Nghiên cứu văn minh Trung Quốckhông những thấy được sức sáng tạo của cộng đồng dân tộc ở các triều đại kếttinh tinh hoa văn hoá của mình vào từng sáng tạo văn minh mà còn thấy đượcsức ản
Trang 1Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chương 1: Cơ sở hình thành văn minh 1 1 Điều kiện tự nhiên và địa lý 3
2 Cơ sở dân cư 5
3 Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội 6
Chương 2: Tiến trinh phat triển van minh 2 1 Vương triều Hạ, Thương, Chu: Đỉnh cao đồ đồng 8
2 2 Nhà Tần: Đế chế hùng mạnh với đội quân đất nung vĩnh hằng 16
2 3 Các triều đại Hán - Đường: Con đường tơ lụa toả sáng các thành tựu 21
2 4 Các triều đại Tống – Nguyên – Minh: Kiến trúc và hội hoạ 27
2 5 Thanh: Đỉnh cao của sứ 37
Chương 3: Đặc điểm văn minh 1 1 Văn minh mang đậm tính chất văn minh nông nghiệp 48
1 2 Văn minh đồ sứ 50
Kết luận 56
Tài liệu tham khảo 58
Trang 2MỞ ĐẦU
Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền văn minh lâu đời vàrực rỡ với nhiều thành tựu đóng góp và văn minh nhân loại Lịch sử TrungQuốc đã ghi lại và cho thấy nhiều thành tựu văn minh trải qua liên tục ở cáctriều đại phong kiến Những thành tựu khám phá và nghiên cứu của khảo cổhọc Trung Quốc và thế giới đã ngày càng khẳng định những thành tự của nềnvăn minh này Trong nhiều bảo tàng lớn ở Trung Quốc và trên thế giới, nhữngsản phẩm của nền văn minh này ở đồ ngọc, đồ đồng, đồ gốm sứ, những bứchoạ và cả những mẫu hình kiến trúc luôn là những sưu tập hiện vật có giá trịlàm nên đặc trưng riêng cho các bảo tàng Nghiên cứu văn minh Trung Quốckhông những thấy được sức sáng tạo của cộng đồng dân tộc ở các triều đại kếttinh tinh hoa văn hoá của mình vào từng sáng tạo văn minh mà còn thấy đượcsức ảnh hưởng của nó đến với nhiều nơi trên thế giới, và cũng thấy được cách
mà nền văn minh này tiếp nhận từ thế giới trong việc sáng tạo các sản phẩmcủa mình
Việt Nam cũng là một dân tộc (nation) sáng tạo văn minh, lại có vị tríđịa lý ngay sát với nền văn minh Trung Quốc, do đó có thể thấy qua nhiềuthành tựu sáng tạo văn minh có sự tiếp thu lẫn nhau Đề tài “Văn minh TrungQuốc thời phong kiến qua tư liệu khảo cổ học” là một tiểu luận nghiên cứutrong chương trình học tập môn học “Văn minh Trung Quốc” do PGS TSĐặng Văn Thắng phụ trách giảng dạy và hướng dẫn học viên thực hiện nhằmqua các sản phẩm về các loại hình hiện vật, về thương mại quốc tế mà cáctriều đại phong kiến Trung Quốc sáng tạo nên để tìm hiểu tiếp cận nền vănminh này trên cơ sở đặc trưng của chuyên ngành Trong trình bày tiểu luận,phần hình ảnh và bản đồ sẽ được đặt ngay phần nội dung nhằm minh hoạ trựctiếp cho nội dung trình bày của tiểu luận
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN MINH
1 1 Điều kiện tự nhiên và địa lý
Trung Quốc là tên gọi
tắt của nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa, thành lập ngày
1 tháng 10 năm 1949 Diện
tích ngày nay của Trung Quốc
là 9,6 triệu km², do đó đây là
một nước lớn ở châu Á và thế
giới1 Trung quốc có đường
biên giới trên đất liền dài hơn
20.000km, lần lượt tiếp giáp
với nhiều nước: Bắc Triều
Tiên (North Korea), Nga
(Russia), Mông Cổ
(Mongolia), Kazakhstan,
Kyrgyzstan, Tajikistan,
Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ
(India), Nepal, Bhutan,
Myanmar, Lào, Việt Nam;
phía đông giáp biển với đường
bờ biển dài khoảng 14.000km
Trung Quốc có nhiều đảo lớn
nhỏ, trong đó đảo Hải Nam và
Đài Loan là 2 đảo lớn nhất
Trong đất liền, Trung Quốc có có khoảng 5.000 dòng sông lớn nhỏ, trong đó
Trang 4hai dòng sông lớn là Hoàng Hà và Trường Giang ( còn gọi Dương Tử); sôngHoàng Hà dài 5.464km, sông Dương Tử dài 5.800km, cả hai sông này đều bắtnguồn từ phía tây chảy ra biển phía đông1 Trong lịch sử hai dòng sông lớnnày thường xuyên gây ra lũ lụt nhưng cũng mang lại nguồn phù sa bồi đắpcho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển,mang lại giá trị kinh tế cao Lưu vực các con sông là những vùng đồng bằngphì nhiêu rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Đây cũng là nhữngtuyến giao thông huyết mạch nối liền các vùng trong lãnh thổ Trung Quốc.Những con sông này lại bị ngăn cách bởi hệ thống núi non trùng điệp vàphương tiện giao thông hết sức hạn chế thời cổ đại đã làm cho nền văn minhnày xuất hiện và phát triển một cách độc lập, do đó có phát triển một cách độcđáo, mang đậm bản sắc dân tộc.
Do có diện tích rộng lớn
và trải dài từ đông sang tây
nên khí hậu Trung Quốc phứ
tạp và đa dạng2 Khu vực miền
đông của Trung Quốc có khí
hậu gió mùa, ẩm ướt, nhiều
mưa; trong khi đó miền tây lại
có khí hậu hanh khô; ở miền
nam khí hậu nhiệt đới Nhìn
chung Trung Quốc thuộc khí
hậu ôn đới và á nhiệt đới; đa phần khí hậu ấm áp, nguồn nước phong phú, đấtđai màu mỡ và dễ canh tác đã cho phép các quốc gia cổ đại phương Đôngphát triển nông nghiệp thuận lợi Cũng do sự khác biệt khí hậu nên ở phía bắc
Trang 5sông Trường Giang thuận lợi cho phát triển lúa khô (lúa mì) và cao lương,trong khi miền nam lại thích hợp cho phát triển lúa nước.
2 Cơ sở dân cư
Cư dân Trung Quốc ra đời sớm và phát triển nhanh chóng, quá trìnhhình thành các cộng đồng dân cư diễn ra rất đa dạng và phức tạp Đại bộ phận
cư dân thuộc chủng Mongoloid, lúc đầu được gọi là Hoa Hạ, địa bàn cư trúchủ yếu
sự cộng đồng về lãnh thổ mà còn có cộng đồng thống nhất về sinh hoạt kinh
tế - văn hóa và tâm lý nên dần hình thành một dân tộc ổn định, được gọi là
Trang 6Hán tộc Ngày nay, cộng đồng cư dân Trung Quốc bao gồm 56 dân tộc, trong
đó Hán tộc chiếm đa số với 93%1 Các dân tộc ở Trung Quốc trong mỗi thời
kỳ lịch sử của mình đều lập nên những triều đại và có những thành quả vănminh độc đáo
3 Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội
Trung Quốc là một nước có nền kinh tế - chính trị - xã hội gắn kết chặtchẽ với nhau Trên cơ sở bồi đắp phù sa của hai lưu vực sông Hoàng Hà vàTrường Giang đã tạo nên ở đây hai trung tâm nông nghiệp trồng lúa nước vàlúa khô Trong qúa trình phát triển lịch sử, sự thống nhất của hai trung tâmnày tạo điều kiện cho sự lớn mạnh của các triều đại Trung Quốc, đồng thờilàm cho nền văn minh ở đây trở nên phong phú, đa dạng và lan toả ảnh hưởng
ra một khu vực rộng lớn2
Nền nông nghiệp ở buổi đầu phát triển trên cơ sở của sự phát triển rấtyếu ớt với chế độ tư hữu ruộng đất và sự tồn tại dai dẳng những tổ chức công
xã nông thôn, tàn tích của xã hội thị tộc nguyên thủy làm cho tình trạng trì trệ,
và kéo dài của các nhà nước sơ khai buổi đầu thời cổ đại Trung Quốc Trongkhi đó, sự ra đời và tồn tại một hình thức nhà nước đặc thù, nhà nước quânchủ chuyên chế trung ương tập quyền mà mọi quyền lực đều ở trong tay nhàvua và một bộ máy quan lại ngày càng phát triển và trở nên cồng kềnh, quanliêu Các vương triều cổ đại này đã duy trì lâu dài chế độ gia trưởng và cáchình thức áp bức bóc lột kiểu gia trưởng nên vai trò của nô lệ trong xã hộichưa nổi bật Với một trình độ sản xuất như vậy không cho phép các quốc gia
cổ đại phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ của mình một cách thuần thục vàđiển hình để tạo nên một lực lượng lao động chuyên biệt giống với các nềnvăn minh Ai Cập
Thành phố Hồ Chí Minh, trang 34.
Trang 7đáo Cái nôi đầu
tiên của Trung
Quốc là lưu vực
sông Hoàng Hà, khi Trung Quốc thống nhất ở thế kỷ thứ III trước Côngnguyên thì biên giới phía bắc chưa vượt qua dãy Vạn Lý Trường Thành, phíatây cũng chỉ tới vùng đông nam tỉnh Cam Túc, phía nam chỉ bao gồm khu vựcdọc hữu ngạn sông Trường Giang; nhưng qua hàng ngàn năm phát triển và
mở rộng hơn rất nhiều1 Chính trên cơ sở như vậy mà nền văn minh ra đời vàphát triển và cũng chính các yếu tố đó đã ảnh hưởng, chi phối tạo nên nhữngnét đặc thù của nền văn minh Trung Quốc
Trang 8CHƯƠNG 2 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN MINH
2 1 Vương triều Hạ, Thương, Chu: Đỉnh cao đồ đồng
Những nhà khoa học khi
nghiên cứu về các triều đại Trung
Quốc đều xen Nhà Hạ là vương
triều đầu tiên “Hạ Vũ được suy tôn
là người sáng lập triều Hạ, vương
triều đầu tiên ở Trung Quốc”1 Theo
truyền thuyết, xã hội Trung Quốc
khi ở chế độ thị tộc, tại vùng Hoàng
Hà có nhiều bộ lạc cư trú do các thủ
lĩnh đứng đầu, trong đó có Hoàng
Đế Các cuộc chiến tranh ác liệt giữa các thủ lĩnh này liên tiếp diễn ra và cuốicùng Hoàng Đế đã đánh bại các thủ
lĩnh khác để trở thành người đứng
đầu bấy giờ Những người kế vị
Hoàng Đế như Thiếu Hiệu, Chuyên
Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đường
Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ đều là
hậu duệ của ông và đều được chọn
bởi Tứ Nhạc – các thủ lĩnh bộ lạc
bốn phương, đây được gọi là chế độ
Thiện Nhượng Tuy nhiên, từ khi
Hạ Vũ chết, con là Khải lên làm thủ
lĩnh thì việc cha truyền con nối
được thực hiện và được xem là hợp đạo lý, và Hạ Vũ được người con suy tôn
Trang 9là người sáng lập triều Hạ Ở triều Hạ, việc tổ chức bộ máy quan lại, quân đội,nhà tù được thiết lập tuy còn non trẻ và đơn giản Trải qua hơn 5 thế kỷ (thế
kỷ XXI – XVI trước Công nguyên) triều Hạ luôn có những cuộc chiến tranhvới các bộ lạc xung quanh, đặc biệt là bộ lạc Đông Di, đồng thời sự cai trị độcđoán của vua Kiệt đã làm cho thế lực nhà Hạ suy yếu Trong khi đó, tộcThương ở hạ lưu sông Hoàng Hà ngày càng lớn mạnh, nhân cơ hội triều Hạchiến tranh liên miên đã thôn tính các nước nhỏ phụ thuộc nhà Hạ và dần tiêudiệt nhà Hạ1
Nhà Thương vốn là một bộ
lạc thuộc hậu duệ của Đế Cốc, sau
khi lên thay nhà Hạ, nhà Thương
đã có nhiều biện pháp để tăng
cường bộ máy quản lý của mình,
phát triển quân đội, tiến hành các
cuộc chiến với các tộc bên ngoài và
mở rộng lãnh thổ “Vũ Đinh (vua
nhà Thương) làm vua được 59
năm, trong thời gian đó đã từng
đánh người Quỷ Phương, Thổ
Phương ở phía bắc, người Khương
ở phía tây, người Di ở phía đông, người Hổ Phương ở phía nam Trong mộtlần tấn công tộc Khương, Vũ Đinh đã huy động từ 13.000 đến 30.000 quân”2.Nhà Thương bị nhà Chu thay thế vào khoảng thế kỷ XI trước Công nguyên
Theo truyền thuyết, Thuỷ tổ của tộc Chu là người giỏi trồng lúa nênđược tôn làm Nông thần Sau khi đánh bại các quí tộc nhà Thương, và nắmmột số lượng lớn đất đai rộng lớn, nhà Chu thực hiện chính sách phân phong
Trang 10cho chư hầu Tương truyền nhà Chu đã phân phong cho 71 chư hầu, trong đónước Lỗ, Vệ, Tấn, Tề, Yên là những nước lớn Nhờ chế độ phân phong này
mà sau khi Thiên tử nhà Chu bị nội bộ tranh giành, các chư hầu đã khôi phụcquyền lợi cho Thiên tử để thành lập nên kỳ Đông Chu Giai đoạn Đông Chutương ứng với hia thời kỳ Xuân thu và Chiến Quốc, đây là thời kỳ uy quyềncủa Đông Chu ngày càng suy yếu trong khi thế lực của một số nước lại ngàycàng lớn mạnh, các cuộc chiến tranh liên miên trong nhiều thế kỷ để tiêu diệtlẫn nhau đồng thời thống nhất Trung Quốc; thời kỳ này chấm dứt khi ChuNoãn Vương hiến đất cho nước Tần vào 256 trước Công nguyên1
Các vương triều Hạ, Thương, Chu là những triều đại tồn tại lâu dài,tương đối thịnh vượng và do đó đã đủ sức tạo nên một truyền thống Quyềnlực mở rộng trên dòng họ tạo ra Chư hầu mà trong đó ít nhiều những chư hầu
đó là thành viên của hoàng tộc Bộ máy nhà nước tiêu biểu cho kiểu nhà nướcchuyên chế phương Đông theo kiểu cha truyền con nối với sự mở đầu củaNhà Hạ Đứng đầu nhà nước là nhà vua, dưới là các quan “lục khanh” (6 chứctướng) giúp vua cai trị đất nước Đến Nhà Tây Chu thì bộ máy nhà nước gầnnhưu hoàn chỉnh Vua được coi là thiên tử (con trời), dưới vua là tầng lớp quýtộc quan lại phụ trách các công việc hành chính, quân đội, nông nghiệp…Vua và tước hiệu quý tộc được truyền lại cho con cháu
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, những triều đại đầutiên của nền văn minh Trung Quốc đã để lại nhiều thành tựu Những thành tự
về khảo cổ học Trung Quốc về các triều đại ở buổi đầu này đã cho thấy một
hệ thống các di vật phong phú về đồ gốm, đồ sừng, đồ ngọc, đồ vàng, và nổibật đặc biệt trong đó phải kể đến các di vật là đồ đồng
Trang 11Đồ đồng Trung Quốc xuất
hiện cách ngày nay hơn 5000 năm
Năm 1975, tại địa điểm Đông
Hương, tỉnh Cam Túc, các nhà
khảo cổ học Trung Quốc đã phát
hiện được những di vật bằng đồng
thau có niên đại 3000 năm trước
Công nguyên1 Trong văn hóa nhà
Hạ, di tích đồ đồng tiêu biểu nhất là
di tích Nhị Lý Đầu (Erlitou/ 二 二 二 二) ở Yển Sư, tỉnh Hà Nam, có niên đại thế
kỷ XIX - XVI trước Công nguyên Theo các nhà nghiên cứu, di chỉ Nhị LýĐầu thuộc nền văn minh nhà Hạ, trong đó, di chỉ thành quách ở đây chính làkhu đô thành của nhà Hạ kéo dài từ giai đoạn giữa đến cuối đời nhà Hạ Ở dichỉ này, các đồ đồng được tìm thấy bao gồm nhiều vật dụng dùng trong laođộng như dao, đục, dùi, lưỡi móc;
các loại đồ đựng như tước, cô,
hoà ; các loại vũ khí như giáo,
mác, rìu Tiêu biểu nhất trong đó
là Tước và Hộ tâm phiến2
Loại hình tước là một loại đồ
đựng có ba chân xuất hiện từ trước
khi đồ đồng xuất hiện và được làm
bằng gốm Trong văn hóa Long
Sơn (Hà Nam) có niên đại thế kỷ
XXVII – XXI trước Công nguyên
ta có thể bắt gặp nhiều kiểu loại hình đồ đựng này làm bằng gốm Có thể kiểu
Trang 12dáng của các chiếc tước bằng đồng này xuất phát từ những chiếc nồi đất bachân rỗng bằng gốm trong văn hóa Long Sơn Chiếc hộ tâm phiến trong vănhóa nhà Hạ lại cho ta thấy nét tinh tế trong việc kết hợp sử dụng đồ đồng và
đồ ngọc của chủ nhân nền văn hóa này Sử dụng ngọc là truyền thống của nềnvăn minh Trung Quốc và ở đây đồ đồng đã cùng với đồ ngọc không những lànhững đồ dùng quý giá mà còn cho thấy tính truyền thống cổ xưa của nó.Trong tấm hộ tâm này, những hoa văn về con vật truyền thống của TrungQuốc cũng được thể hiện – hoa văn Thao Thiết Thao Thiết là một quái thúvới đôi mắt mở to và rất có hồn, trong các trang trí đồ đồng giai đoạn thờiThương và Chu rất phổ biến loại hoa văn con vật
này1
1 Xem Lý Tùng, 2013, sđd trang 12, 13.
Trang 13Đồ đồng thời nhà Thương đã
có một sự phát triển
mạnh mẽ về kỹ thuật
và phạm vi sử dụng
Những cuộc khai quật
và nghiên cứu đô
các vết tích của hoàng cung, xưởng sản xuất đồng thau và số lượng lớn nhiều
đồ đồng thau cho thấy kỹ thuật đúc đồng vào thời đó đã hoàn chỉnh Ở đâynhững hiện vật bằng đồng thau lơn như những chiếc đỉnh vuông cao tới gần1m, cân nặng tới 82kg Các đồ
đồng thời nhà Thương là những
vật dụng hằng ngày như vật
đựng thức ăn, đồ nấu chín thức
ăn, đồ đựng rượu hay chứa
nước đều chỉ có tầng lớp quý
tộc mới được sử dụng Công
dụng của chúng do đó phục vụ
nhiều cho đời sống thực tiễn
(yến tiệc) và cả đời sống tâm
linh (cúng tế, tang lễ) Giai cấp quý tộc ở đây tin rằng sau khi chết, linh hồncủa họ vẫn tồn tại, do đó, sau khi chết họ có nhiều người và súc vật để làm vậttuỳ táng, và họ chôn theo rất lớn các vật dụng bằng đồng thau để linh hồn của
Trang 14họ tiếp tục được hưởng thụ Trong những buổi cúng tế của giới quý tộcThương, họ bày hàng loạt các vật dụng bằng đồng trong chứa đầy thức ăn,rượu được nấu chín từ những chiếc đỉnh lớn để dâng lên thần linh và tổ tiên.Chính việc sử dụng trong nghi thức cúng tế mà làm cho các đồ đồng thau thờiThương toát lên vẻ lạnh lùng, nghiêm trang, và đày màu sắc kỳ bí1.
1 Xem Lý Tùng, 2013, sđd trang 15- 17.
Trang 15Đồ đồng thời Chu ảnh hưởng mạnh mẽ chế độ chính trị và nghi lễ củagiới cầm quyền bấy giờ Ở gai đoạn đầu, thời Tây Chu, lúc này tầng lớp quýtộc mới lên nắm quyền, với thế lực mạnh mẽ và thưc hiện nhiều cchinhs sáchcai trị, đặc biệt trong đó là chính sách phân phong và nghi lễ Với chế độ phânphong, dựa trên mối quan hệ huyết thống ruột thịt và chế độ tông pháp vớimối quan hệ tôn ti trật tự giữa quý tộc, đại phu, chư hầu, và thiên tử và địa vịcùng quyền lợi của mỗi người; trong chế độ nghi lễ, mục đích chính là đểphân chia giàu sang, thấp hèn, đẳng cấp làm cho mối quan hệ của các chư hầuhài hoà với nhau Việc sử dụng đồ đòng thời kỳ này cũng mang đặc trưng củachế độ phân phong với tính chất tông pháp và nghi lễ rõ ràng Theo quy định,
số lượng những chiếc đỉnh đồng mà kẻ sĩ được sử dụng trong tế lễ là 3 chiếc,chư hầu là 7 chiếc, và thiên tử là 9 chiếc Những vật dụng bằng đồng dùng
trong tế lễ có tác dụng phân biệt đẳng cấp, phân chia giàu sang, thấp hèn, nênnhững vật dụng mà thiên tử, và chư hầu sử dụng đều trở thành vật tượngtrưng cho quyền cai trị của họ Vào cuối thời kỳ nhà Chu, đặc biệt giai đoạn
Trang 16thời Đông Chu, xã hội ngày càng loạn lạc, mâu thuẫn trong nội bộ giới quýtộc lên cao, thiên tử nhà Chu không còn đủ uy quyền và bị các thế lực chư hầulấn áp, chế độ tông pháp và nghi lễ bị vi phạm Đồ đồng trong bối cảnh đóphát triển phong phú đáp ứng nhu cầu của hàng loạt các chư hầu Do khôngcòn bị lệ thuộc vào nghi lễ, nên trong việc sử dụng quy định về số lượng bịphá bỏ Trong các ngôi mộ quý tộc khai quật được vào bấy giờ, số lượng đỉnh
9 chiếc, luôn là số lượng của thiên tử mới được dùng Sự gia tăng của tầng lớpquý tộc cũng dẫn đến việc đúc nhiều loại hình đồ đồng và nhiều nơi đúc đồngphục vụ nhu cầu đa dạng của quý tộc với
phong cách riêng của mình Trong trang trí
đồ đồng thời này, kỹ thuật khảm ngọc trước
đó thời Thương đã phát triển thành kỹ thuật
khảm vàng - bạc Trong kỹ thuật khảm này,
người thợ đục lõm bề mặt vật dụng bằng
đồng thau, rồi khảm những miếng hay sợi
kim loại bằng vàng hay bạc lên đó, sau đó
dùng đá mài nhẵn bề mặt giúp cho những
miếng khảm dính chặt vào đồng.1
1 Xem Lý Tùng, 2013, sđd trang 19, 21 – 24, 28.
Trang 172 2 Nhà Tần: Đế chế hùng mạnh với đội quân đất nung vĩnh hằng
Trang 18Năm 221 trước Công nguyên nhà Tần Thuỷ Hoàng trở thành vua của cảnước, Trung Quốc lần đầu được thống nhất và triều Tần trở thành triều đạithống nhất đầu tiên Nhiều cải cách ở thời kỳ này đã được tiến hành nhằm xâydựng một chế độ tập quyền trung ương thống nhất Chế độ phân phong trướcđây bị bãi bỏ và thay vào đó là chế độ quản lý hành chính từ trung ương đếnđịa phương; cả nước được chia thành các cấp quận, huyện, hương, đình, lý;các quan đứng đầu đều được trung ương bổ nhiệm Nhà Tần cũng ban hànhcác quy định nhằm thống nhất nhiều tiêu chuẩn: Chữ viết, tiền tệ và trọnglượng Trong việc bảo vệ biên cương, để đề phòng sự xâm nhập của quânHung Nô, năm 241 trước Công nguyên nhà Tần đã cho nối các đoạn thànhcủa các nước Tần, Triệu, Yên trước đây thành một dãy trường thành dài hơnvạn dặm gọi là Vạn lý trường thành1 Trong các triều đại sau nhà Tần, côngtrình trường thành vẫn tiếp tục được xây dựng và củng cố Công trình quân sựnày được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ V trước Công nguyên cho tới thế
kỷ XVI, để bảo vệ Trung Quốc khỏi những cuộc tấn công của người Hung
Nô, Mông Cổ, người Turk, và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùnghiện thuộc Mông Cổ và Mãn Châu Ngày nay, trường thành này dài 21.196
km, cao trung bình tường thành là 7m so với mặt đất, và là một kỳ quan củaTrung Quốc trong thời kỳ cổ đại2 Tất cả những chủ trương trên hoàn toàn phùhợp với sự phát triển của Trung Quốc lúc bấy giờ, do đó đã tạo nên một nướcTần hùng mạnh, với nhiều thành tựu về khoa học kỹ thuật
Trang 19tích hơn 66km2, với tiêu chuẩn: Trên đủ thiên văn, dưới đủ địa lý3 Năm 1974,tại xã Yến Trại, huyện Lâm Đồng, tỉnh Thiển Tây, một người nông dân càyruộng tình cờ chạm vào hầm tuỳ táng của Tần Thuỷ Hoàng, và từ đó đến naycác cuộc khai quật quy mô lớn khu lăng mộ được tiến hành và không ngừngphát hiện ra quy mô cùng những hiện vật quý giá của lăng mộ4 Kết quả khaiquật cho tới ngày nay đã phát lộ 4 hầm mộ lớn, đây là những hầm mộ đượcxây dựng bằng kết cấu hỗn hợp giữa đất và gỗ, trong đó hầm mộ 1 hình chữnhật có diện tích hơn 14.000m2, hầm mộ 2 diện tích hơn 6.000m2; tại các hầm
mộ này phát hiện hơn 7.000 tượng người, 1.000 tượng ngựa, tất cả đều bằngđất nung; ngoài ra còn hàng vạn vũ khí bằng đồng thau với hàng trăm cỗchiến xa5
5 Xem Lý Lực, 2013, sđd trang 69.
Trang 20võ sĩ cầm cương ngựa đợi hiệu lệnh; có tượng võ sĩ tay cầm nỏ và cung tên,lưng đeo túi đựng tên bịt đồng; có tượng võ sĩ tay cầm mâu dài, bụng dắt dao,đeo kiếm đồng Trong dáng vẻ các tượng cũng hết sức có hồn và sống động:những tráng sĩ trung niên với râu tóc tung bay, dáng vẻ hiên ngang; nhữngbinh sĩ trẻ tuổi thì tràn trề sinh lực, đôi mắt sắc nhọn; những tướng sĩ mặcgiáp trụ, đội mũ cao, mang kiếm dài, chân đi giày cổ vuông mũi phẳng, vớidáng vẻ trầm tư suy nghĩ Ở các tượng ngựa chiến, kích thước trung bình cao1,5m, dài 2m, thân hình mập mạp cường tráng, với đôi tai nhỏ và cặp mắt to,khoé mép sâu; gân xốt khoẻ mạnh trong dáng đứng ngẩng đầu, ưỡn ngực vớiđôi chân trước thẳng, chi sau cong, đứng xếp thành hàng trong đội quân cànglàm vẻ uy hùng của cả đội quân; bên cạnh đó, những cổ chiến xa với 4 ngựakéo trong hùng mạnh và cường tráng càng làm tăng sức mạnh của quân độinhà Tần1 Sức hấp đẫn của ác tượng binh mã này nằm trong chỉnh thể của nó.
Ở hầm mộ số 1, trong 6.000 tượng binh sĩ đứng trang nghiêm, phía trước làcác hàng binh sĩ cầm cung nỏ, phía sau là bộ binh cầm khí giới và các chiến
xa chia thành các hàng ở hai bên trái – phải, cuối cùng là các tượng binh sĩcầm cung nỏ mặt hướng ra phía ngoài Hàng hàng lớp lớp, quân trận hàohùng, chiến sĩ và chiến xa cùng chiến mã như đang trong một trận pháp; áogiáp mặc trên người, khí giới sãng
sàng trên tay, các chiến mã với bờm
cắt ngắn, đuôi buộc gọn, tất cả đều
sẵn sàng xông lên chiến đấu2 “Hầm
tượng binh mã khắc hoạ hình ảnh
quân đội Tần với người và ngựa
quân dung chỉnh tề, bộ binh và
chiến xa đan xen tạo nên khí thế
2 Xem Lý Lực, 2013, sđd trang 71 – 73.
Trang 21hừng hực, đồng thời tái hiện khí phách hào hùng năm xưa khi Tần ThuỷHoàng thống nhất thiên hạ”1.
độ cao Ở đội quân đất
nung với kích thước và
1 Phương Lý Lợi, 2013, sđd trang 31.
Trang 22Qua thời gian lâu dài, các màu sắc trên tượng bị phai, chỉ còn lại màu xámđen và nâu xám.
Có thể nói, tượng binh mã trong lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng là kiệt táctrong lịch sử nghệ thuật gốm nặn cổ đại cảu Trung Quốc Các đội quân đấtnung là một thành tựu đáng ghi nhận Nghệ thuật và kỹ thuật của nó đứng mộtmình trong nghệ thuật của Trung Quốc Nghệ thuật Trung Quốc ở thời giantrước đó chỉ có một chức năng chủ yếu là nghi lễ và được trang trí với nhữnghoa văn và họa tiết hình học hoặc động vật lấy cảm hứng từ biểu tượng Vớiđội quân đất nung, ý định của vị Hoàng đế là để tái tạo thế giới thực trong thếgiới bên kia của mình thì Chủ nghĩa hiện thực đã làm nên cuộc cách mạngtrong nền nghệ thuật nhà Tần, và nó cũng bắt đầu một truyền thống mới nàyđược phát triển mạnh trong nhà Hán và nhà Đường triều đại sau đó, mặc dùkhông bao giờ trên quy mô lớn như vậy.1
2 3 Các triều đại Hán - Đường: Con đường tơ lụa toả sáng các thành tựu
Sự sụp đổ của triều địa nhà
Tần đã đưa đến sự ra đời của nhà
Hán (206 trước Công nguyên –
220) với nhiều thay đổi trong chính
sách phát triển đất nước; sau này
khi nhà Đường (618 – 907) thành
lập, những chính sách phát triển
tiếp tục được đưa ra tạo cho đất
nước Trung Quốc trong suốt thời
kỳ lịch sử này luôn mở rộng quân
sự, chính trị tập trung, và thành tựu
kinh tế và văn hóa, mở rộng kinh tế với ổn định chính trị và có nhiều thành
1 Xem Phương Lý Lợi, 2013, sđd trang 32; và http://artsmia.org/terracotta-warriors/preview.html
Trang 23tựu văn minh, tạo nên Thời đại Vàng (Golden Age)1 ở Trung Quốc Trongchính sách phát triển của các triều đại này, Nho học là hệ tư tưởng chínhthống của Trung Quốc được thực hiện từ thời nhà Hán khi triều đại này thựchiện chính sách: bãi bỏ bách gia độc tôn Nho thuật; trong chính trị, việc củng
cố quyền lực tập trung ở trung ương ngày càng hoàn thiện, chính phủ trungương nắm triệt để các tới các chính quyền địa phương2 Trong kinh tế, nôngnghiệp là ngành kinh tế chính, ở thời kỳ đầu các triều đại này bên cạnh cácchính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp như bãi miễn một số thuế để nớirộng sức dân, tăng thêm nguồn lao động (phục viên binh lính, khuyến khíchngười dân lưu tán về quê ), xây dựng và sửa chữa các công trình thuỷ lợi; cảitiến các kỹ thuật sản xuất và phổ biến rộng việc dùng sức vật kéo cày làmđất đặc biệt là chính
sách quân điền ruộng
đất cũng như phát triển
các loại hình điền trang
của các quý tộc, địa chủ
đã làm cho nâng cao
năng xuất sử dụng
ruộng đất Trong lĩnh
vực thủ công nghiệp có
sự phát triển của nhiều
ngành nghề mà một trong nghành nghề đó chính là nghề đóng thuyền Ngaythời Tam Quốc (220 – 280), nước Ngô đã đóng được thuyền lớn cao hơn 5tầng; thời Tuỳ (581 - 618) thuyền chiến cao hơn 50 thước, cao 5 tầng, sứcchứa 800 người và có tới 120 phòng3 Trong hoạt động thủ công nghiệp,không những nhà nước mà còn cả giới tư nhân cùng hoạt động những nghề
1 http://archive.artsmia.org/art-of-asia/history/video-popup-han.cfm
Trang 24nhà nước kinh doanh thường giữ độc quyền và chủ yếu trong một số nghềquan trọng đòi hỏi có nhiều vốn và nhân công như khai mỏ, luyện sắt, đúctiền, làm muối, làm các sản phẩm đồ cao cấp (lụa, sứ )1
Trong lĩnh vực thương nghiệp, đây là một giai đoạn phát triển mạnh mẽ
về thương mại Họ đã biết về Đế quốc La Mã về sức mạnh và sự giàu có của
nó, và họ muốn đổi lụa của họ với đế chế đó, và cuối cùng họ liên kết với các
ở nước Trung Á với Đế chế La Mã và hình thành “Con đường Tơ lụa” bắt đầuthế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, từ đó đi vào để trở thành hành lang thươngmại đất lớn nhất thế giới2 Người mở thông con đường hành lang thương mạiđất ấy chính là Trương Khiên (thời Hán Vũ Đế) khi ông vâng mệnh đi sứ TâyVực vào năm 119 trước Công nguyên Ngay khi giao thông Đông – Tây đượckhai thông Nhà Hán đã cử nhiều đoàn sứ giả đến Tây Vực đặt mối quan hệ
và giao thương; cảnh người ngựa, lạc đà tấp nập, hàng hoá phong phú; phạm
vi con đường này mở rộng không chỉ bó hẹp trong khu vực lòng chảo Tháp
Lý Mộc (Tarim) mà còn tiến xa đến phía tây bắc vịnh Ba Tư (Điều Chi) vàbán đảo Ả Rập (Lê Hiên), và trên những cung đường đó là các kho và dịchtrạm được dựng lên Vào thời Lưỡng Hán, con đường gioa thương chủ yếu điqua khu vực Tân Cương ngày nay với hai ngả nam – bắc: phía nam conđường men theo sông Tháp Lí Mộc qua đến La Bố, thành Lầu Lan, tới phíatây đến các nước Tinh Tuyệt, Vu Di, Vu Điền, Ba Sơn và La Xa sau đóvượt qua dãy Thông Lĩnh để đến Ấn Độ và Ba Tư; phía bắc, từ Ngọc MônQuan, qua nước Xa Sư tới dãy Thiên Sơn, men theo bờ bắc sông Tháp LýMộc qua các nước Quy Tư, Cô Mặc rồi vượt qua dãy Thông Lĩnh hay từ phíabắc các nước Quy Tư, Cô Mặc vượt qua dãy Thiên Sơn đến các quốc giaTrung Á và Địa Trung Hải Con đường giao thương qua Tây Vực được thôngthương đã tạo điều kiện cho hàng hoá được ưa chuộng nhất bấy giờ của Trung
2 Xem http://archive.artsmia.org/art-of-asia/history/dynasty-han.cfm.html
Trang 25Quốc là tơ lụa ở Trung Nguyên tiến tới Tây Á, Trung Á và châu Âu1 “Ngườiđứng đầu nhà nước La Mã là Xêda (César) mặc áo dài bằng lụa Trung Quốcđược coi là hết sức sang trọng”2.
Không những khai thông con đường giao thương trên đất liền, trongthời kỳ này, con đường giao thương trên biển cũng được người Trung Quốcthiết lập Ngay từ thời Tây Hán, những thuyền đi biển của Trung Quốc xuấtphát ở Từ Văn và Hợp Phố trên bán đảo Lôi Châu tiến xuống vùng biển cácnước Việt Nam, Thái Lan đến eo đất Kra (phần trung bộ bán đảo Malaysiangày nay) rồi vượt bộ để sau đó đổi thuyền tiếp tục tới các nước Myanmar rồi
Ấn Độ; từ đây hàng hoá Trung Quốc tiếp tục được các thương nhân người Ấn
Độ và Ả Rập đưa tới vùng Trung Á, Tây Á và Địa Trung Hải Tới thời ĐôngTấn (thế kỷ V), qua chuyến hải trình trở về của nhà sư Pháp Hiển xuất phát từ
Ấn Độ đến Sri Lanca, rồi từ đây đi tới Java và Sumatra và thẳng về TrungQuốc trong vòng 50 ngày được rút ngắn rất nhiều so với trước đây và cũng đãkhai thông con đường giao thông trên biển từ Trung Quốc đến Ấn Độ qua các
eo biển trên biển Đông của khu vực Đông Nam Á hải đảo, thuyền bè TrungQuốc không còn lệ thuộc vào eo đất Kra3
Như vậy, cả hai con đường thông thương trên đất liền và trên biển đềuđược khai thông trong giai đoạn từ nhà Hán đến nhà Đường; và cùng với ựphát triển của các ngành kinh tế, sự ổn định và thống nhất cao về chính trị đãtạo cho Trung Quốc một sự phát triển mạnh mẽ, với nhiều thành tựu cao
Một trong những thành tựu mà giao lưu văn hóa được kết tinh từ conđường tơ lụa trong sáng tạo văn minh của người Trung Quốc là kiến trúc cáchang đá, trong đó hang đá Vân Cương được xem là đỉnh cao nghệ thuật Hang
trang 23, 29, 32 – 33.
Trang 26đá Vân Cương được đục
khắc vào thời Bắc Ngụy
trong những hang nhân
tạo lớn nhất Trung Quốc và các công trình điêu khắc trong núi đá mang đậmbản sắc văn hoá của dân tộc Trung Hoa Hang đá Vân Cương cùng với hangMạc Cao Đôn Hoàng tỉnh Cam Túc và Hang đá Long Môn tỉnh Hà Nam đượccoi là ba hang đá lớn Trung Quốc, là một trong những kho tàng nghệ thuậtkhắc đá quý giá nổi tiếng trên thế giới Quần thể điêu khắc Vân Cương cókhoảng hơn 50 động nhỏ, trong đó 20 động tương đối hoàn chỉnh, các độngđều được tạc ở trong lòng núi; quần thể các đọng này với 3 phần chính: đông(chủ yếu là các tháp còn gọi là động tháp), trung (mỗi động đều phân thànhhai gian trước và sau với gian giữa là tượng Phật tổ) và tây (chủ yếu là cácđộng nhỏ, đa phần là tác phẩm sau khi Bắc Ngụy rời đô về Lạc Dương) Ởđây, riêng động thứ 20 lại là động lộ thiên, ở giữa là tượng Thích Ca ngồi, cao13,7m, tượng có khuôn mặt bầu tròn, bờ vai to rộng, tạo hình hùng vĩ, dáng
vẻ thâm trầm, được coi là tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc độngVân Cương Các điêu khắc ở động Vân Cương có phong cách hùng vĩ hơn sovới các động lớn ở Trung Quốc.Các tượng điêu khắc ở đây nhỏ nhất chỉkhoảng 2cm nhưng tượng to nhất cao đến 17m Điêu khắc ở động Vân Cươngbên cạnh sự kế tục và phát triển nghệ thuật điêu khắc truyền thống của thời kỳ
Trang 27Tần - Hán, còn tiếp thu và hoà hợp tinh hoa nghệ thuật của Phật giáo, tạo nênmột phong cách độc đáo và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nghệ thuậtcủa thời kỳ Tuỳ - Đường sau này, nó chiếm vị trí quan trọng trong lịch sửnghệ thuật điêu khắc của Trung Quốc, đồng thời là một minh chứng cho sựgiao lưu văn hoá giữa Trung Quốc và các nước Châu Á khác1.Hình tượng củacác nhân vật trong hang đá Vân Cương đã ghi lại vết tích lịch sử của nghệthuật Phật giáo Ấn Độ và Trung Á, phát triển thành nghệ thuật Phật giáoTrung Quốc, phản ánh quá trình nghệ thuật tạc tượng Phật giáo Trung Quốc.
Ngoài ra, những thành tựu
phát minh tiêu biểu của Trung Quốc
cũng đã ra đời trong thời kỳ này:
Phát minh kim chỉ nam, nghề in,
nghề làm giấy, và thuốc súng Phát
minh kim chỉ nam được Mã Quân
đời Tam Quốc sáng chế từ việc biết
được từ tính và tính chỉ hướng của
nam châm, ông đã làm ra kim chỉ
nam mà thời đó gọi là “Tư nam”;
đến thời Bắc Tống, người Trung
Quốc chế tạo ra la bàn, và cải tiến nó ngày càng hoàn chỉnh hơn2 Trong phátminh ra nghề làm giấy, năm 105, Thái Luân (nhà Hán) đã làm ra giấy từ cácnguyên liệu dễ kiếm như lưới cũ, giẻ rách và cỏ cây… có chất lượng tốt hơn;đây chính là một cuộc cách mạng trong việc truyền bá chữ viết, trao đổi tưtưởng phổ biến kiến thức của con người3.Ở phát minh nghề in vốn có từ nghềtruyền thống khắc vào đá, đến đời Tùy (thế kỷ VI) nghề in khắc bản ra đời và
1 Xem Thảo Phương, Hang Đá Vân Cương (Yungang Grottoes) Đại Đồng, Trung Quốc, nguồn:
http://thuvienhoasen.org/a16227/hang-da-van-cuong-yungang-grottoes-dai-dong-trung-quoc
3 Đặng Ấm Kha, tr 26.
Trang 28ngày một cải tiến: từ in chữ rời bằng đất sét nung của Tất Thăng (thế kỷ XI)đến in chữ rời bằng gỗ, thiếc, đồng, chì…1 Việc phát minh thuốc súng còngọi là “hỏa dược” (thuốc lửa), do ngẫu nhiên mà các nhà luyện đạn cổ pháthiện ra; và đến đầu thế kỷ X, thuốc súng được dùng làm vũ khí, từ đó đượcứng dụng rộng rãi làm cho hệ thống vũ khí và cả khoa học quân sự biến đổi2.
2 4 Các triều đại Tống – Nguyên – Minh: Kiến trúc và hội hoạ
Ở thời kỳ các triều đại Tống
(960 1279), Nguyên (1206
-1368), Minh (1368 - 1644) lịch sử
Trung Quốc có nhiều biến động về
chính trị Trong triều đại Tống, thời
kỳ nhà Bắc Tống (960 – 1127) mặc
dù tình trạng cát cứ sau nhà Đường
với thời Ngũ Đại Thập Quốc bị
chấm dứt nhưng triều đại này lại
phải nhượng bộ các nước Liêu
(Khất Đan) và Tây Hạ, thậm chí
trên chừng mực nào đó lại lệ thuộc
vào nhà Liêu; đến thời Nam Tống (1127 – 1279) những cuộc xung đột vớinước Kim làm cho triều đại này nhanh chóng suy yếu và bị đội quân Mông
Cổ đánh bại Khi triều đại nhà Nguyên của những người Mông Cổ được thànhlập trên lãnh thổ Trung Quốc, những chính sách phân biệt với người Hán –các dân tộc ở Trung Nguyên, đã làm bùng nổ những mâu thuẫn giữa nhữngngười Hán và người Mông Cổ để đi tới sự thành lập nên triều Minh sau thắnglợi của cuộc khởi nghĩa của Chu Nguyên Chương, khôi phục lại quyền tự chủcho Trung Quốc Trong sự biến động của các triều đại, các thể chế chính trị
1 Đặng Ấm Kha, tr 25.
2 Đặng Ấm Kha, tr 23.
Trang 29không nghừng được phát triển và trở nên tinh vi nhằm kiểm soát quyền lực Ởnhững trung tâm chính trị của các triều đại này trở thành những trung tâm lớn
về kinh tế và văn hóa và là những thành thị mang đặc trưng điển hình củaPhương Đông Có thể kể tới những thành thị tiêu biểu thời kỳ này như cáckinh đô Khai Phong và Lâm An thời Tống, Bắc Kinh và Nam Kinh thờiNguyên và Minh Ngoài các kinh đô này, hàng loạt các thành phố khác cũngxuất hiện ở phía nam Trường Giang và vùng đông nam như Tô Châu (GiangTô), Minh Châu (Chiết Giang), Tuyền Châu (Phúc Kiến ), Quảng Châu(Quảng Đông) Các trung tâm này luôn có số dân đông đúc, kinh đô NamKinh thời Minh ước tính có khoảng 1,5 triệu người, các ngành kinh tế thủcông nghiệp và thương nghiệp luôn phát triển ở đây với sự tập trung củanhiều phường thợ và các trạm dịch buôn bán của các nước1 Chính sự hìnhthành các trung tâm thành thị này mà nhiều thành tựu văn minh được kết tinh,trong đó nổi bật nhất là các lĩnh vực kiến trúc và hội hoạ
trị và uy quyền của các bậc đế vương, chúng mang đậm màu sắc chính trị và
lễ chế của chế độ phong kiến Nếu như cung điện là nơi cư ngụ của vua chúa,
và đó là những kiến trúc có quy mô hùng vĩ, tráng lệ, thể hiện khí phách và sự
uy nghiêm của hoàng gia; trong khi, đàn miếu dùng để tế các vị thần tự nhiên
Trang 30của Trung Quốc
thời cổ đại Trong
kiến trúc cung điện thì cung điện Bắc Kinh còn gọi là Tử Cấm Thành hay CốCung, được xây dựng từ năm 1406 – 1420 dưới vương triều Minh, là quần thểkiến trúc gỗ có quy mô lớn và hoàn chỉnh nhất còn tồn tại đến nay Cố cungtoạ lạc ngay tại vị trí trung tâm của thành Bắc Kinh thể hiện rõ tư tưởng chọngiữa trung tâm (trạch trung) của người Trung Quốc xưa Cố Cung được quyhoạch trong không gian rộng hình chữ nhật có diện tích rộng hơn 720.000m2được sông bao bọc bảo vệ tường thành với 4 góc thành là các tháp canh (giáclầu), ở 4 mặt tường thành có 4 cửa mở, trong đó Ngọ Môn là cửa chính, bêntrong là tổng cộng 8.700 gian phòng Các kiến trúc trong Cố Cung đều được
bố trí theo thứ bậc trên một trục chính trong không gian khép kín đối xứng vàliên tục Từ Ngọ Môn đi vào và nằm hai bên trái phải phía trước cung thành làThái Miếu (ở hướng đông, bên trái) và Xã Tắc (ở hướng Tây, phải) Bố trítrên trục chính, phía sau Thái Miếu và Xã Tắc là khu vực ngoại triều, là nơinhà vua cử hành các đại điển và quần thần yết kiến, là nơi thực thi quyền lực
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, trang 34.