Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhấ
Trang 1TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC
A ĐỀ TÀI
Đề số 2:
1 Bản chất của hoạt động học và các phương pháp hình thành động cơ học tập cho học sinh (lứa tuổi tùy chọn)
2 Nêu và phân tích những năng lực cần có của người giáo viên THPT trong thế kỷ 21, hãy tự đánh giá những năng lực mình đã có và đưa ra những biện pháp để đạt được những lực cần có đó cho bản thân
B NỘI DUNG TIỂU LUẬN
PHẦN I BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CHO HỌC SINH (LỨA TUỔI …)
I BẢN CHẤT HOẠT ĐỘNG HỌC
I.1 Khái niệm hoạt động học
a Khái niệm học
Để hiểu được khái niệm cũng như bản chất của hoạt động học tập, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “học” Khi nghe đến từ “học” hay “học tập”, hầu hết con người sẽ nghĩ đến việc nghiên cứu hoặc những hình ảnh của trường học gắn liền với những môn học, kỹ năng như toán, lý, hóa, văn, sinh, sử, võ thuật, ca hát…Tuy nhiên, trên thực tế, học tập không chỉ giới hạn trong trường học hay viện nghiên cứu mà nó diễn ra liên tục trong cuộc sống thường ngày Một em bé cầm vào cốc nước nóng bốc hơi và bị bỏng Sau một vài lần như vậy, khi thấy cốc nước nóng bốc hơi, em bé chỉ chạm một ngón tay vào để thăm dò Một ví dụ khác trong cuộc sống là một nam thanh niên mới lớn muốn làm quen với các bạn gái Ban đầu, do còn thiếu kinh nghiệm, chàng trai
đó bị các bạn gái chê nhạt nhẽo, liên tục từ chối Sau nhiều lần thất bại, chàng trai tìm hiểu thêm về tâm lý các bạn gái, đồng thời nhờ sự tư vấn của những đàn anh đi trước về kinh nghiệm “tán gái” Chàng trai thay đổi phong cách ăn mặc, hành động, trò chuyện và dần dần trở thành một anh chàng đào hoa Các trường hợp trên chỉ là số ít trong vô vàn sự kiện của cuộc sống Tuy khác nhau về nội dung nhưng giữa chúng có điểm chung là tạo ra sự thay đổi về hành vi, về nhận thức và thái độ của
cá thể, do sự tương tác của cá thể đó với các yếu tố khách quan Những thay đổi như vậy là kết quả của việc học
Như vậy, học tập là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, lĩnh hội những kinh nghiệm
và kinh nghiệm này gây ra sự thay đổi khá sâu sắc trong nhận thức, thái độ hay hành vi của cá nhân đó Thay đổi có thể là có chủ ý hoặc không chủ ý, tốt hơn hay tồi hơn Học có cả ở người và
động vật Nó là phương thức để sinh vật có khả năng thích ứng với môi trường sống, qua đó tồn tại
và phát triển được Học của cả người và động vật được đặc trưng bởi hai dấu hiệu cơ bản:
- Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, tức là có sự tác động qua lại, tương ứng với các kích thích từ bên ngoài với các phản ứng đáp lại của cá thể Đây chính là điều kiện cần của việc học vì nếu chỉ có sự tác động của các yếu tố bên ngoài mà không có sự phản ứng của cá thể thì việc học không diễn ra
Trang 2- Hệ quả của tương tác dẫn đến sự biến dổi tương đối sâu sắc về nhận thức, thái độ, hành vi của cá thể Nói cụ thể, tương tác phải tạo ra ở cá thể một kinh nghiệm mới hoặc củng cố nó Điều này giúp phân biệt tương tác làm thay đổi có tính sinh học (trời nắng nóng thì cơ thể toát mồ hôi, trời rét thì nổi da gà hoặc tương tác làm bộc lộ sự trưởng thành của cơ thể như con chim biết bay, con cá biết bơi…) với những thay đổi tâm lý, tự tạo của cá thể Những tương tác dẫn đến sự thay đổi có tính sinh học, bẩm sinh, mang tính loại không được coi là sự học
b Phương thức học của con người – hoạt động học tập
Như đã trình bày ở trên, khái niệm “học" dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức hàng ngày, nghĩa là học qua lao động, vui chơi, qua kinh nghiệm Hoạt động này đem lại cho con người những tri thức tiền khoa học, hình thành được những năng lực thực tiễn, trực tiếp do kinh nghiệm hàng ngày mang lại Việc học tập của con người cũng có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau, cụ thể là: học ngẫu nhiên, học kết hợp và hoạt động học
Học ngẫu nhiên là sự thay đổi nhận thức, hành vi hay thái độ nhờ lặp lại những hành vi mang tính ngẫu nhiên, không chủ đích Quay trở lại với ví dụ về em bé và cốc nước nóng Em bé đã thu
nhận được kinh nghiệm không sờ vào cốc nước nóng nhưng không phải do việc chủ định tìm hiểu,
mà là kết quả của hành vi ngẫu nhiên Về cơ chế sinh lý thần kinh, học ngẫu nhiên là sự hình thành các phản xạ có điều kiện bậc thấp, vì vậy còn gọi đó là học phản xạ Đây là mức độ thấp, phổ biến
có cả ở con người và con vật Trong các gánh xiếc thú, con vật được học làm xiếc hay các hành vi tìm đường đi, tìm thức ăn của động vật… đều là các biểu hiện của việc học phản xạ
Học kết hợp là việc thu nhận kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của con người nhờ vào việc triển khai một hoạt động nhất định Nói cách khác, học kết hợp là việc học gắn liền và nhờ vào triển khai một hoạt động khác Một chàng trai thu nhận được những kiến thức về thời trang, ứng xử là nhờ
việc tiến hành một hoạt động có chủ ý khác: tìm cách trò chuyện với bạn gái; đó là học kết hợp Học kết hợp là phương thức phổ biến của con người Nó là phương tiện chủ yếu để duy trì sự tồn tại của cá nhân và xã hội, nhất là trong các xã hội có trình độ sản xuất và khoa học thấp kém Cá nhân
có thể thu được nhiều kinh nghiệm qua trực tiếp sản xuất, qua giao tiếp và ứng xử hàng ngày, qua hoạt động xã hội và vui chơi… Điểm nổi bật của học kết hợp là không có hoạt động riêng với mục đích, nội dung và phương pháp đặc thù Các kết quả thu được từ học kết hợp thường là các trải nghiệm riêng của cá nhân, nên mặc dù đó là những kinh nghiệm rất sâu sắc với cá nhân đó nhưng chúng thường không có tính phổ biến
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định nhằm phát triển nhân cách của chính mình Như vậy, khái niệm “hoạt động học” dùng để chỉ
hoạt dộng học diễn ra theo phương thức nhà trường – một phương thức học đặc biệt của loài người (có tổ chức, điều khiển, nội dung, trình tự…) Qua hoạt động học, người học tiếp thu được những tri thức khoa học, những năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Đặc trưng của hoạt động học
và cũng là sự khác biệt lớn nhất giữa nó với học ngẫu nhiên và học kết hợp là hoạt động học bao giờ cũng thỏa mãn một nhu cầu học nhất định, được kích thích bởi động cơ học và được thực hiện bởi một hoạt động chuyên biệt: hoạt động học với nội dung, phương pháp, phương tiện riêng Một điểm khác biệt nữa là hoạt động học không chỉ đem lại cho người học kinh nghiệm cá nhân trong
Trang 3học kết hợp, mà còn giúp người học lĩnh hội được những tri thức khoa học, đã được loài người thực nghiệm và khái quát hóa thành những chân lý phổ biến Vì vậy, xã hội càng hiện đại, khoa học càng phát triển thì hoạt động học càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của cá nhân và xã hội
I.2 Bản chất của hoạt động học
a Hoạt động học là hoạt động có đối tượng và có ý thức
Đối tượng của hoạt động học chính là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng của một môn học hay một khoa học Có thể nói, cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh toàn bộ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành nên thái độ của con người, giúp con người có khả năng, năng lực làm việc mới Vì vậy, học tập là một quá trình căng thẳng, là quá trình người học phải vận dụng tích cực những chức năng tâm lý của mình như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng…để lĩnh hội trí thức Giáo viên cần phải làm cho đối tượng cần chiếm lĩnh xuất hiện trong ý thức của người học Tuy vậy, sự tiếp thu lĩnh hội nói trên sẽ không thể thực hiện được nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ được truyền cho người học theo cơ chế “máy phát’ – “máy nhận” Muốn học tập có kết quả, người học phải tích cực tiến hành hoạt động học tập bằng ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình Người dạy cũng cần phải tổ chức học tập phát huy được tính tích cực của người học, làm nảy sinh nhu cầu nhận thức và phát hiện được đối tượng của chính nhận thức
b Kết quả của hoạt động học là làm thay đổi chính bản thân
Thông thường, các hoạt động khác thường hướng vào làm thay đổi khách thể, trong khi đó hoạt động học tập lại làm cho chính chủ thể của hoạt động này thay đổi và phát triển Học tập làm thay đổi chính bản thân người học trong sự thay đổi của môi trường xung quanh Người học tiếp thu những giá trị tinh hoa mà loài người ở thế hệ trước để lại trong sản phẩm đồ vật, trong các mô hình
… và biến nó thành cái của chính mình, phát triển nhân cách của mình Vì vậy, người học càng tiếp thu được đối tượng sâu sắc bao nhiêu thì sức mạnh vật chất và tinh thân của họ ngày càng được phát huy bấy nhiêu và sự thay đổi tâm lý trong chính họ ngày càng lớn lao và mạnh mẽ
c Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Đối tượng tiếp thu trở thành mục đích của hoạt động học Những tri thức đó đã được lựa chọn tinh tế và tổ chức lại trong hệ thống nhất định bằng cách vạch ra cái bản chất, phát hiện những mối liên hệ mang tính quy luật của sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Đó là con đường lý luận trong việc tiếp thu trí thức, kỹ năng, kỹ xảo Những hiểu biết đó không chỉ đúng và thích hợp cho một tình huống nào đó mà nó đúng và thích hợp cho mọi hoàn cảnh tương tự Sự tiếp thu như thể chỉ có thể diễn ra trong hoạt động học được điều khiển một cách có ý thức của con người
d Hoạt động học giúp người học tiếp thu cả tri thức thuộc phạm trù Cái và phạm trù Cách
Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động tức là tiếp thu về phương pháp hoạt động, nói cách khác là cách tìm hiểu, khám phá sự vật, hiện tượng Vì vậy, cần phải nhận thức đầy
đủ tầm quan trọng của việc hình thành cách học cho người học và đây sẽ là công cụ hàng ngày không thể thiếu được của họ Mặt khác, nội dung và tính chất của cách học sẽ quyết định đến chất
Trang 4lượng của việc lĩnh hội tri thức và đến một lúc nào đó, tri thức lại đủ sức trở thành công cụ phục vụ cho việc tiếp thu tri thức mới Vì lẽ đó, con người cần tiến hành hai hoạt động này song song Như vậy, hoạt động học là một hoạt động khá riêng biệt của con người và mang tính chủ định, tự giác cao Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức mà còn hướng vào tiếp thu cả phương pháp giành lấy tri thức đó Muốn cho hoạt động học, đặc biệt là việc tự học diễn ra
có kết quả cao, người ta phải biết cách học, nghĩa là phải có những tri thức về bản thân hoạt động học; cụ thể là phải biết kiểu học tập của mình như thế nào để có cách học phù hợp nhất với chính bản thân Nếu con người có cách học tập phù hợp với thói quen hoạt động trí óc của mình thì sẽ lĩnh hội được nhiều kiến thức và hoạt động học tập trở nên có hiệu quả hơn
II PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỨA TUỔI THPT
II.1 Khái niệm động cơ học tập và phân loại động cơ học tập [3]
Động cơ học tập là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập liên tục của người học nhằm đạt kết quả về nhận thức, phát triển nhân cách và hướng tới mục đích học tập
đã đề ra Như vậy, có thể thấy động cơ nói chung và động cơ học tập nói riêng là một vấn đề rất
rộng và phức tạp Có nhiều lý thuyết về động cơ hoạt động như: Thuyết phân tâm học của S.S.Freud, thuyết hành vi của B.F.Skinner, thuyết hoạt động của A.N.Leonchiep, thuyết nhân văn… Mỗi lý thuyết đều có đặc trưng riêng xuất phát từ cách tiếp cận, phân tích, nghiên cứu khác nhau về việc hình thành, duy trì, biến đổi động cơ hoạt động của con người Mỗi lý thuyết tuy cũng có tính phiến diện, đặc thù nhưng các lý thuyết nhìn chung bổ sung cho nhau về những khiếm khuyết của mỗi lý thuyết
Trong thực tế, có nhiều cách phân loại về động cơ theo nhiều cách tiếp cận, khác nhau Động cơ học tập của HSSV là động cơ hoạt động Vì vậy, việc nghiên cứu nó rất gần gũi với lý thuyết hoạt động của Leonchiep Về vấn đề này, Leonchiep chia động cơ hoạt động thành hai loại: động cơ đối tượng (động cơ tạo nhân cách, động cơ bên trong) và động cơ kích thích (động cơ bên ngoài)
+ Động cơ đối tượng: Theo Leonchiep đó là đặc trưng hoạt động của con người, cái thúc đẩy con người say mê hướng vào đối tượng chính của hoạt động nhằm chiếm lĩnh đối tượng, cải biến đối tượng Đối với hoạt động học tập của HSSV, đối tượng chính là tri thức và ứng dụng tri thức + Động cơ kích thích: Là những kích thích bên ngoài đối tượng (khen, thưởng, lợi ích, tự ái…) cũng có tác động làm cho chủ thể say mê trong hoạt động Nhưng nếu quá say mê hoạt động
vì động cơ kích thích, chủ thể sẽ xa rời động cơ đối tượng, không còn hứng thú hướng về đối tượng
để hoạt động hoặc sẽ rất tích cực vì những kích thích bên ngoài đối tượng Điều đó sẽ dẫn đến chủ thể (nhân cách) dần dần không còn thiết tha với đối tượng Lúc này, "sự tích cực" sẽ chỉ còn là sự giả dối, chạy theo lợi ích bên ngoài: Nếu là HSSV thì có thể có biểu hiện như: học chỉ để thi, học vì bằng cấp, nếu gặp khó khăn thì mua bằng, xin điểm…
Trong môi trường học đường, nhà trường cần có định hướng để HSSV hướng đến hình thành động cơ đối tượng, đó là loại động cơ ưu thế giúp HSSV hình thành nhân cách Tuy vậy, nhà trường
và giáo viên cũng cần coi trọng đúng mức các động cơ kích thích, nhưng không lạm dụng chúng như khen thưởng quá đà, chạy theo thành tích quá mức làm tha hóa động cơ học tập của HSSV
Trang 5Trong thực tế, động cơ học tập của HSSV có nhiều dạng tùy theo những tác động hình thành động cơ học tập, có thể phân chia thành 6 dạng theo từng cặp động cơ học tập như sau:
1 Xét về tác động bên trong, bên ngoài trong hình thành động cơ học tập, có động cơ chủ quan (nảy sinh do các nhân tố từ bên trong chủ thể) và động cơ khách quan (do các nhân tố từ bên ngoài tác động lên chủ thể mà hình thành)
2 Xét về tác động của môi trường đến chủ thể trong việc hình thành động cơ học tập, có động cơ cá nhân và động cơ xã hội
3 Xét về các tác động trực tiếp, gián tiếp hình thành động cơ học tập, có động cơ gần và động cơ xa
4 Xét về tính chất của việc hình thành động cơ học tập, có động cơ ham thích và động cơ nghĩa vụ
5 Xét về mục tiêu, nhu cầu của chủ thể trong hình thành động cơ học tập, có động cơ quá trình và động cơ kết quả
6 Xét về độ lâu bền của những tác động đối với chủ thể trong hình thành động cơ học tập, có động
cơ nhất thời và động cơ lâu dài
Ngoài ra còn có các dạng động cơ học tập khác như: động cơ nghề nghiệp, động cơ thực dụng, động
cơ vụ lợi Việc phân chia các dạng động cơ học tập theo tên gọi như trên có tính tương đối vì tùy theo cách xem xét các dạng động cơ có thể chồng lấn nhau, hoán vị lẫn nhau
II.2 Các nội dung cơ bản về động cơ học tập của học sinh THPT [3]
a Động cơ học tập của học sinh THPT là cái không có sẵn, cần được hình thành
Động cơ học tập của học sinh THPT không có sẵn, không bẩm sinh, di truyền và cũng không thể cung cấp hay áp đặt mà có Động cơ học tập của học sinh THPT được hình thành dần dần trong quá trình học tập, rèn luyện Trong quá trình đó, vai trò của người thầy là vô cùng quan trọng nhất là đối với học sinh phổ thông Thầy, cô là người dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh tri thức, hình thành nhân cách Trong quá trình đó, học sinh tự mình hình thành nên mục đích, nhu cầu, hứng thú, ý chí, năng lực, thái độ học tập… Điều đó có được là do tự thân của học sinh và trách nhiệm hướng dẫn của gia đình, nhà trường và xã hội Điều quan trọng là học sinh hình thành và phát triển được cho mình những động cơ học tập đúng đắn, lành mạnh
b Động cơ học tập của học sinh mang tính giá trị
Học tập của học sinh là hoạt động nhằm tạo ra những sản phẩm của hoạt động của con người (vật chất hay tinh thần) do vậy nó là một dạng thức văn hóa tức mang tính giá trị Động cơ hoạt động của con người nói chung và động cơ học tập của học sinh nói riêng vì vậy cũng mang tính giá trị tức là chịu sự đánh giá đúng sai, tốt xấu, thiện ác, chịu sự khen chê của xã hội, có ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách Do vậy, học sinh cần nhận biết rõ điều này để xác lập được những động
cơ học tập đúng đắn
Trong thực tế, dù là động cơ mang tính tiêu cực hay tích cực, nó đều có thể thúc đẩy chủ thể đạt kết quả học tập như nhau Thí dụ với các học sinh có các động cơ học tập khác nhau như: Học để hiểu biết; Học để làm người; Học để thỏa mãn ghen ghét, ganh tỵ; Học để trả thù đời… thì các động
cơ này vẫn có thể thúc đẩy học sinh học tập tích cực như nhau và đạt các kết quả học tập cũng tương đương nhau, nhưng dĩ nhiên là nhân cách khác nhau Vì vậy, học sinh cần quan tâm chọn lựa
Trang 6để hình thành, phát triển cho mình những động cơ tích cực, đúng đắn, loại bỏ những động cơ tiêu cực
c Sự tương quan giữa động cơ đối tượng và động cơ kích thích trong hình thành và phát triển động cơ học tập của học sinh – sinh viên
Động cơ học tập của học sinh đa dạng, đa tầng và đa biến đổi, nhiều dạng khác nhau Vai trò, vị trí của mỗi động cơ cũng có tầm quan trọng, thứ bậc khác nhau trong mỗi học sinh Mặt khác qua thời gian và sự phát triển theo lứa tuổi của học sinh, các động cơ cũng có những biến đổi theo hướng loại bỏ, bổ sung, duy trì, nâng cấp và phát triển các động cơ Ở lứa tuổi học sinh phổ thông, vai trò, vị trí của các động cơ kích thích chiếm ưu thế và tỷ trọng lớn hơn các động cơ đối tượng Ở lứa tuổi sinh viên thì ngược lại Trong tiến trình đó có sự thay thế dần dần mối tương quan, tỷ trọng giữa nhóm các động cơ đối tượng và động cơ kích thích trong động cơ học tập của HSSV Mối tương quan đó được biểu diễn bởi một đường hyperbol phân chia hai nhóm động cơ trên 2 trục nằm ngang song song nhau (biểu diễn động cơ học tập của HSSV) theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1 Tương quan động cơ học tập của học sinh và sinh viên
Hoạt động học tập có bản chất chung là chiếm lĩnh tri thức, vận dụng và phát triển tri thức Tuy vậy, bản chất hoạt động học tập của học sinh ở các lứa tuổi khác nhau cũng có những đặc điểm riêng biệt Đối với học sinh:
- Nội dung học tập: Tri thức nền tảng với các kỹ năng cơ bản
- Hình thức học tập: Học tập có hướng dẫn của giáo viên
- Bản chất học tập của học sinh THPT là: Học tập-Tri thức-Hướng nghiệp Đối với học sinh nghề là: Học tập - Tri thức - Nghề nghiệp
Với những đặc điểm như trên, việc hình thành và phát triển động cơ học tập của học sinh cũng
có những đặc thù riêng Đối với học sinh phổ thông việc hình thành động cơ học tập còn bị nhiều tác động làm biến đổi mục đích học tập, động cơ học tập Chỉ có một phần học sinh các lớp cuối cấp THPT hoặc học sinh nghề mới hình thành được động cơ học tập ổn định và bước đầu củng cố, phát triển động cơ học tập của mình Như vậy, ở học sinh THCS và THPT, điều quan trọng là hình thành động cơ học tập
II.3 Cấu trúc động cơ học tập của học sinh [3]
Động cơ học tập của học sinh là vấn đề phức tạp và có rất nhiều quan điểm khác nhau về bản chất, phân loại, các tác động, sự biến đổi, sự hình thành và phát triển động cơ Tuy vậy, theo cách
Trang 7tiếp cận cấu trúc – hệ thông, có thể xem xét cơ chế hoạt động và cấu trúc động cơ học tập của học sinh theo các yếu tố cơ bản như sau:
a Tác động có ý nghĩa
Là tất cả những tác động có ảnh hưởng tích cực đến hình thành, phát triển động cơ học tập của học sinh Dĩ nhiên đó không phải là bất kỳ tác động nào, tác động có ý nghĩa là những tác động nhằm kích thích, khơi dậy sở thích, những tiềm năng, mong muốn của cá nhân để hình thành động cơ học tập Cùng một tác động nhưng đối với mỗi học sinh sẽ có những ý nghĩa khác nhau hoặc không có một ý nghĩa nào Ví dụ trong một hội thảo chuyên đề về hội họa, đối với những học sinh không thích hội họa thì sẽ không có ý nghĩa gì, ngược lại với những học sinh muốn trở thành họa sĩ, buổi hội thảo có ý nghĩa lớn Tác động có ý nghĩa đối với học sinh có thể do tình cờ hoặc do học sinh tự tìm đến các tác động đó khi nó phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của mình Như vậy, đối với học sinh, tác động có ý nghĩa có thể mang tính khách quan và cũng có thể do chủ quan Trong thực
tế, tác động có ý nghĩa đối với học sinh đó là những bài giảng hay, lôi cuốn, thuyết phục của thầy,
cô giáo, lời khuyên của cha mẹ, bạn bè, lời tư vấn của chuyên gia và nhiều tác động xã hội khác thông qua các dạng thức thông tin khác nhau Giáo viên và nhà trường cần hiểu rõ xu hướng, ước
mơ, năng lực của học sinh để có tác động phù hợp, có ý nghĩa giúp hình thành động cơ học tập cho học sinh
b Cấu trúc của động cơ học tập
Trên cơ sở phân tích cơ chế hoạt động của động cơ học tập, có thể phân định cấu trúc của động cơ học tập gồm 4 yếu tố cơ bản như:
- Sở thích: Là mong muốn của cá nhân nhằm đạt được một kết quả nào đó và là một thuộc tính tâm lý tương đối bền vững Trong môi trường học tập, sở thích cần được nâng lên thành lý tưởng, ước mơ và biến thành mục đích, nhu cầu học tập của cá nhân Sở thích sau khi được nâng lên, cụ thể hóa thành mục đích học tập sẽ là một thành tố quan trọng, cốt lõi trong cấu trúc động cơ học tập của học sinh
- Năng lực: Là năng lực học tập, đó là khả năng chiếm lĩnh tri thức và các kỹ năng cần thiết trong học tập, rèn luyện Đối với học sinh đó là kiến thức nền tảng, các kỹ năng cơ bản, hướng nghiêp Năng lực là yếu tố làm cho học sinh tự tin, có quyết tâm vươn lên hướng tới mục tiêu, mục đích học tập, thỏa mãn nhu cầu học tập Năng lực học tập là tiền đề cho kết quả học tập Quá trình học tập cũng là quá trình học sinh rèn luyện năng lực hiện tại của bản thân tiếp cận dần đến năng lực tương lai cần đạt Trong cấu trúc của động cơ học tập, năng lực học tập có vai trò làm cho động
cơ học tập hoạt động có chất lượng, hiệu quả Vì vậy, nhà trường, gia đình cần khuyến khích, đánh giá tích cực những kết quả đạt được của học sinh Học sinh cần cố gắng nâng cao hứng thú học tập của mình được liên tục, bền vững
- Ý chí: Là nghị lực, sự bền bĩ vượt qua những trở ngại, khó khăn của HSSV trong học tập, rèn
luyện Trong cấu trúc động cơ học tập của HSSV, ý chí nghị lực có vai trò thúc đẩy cá nhân vượt qua khó khăn, trở ngại để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng vươn tới mục đích học tập Ý chí nghị lực làm cho động cơ học tập hoạt động bền bĩ, mạnh mẽ
c Hành vi hướng đích
Là những hành vi của học sinh nhằm:
Trang 8- Làm cho mục đích học tập ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn.
- Rèn luyện, nâng cao năng lực học tập của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu cần đạt của mục đích học tập
- Nuôi dưỡng hứng thú học tập của bản thân hướng tới mục đích học tập
- Bồi dưỡng, nâng cao ý chí, nghị lực của bản thân vì mục đích học tập
d Kết quả học tập
Là một hay một chuỗi kết quả học tập đạt được phù hợp với các mục tiêu, mục đích học tập thể hiện như sau:
- Sở thích cá nhân và mục đích học tập ngày càng tương hợp nhau
- Thái độ và khả năng học tập ngày càng phù hợp với mục đích học tập
- Hứng thú học tập được duy trì liên tục không gián đoạn
- Ý chí, nghị lực được thử thách, ngày càng bền vững
Sơ đồ 2: Chi tiết cơ chế hoạt động của động cơ học tập của học sinh Trong đó (2) là cấu trúc
của động cơ học tập
II.4 Các phương pháp hình thành động cơ học tập cho học sinh THPT
Trang 9Như đã phân tích ở trên, ta có thể xác định các loại động cơ học tập chính cần được hình thành ở học sinh:
a Học sinh thấy được lợi ích của nội dung kiến thức cần học Để kích thích được động cơ này ở
người học, giáo viên có thể nghiên cứu các phương pháp như sau:
- Tạo điều kiện để học sinh tự định hướng được việc học của bản thân Giáo viên cần tạo cơ hội
để học sinh được lựa chọn kiến thức, kỹ năng cần học cũng như cách thức và phương pháp học tập Giáo viên có thể thương lượng một “giao kèo học tập” hoặc “kế hoạch học tập” độc đáo cho từng cá nhân Tài liệu, phương pháp và tốc độ học tập cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với từng học sinh Việc được chủ động lựa chọn sẽ bảo đảm lôi cuốn cái tôi trong các nhiệm vụ học tập và học sinh sẽ được động viên mạnh mẽ
- Tạo cơ hội để học sinh được chịu trách nhiệm về việc học của bản thân, cũng như trong việc lựa chọn phong cách và nội dung học tập của chính mình Học sinh nên được khuyến khích chịu trách nhiệm về hiệu quả học tập của mình Học sinh được khuyến khích chủ động chứ không thụ động trong thái độ học tập Sự giúp đỡ quá mức của giáo viên cũng như phụ huynh sẽ làm giảm tính
tự chủ của học sinh, do đó hiệu quả nói chung trong suốt quá trình học tập không cao
- Tạo cơ hội để người học tự đánh giá Việc tự đánh giá sẽ khuyến khích người học chịu trách nhiệm tự làm nên sự tiến bộ và là con đường dẫn tới thành công trong bất kì lĩnh vực nào Việc học tập sẽ trở nên dễ dàng nhất, có ý nghĩa và hiệu quả cao nhất khi diễn ra trong một tình huống không
bị đe dọa Học sinh cần được động viên bởi mong muốn thành công, khám phá, phát triển và nâng cao trình độ, chứ không phải nỗi lo sợ thất bại Nên áp dụng chủ trương “không quy trách nhiệm” đối với các sai soi, coi sai sót là điều tất yếu và là cơ hội để tiếp tục học tập, trưởng thành Học sinh cần được phép tự mình trình bày sự tự đánh giá một khi các em đã sẵn sàng hơn là vào một thời điểm được định sẵn và các em cần có thời gian để cải tiến công việc của mình nếu các em chưa đạt tiêu chuẩn đánh giá
b Học sinh thấy được kiến thức chuyên môn có ích cho tương lai của bản thân Để hình thành
và duy trì được động cơ học tập này, giáo viên có thể thực hiện một số phương pháp như sau:
- Nhấn mạnh mục tiêu dài hạn của nội dung dạy học Ví dụ: giáo viên dạy vật lý có thể chỉ rõ cho học sinh thấy những ứng dụng của môn vật lý trong cuộc sống, sự nghiệp của học sinh Học sinh cần học tập để đủ kiến thức cho sự nghiệp và cuộc sống phía trước Nói cách khác, giáo viên cần cho học sinh thấy được tính lâu dài, vai trò của kiến thức với nghành nghề, tương lai của người học
- Không được bỏ qua mục tiêu ngắn hạn của môn học Giáo viên có thể cho học sinh thấy kết quả học tập của môn học sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập chung của toàn năm học; thậm chí có thể nhấn mạnh nội dung học tập sẽ phục vụ cho bài kiểm tra sắp tới…
- Nói chung, giáo viên cần giúp học sinh thấy rõ nội dung bài học là cần thiết cho tương lai, hơn thế nữa là phục vụ những nhiệm vụ trước mắt – những bài kiểm tra, những bài thi về nội dung đang học
c Học tập thành công làm cho lòng tự trọng của học sinh được củng cố Có thể xem đây là động
cơ chủ yếu, động cơ mạnh mẽ của hầu hết học sinh Động cơ này giữ vị trí chủ đạo ngay cả khi các động cơ khác đang có mặt Trong học tập, nếu học sinh học tốt ở một nội dung nào đó và được ghi
Trang 10nhận, thì thành công sẽ đưa học sinh đến bài học tiếp theo một cách tích cực và hiệu quả hơn Nếu người học thường xuyên thành công trong học tập, họ sẽ xây dựng được niềm tin vào khả năng học tập của bản thân Như vậy, để tạo động cơ học tập trong hầu hết các tiết học, bài giảng, giáo viên có thể sử dụng các biện pháp như sau:
- Bảo đảm chắc chắn rằng học sinh biết rõ các em phải làm gì và làm như thế nào Giáo viên phải sẵn sàng giúp đỡ khi học sinh cần
- Các nhiệm vụ học tập phải có tính trực tiếp, nhanh chóng đạt được kết quả đi kèm với việc thực hành có hiệu chỉnh sao cho học sinh đều có cơ hội thành công Điều này nghĩa là dạy học phải mang tính vừa sức, người học dù yếu hay tốt đều được hưởng thành công, cho dù thành công là nhỏ
Để làm được điều này, giáo viên phải biết chia nhỏ nhiệm vụ học tập và hoàn thành chúng theo các giai đoạn; sau mỗi phần có thể đưa ra những ghi nhận, lời khen đối với học sinh
- Giáo viên cần hào phóng trong việc biểu dương, khen ngợi và các hình thức ghi nhận khác đối với bất kì thành công nào trong học tập của học sinh Việc động viên này thường xuyên và tức thì sau mỗi thành công của học sinh thì động cơ học tập sẽ tăng lên và hiệu quả học tập càng được cải thiện
d Học vì thầy cô, bạn bè, gia đình… Trong thực tế, nhiều học sinh học chỉ để làm vui lòng cha mẹ,
thầy cô và bạn bè Để phát huy tốt vai trò của động cơ này, giáo viên cần:
- Xem xét, kiểm tra nhằm bảo đảm việc học tập của người học đã thực sự diễn ra Việc kiểm tra không được có hàm ý đe dọa học sinh để các em học trong hoảng sợ, nhưng cũng không hạ thấp tác động thúc đẩy của việc kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ
- Bên cạnh việc kiểm tra, giám sát, giáo viên cần đưa ra những thời hạn cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ học tập, đồng thời quản lý một cách hiệu quả các thời hạn đó Để động cơ này thực sự phát huy tác dụng thì học sinh cần tin rằng cuối cùng họ sẽ làm được, sẽ hoàn thành được yêu cầu của giáo viên Nếu học sinh thất bại liên tục, động cơ học tập của học sinh rất dễ bị tan biến
e Hoạt động học tập đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh Học sinh sẽ có động cơ học tập
nếu việc học là lí thú, hấp dẫn với các em Tuy nhiên, việc tạo niềm vui trong học tập với học sinh không phải là đơn giản, và mỗi giáo viên sẽ có những phương pháp khác nhau:
- Cần ghi nhớ nguyên tắc “mỗi người đều quan tâm tới những gì liên quan trực tiếp tới cuộc sống hoặc tới những niềm say mê của học” Đề khai thác triệt để nguyên tắc này, giáo viên phải nhắm vào tính thích ứng đối với người học Cần đưa ra những ví dụ liên quan đến bản thân học sinh đã trải nghiệm, hoặc cũng có thể gắn nội dung dạy học với những trường hợp cụ thể, điển hình nào đó
- Có thể sử dụng những câu đố và điều tranh cãi để tạo tình huống dạy học Nếu bài giảng được xây dựng quanh những câu đó sẽ hấp dẫn hơn xoay quanh việc chuyển giao kiến thức đơn điệu
- Tạo tính vui nhộn trong hoạt động học tập Bài giảng được thiết kế một cách công phu với những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đa dạng, phong phú sẽ lôi cuốn người học tham gia cho dù học không thực sự quan tâm tới chủ đề môn học
PHẦN II NHỮNG NĂNG LỰC CẦN CÓ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN THPT THẾ KỶ 21
I NHỮNG NĂNG LỰC CẦN CÓ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN THPT
Đối tượng của giáo viên THPT là thế hệ học sinh đang lớn, nhân cách đang hình thành và trưởng thành, chịu nhiều ảnh hưởng từ xã hội và có sự phát triển khác nhau Do đó, trong mọi thời kỳ,