhằm mục tiêu tạo ra nguồn thu để trang trải các chi phí hành chính (thu phí, lấy mẫu, phân tích, v.v…), chi phí tu sửa các hệ thống thiết bị xử lý nước thải và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ bảo vệ môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường

1.2 Nguyên tắc xác định mức thuế/phí bảo vệ môi trường

1.2.1 Xác định mức phát thải hiệu quả xã hội

Trang 7

Kinh tế học về chất lượng môi trường đã phát triển một mô hình kiểm soát ô nhiễm đơn giản dựa trên khái niệm đánh đổi giữa thiệt hại môi trường và chi phí kiểm soát ô nhiễm môi trường để xác định được mức phát thải hiệu quả xã hội [6]

Hàm thiệt hại biên MDC thể hiện mối quan hệ giữa số lượng chất thải và giá trị thiệt hại của chất thải đó, đường MDC có dạng dốc lên về phía phải thể hiện sự tăng nhanh về thiệt hại biên khi lượng chất thải càng tăng nhiều Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học môi trường và kinh tế học cho thấy khi lượng chất thải ít, thiệt hại biên có thể tương đối nhỏ, mức độ tích tụ chất gây ô nhiễm ở môi trường xung quanh thấp, khó phát hiện được Nhưng khi lượng phát thải tăng lên, các mức thiệt hại cũng tăng vọt, và khi lượng phát thải tăng cao hơn nữa, mức thiệt hại biên trở nên rất cao bởi vì các tác động môi trường ngày càng phát tán và trầm trọng

Hàm chi phí giảm ô nhiễm MAC thể hiện chi phí tăng thêm để giảm được một đơn vị chất thải hay nói cách khác là chi phí tiết kiệm nếu lượng chất thải tăng lên một đơn vị Đường MAC có dạng dốc lên về phía trái thể hiện chi phí giảm ô nhiễm biên tăng dần Thực tế cho thấy

có thể cắt giảm những lượng nhỏ ban đầu bằng các phương tiện kỹ thuật giản đơn, chi phí thấp nhưng đối với những mức cắt giảm cao hơn thì cần chi phí đầu tư lớn và chi phí giảm ô nhiễm sẽ tăng

Như vậy, hiệu quả xã hội đạt được khi tổng thiệt hại môi trường và chi phí giảm ô nhiễm

là nhỏ nhất hay mức phát thải hiệu quả xã hội đối với một chất thải nhất định được thải ra từ một địa điểm nhất định trong khoảng thời gian nhất định là mức tương ứng với điểm tại

đó hàm thiệt hại biên bằng hàm chi phí giảm ô nhiễm biên

MAC

MDC

0 Chi phí

Lượng thải

Trang 8

`

Hình: Mức phát thải hiệu quả xã hội W* là mức hiệu quả xã hội do hiệu quả xã hội nghĩa là có sự đánh đổi giữa thiệt hại biên tăng lên với chi phí giảm ô nhiễm biên tăng lên Lượng chất thải nhiều hơn làm xã hội chịu nhiều chi phí thiệt hại môi trường hơn Lượng chất thải giảm nghĩa là xã hội phải bỏ ra nhiều chi phí giảm ô nhiễm hơn Do đó mức phát thải hiệu quả xã hội là mức tại đó hai loại chi phí này đền bù được cho nhau, nghĩa là chi phí giảm thải biên bằng chi phí thiệt hai biên

Trên quan điểm doanh nghiệp, khi không có sự can thiệp, kiểm soát ô nhiễm của nhà nước, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn mức xả thải max nhằm tiết kiệm tối đa chi phí giảm thải Nhưng điều này lại gây nên tổn hại lớn đến lợi ích xã hội

Trong trường hợp này, thuế/phí môi trường có thể được sử dụng nhằm cân bằng các khoản chi phí xã hội do hoạt động ô nhiễm gây ra

1.2.2 Xác định mức huế/phí bảo vệ môi trườn

Cốt lõi của phương pháp th ế/phí bảo vệ môi trường là tạo ra động cơ khuyến khích kinh tế để chính các đối tượng gây ô nhiễm tự tìm phương pháp tốt nhất nhằm cắt giảm mức phát thải, thay

vì để chính quyền quyết định việc này cần phải thực hiện như thế nào

Trang 9

Đối với doanh nghiệp, tổng chi phí của việc thực thi thuế/phí bảo vệ môi trường là tổng của chi phí giảm ô nhiễm và tiền thu /phí của chủ thể gây ô nhiễ, vì vậy chủ thể gây ô nhiễm tối thiểu hóa tổng chi phí của họ bằng cách giảm tới khi huế suất/mức phí bằng chi phí giảm ô nhiễm biên

Trong tình trạng có cạnh tranh, mức thuế/phí đánh càng cao thì phát thải giảm càng nhiều, nhưng

cụ thể là cần phải định ra một mức thuế cao đến bao nhiêu? Nếu chúng ta biết hàm thiệt hại biên

và hàm giảm ô nhiễm biên, câu trả lời sẽ là định mức thu /phí sao cho có được mức phát thải hiệu quả, như có thể thấy ở hình 1 , hay ức phí được xác định tại điểm mà chi phí thiệt hại cận biên do ô nhiễm gây ra bằng với (=) chi phí cận biên của việc xử lý ô nhiễ , khi đó, mức phí bằng

(=) chi phí xử lý nước thải (mức phí f trên hình 1.3

Thuế/phí bảo vệ môi trường tác động mạnh đến tính hiệu quả, đặc biệt trong việc kiểm soát một lúc nhiều nguồn xả thải theo hướng thỏa mãn được nguyên tắc cân bằng biên Nếu áp dụng cùng một mức thu /phí cho các nguồn gây ô nhiễm khác nhau với những hàm chi phí giảm ô nhiễm biên khác nhau, và mỗi nguồn này cắt giảm mức chất thải của mình cho đến khi chi phí giảm ô nhiễm biên bằng với mức thu /phí phải đúng, khi đó chi phí giảm ô nhiễm biên của các nguồn sẽ

tự động đi đến chỗ cân bằng nhau

Từ các cơ sở lý thuyết về mức phát thải hiệu quả và thuế/phí bảo vệ môi trường có thể rút ra một

số kết luận cho thực tiễn công tác xây dựng phí BVMT đối với nước thải công nghiệp như sau: (1) Để xây dựng được mức phí bảo ảm được mức ô nhiễm tối ưu, nguyên tắc xây dựng cần được xác định trên cơ sở hàm chi phí thiệt hại biên và chi phí giảm thải biên; (2) Đây là mức phí chung cho mỗi một đơn vị thải, do đó, mức thuế/phí BVMT phải được quy định bằng một số tiền

cụ thể, như nhau cho mỗi một đơn vị, không tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá cả hàng hoá hay lượng phát thải

Trang 10

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi môi trường của doanh nghiệp

Các nhân tố ảnh hưởng hiện trạng môi trường của doanh nghiệp có thể được phân thành hai nhóm: các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (môi trường kinh tế, môi trường công nghệ, áp lực xã hội, chính phủ, luật pháp và chính trị, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp và khách hàng) và các yếu tố nội tại của doanh nghiệp (năng lực tài chính, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực)

Nguồn tác động Nhận thức và hành vi

Hiện trạng môi trường

- Luật pháp

- Kinh tế

+ Nhà đầu tư

+ Khách hàng

+ Nhà cung cấp

+ Đối thủ cạnh tranh

- Xã hội

+ Cộng đồng

+ NGOs

- Nội bộ

+ Quản lý

+ Nhân viên

- v.v

- Tham gia

- Hợp tác

- Nguồn lực tài chính

- Nguồn nhân lực

- Nguồn lực công nghệ

- Mức độ tuân thủ

CHƯƠNG II

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH ÁP DỤNG PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Ngày đăng: 26/06/2021, 20:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mục tiêu áp dụng các công cụ kinh tế - TIÊU LUẬN KTMT CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÍ BẢO VỆMÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
Hình 1.1. Mục tiêu áp dụng các công cụ kinh tế (Trang 4)
Kinh tế học về chất lượng môi trường đã phát triển một mô hình kiểm soá tô nhiễm đơn giản dựa trên khái niệm đánh đổi giữa thiệt hại môi trường và chi phí kiểm soát ô nhiễm môi trường để xác định được mức phát thải hiệu quả xã hội [6]. - TIÊU LUẬN KTMT CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÍ BẢO VỆMÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
inh tế học về chất lượng môi trường đã phát triển một mô hình kiểm soá tô nhiễm đơn giản dựa trên khái niệm đánh đổi giữa thiệt hại môi trường và chi phí kiểm soát ô nhiễm môi trường để xác định được mức phát thải hiệu quả xã hội [6] (Trang 7)
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH ÁP DỤNG PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG - TIÊU LUẬN KTMT CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÍ BẢO VỆMÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH ÁP DỤNG PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (Trang 10)
Hình: Thời gian tiến hành triển lhai thu phí BVMT (Nguồn: [2]) - TIÊU LUẬN KTMT CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÍ BẢO VỆMÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
nh Thời gian tiến hành triển lhai thu phí BVMT (Nguồn: [2]) (Trang 16)
Bảng 3.4: Các hành vi môi trường của doanh nghiệp - TIÊU LUẬN KTMT CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÍ BẢO VỆMÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
Bảng 3.4 Các hành vi môi trường của doanh nghiệp (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w