1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN Học thuyết Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam

68 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 562,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở ở Trung Quốc từ thời Tâ

Trang 1

I – Học thuyết Nho giáo, quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam:

1- Sơ lược về học thuyết Nho giáo

Trung Quốc là trung tâm văn hoá lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ trung đại trãi qua gầnbốn mươi thế kỷ phát triển liên tục, lịch sử triết học Trung Quốc bao hàm nội dung vô cùng phong phú với những hệ thống triết học đồ sộ và sâu sắc

Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại đó

là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở ở Trung Quốc

từ thời Tây Chu, đến cuối thời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) thì được Khổng Tử 479TCN) và các môn đệ của Ông là Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân Tử ( 313 -238 TCN) hệ thống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh điển là Tứ Thư và Ngũ Kinh

(551-Tứ Thư gồm : Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử, bộ sách này do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra

Ngũ Kinh[2]gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu

Nội dung bộ sách này phần lớn có từ trước được Khổng Tử gia công san định, hiệu đính

và giải thích Do Khổng Tử có công đầu trong việc phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và truyền bá nên ông được xem là người sáng lập Nho giáo

Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử được coi là giai đoạn hình thành, giai đoạn này được coi là Nho giáo nguyên thuỷ

Năm 221TCN Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc và áp dụng chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán khắt nghiệt đã dùng bạo lực tiêu diệt Nho giáo

Khi Hán Vũ Đế lên ngôi (140-87 TCN), đã thực hiện những chính sách quan trọng, thực hiện theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư, khôi phục Nho giáo và đưa Nho giáo lên địa

Ba cương lĩnh cơ bản của Nho giáo (Tam cương ) là:

       - Đạo vua tôi  (quân thần)

                - Đạo cha con (phụ tử)

Trang 2

        - Đạo vợ chồng (phu phụ)

Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức (Ngũ thường ) Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín

Hạt nhân tư tưởng của triết học Nho giáo là Nhân và Lễ

Nho giáo coi chữ Nhân là đạo đức hoàn thiện nhất “Nhân dã, Nhân giả” (kẻ có nhân ấy,

ấy là con người vậy) “nhân giả ái nhân” (người có nhân thì yêu con người)

Để đạt chữ nhân, Khổng Tử chủ trương dùng lễ nhà Chu (Chu lễ) “Nhất nhật Khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên”(một ngày biết nén mình theo lễ thì thiên hạ quy về nhân vậy) Nhà Nho đã từ hai chữ nhân và lễ mà suy diễn ra cả một hệ thống triết học chính trị,triết học đạo đức và triết học lịch sử

Trên cơ sở những tư tưởng triết học ấy đã hình thành mẫu người của Nho giáo là người quân tử mà lý tưởng sống được thể hiện tập trung trong một hệ thống quan niệm về tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ

Giữa Khổng Tử và các học trò của Ông có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí mâu thuẩn với nhau như  “Quan điểm về thế giới” nhưng nhìn chung có sự thống nhất.  Sự thống nhất đó thể hiện ở hệ thống quan điểm về đạo đức luân lý, chính trị - xã hội, trong

đó có sự thống nhất về các giá trị đạo đức, các mối quan hệ con người (ngũ luân), trật tự đẳng cấp xã hội (chủ trương chính sách), sự tất yếu của chính quyền

Trong triết học của Nho giáo với nội dung đạo đức, luân lý phong phú, thống nhất với nhau và thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đây có lẽ là thành quả rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh và có nhiều đóng góp hữu ích vào việc hoàn thiện và làm phong phú kho tàng lý luận giáo dục đạo đức của nhân loại

Do hạn chế về mặt lịch sử, triết học Khổng Tử chứa đựng các mâu thuẩn giằng co, đan xen giữa những yếu tố duy vật, vô thần với những yếu tố duy tâm, giữa những tư tưởng tiến bộ với những quan điểm bảo thủ, phản ánh tâm trạng giằng xé của Ông trước biến chuyển của thời cuộc Tính không nhất quán ấy là cơ sở để các thế hệ sau khai thác, bóp méo theo khuynh hướng duy tâm, tôn giáo thần bí Về mặt chính trị xã hội, Ông dừng lại trong lĩnh vực đạo đức, luân lý, không chú ý đến lĩnh vực sản xuất kinh tế và nhu cầu củacon người là cơ sở để phát triển của xã hội

Tư tưởng Mạnh Tử tuy còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí, nhưng với tư tưởng dân quyền,

“nhân chính”, “bảo dân”… có ý nghĩa tiến bộ, phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của lịch sử xã hội đương thời

Tư tưởng của Tuân Tử có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng khi lý giải về những vấn

đề xã hội có nhiều yếu tố duy tâm, thiếu khách quan khoa học vì liên hệ mật thiết với giaicấp địa chủ mới và cung cấp cho giai cấp này căn cứ lý luận Với học thuyết “Chính danh định mệnh” làm cho con người chấp nhận sự tồn tại lâu dài của chế độ phong kiến, là nguyên nhân của sự trì trệ, chậm phát triển của các nước phuơng Đông

Trang 3

Quan hệ của con người trong Tam cương có tính phiến diện Mặc dù Nho giáo có nói đếnnghĩa vụ và cách đối xử của hai bên, nhưng thực tế thì trước sau chỉ lên án những kẻ làm tôi, làm con, làm vợ mà thôi Thực tế đó là mối quan hệ độc đoán một chiều Hơn nữa, quy toàn bộ quan hệ xã hội của con người vào Tam cương, Ngũ thường là không đủ, Đặc biệt Nho giáo coi thường người phụ nữ, đã quy định trói buộc người phụ nữ vào người đàn ông (coi trọng nam khinh nữ).

2 Quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo trong truyền thống văn hoá Việt Nam :

 °Định nghĩa văn hóa :

Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa với nhiều phạm vi khác nhau trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn lịch sử (vănhóa Đông Sơn)

Định nghĩa văn hóa trong các từ điển hầu hết mở đầu bằng câu : “Văn hóa là tập hợp của các giá trị…” ủy ban UNESCO của liên hợp quốc thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức đặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa, và đã định nghĩa văn hóa như sau : “ Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng – diện mạo tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm … Khắc họa lên bản sắc một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyềnthống tín ngưỡng …”[3]

Theo Triết học Macxít thì : “Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội mà loài ngườiđạt được, bao gồm quan hệ con người với tự nhiên và xã hội, cả sự phát triển sáng tạo và khả năng của cá nhân”.[4]

Phó giáo sư – Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm đã tổng kết và đưa ra định nghĩa văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Định nghĩa vừa nêu trên có dụng  ý chỉ ra bốn đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa đó

là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh

Văn hóa còn đặc trưng cho nhận thức và hành vi của con người trong những lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội, bao gồm : Văn hóa lao động, văn hóa nghệ thuật, văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử …

Văn hóa là một yếu tố nằm trong thượng tầng kiến trúc xã hội Có thể chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần tương ứng với hai dạng sản xuất cơ bản đó là : Sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần

Trang 4

Ta thấy khái niệm văn hóa có mặt trong mọi phạm vi xã hội và gắn liền với một xã hội, một dân tộc, một cộng đồng và một cá thể trong từng thời  điểm lịch sử nhất định Văn hóa là một nhân tố chủ quan của con người tác động trở lại quá trình phát triển khách quan của lịch sử Ngày nay nhân tố con người ngày càng trở nên quan trọng, nhất là trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

°Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo việt nam :

•Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo được du nhập vào Việt nam từ lâu và đã có vai trò đáng

kể trong đời sống tinh thần của nhân dân Những trào lưu ấy được cải biến cho phù hợp với truyền thống văn hóa của nhân dân và nhu cầu của đất nước và đã trở thành nhân tố của nền văn hóa và hệ tư tưởng thống trị ở Việt Nam Nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam không thể tách rời nó với truyền thống Việt Nam

 • Nho giáo ở dạng Hán nho được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên,

Lý Thiện, Sĩ Nhiếp tích cực truyền bá từ công nguyên Nhưng Phật giáo đã có ưu thế hơn Nho giáo rất nhiều Trong khi Nho giáo chỉ dừng lại ở tầng lớp quan lại xung quanh chính quyền ngoại bang thì Phật giáo đã thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân ở mọi miền đất nước Có thể nói rằng suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam

• Đến thời Lý, với sự kiện Lý Thái Tổ cho xây cất Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (1076), mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho (Nhà Lý cùng thời với nhà Tống ở Trung Hoa) chứ không phải Hán Nho, Đường Nho…

• Vào năm 1232 vua Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta, đó là học vị Thái học sinh (về sau đổi thành tiến sĩ) và có Chu Văn An đỗ thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo được khá đông học trò Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình Tuy nhiên, đến cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi (Không cứ gì ở nơi nông thôn, ngay ở chốn triều đình, các tập tục, lề lối của khuôn mẫu Nho giáo cũng rất xa lạ với ta Một lần có người đề nghị cải tổ triều đình theo khuôn mẫu Phương Bắc đã bị vua Trần cự tuyệt và nói rằng ta có cách của ta)

•Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, các nhà Nho, đứng đầu là Nguyễn Trãi, tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn Với sự lớn mạnh của Nho giáo Việt nam, với nhu cầu cải cách đất nước đã dẫn đến việc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành Quốc giáo; Nho giáo giữ địa vị độc tôn Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của các triều đại phong kiến Nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị của Nho giáomột lần nữa khẳng định để rồi tàn lụi dần khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây

II - Sự tiếp thu Nho giáo trên cơ sở truyền thống văn hóa Việt Nam :

Trang 5

 Nét độc đáo của văn hoá Việt Nam là khi tiếp thu cái ngoại lai, nó tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ và Việt Nam hoá để rồi cấu tạo lại theo cách của mình.

Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác nhữngyếu tố là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước

Trước hết nhà nước quân chủ Việt Nam đặc biệt là các triều Lê, Nguyễn đã học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật, hệ thống thi cử để chọn người tài

bổ dụng, trong bộ máy cai trị đã được triều đình phong kiến Việt Nam vận dụng ngay từ đầu thời Lý hoàn thiện dần ở thời Trần và hoàn chỉnh vào thời Lê Chữ cổ đã mai một và mất hẳn thì người Việt sử dụng chữ Hán (chữ Nho) làm văn tự chính thức trong giao dịchhành chính, trên cơ sở chữ Hán, từ cuối thời Bắc thuộc, người Việt đã tạo ra chữ Nôm dùng trong sáng tác văn chương Thời Tây Sơn vua Quang Trung đã mở rộng sử dụng chữ Nôm trong lĩnh vực hành chính và giáo dục

Có rất nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã biến đổi cho phù hợp với truyền thống của văn hoá dân tộc tức là: “Chữ nghĩa nó vẫn thế nhưng cách hiểu thì đã khác nhiều”

Về chữ Trung và Hiếu:

Trong giai đoạn của lịch sử Việt Nam, khi xuất hiện mâu thuẩn giữa Vua và đất nước với dân tộc, thì đất nước dân tộc luôn là cái quyết định, được đặt lên trên hết Tư tưởng Trungquân của Nho giáo được người Việt Nam tiếp thu trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có khiến cho nó đã bị biến đổi, “Trung quân” gắn liền với “Ái quốc”.Chủ Tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, nguời con tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, đã kếthừa và phát huy những giá trị tinh tuý nhất của Nho giáo trong cuộc đời cách mạng của mình, đưa dân tộc đi lên con đường phát triển mới của thời đại Chữ Trung trong thời đại Bác Hồ mang nội dung mới hoàn toàn: Không phải “Trung với Vua” mà là “Trung với nước” và chữ Hiếu với nội dung được mở rộng đến vô cùng đó là “Hiếu với dân”, chứ không còn hạn hẹp như khái niệm của Nho giáo xưa kia

Theo Nho giáo xưa kia thì “ Phụ mẫu tại bất viễn du” tức là: cha mẹ còn con không được

đi xa,và “ Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”.Tức là: Có ba tội bất hiếu, tội không có con nối dõi là tội nặng nhất

Chính vì đặt đất nước lên hết, mà một người dòng dõi Nho gia như Hồ Chí Minh dám đi ngược lại giáo huấn của Nho gia.Vì tổ quốc vì dân tộc, người tạm thời gác bỏ chữ hiếu theo nội dung hạn hẹp của Nho gia, để ra đi tìm đường cứu nước Người không lập gia đình để hy sinh tất cả cho đất nước, non sông Như vậy, chữ hiếu đã được mở rộng vượt

ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của Nho giáo, hoà với chữ Trung là một,và chữ Trung cũng mang một nội dung hoàn toàn hiện đại, như lời  dạy của Bác đối với quân đội cách mạng.              Trung với Đảng, hiếu với dân

Trang 6

       Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành

       Khó khăn nào cũng vượt qua

        …Người không con mà có triệu con

              Nhân dân ta gọi người là Bác

Cuộc đời Người là của nước non

…      

2/ Trọng dụng người tài:

Một trong những điểm tiến bộ của Nho giáo xưa là chủ trương “Coi trọng người hiền tài” 

       … “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

        Nguyên khí mạnh thì quốc gia thịnh

        Nguyên khí yếu thì quốc gia suy”…       

Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ anh minh lỗi của dân tộc chúng ta, ngay từ những năm sau kháng chiến chống Pháp trường kỳ và gian khổ, đãcó một tầm nhìn rộng lớn, đề ra vàgiải quyết nhiều vấn đề vượt trước thời đại Ngưới thấu hiểu vai trò của trí thức, đã trân trọng mời nhiều trí thức việt kiều về xây dựng đất nước

Ngay từ năm 1946 Người nói đến việc diệt trừ “giặc dốt” ngay sau khi tuyên bố độc lập 4/10/1945 Người phát động phong trào “Bình dân học vụ” nhằm chống nạn thất học.Người khuyên bảo thầy trò ngành giáo dục “Dù khó khăn gian khổ đến đâu, cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”…

Suốt cuộc đời mình lúc nào Người cũng hết mực chăm lo thế hệ tương lai của đất

nước.Trước lúc phải đi xa, Bác vẫn không quên dặn dò chu đáo trong di chúc của

Người:  

Trang 7

…Bồi dưỡng cách mạng đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết Đảng phải chăm

lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho họ để họ trở thành…vừa hồng vừa chuyên…

Vì vậy việc coi trọng giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước chính là một trong những mục tiêu quan trọng và cấp thiết mà Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm

Hiện nay Đảng và nhà nước ta, ngay cả các địa phương, đã lập ra các quỹ học bổng , quỹ khuyến học, các giải tài năng trẻ…để giúp đở học sinh, sinh viên nghèo hiếu học, và đó cũng chính là thể hiện sự ưu ái, coi trọng người hiền tài trong xã hội ngày nay

       “ Nguyên khí mạnh thì quốc gia thịnh…”

Đó không chỉ là quy luật muôn đời đúng với từng dân tộc,từng quốc gia,mà còn luôn luônmới và đúng trong phạm vi hẹp hơn là ở mỗi địa phương, mỗi tổ chức,thậm chí đúng cả ởphạm vi gia đình là tế bào của xã hội

Một thực tế mà chúng ta đã biết Bình Dương xưa vốn là một tỉnh  giàu tìm năng về mọi mặt, nhưng do cơ chế cũ, nên nghèo nàn lạc hậu chậm phát triển.Từ khi có chủ trương

“Chiêu hiền đãi sĩ” “Trãi chiếu hoa mời gọi đầu tư”đã trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển giàu và mạnh

Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam chữ Nhân được người Việt Nam rất tâm đắc và nó trở thành truyền thống tốt đẹp bao đời nay của dân tộc ta

Trong xã hội ngày nay nó vẫn được coi trọng và thể hiện qua cách hiểu và cách sống:

“Mình vì mọi người ,mọi người vì mình” Các phong trào thực hiện nếp sống văn minh, văn hoá, phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn thực hiện gia đình văn hoá

“Ôngbà, cha mẹ mẫu mực con cháu thảo hiền”…Các nghĩa cử tương thân tương ái trong

xã hội như “ Lá lành đùm lá rách”… Đó chính là biểu hiện  tốt đẹp của chữ Nhân trong

cả phạm vi rộng và hẹp của xã hội ngày nay

Xưa kia theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì người quân tử, người cai trị phải có đầy đủ các đức tính như: Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín,Dũng…

Chữ Nhân phải gắn liền với chữ Lễ trong việc tu thân, học đạo để sửa mình để trị nước, muốn đạt được đức Nhân thì cần phải rất mực chú trọng đến chữ Lễ.Theo Khổng Tử Lễ chính là những quy phạm, những nguyên tắc đạo đức của nhà Chu: Vua cho ra vua, tôi

Trang 8

cho tôi, cha cho ra cha, con cho ra con…phải dùng lễ để khôi phục trật tự, phép tắc luân

lý xã, khiến mọi người phải trở về đạo và nhân, trở thành chính danh Lễ và Nhân là hai yếu tố có quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau; Nhân là chất, là nội dung là linh hồn của lễ, lễ là hình thức biểu hiện của Nhân

Người muốn đạt được đức Nhân, theo Khổng Tử, phải là người có Trí và Dũng

Nhờ có Trí con người mới sáng suốt,minh mẫn để hiểu biết  đạo lý,xét đoán được sự vịêc,phân được phải trái, thiện ác để trao dồi đạo đức và hành động hợp lý với thiên lý.Nhưng muốn đạt được chữ Nhân,có trí thôi chưa đủ mà cần phải có dũng,dũng không phải ỷ vào sức mạnh, chỉ biết vì lợi ích cá nhân mà suy nghĩ và hành động bất chấp cả đạo lý.Người Nhân có Dũng phải là: “ Người có thể tỏ rõ ý kiến mình một cách cao minh,có thể hành động một cách thanh cao khi vận nước loạn lạc,khi người đời gặp phải hoạn nạn…” Ngưới Nhân có Dũng mới làm chủ được mình,mới quả cảm xả thân vì Nhân Nghĩa mới

có thể “Lập thân” và “ Đạt Nhân”;Khi gặp cơn thiếu thốn,cực khổ không nao núng làm mất nhân cách của mình;khi đầy đủ, sung túc không ngã nghiêng xa rời đạo lý hơn người Nhân có Dũng sẽ sẵn sàng “Vì Nhân mà sát thân ,chứ không giữ mạng sống của mình màhại Nhân”

Cùng với Nhân, Trí , Dũng, thì Nhạc, Thi, Thư cũng là phương tiện để giáo hóa con người góp phần ổn định và phát triển xã hội Nhạc chính trực trang nghiêm, hoà nhã có tác dụng di dưỡng tính tình cảm hoá lòng người, hướng tâm người ta tới cái chân, thiện,

mỹ do sự ứng cảm trong tâm tư với sự hài hoà của âm nhạc

Khổng Tử cho rằng: “Hưng khởi là nhờ thi tạo lập là nhờ lễ, thành đạt là nhờ nhạc…”Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Người cai trị, người quân tử phải là người có một vốn văn hoá toàn diện

Ngày nay, những điều đó được thể hiện ở quan điểm toàn diện trong giáo dục và đào tạo.Trong đạo đức của xã hội, và nó được thể hiện rất đầy đủ trong chữ Tài và Đức, Hồng

Yêu Tổ quốc yêu đồng bàoHọc tập tốt lao động tốtĐoàn kết tốt kỷ luật tốt

Trang 9

Gữi gìn vệ sinh thật tốt     Khiêm tốn thật thà dũng cảm

Đó chính là nội dung giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Việt Nam

Đối với người cán bộ, người lãnh đạo trước hết phải tu thân, để trở thành con người toàn diện phải thực sự gương mẫu về mọi mặt Hồ chủ Tịch dạy phải cần kiệm liêm chính, phải chí công vô tư, xứng đáng là đầy tớ trung thành của nhân dân

4-Tư tưởng Nhân chính, Bảo dân.

 Mạnh Tử là người kế thừa chính thống học thuyết của Khổng Tử Trên cơ sở học thuyết

về “tính thiện’’ và “Nhân trị”  của Khổng Tử, Ông đề ra tư tưởng “Nhân chính” trong phương pháp trị nước Đặc biệt Ông có quan niệm mới mẻ và hết sức sâu sắc về vấn đề dân quyền:

        … “Dân di quý, xã tắc thứ chi quân vi khinh”

Vì theo Ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua thậm chí dân quan trọng hơn vua.Nếu không có sự ủng hộ của dân, thì chế độ sớm muộn sẽ sụp đổ; Vua nếu không hợp lòng dân và ý trời, thì trước sau cũng sẽ bị phế bỏ…

Mạnh Tử cũng chủ trương một chế độ “Bảo dân’’ người cai trị phải lo cái lo của dân,vui cái vui của dân,tạo cho dân của cải ruộng đất, sản nghiệp và cuộc sống bình yên no đủ.Việc vua Nghiêu,Vua Thuấn được thiên hạ là do được lòng dân Còn Vua Kiệt,Vua Trụ mất thiên hạ là do mất lòng dân

Học thuyết về chính trị, xã hội với tư tưởng nhân chính, bảo dân có ý nghĩa tiến bộ phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của lực lượng xã hội Chính vì vậy một số học giả coi Mạnh Tử là người có tư tưởng dân chủ

Từ mấy trăm năm trước, Nguyễn Trãi cũng từng nói :

   … “ Lật thuyền mới biết dân như nước”

Cách đây vài mươi năm, đồng chí Trường Chinh một trong những vị lãnh đạo cao cấp của Đảng cũng đã chỉ ra rằng phải lấy dân làm gốc trong sự nghiệp đổi mới…

5- Thuyết chính danh

Thuyết chính danh xưa của Nho gia, nếu xét theo những khía cạnh tiến bộ và tích cực của

nó vẫn hết sức cần thiết trong xã hội hiện nay

Theo Khổng Tử xã hội loạn lạc do Danh –Thực rối loạn,dẫn đến xã hội xa rời đạo lý và nhân nghĩa.Ông chủ trương phải giáo hoá đạo đức và thực hiện chủ nghĩa “ chính

Trang 10

danh,định phận’’, vì mọi người, mỗi vật sinh ra đều có địa vị, công dung nhất định, ứng với một tên gọi nhất định

   … “Chính danh là làm việc cho ngay thẳng”

   … “Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy;

        Trên dưới, vua tôi cha con, trật tự phân minh”

    … “Danh không chính thì ngôn không thuận;

    … Ngôn không thuận thì việc không thành”

Vì vậy từ cán bộ lãnh đạo cho đến thứ dân,người nào cũng phải trọn trách nhiệm của người ấy,cho đúng với danh vị và chức phận của mình

Nếu mọi người trong xã hội chúng ta ngày nay đều xứng đáng,đều tuân thủ đúng với danh vị và chức phận của mình thì xã hội tất sẽ không rối loạn không có nạn tham

nhũng,hối lộ, tham ô và không có những tệ nạn tiêu cực, xấu xa hủ bại

Biết bao thế hệ thầy và trò đã trưởng thành,đã đóng góp tài năng,trí lực,và cả xương máu của mình vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Ngành giáo dục thực sự đã có công rất lớn trong việc đào tạo ra những thế hệ xứng đáng với dân tộc chúng ta

Khi chiến tranh chấm dứt đã được khá lâu ,chuyện trường và lớp vẫn chưa được biến đổi nhiều Đó là do hậu quả của chiến tranh,và còn rất nhiều nguyên nhân quan trọng

khác.Nhưng có điều đáng nói là ở chổ ;chữ Tài và chữ Đức trong trường học và trong nhiều lãnh vực…gây nhiều mối lo ngại cho các bậc phụ huynh và cho toàn xã hội Việc học sinh bỏ học,vô lễ,thậm chí phạm pháp…gần như diễn ra ở rất nhiều nơi…Chữ Lễ đã mất đi giá trị đích thực của nó Do những chuyện tiêu cực  trong việc dạy và học còn tồn tại khá nhiều, cho nên dẫn đến việc trò chưa đạt chất lựơng.Thầy chưa đạt chuẩn hoá Đã

có một thời gian dài việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cho học sinh là vấn đề hàng đầu

mà ngành giáo dục phải quan tâm

Trong những năm gần đây,vai trò và vị trí của giáo dục đã nhìn nhận đúng với vị trí  đích thực của nó, giáo dục trở thành quốc sách, được Đảng và nhà nuớc và toàn xã hội đặc biệtquan tâm Sự biến đổi về trường và lớp là điều dễ nhận thấy nhất: Những ngôi trường già nua,những lớp học giột nát…dần đã biến mất,hàng loạt các ngôi trường cao tầng khang trang, sạch đẹp với những tiện nghi đầy đủ,hiện đại đạt chuẩn quốc gia đã mọc lên hầu hết khắp các địa phương trong cả nước Ai cũng sung sướng và yên tâm khi nhìn thấy con

em mình được học tập trong những điều kiện thuận lợi Như vậy vấn đề trừơng cho ra trường,lớp cho ra lớp là yêu cầu đã đang và sẽ trở thành hiện thực.Việc còn lại phải làm sao để “Thầy cho ra thầy, trò cho ra trò” Việc chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo…

Trang 11

trong tất cả các ngành học, cấp học…tuy khó khăn và gian khổ nhưng sẽ dần giải quyết được vấn đề chất lượng.

 Trong quá trình tiếp nhận Nho giáo, giữa văn  hóa Việt Nam và Nho giáo đã bộc lộ những nét tương đồng và dị biệt, và nó đã được Việt Nam hóa, làm cho Nho giáo ở Việt Nam không còn trạng thái nguyên sơ của nó nữa

 ° Những điểm tương đồng đã được chú trọng phát huy :

a nét tương đồng lớn nhất là sự trọng tình người Vì trọng tình người vốn là truyền thốnglâu đời của nền văn  hóa Việt Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam tâm đắc với chữ “Nhân” hơn cả Nhưng ở đây là lòng thương người “Tấm lòng đã thấu trời xanh Bán mình là hiếu, cứu người là nhân” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Nhân nghĩa trong Nho giáo là tình cảm, nghĩa vụ của bầy tôi đối với nhà Vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng ở Nguyễn Trãi và các nhà trí thức Việt Nam thì “Điều cốt yếu ở nhân nghĩa là phải đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình và đạo quân chính nghĩa nhằm tiêu diệt những quân tàn bạo” (Bình Ngô Đại Cáo) Đối với người bình dân,

“Nhân” còn đồng nghĩa với “Tình” các từ nhân tình, nhân ngãi, nhân duyên trong tiếng Việt là nói về tình yêu trai gái

b Nét tương đồng lớn thứ hai là xu hướng ưa ổn định : Truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn chỉ muốn có cuộc sống ổn định Mục đích của Nho giáo nguyên thủy là tạo

ra một xã hội ổn định Tuy nhiên, ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ Ngai vàng, còn đối ngoại luôn bành trướng, xâm lăng Ở Việt Nam, nhu cầu duy trì ổn định không chỉ có ở dân mà ở cả Triều đình, không chỉ ở đối nội mà ở cả đối ngoại Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng thực hiện đều mang tính tự vệ

c Nét tương đồng thứ ba là xu hướng trọng văn : Trọng văn là truyền thống văn hóa nôngnghiệp Việt Nam Nho giáo cũng rất trọng vẻ sỹ, trọng văn, trọng văn hóa Xã hội Trung Hoa sau thời đại nhà hán có trọng văn, nhưng nhìn chung cũng chỉ ngang hàng quan võ Còn ở Việt Nam thì trọng văn hơn cả võ Việt Nam chiến tranh liên miên, thế nhưng người Việt ít ai biết đến các kỳ thi võ mà chỉ lo nấu sử sôi kinh Nhà cầm quyền Việt Nam nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ cai trị, còn người bình dân thì thấy ở Nho giáo một công cụ văn hóa, một con đường làm nên nghề nghiệp lớn :”Chẳng tham ruộng cả aoliền, tham vì cái bút cái nghiêng anh đồ”

° Những luận điểm của Nho giáo được Việt Nam vận dụng khai thác :

 a Nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là triều Lê và triều Nguyễn đã học tập rất nhiềucách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật triều đình Nho giáo Trung Hoa (Nhà Vua tập trung trong tay mình quyền uy tuyệt đối và bộ máy quan liêu do nhà Vua sắp xếp từ trung ương đến địa phương Trong chế độ cống nạp, Nhà nước là kẻ hưởng đại bộ phận thặng dư lao động của cả nước, giới quan lại, do đó cũng trở nên giàu có và có thế mạnh nhất trong xã hội Làm quan là địa vị nhiều người mơ ước, chế độ quan liêu ấy ngày một thối nát, đã thực tế kìm hãm sự phát triển về mọi mặt của xã hội Việt Nam

Trang 12

b Hệ thống thi cử của Nho giáo đã được nhà nước phong kiến vận dụng ngay từ đầu triều

Lý Từ kỳ thi đầu tiên năm 1075

c Người Việt Nam cũng đã sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao dịch Trong tâm thức người Việt Nam, chữ Hán và Nho giáo không tách rời nhau, chữ Hán được coi là cái thiêng liêng nhất “chữ Thánh hiền” Trên cơ sở chữ Hán người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm dùng trong sáng tác văn chương

° Những tư tưởng Việt Nam đã bổ sung, phát triển vào Nho giáo :

Ở Nho giáo, tư tưởng trung quân đóng vai trò quan trọng, còn tư tưởng yêu nước thì không được đề cập đến Trong khi đó thì ở Việt Nam tinh thần yêu nước Và tinh thần dântộc, là truyền thống rất mạnh Người Việt Nam tiếp thu tư tưởng trung quân Nho giáo trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiến có cái trung quân bị biến đổi Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa Vua với đất nước, thì đất nước, dân tộc là cái quyết định Lê Hoàn thay nhà Đinh; Lý Công Uẩn thay nhà Lý … Khi triều đại cũ không còn

đủ năng lực để lãnh đạo đất nước Nên đều được quân dân ủng hộ Nguyễn Trãi theo Lê Lợi và không theo con cháu nhà Trần, Ngô Thời Nhậm theo Tây Sơn mà không theo nhà Lê; các nhà Nho yêu nước cuối thế kỷ XIV từ Trương Định trở đi không theo triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, mà tiến hành khởi nghĩa chống giặc (và chống triều đình) đều

vì đặt nước trên Vua

Truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp ở nước ta đã làm “mềm” đi sự độc tài hà khắc của nhà nước Hán Nho (Thật sự Nho giáo nguyên thủy cũng có yếu tố dân chủ, nhưng đến Hán Nho đã bị loại trừ hẳn

Tâm lý khinh rẻ nghề buôn là sản phẩm truyền thống của văn hóa nông nghiệp, của tính cộng đồng và tính tự trị Nó đã bám rễ vào mọi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không thể phát triển được, nó còn được khái quát thành đường lối trọng nông

ức thương (trong Nho giáo cũng có tư tưởng xem nhẹ nghề buôn, nhưng đó chỉ là sản phẩm của quan điểm coi trọng “đạo” và “đạo đức” Thật ra Khổng Tử cũng khuyến khíchlàm giàu nếu không trái lễ Mạnh Tử cũng đã từng bàn đến các vấn đề trao đổi hàng hóa, giá cả, chính sách thu thuế chợ, đường … Chính vì vậy mà ở Trung Hoa, Nho giáo không

hề cản trở nghề buôn phát triển), “truyền thống” này, kết hợp với Nho giáo khiến cho Việt Nam nông nghiệp âm tính vốn đã thiên về ổn định, lại càng thêm trì trệ Đến nay, ta hầu như dứt bỏ được quan niệm khinh rẻ nghề thương nghiệp, nhưng để dứt bỏ hết nhữnghậu quả của nó còn cần phải có thời gian

III - Nho giáo trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới ở việt nam ngày nay.

1- Nho giáo trong giai đoạn cách mạng đã qua :

Cách mạng Tháng tám là một cuộc cách mạng triệt để đã lật đổ chế độ phong kiến kéo dài hàng ngàn năm và chế độ thực dân thống trị gần một thế kỷ Cách mạng Tháng Tám

đã đối xử với Nho giáo như thế nào ?

Trang 13

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình Nho giáo yêu nước, sống giữa một quê hương đã bao đời theo Nho học, từng chứng kiến những tinh thần yêu nước và chống giặc đầy nhiệt tình và khí phách của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chứng kiến

sự bất lực của Nho giáo trước sự tấn công của chủ nghĩa Đế quốc và đã vượt qua Nho giáo để đi tìm đường cứu nước Sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Marx sáng tạo cũng là sự phủ định đối với Nho giáo giáo điều Sự phủ định này thểhiện tính khoa học trong sự gạt bỏ và giữ lại đối với di sản của quá khứ Người đã cương quyết gạt bỏ cái cốt lõi lạc hậu của Nho giáo để rồi sau đó giữ gìn và phát huy những nhân tố hợp lý của Nho giáo Trên tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lật ngược học thuyết Nho giáo như trước nay K.Marx đã lật ngược học thuyết của Hegel

Ở Nho giáo, Vua là bậc chí tôn đứng trên đầu của xã hội còn nhân dân là tầng lớp thấp kém đáng khinh rẻ và cần được “Chăn dắt” Cách mạng thắng lợi đã làm lật ngược lại, lật

đổ tầng lớp vua chúa và đưa quần chúng nhân dân lên địa vị người chủ đất nước

      • Chính Nho giáo (nguyên thủy) đã coi “nhân dân là gốc” Nhưng điều quan trọng nhất đối với nhân dân là quyền dân chủ, quyền bình đẳng của xã hội, quyền tự do của mỗingười thì Nho giáo lại không thừa nhận, không coi nhân dân là lực lượng chính làm nên lịch sử Cách mạng đã đặt lại vị trí của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, đem lại cho nhân dân những quyền lợi cơ bản, xây dựng được khối đoàn kết toàn dân, nhân dân trở thành sức mạnh vô địch chiến thắng những kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của thế kỷ

      • Nho giáo với tinh thần “Trọng nam khinh nữ”, trói buộc người phụ nữ trong bếp núcgia đình, gạt bỏ phụ nữ khỏi công việc chung của xã hội Cách mạng đã xóa bỏ tư tưởng lạc hậu đó, mở cửa cho người phụ nữ ra xã hội cùng bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnhvực chiến đấu, sản xuất và quản lý đất nước

      • Nho giáo luôn hoài niệm về quá khứ, đời nay không bằng đời xưa, người ít tuổi không bằng người nhiều tuổi Cách mạng thì ngược lại, luôn luôn nhìn về phía trước, đặt niềm tin vào thanh niên và là tiền đồ của dân tộc

      • Cách mạng luôn coi trọng truyền thống dân tộc Với tinh thần đó, cách mạng không xóa bỏ toàn bộ nội dung của Nho giáo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng rất nhiều câu chữ Nho của Nho giáo, nhiều kinh nghiệm giáo dục và tu dưỡng của Nho giáo, nhiều biện pháp động viên tinh thần và ý chí của Nho giáo để giáo dục cán bộ, động viên nhân dân tự giác tham gia chiến đấu giành độc lập tự do với một khí phách kiên cường, mưu trí

và sáng tạo

         • Nho giáo đặt sự tu dưỡng đạo đức lên hàng đầu Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng coi “Đạo đức là gốc” Người nói : “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa” Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang” Người lấy câu nói của Mạnh Tử để nêu lên khí phách của người chiến sĩ cách mạng “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục” (Lời ra mắt Đảng lao động Việt Nam, 1951), “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” – (Thiên đằng

Trang 14

văn Công – Hạ) Cách mạng đòi hỏi mọi người luôn rèn luyện đạo đức, thường xuyên phê bình và tự phê bình.

2-  Nho giáo trong giai đoạn cách mạng hiện nay :

• Sau hai cuộc kháng chiến, nhân dân ta giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc bước vào thời kỳ mới Nho giáo vẫn bám sát chúng ta, tiếp tục đem lại cho chúng ta nhiều bài học cả về chính diện và phản diện Nho giáo nhiều lúc nêu lại lời hay ý đẹp như đổ thêm dầu vào lửa tạo thuận lợi cho cỗ xe cách mạng tiến về phía trước, nhưng lại có trường hợp Nho giáo thọc gậy vào bánh xe Không thể phủ nhận di sản của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong đầu óc người Việt Nam hôm nay, mặc dù ít ai nghĩ rằng ý nghĩa và việc làm của mình lại chính là Nho giáo

Ngày nay, đất nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam Do trình độ lực lượng sản xuất rất thấp lại tồn đọng nhiều tàn dư quan hệ xã hội, ý thức tư tưởng, tâm lý của chế độ thực dân, phong kiến cũ để lại đã tạo ra những khó khăn trở ngại trong bước chuyển tiếp lịch sử từ một xã hội kém phát triển sang một xã hội hiện đại Để chuẩn bị tiền đề kinh tế trong thời gian quá độ cần có sự phát triển nhất định nhân tố tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ này, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của nhà nước Bên cạnh những thành tích phấn khởi đã đạt được, trong cán

bộ và nhân dân lại có những biểu hiện tiêu cực ở trong cả nhận thức, tình cảm và hành động Tư tưởng thực dụng chạy theo đồng tiền làm cho một số bộ phận xa rời lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức Nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và nhiều

tệ nạn xã hội khác đang phát triển nghiêm trọng

Trong chủ trương biện pháp nhằm khắc phục những tình trạng nói trên, không thể không đụng chạm đến khá nhiều vấn đề của Nho giáo

       • Nho giáo và tính bảo thủ của nó ảnh hưởng lớn đến Việt Nam, thể hiện nghiêm trọng ở : Chủ nghĩa quan liêu trong giới cầm quyền, chủ nghĩa bình quân trong nông dân, chủ nghĩa giáo điều trong giới trí thức Việc khắc phục những bệnh này, cần phải có thời gian và những biện pháp tích cực

        • Trong mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa Nho giáo khẳng định vai trò nhân nghĩa trong cuộc sống con người Khổng Tử nói : “Thà ăn cơm thừa, uống nước lã, có cánh tay gối đầu mà lấy làm vui, chứ không do bất nghĩa mà được giàu sang, thì sự giàu sang ấy coi như đám mây nổi”, (Luân ngữ – Thuật nhi -5) Sau khi đã khẳng định vai trò nhân nghĩa trong cuộc sống con người Khổng Tử cổ vũ việc làm giàu khi nước có

“Đạo”, nghĩa là được phát triển lành mạnh có thể làm giàu một cách chính đáng, không làm giàu được cũng là một điều đáng xấu hổ Cách mạng ngày nay cũng khẳng định và vận động nhân dân làm giàu, dân có giàu thì nước mới mạnh, nhưng phải làm giàu một cách chính đáng và phải biết kết hợp giữa quyền lợi cá nhân phù hợp với quyền lợi của tập thể, của Tổ quốc Kinh tế phát triển mà vẫn giữ được truyền thống đạo đức của dân tộc là yêu cầu tất yếu

Trang 15

       • Nho giáo nhấn mạnh sản xuất đi đôi với tiết kiệm Khổng Tử nói : “Đạo lớn làm ra của cải là : số người làm việc sinh lợi ngày càng nhiều, số ăn tiêu phung phí ngày càng ít,

số người làm ra của cải phải mau mắn, siêng năng, những người tiêu dùng phải thư thả từ

từ Như vậy của cải luôn luôn đủ” (Đại học – 10) Ngày nay, Đảng và Nhà nước khẳng định tiết kiệm là quốc sách, tiết kiệm trong nhân dân, trong bộ máy nhà nước, trong các

xí nghiệp

Qua phân tích ta thấy, những tư tưởng Khổng Mạnh trên đây, nếu chúng ta biết khai thác

và vận dụng hợp lý trong sự nghiệp đổi mới của đất nước thì nhất định chúng ta có thể đưa văn hóa vào kinh doanh và hướng kinh doanh không chỉ vào việc tăng trưởng kinh tế

mà còn xây dựng một xã hội có văn hóa

       • Nho giáo trong gia đình : Nho giáo coi : “Gốc của nước là nhà”, bởi vậy muốn trị nước phải yên nhà Bậc quân tử trước hết phải “tu thân”, “tề gia” rồi mới “trị nước” và

“bình thiên hạ” Nho giáo xây dựng mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình “Cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là đạo gia chính” trong các mối quan hệ đó được tiêu biểu bằng hai chữ “hiếu” và “để” Theo đó chữ hiếu là “nết đầu trong trăm nết”, chữ hiếu được đề cập đến một cách sâu sắc, đầy đủ và cụ thể “Hiếu chẳng những phải nuôi nấng, phụng dưỡng cha mẹ mà còn phải kính trọng và giữ gìn thanh danh cho gia tộc Đề cao vai trò của gia đình, vì thế rất coi trọng việc giáo dục trong gia đình Nho giáo khẳng định rằng sự giáo dục từ trong gia đình có tác động mạnh

mẽ, thậm chí quyết định sự thành công trong việc trị nước Thậm chí chỉ cần mọi người đều yêu thương cha mẹ, bà con mình, kính trọng trưởng thượng của mình Tự nhiên thiên

hạ sẽ được thái bình”(Mạnh Tử – Ly Lâu – Thượng -11) Nho giáo nguyên thủy đề ra bổnphận về cả hai bên của các mối quan hệ trong gia đình : phụ từ, tử hiếu, … Những điều trên là những nhân tố hợp lý cần phát huy trong việc xây dựng gia đình văn hóa mới hiện nay

Trong vấn đề gia đình, Nho giáo có những kiến giải hợp lý, nhưng cũng có không ít tiêu cực, gây tác hại không nhỏ trước đây và còn để lại hậu quả cho đến ngày hôm nay Trên thực tế, Nho giáo tuyệt đối hóa quyền của nhà Vua trong xã hội và của người cha trong gia đình, cha không từ, nhưng con không thể không hiếu Xuất phát từ quan điểm huyết thống và từ thái độ coi rẻ phụ nữ, Nho giáo đặt tình nghĩa anh em cao hơn tình nghĩa vợ chồng, phụ nữ là người phải hứng chịu nhiều nhất những đau khổ, thiệt thòi do chế độ hà khắc, bất công và bất bình đẳng trong xã hội, trong gia đình gây nên Theo đạo lý về “tiết hạnh”, người đàn ông có thể năm thê bảy thiếp nhưng đàn bà thì không được lấy hai chồng, cũng ví như bậc trung thần không thể thờ hai vua, kể cả những bà góa, nghèo đói không nơi nương tựa nhưng cũng không được đi bước nữa

Ngày nay, pháp luật ta đòi hỏi chế độ một vợ một chồng, nêu lên trách nhiệm của hai phía trong các mối quan hệ trong gia đình Mọi thành viên trong gia đình đều phải được tôn trọng và tôn trọng lẫn nhau, mỗi thành viên đều có tính độc lập tương đối trong công việc của mình Tuy nhiên, không thể chấp nhận sự tự do tùy tiện theo ý muốn riêng của mỗi người, vì như thế gia đình không thể tồn tại được mà cần có sự hội ý và nhất trí trongtập thể gia đình dưới sự điều hành dân chủ của một người chủ chốt trong gia đình, thường

là người chồng, người cha Như vậy, cần phải xóa bỏ sự độc đoán của người cha, đồng

Trang 16

thời giao cho người cha trách nhiệm về hạnh phúc gia đình, đó cũng là một truyền thống của dân tộc ta Ngoài ra, mọi thành viên trong gia đình cũng phải đặt lợi ích của gia đình mình phù hợp với lợi ích của xã hội, của Tổ quốc Tránh chủ nghĩa gia đình căn bệnh đó bám rễ sâu trong xã hội cũ Ngoài ra, thanh niên trong gia đình khi đã trưởng thành cần phải có sự tự do để tự khẳng định mình đứng lên gánh vác sứ mạng của mình đối với gia đình và Tổ quốc.

• Vai trò quan trọng của lễ : Đối với Nho giáo “Lễ” có vai trò đặc biệt quan trọng Lễ là toàn bộ các quy tắc ứng xử lớn nhỏ mà mọi người nhất thiết phải tuân theo, “Lễ” là hình thức biểu hiện, rèn luyện và giữ gìn đạo đức của người quân tử, “Lễ” là một phương thức giáo dục hiệu quả, tạo ra sợi dây vô hình ràng buộc nhân dân vào chế độ Phong kiến Phương Đông Có thể nói “lễ” là cơ sở pháp luật của Nho giáo Cho nên, khẩu hiệu của Nho giáo trong giáo dục là “Tiên học lễ, hậu học văn”

Trong những năm gần đây, nhà trường đã phục hồi khẩu hiệu đó Điều này cho thấy ta đãbắt đầu thấy lại vai trò của “Lễ” trong đời sống xã hội, trong công cuộc xây dựng xã hội mới của nước ta ngày nay

C – PHẦN KẾT LUẬN

Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc từ thời cổ đại,

tư tưởng triết học Nho giáo của Khổng Mạnh chiếm địa vị đặc biệt quan trọng trong lịch

sử tư tưởng, nó ảnh hưởng sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc suốt hơn hai ngàn năm lịch sử

Do vị trí địa lý và điều kiện lịch sử, Nho giáo đã thâm nhập và bén rễ sâu vào các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ hàng ngàn năm nay Nó ảnh đến hầu như tất cả các lĩnh vực tâm lý, văn hoá, xã hội

Học thuyết Nho giáo được nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận để khai thác những yếu tố được coi là thế mạnh, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước.Theo tâm lý thường tình của những người ít đi sâu tìm hiểu về Nho giáo, người ta thườngnghĩ rằng, Nho giáo là cổ hủ, là khắt khe là lạc hậu…

Chúng ta không thể phủ nhận rằng Nho giáo đã tham gia góp phần vào sự đúc nặn nên diện mạo tinh thần dân tộc và văn hóa dân tộc Dù có những điểm chưa tích cực nhưng trãi qua năm tháng sàn lọc những tư tưởng triết học của Nho giáo đã thấm nhuần trong lòng con người Việt Nam Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín của ngày xưa cho đến nay vẫn là mộtnét đẹp đáng trân trọng ở góc nhìn đúng đắn Trí và Dũng ngày nay còn được các nhà quản trị tài ba  vận dụng vào các chiến lược kinh doanh Còn những quan niệm về Nhân,

Lễ, Nghĩa thì càng được phát huy theo những mặt tích cực, xây dựng nên những mặt pháttriển góp phần thúc đẩy cho kinh tế phát triển

Không biết sự ảnh hưởng sâu rộng của Nho giáo đến nền văn hóa dân tộc như thế nào nhưng cho đến nay tính cộng đồng luôn được đề cao, còn trong gia đình thể hiện rõ nhất

Trang 17

vẫn là những người phụ nữ, hình tượng người phụ nữ mẫu mực vẫn là những người đằm thắm chịu thương, chịu khó Nét đẹp đó đã trở thành nét đặt trưng của người phụ nữ Việt Nam nói riêng và người phụ nữ Á đông nói chung.

Sự du nhập của Nho giáo với những tư tưởng triết học tích cực, qua thời gian vẫn còn đó những giá trị bất biến góp phần tạo nên những nét đẹp cho văn hóa dân tộc Việt. 

Chúng ta nên có một cái nhìn mới, cách hiểu mới thật đúng đắn, phải tiếp thu một cách

có chọn lọc, không phủ định sạch trơn đối với một số khái niệm tưởng chừng như đã cũ

Đó cũng chính là việc kế thừa và phát huy tinh hoa và bản sắc văn hoá cổ của dân tộc và nhân loại một cách tích cực theo quan điểm của Đảng ta

Ngày nay, với sự giao lưu văn hóa trên toàn cầu, mỗi dân tộc có thể tiếp thu nhiều giá trị văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới Mặt khác, truyền thống văn hóa dân tộc cũng được đặc biệt đề cao Bằng một cách nhìn khoa học, tránh thành kiến, tránh cực đoan, chúng ta tiếp thu một cách có chọn lọc những giá trị văn hóa phù hợp với truyền thống dân tộc và với yêu cầu của một xã hội văn minh hiện đại Khi quay lại với cội nguồn dân tộc, ta thấy các giá trị đạo đức cơ bản truyền thống vô cùng quan trọng.Vì vậy, ngoài việcgiáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng trình độ chính trị trong cán bộ và nhân dân, vấn

đề giáo dục đạo đức “cơ bản” cần phải được quan tâm đúng mức, nhất là đối với thế hệ tương lai

Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, vấn đề kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế đang đặt ra cấp thiết Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, văn hóa Việt Nam vẫn khẳng định sự độc đáo của mình, đồng thời mở rộng giao lưu tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc

Đảng, Nhà nước và nhân dân đang ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phải thường xuyên cảnh giác các thế lực phản động từ bên ngoài Trong khi đó, những tiêu cực bên trong cũng tác động nguy hiểm không kém Vì vậy, vấn đề xây dựng một xã hội văn hóa mới, gia đình văn hóa mới, nếp sống văn hóa mới cũng phải được quan tâm đúng mức

       TÀI LIỆU THAM KHẢO

***

 Lê Sĩ  Thắng - Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập hai) – NXB  KHXH – 1997

    PGS.TS Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam – Trường Đại học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh – 1996

    PGS Viện Sĩ Trần Ngọc Thêm - Tìm về bản sắc văn hoá việt Nam –NXB thành phố Hồ Chí Minh.- 2001

      Vũ Khiêu  - Nho giáo và phát triển ở Việt Nam – NXB KHXH – 1997

 Tổng cục chính trị - Một số vấn đề lịch sử văn hóa Việt Nam -Cục tư tưởng văn hóa - 1993

6 – Vũ Khiêu - Nho Giáo xưa và nay-NXB KHXH  –  1979

Trang 18

 7 –Trần Quốc Vượng –Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm

14- TS sử học - Huỳnh Công Bá Cơ sở văn hóa Việt Nam-NXB Thuận Hóa-2012

[2]Thực ra là Lục kinh, nhưng vì kinh Nhạc nay đã thất truyền, cho nên chỉ còn có Ngũ Kinh

[3]Văn hóa đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam – NXB khoa học-xã hội -1996

[4]Từ điển bách khoa triết học – Maxcơva – 1989 – trang 924 – tiếng Nga 

Về phương pháp quản lý xã hội của Nho giáo

Khổng Tử (551 - 479 TCN) - người sáng lập ra học thuyết Nho giáo, là một nhân vật kiệtxuất trong số những vĩ nhân mà nhân loại đã sản sinh ra Ông là nhà tư tưởng, nhà vănhoá, nhà giáo dục, nhà chính trị đã để dấu ấn đậm nét trong lịch sử của nhiều nước ÁĐông suốt hai ngàn năm trăm năm qua Dĩ nhiên, tư tưởng của ông có không ít nhữngkhiếm khuyết mà trước hết là do hạn chế của thời đại đưa lại Nhưng quả thật, ông là mộtcon người  có nhiều đóng góp cho thời đại ông và cho nhân loại Được mệnh danh là "tậpđại thành" của tri thức cổ đại Trung Hoa, tư tưởng của Khổng Tử đã là một học thuyết

Trang 19

tương đối hoàn chỉnh về nhiều mặt: chính trị, đạo đức, triết học, giáo dục… Trong sốnhững tư tưởng ấy thì quan niệm của Khổng Tử về phương pháp quản lý xã hội là quanniệm nền tảng, cơ sở cho nhiều quan niệm khác Góp phần làm sáng tỏ hơn quan niệmnày để kế thừa những giá trị lâu đời trong việc xây dựng nền dân chủ mới là mục đíchcủa bài viết này.

Trước hết, về phương châm quản lý xã hội Khổng Tử  đề cao việc thâu phục nhân tâm

chứ không phải đề cao việc cai trị thông qua sự nô dịch thân xác bằng hình phạt Vì vậy,Nho giáo đề cao "đức trị" và không đồng tình với chủ trương "pháp trị" của Pháp gia.Nho giáo cho rằng, trị nước bằng "đức trị" thì đã nắm được cái cốt lõi, cái sâu kín trongnhân tâm con người rồi, đó là sự "liêm sỉ" (sự hổ thẹn, tự vấn của lương tâm) Và điều đógiúp cho phương pháp này tự hiện hữu trong mọi suy nghĩ và hành vi của con người màkhông cần bất cứ biện pháp "giám sát" nào Khổng Tử nói: "Nếu nhà cầm quyền chuyêndùng pháp chế, cấm lệnh mà dắt dẫn dân chúng; chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thìdân sợ mà chẳng phạm pháp đó thôi, chứ họ chẳng biết hổ ngươi Vậy, muốn dẫn dắt dânchúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng lễ -tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hoá mà trở nên tốt lành"(1) (Luận

ngữ, thiên Vi Chính).

Khẳng định tính chính nghĩa của đường lối "đức trị", Khổng Tử cho rằng, nhà cầm quyền

mà theo đường lối “đức trị”, lấy cái đức của mình mà cảm hoá mọi người thì cũng giốngnhư sao Bắc đẩu tuy ở yên một chỗ mà mọi sao khác đều chầu về

Như vậy, ý nghĩa của quan niệm này là ở chỗ: Nho giáo đã nhìn thấy mối quan hệ giữanhận thức đạo đức và hành vi đạo đức cũng như vai trò sức mạnh của ý thức đạo đức cánhân trong cộng đồng Xã hội sẽ ổn định, thịnh trị khi nền "đức trị" được thực thi từ

"thiên tử" đến "thứ dân" Để củng cố "đức trị", Khổng Tử  yêu cầu phải "chính danh" Và

"chính danh" là biện pháp thực thi đức trị trong tình hình mới Đức trị nhưng không mâuthuẫn với hình phạt, không phủ nhận hình phạt mà thừa nhận hình phạt có điều kiện Ôngnói: "Danh bất chính, tắc ngôn bất thuận; ngôn bất thuận, tắc sự bất thành; sự bất thành,tắc lễ nhạc bất hưng; lễ nhạc bất hưng, tắc hình phạt bất trúng; hình phạt bất trúng, tắcdân vô sở thố thủ túc"(2) Ở đây, điều kiện của đức trị là hình phạt phải đúng Cụ thể, ôngchủ trương "khoan khắc đắc chúng" (khoan dung thì được lòng người); đồng thời, kêu gọinhà cầm quyền phải nghiêm khắc với dân, tránh để cho dân nhờn Khoan dung và nghiêmkhắc được ông coi như những biện pháp bổ trợ lẫn nhau trong việc cai trị và làm cho nềnchính trị được hài hoà

Như vậy, trước đây có quan điểm cho rằng, Khổng giáo đã đề cao “đức trị” và cho đó làmột quan điểm phiến diện, thiếu thực tế trong một xã hội đầy biến động, vô đạo Nhậnđịnh đó chưa hẳn đã hoàn toàn đúng Khổng Tử cho rằng: “Đức trị” nhưng cần có sự bổtrợ của “pháp trị” Rõ ràng, tư tưởng này của Khổng Tử cùng với đường lối “pháp trị”của Pháp gia được các triều đại phong kiến Trung Hoa sau này vận dụng trong thuật trịnước, như "Âm Pháp, Dương Nho", "Ngoại Nho, Nội Pháp"… và cho đến tận ngày nay,chúng ta vẫn còn thấy những ý nghĩa rất thời sự của chúng

Trang 20

Tuy vậy, tư tưởng này của Nho giáo mang tính chất không tưởng Bởi lẽ trong xã hội cóbóc lột, áp bức giai cấp thì những lời tuyên bố của nền “đức trị”, như "coi dân như con",

"đối xử với dân như với bản thân mình", “lấy tâm của dân chúng làm tâm của người cầmquyền” thật là sáo rỗng và nguỵ biện Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong một số nềnchuyên chế phong kiến trước đây, mặc dù đề cao “đức trị” song lại xử phạt tuỳ tiện, thiếunghiêm minh Giai cấp thống trị đều dựa vào quyền lực và xuất phát từ lợi ích giai cấp để

xử lý mọi vấn đề chứ chẳng theo tôn chỉ của nền "đức trị"

Để tạo lập cơ sở cho phương châm "đức trị", Khổng Tử  đề ra đường lối xây dựng vàcủng cố đạo đức từ gia đình cho tới ngoài xã hội Bởi ông cho rằng, xã hội có đạo (có đạođức) thì mới thi hành được "đức trị", còn xã hội  vô đạo thì tất sẽ loạn và "đức trị" khó bềthực hiện Mô hình xã hội theo quan niệm của Nho giáo có thể hình dung như sau:

Trong hệ thống tổ chức xã hội, theo quan niệm của Nho giáo, "nhà" là trọng điểm và

cũng là cơ sở của hệ thống nhà - nước - thiên hạ Ở đây, “nhà” mang hai nghĩa: gia đình

và gia tộc Vì thế, nhà được nhìn nhận như một "xã hội" thu nhỏ, được coi như "môi

trường" thử thách đầu tiên của mỗi cá nhân Trong môi trường thu nhỏ này, Nho giáo đãđặt ra một loạt những chuẩn mực, những yêu cầu để bảo đảm nền "đức trị" Đó là, mỗi cá

nhân phải đảm bảo hiếu thảo với cha mẹ, hội đủ ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), thực hiện tam cương (cha - con, chồng - vợ, anh - em) Vì thế, cá nhân trong quan niệm

Nho giáo là cá nhân gắn liền với gia đình, gia tộc Cá nhân nghĩa vụ chứ không phải cánhân tự do

Nhà là nơi mỗi cá nhân tự tu dưỡng theo những chuẩn mực bắt buộc và cũng là cầu nốigiữa cá nhân và cộng đồng lớn hơn Vì thế, Nho giáo yêu cầu với bậc cai trị phải thựchiện cho được: Tu thân - Tề gia - Trị quốc - Bình Thiên hạ Khổng Tử cho rằng, "Tề gia"cũng chính là "Trị quốc" Ông nói: "Duy kẻ nào có hiếu với cha mẹ, thuận với anh em,mới thi hành việc chính trị từ nơi nhà mình Đó cũng là làm việc chính trị rồi"(3)

Như vậy, Nho giáo đã đề ra phương pháp quản lý xã hội xuất phát từ mỗi tế bào, từ tổchức nhỏ nhất của xã hội, đó là gia đình - gia tộc Điều đó đã tạo ra một môi trường tuthân ổn định, bền vững cho mỗi cá nhân; đồng thời trong môi trường đó, cá nhân luôn ýthức được nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, trước hết là đối với bản thân, gia đình, gia tộc

Trang 21

và cao hơn nữa là với cộng đồng Sự gắn kết bền vững giữa cá nhân và gia đình - gia tộc

đã tạo nên sức bền vững bên trong, sự ổn định từ cơ sở cho những triều đại tôn sùng tưtưởng trị nước của Nho giáo Tuy nhiên, đóng góp này của Nho giáo cũng có mặt khiếmkhuyết Xã hội, theo quan niệm của Nho giáo, là một tổ hợp nhiều dòng họ Vì thế, tưtưởng gia trưởng, chủ nghĩa gia đình trị ngày càng phát triển trong xã hội phong kiến và

nó còn để nhiều di hại cho đến tận hôm nay

Để thực hiện phương châm "đức trị" về phương thức tổ chức bộ máy cai trị, Nho giáo chủtrương phải thâu nạp được những người có đức, có tài Thiên "Tử Lộ" có ghi lại rằng, khiTrọng Cung làm quan tể tướng cho họ Quý hỏi về cách cai trị, Khổng Tử trả lời rằng:

"Nhà cầm quyền nên thi hành ba việc này: Một là, trước hết nên phân phát công việc cho

các vị hữu tư, tức là những quan chức phụ thuộc với mình, họ làm xong thì mình xem xét

lại; Hai là, những ai phạm lỗi nhỏ thì dung thứ cho họ; Ba là, cử dùng những người hiền

- đức và tài cán"(4) Như vậy, biết sắp đặt công việc, dung thứ và cử hiền tài là nhữngphẩm chất cốt lõi của bậc trị nước, trong đó cất cử người hiền tài là gốc của mọi vấn đề

Vì vậy, Trọng Cung lại hỏi tiếp: "Làm sao biết được những người hiền đức và tài cán mà

cử dùng" Khổng Tử đáp: "Những người mà ngươi biết, hãy cứ dùng trước đi Còn nhữngngười mà ngươi không biết, người ta há bỏ mà chẳng chỉ cho sao"(5) Theo ông, nếu nhàcầm quyền không biết cất cử người hiền tài thì đã không hoàn thành nhiệm vụ Ông gọi

đó là kẻ "thiết vị" (ăn trộm chức vị) Ông  phê bình: "Tang Văn Trọng là kẻ ăn trộm chức

vị chứ gì? Người ấy biết rõ ông Huệ xứ Liễu hạ là bực hiền, thế mà chẳng tiến cử ông ấyđứng vào triều đình với mình"(6)

Hơn nữa, bậc cai trị ngoài việc cất nhắc những người có đức, có tài còn phải miễn chức,loại khỏi hàng ngũ những kẻ kém đức, hèn tài Ông nói: "Như bực quốc trưởng cứ dùngnhững bực chính trực, bỏ phế những kẻ cong vạy, thì dân phục Còn như cứ dùng những

kẻ cong vạy, bỏ phế những kẻ chính trực, thì dân chẳng phục"(7)

Như vậy, biết cất cử hiền tài vào bộ máy cai trị thì chẳng những nền "đức trị" của xã hộiđược ổn định, mở mang mà ngay cả bộ máy trị vì xã hội cũng ngày càng vững mạnh Vìthế, các triều đại phong kiến của nhiều nước Á Đông  rất chú trọng việc này Họ  lập rachế độ thi cử rất chặt chẽ để tuyển lựa những người có đức có tài, làm cho mạnh bộ máycai trị mạnh lên Và đây cũng được coi là một trong những sáng tạo của dân tộc TrungHoa đã cống hiến cho nhân loại

Về phẩm chất của người cai trị: Trong yêu cầu hiền tài, Khổng Tử bao giờ cũng đặt hiền

trước tài Ông cho rằng, hiền là gốc của tài, nếu có tài trí mà không có đức nhân thì tài

cũng mất Ông nói: "Mình có đủ trí - thức để hiểu đạo trị dân theo Thánh hiền, nhưngmình chẳng có đủ lòng nhân để giữ gìn, dẫu mình có được đạo ấy, rồi cũng mất đi"(8)

Và đức nhân của  nhà cầm quyền rất quan trọng đối với dân, thiết yếu hơn nước và lửa

"Đức nhân cần yếu cho dân còn hơn nước và lửa"(9) Vậy muốn trở nên nhà cai trị toànthiện, mình nên có đủ những đức: trí, nhân, trang, lễ"(10) (Trí để hiểu đạo trị dân; nhân

để giữ gìn đạo ấy; dung mạo đoan trang để dân kính trọng; lễ tiết là chỗ dựa của việc trịvì) Bên cạnh đó, ông còn cho rằng, muốn dân phục tùng làm theo điều thiện, quy phụcnhà cai trị thì trước hết, nhà cầm quyền phải biết nêu gương Ông nói: "Nhà cầm quyền tự

Trang 22

mình giữ theo chính đạo, chẳng đợi ra lệnh, dân cũng ăn ở trúng phép; còn như tự mìnhchẳng giữ theo chính đạo, dẫu mình có ra lệnh buộc dân theo, họ cũng không theo"(11).

Có thể thấy, Khổng Tử đã đặt ra được những vấn đề cơ bản về phẩm chất, yêu cầu đốivới người quản lý xã hội Điều mấu chốt là, Khổng Tử cho ta thấy rằng, đạo đức của nhàcai trị là đầu mối của mọi sự ổn định, trật tự trong xã hội Mặc dầu quan điểm này củaông mang tính giai cấp và chưa chỉ ra được sự biến đổi của mọi trật tự xã hội là từ sự biếnđộng những quan hệ lợi ích nhưng ông cũng đã nhìn thấy một cách đúng đắn vấn đề đạođức của người cai trị và vai trò của nó đối với sự thịnh trị của một chế độ

Mục đích cao nhất của nền "đức trị", theo Nho giáo, là "thế giới đại đồng" Tư tưởng vềthế giới đại đồng đã có từ thời cổ đại trong xã hội chưa có giai cấp như thời Nghiêu,

Thuấn nhưng nó được trình bày có hệ thống ở thiên Đại đồng trong sách Lễ vận với hơn

100 chữ Chế độ xã hội lý tưởng đó được khắc hoạ như sau:

Một là, thiên hạ vi công (Thiên hạ là của chung);

Hai là, tuyên hiền nhiệm năng (lựa chọn người hiền đức, tài năng để giao trách nhiệm);

Ba là, các tận kỳ năng (ai nấy dốc hết năng lực của mình);

Bốn là, các đắc kỳ sở (mỗi người, mỗi vật đều có được vị trí xứng đáng);

Năm là, giảng tín tu mục (trọng điều tín nghĩa và chăm lo sự hoà mục)…

Đây là xã hội lý tưởng, khát vọng chính trị của Nho giáo nhưng tiếc thay, nó chỉ là lýtưởng không hiện thực trong thời bấy giờ Bởi trong xã hội có giai cấp và sự phân hoágiai cấp đang diễn ra mạnh mẽ thì không thể tránh khỏi sự xung đột, sự tranh giành lợiích và sự nô dịch con người… Hạn chế của Khổng Tử và tư tưởng của ông, trước hết, làhạn chế do thời đại và do vị trí giai cấp đưa lại Tất nhiên, trong một xã hội chứa chất đầybất ổn thì lý tưởng chính trị của Khổng Tử rất đáng trân trọng

Ngày nay, chúng ta tìm hiểu Nho giáo không phải chỉ để thấy được sự vĩ đại của vĩ nhân

mà mục đích thiết thân hơn là để tiếp tục phát huy kinh nghiệm mà cha ông ta đã đối xửvới Nho giáo trong việc giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, vận dụngnhững tư tưởng tích cực của Nho giáo trong công cuộc đổi mới Trong việc kế thừanhững tư tưởng Nho giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho chúng ta một bài học lớn Người

đã phê phán rất triệt để những tư tưởng lạc hậu, ấu trĩ của Nho giáo Song, Người cũngrất tài tình, khoa học và cách mạng trong việc gạn lọc những hạt nhân hợp lý của nó

Về quan niệm quản lý xã hội của Nho giáo, có thể nói rằng, bên cạnh những hạn chế, còn

ẩn chứa nhiều vấn đề hợp lý và trong thời đại ngày nay vẫn còn giữ nguyên tính thời sự

Thứ nhất, chủ thể quản lý xã hội sẽ tốt hơn, nếu mỗi người luôn tâm niệm "tu thân" trong

hoàn cảnh mới Cụ thể, luôn giữ vững những phẩm chất: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm vớinội dung mới

Trang 23

Thứ hai, gia đình sẽ yên ấm, hoà thuận, sẽ là "pháo đài" vững chắc trước mọi "làn gió"

độc khi gia đình có kỷ cương, mọi người đều biết yêu thương, giúp đỡ, có trách nhiệmvới nhau, biết nghĩa vụ và làm tròn bổn phận của mình với gia đình

Thứ ba, ngày nay chúng ta đang quản lý đất nước bằng pháp luật thông qua bộ máy công

quyền ngày càng được hoàn thiện Tuy nhiên, một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam sẽ hoàn chỉnh, tốt đẹp hơn nếu cùng với nó và bên cạnh nó chúng ta tiến hànhxây dựng củng cố một nền đạo đức mới được chắt lọc và phát triển những tinh hoa đạođức của dân tộc, trong đó có những giá trị đạo đức được hun đúc, thẩm thấu giá trị quancủa Nho giáo

Bộ máy Nhà nước sẽ được hoàn thiện nhanh chóng hơn khi chúng ta biết mở mang việchọc, công bằng chặt chẽ trong tuyển dụng và đặc biệt biết tiến cử người có đức, có tài;đồng thời, miễn chức, sa thải những kẻ tha hoá, biến chất

Nền pháp trị của chúng ta ngày càng được củng cố nếu mọi sự trừng trị, hình phạt đềuđúng người, đúng tội, và ngày càng thống nhất giữa tình và lý

 

(*) Tiến sĩ triết học, Phân viện Hà Nội,  Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

(1) Luận ngữ (Đoàn Trung còn dịch và chú tích) Nxb Trí Đức, Sài Gòn, 1950, tr 15 (2) Luận ngữ.  Sđd., tr 198.

Trang 24

Quan niệm về tính người của Nho giáo nhìn từ góc độ triết học

Triết học Trung Quốc từng xuất hiện vô số cách nhìn nhận, bàn luận khác nhau về tính

người mà chúng ta không thể đơn giản nhận xét cách nào đúng, cách nào sai Trong Luận

Ngữ, Khổng Tử từng xem vấn đề này thuộc hình nhi thượng, chỉ dành cho những bậc từ

trung trí trở lên Còn Vương Dương Minh thì lại cho vấn đề này thuộc về “tính và mệnh”.Các nhà sáng lập Nho giáo đã đưa ra các hướng giải quyết vấn đề bản tính con người,vạch ra phương pháp cơ bản cho việc tìm tòi về mặt lý luận cũng như trên thực tế

Từ trước tới nay, ở trong và ngoài nước, đã có nhiều công trình bàn về vấn đề này Tuynhiên, việc làm rõ thêm về mặt triết học vấn đề bản tính người mà các nhà Nho tiêu biểucủa Trung Quốc đặt ra và giải quyết, theo chúng tôi, là cần thiết Với mục đích như vậy,chúng tôi khảo sát tư tưởng của các nhà Nho tiêu biểu thời Tiên Tần

“Tính” theo  chữ tượng hình của Trung Quốc là tập hợp hai ký tự là “tâm” (tim, trungtâm) và “sinh” (cuộc sống, sinh thành); còn theo từ nguyên học thì từ này dùng để chỉtrung tâm của sức sống hoặc cơ sở tâm - sinh lý của sinh thể Trong các hệ thống triếthọc, “tính” cá nhân con người thường được liên hệ với khái niệm “thiện”, “ác”, “tâm”,

“mệnh”, “tình”, “lý” Trong các văn bản của Phật giáo, “tính” tương ứng với các thuậtngữ “svabhâva” (bản chất của ngã), “pracriti” (bản chất, vật chất), “pradhâna” (bản chấtkhông tiến hoá)

Trong Luận Ngữ, tư tưởng của Khổng Tử về tính người “vốn gần nhau, do tập tính mà xa nhau” (tính tương cận dã, tập tương viễn dã - Luận Ngữ, XVII, 2)(1) đã gây ra nhiều

cách giải thích và cách hiểu khác nhau Rất nhiều nhà nghiên cứu và những nhà chú giảitác phẩm này dựa vào luận điểm xuất phát của Khổng Tử về “tính trời phú” đã đươngnhiên công nhận tính người mà Khổng Tử đề cập “vốn thiện” Trên thực tế, Khổng Tửkhông hề nói bản tính “trời phú” đó là “thiện” hay “ác” Vì thế, học thuyết của Khổng Tử

về tính người, theo A.I.Cốpdép, có thể xem như là “mặt bằng”(2) mà từ đó, các quanniệm khác sử dụng để đối chiếu “Tử Cống nói rằng, “Phu Tử nói về văn chương, chúng

ta thường được nghe Phu Tử nói về bản tính (chữ in đậm do chúng tôi nhấn mạnh –

N.T.T.M) và đạo trời, chúng ta không thường được nghe” (Tử Cống viết: “Phu tử chi văn

chương khả đắc nhi văn dã Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo bất khả đắc nhi văn dã!” – Luận Ngữ, V, 12) Cho nên, theo chúng tôi, cần làm rõ tư tưởng của Khổng Tử về tính

người có phải là “trung gian” trong quan hệ với “thiện” và “ác” hay không, có phải haitính cách này chỉ có về sau do tập tính của con người sinh ra bởi tác động của hoàn cảnhhay không?

Mặc dù trong Luận Ngữ, Khổng Tử chỉ nói đến tính người có hai lần mà chúng tôi vừa

trích dẫn ở trên, nhưng lại nói nhiều đến các “hạng người” với những phẩm cách khácnhau: “Người quân tử có khi mắc phải điều bất nhân chăng? Chưa hề có kẻ tiểu nhân làm

điều nhân bao giờ” (Quân tử nhi bất nhân giả, hữu hĩ phù! vị hữu tiểu nhân nhi nhân giả

dã - Luận Ngữ, XIV, 7); “Người quân tử đạt tới chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ

Trang 25

thấp hèn” (Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt – Luận Ngữ, XIV, 24); “Đối với những

người từ bậc trung trở lên, có thể dạy bảo về phần hình nhi thượng; đối với những người

từ bậc trung trở xuống, không thể dạy bảo về phần hình nhi thượng vậy” (Trung nhân dĩ

thượng, khả dĩ ngứ thượng, trung nhân dĩ hạ, bất khả dĩ ngứ thượng dã - Luận Ngữ, VI,

19)

Tử Tư (483 – 402 TCN.), trong sách Trung Dung, đã dẫn lời Khổng Tử như sau: “Hoặc

sinh ra đã biết, hoặc phải học mới biết, hoặc phải cố công gắng sức mới biết, nhưng kể về

hiểu biết thì như nhau” (Hoặc sinh nhi tri chi, hoặc học nhi tri chi, hoặc khốn nhi tri chi,

cập kỳ tri chi, nhất dã - Trung Dung, 20) Như vậy, Khổng Tử và cháu của ông vừa muốn

phổ quát hoá các phẩm cách khác nhau của con người, vừa muốn nhất thể hoá về mặt lýluận các phẩm cách đó Điều đó được thể hiện rõ nét qua việc nêu mối quan hệ giữa cáchạng người về năng lực trí tuệ với tính người

Không nghi ngờ gì nữa, sự lý giải của Khổng Tử về vấn đề nhân tính, tuy hết sức ngắngọn, song đã vượt lên trên các nhà tư tưởng thời Xuân Thu - Chiến Quốc Các nhà tưtưởng trước Khổng Tử cũng như đương thời, khi nhắc đến tính người thường không luậnchứng một cách có cơ sở, còn Khổng Tử đã đặt nó vào mệnh đề “tính tương cận”, kết hợp

tính với thiên đạo (tính dữ thiên đạo) Càng quan trọng hơn, việc ông đặt vấn đề theo

cách này đã thể hiện sự tự giác của con người, con người tự phản ánh bản chất người củachính mình, đưa vấn đề tính người thành một trong những vấn đề cơ bản nhất của đờisống con người

Vậy cái “tính tương cận” của Khổng Tử là thiện hay là ác? Chu Hi cho rằng, tính mà

Khổng Tử đề cập ở đây không thiện cũng không ác Ông viết: “Chữ tính trong Luận Ngữ

có cái nghĩa gồm cả khí chất, vậy thì có thiện có ác, nhưng xét lúc đầu thì tính mỗi ngườikhông xa nhau mấy”(3) Nhưng theo chúng tôi, trong mệnh đề “tính tương cận dã, tậptương viễn dã”, hiểu một cách lôgíc, thì cái tính tương cận đó không thể không là thiện,

vì cái làm người ta xa nhau không thể là thiện được Hay nói cách khác, nếu cái “tínhtương cận” đó là ác, thì chúng ta sẽ không giải thích được cái ác trong xã hội từ đâu mà

ra, vì “tập tương viễn” chính là rời xa, hay ngược lại với cái “tính tương cận” đầu tiên rồi.Học giả Trần Trọng Kim, khi trích bàn một số câu trong Kinh Dịch, đã cho rằng Khổng

Tử có hàm ý chủ trương thuyết tính thiện Ông viết: “ Khổng Tử cốt lấy sự sinh làmtrọng hơn cả Ngài cho sự sinh của vạn vật là theo lẽ tự nhiên Ta có thể ngắm cảnh tạohoá trong vũ trụ, chỗ nào cũng thấy đầy những sinh ý và xuân khí thì biết cái đức của trờirộng lớn là dường nào Khổng Tử lấy bốn cái đức của trời: nguyên, hanh, lợi, trinh củaquẻ Kiền mà nói rõ sự sinh thành của vạn vật Ngài nói rằng: Nguyên là đầu của các điềuthiện, hanh là hội hợp các cái tốt đẹp, lợi là sự hoà hợp với điều nghĩa, trinh là cái gốc

của mọi sự (Nguyên giả thiện chi trưởng giả, hành giả gia chi hội dã, lợi giả nghĩa chi

hoà dã, trinh giả sự chi cán dã - Dịch: Văn ngôn truyện) Cái đức nguyên là cái khởi đầu

sự sinh vạn vật, cái đức lợi là sự thoả thích của sự sinh vạn vật, cái đức trinh là sự thànhtựu của sự sinh vạn vật Vậy đạo trời đất là chủ ở sinh vạn vật, mà sự sinh ấy là đầu cảcác điều thiện”(4) “Sinh” chính là thiện, và tính, do đó, cũng chính là thiện Cái gọi là

“Tính là cái sinh ra đã như thế hoặc Tính là cái trời sinh ra” (Tính giả, sinh dã) chính là

mang nghĩa như vậy

Trang 26

Như vậy, “tính tương cận” mà Khổng Tử dùng để chỉ bản tính ban đầu trời phú cho conngười có tính hướng thiện chứ không phải đã là thiện Còn “tính tương viễn” là tổng hoàcác tập tính xã hội không chỉ thuần tuý được sinh ra do quan hệ giữa người với người, màvới cả tự nhiên nữa Chính vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi, mệnh đề “tính tươngcận dã, tập tương viễn dã” của Khổng Tử mang tính mở, làm tiền đề cho các tư tưởngtriết học xuất hiện về cùng vấn đề này.

Kế thừa tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử (372 – 289 TCN) đã có một cống hiến xuất sắccho việc giải quyết vấn đề triết học về con người nói chung và vấn đề tính người nóiriêng Có thể nói, ông là người lần đầu tiên đề xướng lên một học thuyết mang tính hệ

thống về tính người Học thuyết đó gọi là thuyết Tính thiện, hay còn gọi là nhân tính

hướng thiện.

Bản tính thiện bẩm sinh của con người được Mạnh Tử được trình bày qua bốn phẩm

cách, còn gọi là thuyết Tứ đoan nổi tiếng trong thiên Công Tôn Sửu Mạnh Tử nói:

“Người ta ai cũng có lòng bất nhẫn [trước những đau khổ của người khác]… Sở dĩ nói aicũng có lòng bất nhẫn, là vì người ta chợt thấy đứa bé sắp ngã xuống giếng, ai cũng chột

dạ, xót xa Chẳng phải mong làm thân với cha mẹ đứa bé, cũng không phải mong xómlàng, bạn bè khen ngợi, cũng chẳng phải tránh tiếng xấu Do đó mà xét, không có lòngtrắc ẩn, chẳng phải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải là người; không có lòng từnhượng, chẳng phải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải là người vậy Lòng trắc

ẩn là đầu mối của điều nhân, lòng tu ố là  đầu mối của điều nghĩa, lòng từ nhượng là đầumối của điều lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy Người ta có bốn đầu mối đó, cũng

như có hai tay, hai chân vậy” (Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm Sở dĩ vị nhân giai

hữu bất nhẫn nhân chi tâm giả, kim nhân sạ kiến nhũ tử tương nhập ư tỉnh, giai hữu truật thích trắc ẩn chi tâm, phi sở dĩ nạp giao ư nhũ tử chi phụ mẫu dã, phi sở dĩ yếu dư ư hương đảng bằng hữu dã Do thị quan chi, vô trắc ẩn chi tâm, phi nhân dã Vô tu ố chi tâm, phi nhân dã Vô từ nhượng chi tâm, phi nhân dã Vô thị phi chi tâm, phi nhân dã Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã Tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã Từ nhượng chi tâm,

lễ chi đoan dã Thị phi chi tâm, trí chi đoan dã- Mạnh Tử, Công Tôn Sửu, Chương Cú Thượng)(5).

Cũng tương tự, ở chỗ khác, Mạnh Tử có nói: “Lòng trắc ẩn ai ai cũng có, lòng tu ố ai aicũng có, lòng cung kính ai ai cũng có, lòng thị phi ai ai cũng có Lòng trắc ẩn là đầu mốicủa nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ, lòng thị phi làđầu mối của trí vậy Nhân, nghĩa, lễ, trí chẳng phải ở ngoài đổ khuôn vào ta, mà ta có sẵn

cả, chẳng qua không nghĩ tới mà thôi” (Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi; tu ố chi tâm,

nhân giai hữu chi, cung kính chi tâm, nhân giai hữu chi, thị phi chi tâm, nhân giai hữu chi Trắcẩn chi tâm: nhân dã; tu ố chi tâm: nghĩa dã; cung kính chi tâm: lễ dã; thị phi chi tâm: trí dã Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại thước ngã dã, ngã cố hữu chi phất tư nhĩ hỹ – Mạnh Tử, Cáo Tử Chương, Cú Thượng, 6)(6) Từ đó một kết luận đương nhiên

được rút ra là, “Người ta ai cũng có thể trở thành vua Nghiêu, vua Thuấn” (Mạnh Tử,

Cáo Tử Chương, Cú Hạ, 2)(7).

Những luận điểm như trên là khá nhiều, chúng tôi xin được đưa ra mấy đặc điểm mang

tính bản thể trong học thuyết tính thiện của Mạnh Tử:

Trang 27

Một là, Mạnh Tử muốn khẳng định rằng, ý thức giá trị nằm trong lòng tự giác, hoặc đó

chính là bản thể của lòng tự giác Song, cái gọi là nội tại hay bản thể ở đây không có hàm

ý gì đến tiến trình phát triển Nếu xem xét tiến trình phát triển, thì tính thiện được dùng

để chỉ ý thức giá trị nằm ở điểm khởi đầu Nói cách khác, con người khi được sinh ra(điểm khởi đầu) vốn là thiện

Hai là, Mạnh Tử đã dùng thuyết Tứ đoan để luận chứng cho thuyết tính thiện của mình.

Con người sống một cách tự giác, dù trình độ học vấn như thế nào, tiêu chuẩn giá trị rasao, thì bao giờ họ cũng có ý niệm tự giác về việc nên hay không nên làm một việc gì đó

Ý niệm tự giác đó khác hẳn với suy tính về lợi hay hại Mạnh Tử lấy bốn loại giá trị tự

giác để biểu đạt cho thuyết Tứ đoan là “trắc ẩn”, “tu ố”, “từ nhượng”, “thị phi” Mạnh Tử

lấy ví dụ về đứa bé chập chững sắp rơi xuống giếng để chứng minh cho lòng “trắc ẩn” Ví

dụ mà Mạnh Tử đưa ra nhằm nhấn mạnh thái độ của con người khi đối diện với hiểmnguy nào đó Cái tự giác trắc ẩn, tu ố, từ nhượng, thị phi của con người, khi đối diện vớicuộc sống, sẽ tuỳ lúc mà biểu lộ ra, đóng vai trò tự giác về giá trị, tức là tự giác nên haykhông nên làm việc gì đó, khác hẳn với lòng suy tính lợi hại Điều Mạnh Tử nói tưởngnhư đơn giản, song nó đã đề cập đến sự khác biệt rạch ròi giữa “thiện - ác” và “lợi - hại”.Tính tự giác về giá trị thông qua các hình thức biểu hiện của nó, đã trở thành mầm mống,thành nguồn gốc cho các đức tính của con người Đó chính là “đoan”

Ba là, ý nghĩa cơ bản của tính thiện chính là việc khai mở tứ đoan mà phát triển tự giác

trong ý thức giá trị Song, Mạnh Tử cũng nhấn mạnh, “đoan” chỉ là điểm khởi đầu Bảnthân tính tự giác chỉ bao chứa các đức tính, muốn cho các đức tính được phát triển viênmãn, thì tinh thần tự giác phải không ngừng được duy trì và phát triển Chính vì vậy,Mạnh Tử kêu gọi phải “khuyếch nhi sung chi” (phải mở rộng và làm đầy đủ nó) TheoMạnh Tử, tiến trình hoàn thành viên mãn đức tính phải xuất phát từ lòng tự giác đối với ýthức giá trị, nhằm phát triển ý thức giá trị nội tại Điều đó có nghĩa là, không phải conngười sinh ra đã có đầy đủ các đức tính Các đức tính chính là kết quả của sự phát triểncủa ý thức giá trị

Bốn là, “tính” trong Mạnh Tử chỉ cái đặc tính của lòng tự giác Theo ông, “tính thiện”

dùng để chỉ ý thức giá trị nằm ở trong lòng tự giác, nghĩa là, căn nguyên của giá trị xuấtphát từ tự giác của chủ thể Vậy cái ác từ đâu mà ra? Theo Mạnh Tử, ác bắt nguồn từ sựthiếu sót của thiện

Con người có “Nhân, nghĩa, lễ, trí”, cho nên nó khác với cầm thú Song, sự khác biệt đóchỉ manh nha ở trong lòng con người, bởi nó có “một chút thiện đoan” Nếu con ngườibiết nuôi dưỡng, phát triển “thiện đoan” thì có thể trở thành bậc thánh nhân, còn nếukhông biết nuôi dưỡng, để nó mai một thì sẽ trở nên nhỏ nhen, ích kỷ không khác gì cầmthú Như vậy, Mạnh Tử nghiễm nhiên thừa nhận con người có cả phần tốt lẫn phần xấu,nhưng ông chỉ gọi cái phần tốt là tính người thôi, tức cái phần phân biệt người với loàivật

Trên đây chúng tôi thử đưa ra cách giải thích bản thể của tính thiện, nói cách khác lànhững luận chứng cơ bản cho thuyết tính thiện của Mạnh Tử Từ đó, chúng ta có thể thấy,

Trang 28

Mạnh Tử đề cập đến tính của con người là nhằm chỉ bản chất của con người, tức cái phânbiệt con người với mọi tồn tại khác.

Tuân Tử (khoảng 298 – 238 TCN), tác giả bộ Tuân Tử (có thể là do ông chấp bút gồm 32 thiên), là người có tư tưởng đối lập với thuyết Tính thiện của Mạnh Tử bằng khẳng định,

bản tính con người vốn ác.

Tuân Tử không bàn về cái “tính” mà Mạnh Tử nói đến là để chỉ cái gì, mà chỉ căn cứ vào

việc quan sát thực tế để phê phán học thuyết của Mạnh Tử Thiên Tính ác của Tuân Tử

viết: “Tính của con người là ác, còn thiện là do con người làm ra Tính của con người,sinh ra là có sự hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự từnhượng không có; sinh ra là đố kỵ, thuận theo tính đó thì thành ra tàn tặc, mà lòng trungtín không có; sinh ra có lòng muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theotính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa văn lý không có.… Cho nên phải có thầy, cóphép tắc để cải hoá đi, có lễ nghĩa để dẫn dắt nó, rồi sau mới có từ nhượng, hợp văn lý

mà thành ra trị Xét vậy mà thấy rõ tính của con người là ác, mà cái thiện là do con người

làm ra vậy” (Nhân chi tính ác, kỳ thiện giả ngụy dã Kim nhân chi tính, sinh nhi hữu hiếu

lợi yên, thuận thị, cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên Sinh nhi hữu tật ác yên, thuận thị, cố tàn tặc sinh nhi trung tín vong yên; sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu hiếu thanh sắc yên, thuận thị cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lý vong yên … Cố tất tương hữu sư pháp chi hoá, lễ nghĩa chi đạo, nhiên hậu xuất từ nhượng, hợp vu văn lý nhi quy

vu trị Dụng thử quan chi; nhiên tắc nhân chi tính ác minh hỹ, kỳ thiện giả ngụy dã Tuân Tử, Tính ác)(8) Khi nhấn mạnh đến sự giáo hoá, hay là lịch trình cải tạo, ông viết:

-“Tính ác của người ngày nay, tất phải có việc học tập trước rồi sau mới có chính, có lễ

nghĩa trước rồi sau mới có trị” (Kim nhân chi tính ác, tất tương đãi sư pháp nhiên hậu

chính, đắc lễ nghĩa nhiên hậu trị - Tuân Tử Tính ác)(9).

Bên cạnh đó, Tuân Tử lấy sự khác biệt giữa tự nhiên và văn hoá để phân biệt tính vàngụy Ông viết: “Phàm tính là cái trời sinh ra đã có, không thể học, cũng không thể làm

ra được; lễ nghĩa là cái thánh nhân đặt ra, người ta học rồi mới biết, làm rồi mới thành.Cái gì không học, không làm mà đã có ở lòng người rồi, cái đó mới là tính, cái gì ở ngườihọc rồi mới biết, làm rồi mới thành, thì gọi là ngụy; đó chính là tính và ngụy khác nhau

vậy” (Phàm tính giả, thiên chi tựu dã, bất năng học, bất khả sự; lẽ nghĩa giả, thánh nhân

chi sở sinh dã, nhân chi sở học nhi năng, sở sự nhi thành giả dã Bất khả học, bất khả sự nhi tại nhân giả vị chi tính; khả học nhi năng, khả sự nhi thành chi tại nhân giả, vị chi ngụy, thị tính ngụy chi phân dã - Tuân Tử Tính ác)(10).

Tuân Tử cho rằng, thành phần tự nhiên của con người chính là tính động vật, còn thànhphần văn hoá của con người chính là thành tựu của nỗ lực tự giác Con người ngoài việcnhờ thầy, nhờ pháp còn có tố chất quan trọng, đó là lý tính Chính lý tính giúp cho conngười tránh xa cái ác và học tập, bổ túc ngày càng nhiều cái thiện cho bản thân Quanđiểm cho “lương tri, lương năng là cái khả dĩ tri và cái khả dĩ năng, chứ không phải là tri

và năng” của Tuân Tử là hoàn toàn đúng Theo Tuân Tử, khả dĩ tri và khả dĩ năng là lýtính, còn nhận thức không phải là yếu tố có sẵn ở trong con người, mà là kết quả của sựhuy động lý tính cá nhân có sự kết hợp với giáo dục

Trang 29

Tuy cùng là các bậc đại Nho, Mạnh Tử và Tuân Tử lại có những thuyết cơ hồ trái ngượcnhau về tính của con người Song, thuyết tính ác của Tuân Tử chỉ ảnh hưởng mạnh nhấtđến tư tưởng Hàn Phi Tử, còn các nhà Nho về sau này gần như đồng ý, tiếp thu và pháttriển thuyết tính thiện của Mạnh Tử; từ đó, hình thành một quan niệm về tính hướng thiệnchung của Nho giáo Trong suốt hai thế kỷ, từ Khổng Tử đến Vương Dương Minh, vấn

đề bản tính con người thiện hay ác được các thế hệ nhà Nho Trung Quốc đặt ra và giảiquyết theo các cách khác nhau Điều đó cho thấy, sự tìm tòi các giải đáp cho vấn đề triếthọc quan trọng là một quá trình diễn ra liên tục trong sự phát triển nội tại của triết họcTrung Quốc mà điểm xuất phát là tư tưởng của các bậc tiên Nho - Khổng Tử, Mạnh Tử,Tuân Tử Việc làm rõ quá trình đó từ Tuân Tử đến Vương Dương Minh không thể trìnhbày ở đây do phạm vi hạn hẹp của một bài báo, và theo chúng tôi, đây chỉ là bước mộtcủa việc giải quyết một vấn đề mà nhiều học giả quan tâm

 

(*) Thạc sĩ triết học, giảng viên Trường Đại học Giao thông vận tải

(1) Chu Hi Tứ thư tập chú (Bản dịch của Nguyễn Đức Lân) Nxb Văn hoá - Thông tin,

Hà Nội, 1998, tr 614 Từ đây, các trích dẫn từ tác phẩm Luận Ngữ, Trung Dung, Đại

học, Mạnh Tử đều được trích từ bộ sách này.

(2) Xem: Vấn đề bản tính con người trong Nho giáo Trong: Vấn đề con người trong các

học thuyết truyền thống Trung Quốc  Nxb Nauka, Mátxcơva,  1983, tr 207 (tiếng Nga).

(3) Theo: Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê Đại cương triết học Trung Quốc, q.2 Nxb TP

Hồ Chí Minh, 1992, tr 68 - 69

(4) Trần Trọng Kim. Nho giáo Nxb TP Hồ Chí Minh, 1992, tr 78.

(5) Chu Hi. Tứ thư tập chú Sđd., tr.859-862.

(6) Chu Hi. Tứ thư tập chú Sđd., tr 1204-1205.

(7) Chu Hi. Tứ thư tập chú Sđd., tr 1241.

(8) Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi. Tuân Tử Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr.354.

(9) Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi. Sđd., tr.355.

(10) Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi. Sđd., tr.355.

Trang 30

Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX)

Những tài liệu và hiện vật mà khảo cổ học Việt Nam phát hiện được đã chứng tỏ rằng,người Văn Lang, Âu Lạc thời xưa có nền văn hóa phát triển phong phú, rực rỡ, “biểuhiện bằng các món dụng cụ, trang sức, trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, thành quách,v.v mà người Việt Nam hiện đại rất tự hào”(2) Tuy nhiên, năm 179 TCN, Âu Lạc rơivào ách đô hộ của nhà Triệu, mở đầu một thời kỳ đen tối kéo dài hơn một nghìn năm đầyđau thương tủi nhục trong lịch sử nước ta, thường gọi là thời kỳ Bắc thuộc(3) Sau khichiếm được nước ta, Triệu Đà chia Âu Lạc thành hai quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và sátnhập vào nước Nam Việt

Năm 111 TCN, nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành đất đai của nhà Hán

Âu Lạc bị chia thành ba quận thuộc bộ Giao Chỉ là: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam

Để nô dịch nhân dân ta về tư tưởng, ngay từ thời Tây Hán, Nho giáo đã được chính quyền

đô hộ truyền bá vào nước ta

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào thời kỳ đầu công nguyên, hai viên thái thú quận Giao

Chỉ và Cửu Chân là Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực “dựng học hiệu” để dạy lễnghĩa, tức mở trường dạy Nho học và truyền bá phong tục Hán tộc Nho giáo vào ViệtNam chính thức từ đây và “Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thúấy”(4) Từ năm thứ 8 đến thứ 25 sau công nguyên, do vụ loạn Vương Mãng và các cuộckhởi nghĩa nông dân ở Sơn Đông mà “đông đảo kẻ sĩ nhà Hán lánh nạn, di cư sang GiaoChâu; họ góp phần truyền bá đạo Nho bằng cách mở trường kiếm sống”(5).  Đến thời SĩNhiếp, một người gốc Hán làm thái thú Giao Chỉ thì việc học Nho ở nước ta đã tương đối

phổ biến Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sĩ Nhiếp là người có tài kinh bang tế thế, tài năng

và đức độ của ông vượt xa các thủ lĩnh chính trị của nước Hán đương thời Hơn nữa, SĩNhiếp còn là người rất thông hiểu kinh sách và tích cực truyền bá Nho giáo và Đạo giáovào Việt Nam Vì thế, các nhà Nho Việt Nam đời sau rất kính trọng Sĩ Nhiếp, tôn là “Sĩvương” và xem Sĩ Nhiếp là ông tổ của nền học vấn phương Nam - “Nam giao học tổ”.Miền đất Giao Châu dưới quyền cai trị của ông là một xã hội ổn định và thịnh vượng.Vua Hán Hiến Đế thời đó đã phải ngợi khen: “Giao Châu là đất văn hiến, sông núi hunđúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất”(6) Do vậy, ở Trung Quốc từđời Hán đến đời Đường khi xảy ra loạn lạc nhiều người từ miền Nam Trung Quốc tìmcách di cư sang Giao Châu Nhiều sĩ phu người Hán đến nương náu nơi đây đều được SĩNhiếp khuyến khích mở trường dạy Nho học Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Nước tathông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấykhông những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao?(7) Góp sứcvào việc truyền bá đạo Nho còn có cả những danh nho Trung Quốc do đối lập về chính trị

mà bị triều đình đày đi biệt xứ ngoài biên ải, như Ngu Phiên bị đày sang Giao Châu mởtrường “dạy học không biết mỏi, môn đệ thường có đến vài trăm”(8)

Trang 31

Tại các trung tâm châu trị, quận trị như Luy Lâu, Long Biên, Tư Phố, Cư Phong đều cócác trường để truyền bá Nho giáo và Hán học Theo học các trường này không chỉ có con

em của những người Hán cai trị và những người Hán di cư mà còn có cả con em củanhững người giàu có, của một số hào mục địa phương có hợp tác với chính quyền đô hộ.Trong số họ, có một số người Giao Chỉ, Cửu Chân học giỏi, đỗ đạt và được bổ làm quan

ở Trung Quốc, như Trương Trọng, Lý Tiến, Lý Cầm, Bốc Long (9) Thậm chí, nhiềungười Giao Châu du học tận kinh đô Trường An của nhà Đường Hai anh em KhươngCông Phụ và Khương Công Phục là người Cửu Chân đỗ tiến sĩ ở Trường An và được bổlàm quan ở triều đình

Tuy nhiên, nếu nhìn một cách tổng quát thì có thể thấy rằng, trên dưới một ngàn năm Bắcthuộc, Nho giáo tuy có phát triển song vẫn chưa xâm nhập được vào mọi tầng lớp xã hội

và ảnh hưởng của nó vẫn còn hạn chế Suốt thời kỳ lịch sử này, giới Nho sĩ bản địa vẫncòn ít ỏi và chưa trở thành một lực lượng xã hội đáng kể Trong dân gian, tín ngưỡng

Phật giáo và Đạo giáo lại phổ biến hơn nhiều Sở dĩ có tình hình đó là do: Một là, như

trên đã phân tích, khi Nho giáo nói riêng và các triết lý tôn giáo khác nói chung vào ViệtNam thì nước ta đã từng có một nền văn hóa tương đối phát triển với ngôn ngữ, phongtục, tập quán, lối sống riêng, được bảo tồn trong suốt qúa trình dựng nước và giữ nước

Vì vậy, các hệ tư tưởng triết học, tôn giáo từ ngoài vào Việt Nam không phải dễ dàngchiếm ngay được chỗ đứng trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam, hay chúng có thể

dễ dàng xóa bỏ, chinh phục, đồng hóa nền văn hóa bản địa mà không gặp một sự phảnứng nào Để thích nghi với nền văn hóa bản địa, cần phải có một quá trình biến đổi để

phù hợp với “miền đất mơi” mà chúng xâm nhập Hai là, muốn tiếp thu Nho giáo thì phải

học lâu dài, mà chữ Hán lại rất khó học Hơn nữa, Nho giáo vào Việt Nam không nhưPhật giáo và Đạo giáo Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Quốc du nhập Việt Nam hầu nhưkhông gặp sự phản ứng và chống đối nào từ phía nhân dân và phát triển khá nhanh Phậtgiáo nhanh chóng được người Việt thời đó tiếp nhận vì bản thân nó vốn không phải là hệ

tư tưởng của kẻ xâm lược như Nho giáo Mặt khác, giáo lý Phật giáo với tư tưởng từ bi,cứu khổ cứu nạn, đề cao lòng nhân ái vị tha, sự độ lượng khoan dung, đức đạm bạc thanhkhiết đã tỏ ra rất gần gũi với những tập quán, tín ngưỡng dân gian bản địa nên dễ dàng cảibiến để thâm nhập, hoà quyện với tư tưởng, tín ngưỡng của người Việt Nam xưa CònĐạo giáo, nhất là Đạo giáo phù thủy trong thời kỳ Bắc thuộc, cũng ảnh hưởng sâu rộngkhông kém gì Phật giáo Bởi lẽ, Đạo giáo phù thủy rất gần với tín ngưỡng ma thuật vốn

có của người Việt cổ Cho đến tận thời kỳ sau này vẫn còn không ít người Việt Nam còntin tưởng và sùng bái đồng bóng, bùa chú Hơn nữa, Đạo giáo phù thủy cũng góp phầncung cấp cho nhân dân ý thức về sức mạnh của chính nghĩa, cổ vũ tinh thần đoàn kết,chống áp bức cường quyền(10) Trong khi đó, Nho giáo vào Việt Nam theo gót chân củaquân xâm lược và việc truyền bá nó nằm trong chính sách đồng hóa dân tộc của các thếlực phong kiến phương Bắc nhằm nô dịch đời sống tinh thần của dân tộc ta Do vậy, đểbảo tồn di sản văn hóa cổ truyền của dân tộc, bảo tồn những tín ngưỡng, phong tục, tậpquán mà tổ tiên để lại, nhân dân ta không thể không phản ứng lại hệ tư tưởng thống trị do

kẻ xâm lược mang vào

Năm 938, với chiến thắng vĩ đại của Ngô Quyền chôn vùi quân Nam Hán trên sông BạchĐằng, lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước sang trang mới – thời kỳ độc lập Tuy nhiên,công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ở thời kỳ đầu mới giành được độc lập diễn ra vô

Trang 32

cùng khó khăn, phức tạp Nhà nước phong kiến lúc này quá bận rộn với việc ổn định vàthống nhất đất nước, tổ chức chống ngoại xâm; mặt khác, các triều đại đầu tiên như Ngô,Đinh, Tiền Lê đều tồn tại rất ngắn ngủi, chưa có đủ thời gian để xây dựng trật tự, kỷcương chặt chẽ; thể chế chính trị, tổ chức nhà nước và những tập tục của các triều đại

“Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần không theo mẫu Bắc phương là mẫu xây dựng khớp với tưtưởng Nho giáo”(11) Do vậy, Nho giáo cũng chưa có điều kiện dựa vào triều đình đểduy trì và phát triển ảnh hưởng của mình

Sang thời Lý, việc củng cố nhà nước quân chủ tập quyền và trật tự xã hội, phát triển vănhóa, giáo dục để phục vụ cho chế độ phong kiến đã trở thành một nhu cầu cấp bách Lúcnày, Nho giáo, với chủ trương tôn quân, đề cao việc tề gia, trị quốc có tôn ty, trật tự đã tỏ

ra thích hợp với thực tiễn lịch sử đó nên được giai cấp phong kiến Việt Nam đề cao, đặcbiệt trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng Bằng một hệ thống lý thuyết chặt chẽ

và những bài học kinh nghiệm về đạo trị nước của người xưa, Nho giáo giúp cho giai cấpphong kiến Việt Nam bước đầu xây dựng và củng cố trật tự xã hội, tạo ra một nền giáo

dục có hệ thống và thúc đẩy các ngành văn hóa, học thuật phát triển Trong bài Chiếu dời

đô, Lý Thái Tổ đã khéo léo vận dụng tư tưởng Mệnh trời của Nho giáo vào việc trị nước:

“Trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân” để mưu nghiệp lớn, làm cho vận nước lâu dài,phong tục cường thịnh Vua Lý Thái Tông khi đáp lại quần thần dâng tôn hiệu cũng chorằng, xã hội thời Đường Ngu là xã hội lý tưởng, tốt đẹp đáng phải noi theo Từ đây, việctruyền bá Nho giáo bắt đầu được tiến hành khá sôi nổi và có tổ chức về mặt nhà nước.Theo lệnh của Thánh Tông hoàng đế, mùa thu năm 1070, nhà Lý cho xây Văn Miếu, tạctượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử) và vẽhình bảy mươi hai hiền nhân để bốn mùa cúng tế(12) Mùa xuân năm Ất Mão (1075), LýNhân Tông xuống chiếu mở kỳ thi Nho học đầu tiên để tuyển chọn người tài, bổ sung cho

đội ngũ quan lại, gọi là Minh kinh bác học Lê Văn Thịnh đỗ đầu, được cho vào hầu vua

học Năm 1076, vua Lý tiếp tục cho lập Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên ở nước

ta và lựa chọn những người khoa bảng vào dạy ở đây

Cùng với việc truyền bá Nho giáo, nhà Lý ở nước ta lúc đó cũng rất tôn sùng Phật giáo vàĐạo giáo Tam giáo đồng hành đã bổ sung cho nhau trong việc đáp ứng nhu cầu chính trị,

tư tưởng và đời sống tâm linh của giới cầm quyền cũng như các tầng lớp xã hội Nếu nhưNho giáo được vận dụng vào việc tổ chức xã hội và quản lý cuộc sống trần gian thì Phậtgiáo và Đạo giáo lại giải quyết các vấn đề họa và phúc, đức và tội, vấn đề nghiệp báoluân hồi

Do sự phát triển đồng hành của Nho, Phật, Đạo nên Nho giáo mặc dù đã được coi trọng,song ảnh hưởng của nó đến đời sống chính trị-xã hội, phong tục và nếp sống người Việttrong suốt triều đại nhà Lý vẫn diễn ra chậm chạp Nhiều nghi lễ, tập tục trong triều đìnhcũng như các việc hôn nhân, tang tế còn bị các nhà Nho viết sử sau này cho là trái vớiquy phạm của Nho giáo

Bằng sự khôn khéo của Trần Thủ Độ, việc chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhàTrần được tiến hành một cách êm dịu Trong điều kiện phải củng cố quyền lực nhà nước

và tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, vấn đề đạo lý cương thường,nghĩa quân thần, trật tự trên dưới chặt chẽ cần được đề cao Vì vậy, việc học tập, thi cử

Trang 33

dưới triều Trần được triển khai khá rầm rộ Tầng lớp Nho sĩ nhờ đó ngày càng trở thànhmột lực lượng xã hội đáng kể Thông qua con đường khoa cử, họ tham gia vào bộ máynhà nước và hoạt động tích cực trên nhiều lĩnh vực Nếu ở các thế kỷ trước, Phật giáochiếm ưu thế hơn so với Nho giáo thì từ cuối đời Trần, Nho giáo bắt đầu mạnh lên Nhiềunhà Nho đã lên tiếng phê phán mạnh mẽ Phật giáo khiến cho Phật giáo phải lùi bước, mởđường cho Nho giáo tiến lên chiếm địa vị độc tôn dưới triều Lê Các nho sĩ danh tiếngthời Trần như Lê Văn Hưu, Lê Quát, Trương Hán Siêu đã công kích các nhà sư ham mênhà cửa lộng lẫy xa hoa, xây quá nhiều chùa tháp gây lãng phí tiền của và sức lực củadân, tố cáo các tăng lữ là những kẻ lười biếng, chỉ biết cầu phúc mà không lo tự lực.Không chỉ phê phán Phật giáo, họ còn công khai phê phán giới cầm quyền phong kiếnkhông theo đạo cương thường của Nho giáo.

Sự lấn lướt của Nho giáo và sự lùi bước của Phật giáo đã phản ánh những biến đổi trong

cơ cấu giai cấp - xã hội nước ta thời đó Từ thế kỷ XIII, ở Việt Nam, một tầng lớp địa chủmới có nguồn gốc từ thứ dân chứ không phải từ giai cấp phong kiến quý tộc được hìnhthành và phát triển Bên cạnh đó, việc học hành, thi cử Nho giáo được đẩy mạnh khiếncho tầng lớp Nho sĩ ngày một đông thêm Thế và lực của họ ngày một mạnh lên và từngbước chiếm được những vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước phong kiến

Nắm được chính quyền từ tay nhà Trần, Hồ Quý Ly vốn nổi tiếng uyên thâm Nho học đãmạnh tay công kích Phật giáo và suy tôn Nho giáo Dưới quyền Hồ Quý Ly, Nho họcđược khuyến khích phát triển mạnh mẽ hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó Số trường dạyNho học tăng lên nhanh chóng và mở đến tận châu, huyện Nhà nước cấp ruộng để nuôi

thầy, cấp tiền để mở lớp và mua sách Bản thân Hồ Quý Ly còn viết sách Minh đạo, phê phán Tống Nho, đề cao Chu Công hơn Khổng Tử(13).

 Sang thế kỷ XV, khi nhà nước phong kiến Lê Sơ được thiết lập thì chế độ phong kiếnViệt Nam đi vào giai đoạn phát triển cực thịnh Từ thời kỳ này, Nho giáo giành được vịtrí độc tôn trong đời sống chính trị và tinh thần của nước Đại Việt Lúc này, không chỉviệc học tập, thi cử theo khuôn mẫu Nho học, mà cả lĩnh vực văn học, nghệ thuật mangnội dung Nho học cũng phát triển mạnh Lê Lợi cho mở trường ở kinh thành và các địaphương để dạy cho con cái quý tộc và cả tầng lớp thứ dân Lê Thánh Tông là ông vua amhiểu Tống Nho rất sâu sắc và nâng Nho giáo lên địa vị cao nhất Lê Thánh Tông cho xâylại Văn Miếu và lập nhà Thái học, quy định thể lệ thi cử để tuyển dụng đội ngũ quan lại.Việc học tập và thi cử theo Nho học ngày càng đi vào quy củ Năm 1484, Lê Thánh Tông

đã định lệ dựng bia đá ở Văn Miếu để lưu danh các vị tiến sĩ từ khóa thi năm 1442 trở đi.Việc khuyến khích học hành và thi cử theo Nho học từ thời Lê Sơ về sau đã tạo ra mộttầng lớp Nho sĩ đông đảo, đa dạng, phức tạp ở triều đình và các địa phương trên cả nước

Hệ tư tưởng Nho giáo được quán triệt trong nhiều chủ trương, chính sách của nhà nướcphong kiến, qua đó thấm vào mọi lĩnh vực văn hóa, đạo đức của xã hội đương thời, làmthay đổi cách ứng xử, giao tiếp và đưa lại những hình thức nghi lễ chặt chẽ, phức tạp chocác phong tục như ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp, cúng tế trong gia đình cũng như cộngđồng làng xã

Trang 34

Nho giáo từ thời Lý – Trần được coi trọng và giành được vị trí độc tôn vào thời Lê Sơ là

do đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến tập quyền Từthời Lý –Trần, chế độ phong kiến Việt Nam đã đi vào ổn định và các tập đoàn cầm quyềnnhận thấy rằng, trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chỉ có Nho giáo mới có thể giải đápđược những vấn đề thiết thực trong tổ chức nhà nước và quản lý xã hội Những vấn đề đókhông thể tìm thấy lời giải đáp trong lý thuyết của Phật giáo cũng như Đạo giáo

Từ cuối thời Trần và giai đoạn nhà Hồ, những mâu thuẫn xã hội đã bộc lộ khá gay gắt Sựphản kháng của nhân dân chống lại trật tự hà khắc của chế độ phong kiến cùng với sựtranh giành quyền lực giữa các tập đoàn thống trị đã khiến bộ máy nhà nước suy yếunghiêm trọng Trước tình hình đó, để củng cố và tăng cường bộ máy nhà nước, lập lại trật

tự kỷ cương xã hội, giai cấp phong kiến Việt Nam không thể không tìm đến đạo tu, tề, trị,bình cùng lý thuyết chính danh định phận và lễ trị của Nho giáo

Sự tan rã của điền trang thái ấp cuối thời Trần đã tạo điều kiện cho tư hữu về ruộng đất

được dịp phát triển mạnh mẽ, hình thành chế độ gia trưởng trong nông nghiệp, trong đómỗi gia đình là một đơn vị sản xuất hoàn chỉnh Vai trò của người chủ gia đình đặc biệtđược coi trọng Việc đề cao hiếu đễ, tiết hạnh của Nho giáo đã góp phần củng cố uyquyền của người gia trưởng và duy trì tôn ty trật tự trong gia đình Mặt khác, một xã hộivốn đề cao đạo đức với tâm lý coi trọng việc thờ cúng tổ tiên và các nghi lễ ma chay,cưới hỏi là một thực trạng rất gần gũi với những quy định của Nho giáo Điều kiện kinh

tế, cơ sở xã hội đó chính là môi trường thuận lợi để Nho giáo dễ dàng bén rễ và thâmnhập vào đời sống của mọi giới

Nho giáo từ thời Lý – Trần đến thời Lê Sơ được đề cao còn do nhu cầu phát triển vănhóa, giáo dục ở nước ta thời đó Việc xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền đòi hỏiphải thường xuyên đào tạo, bổ sung đội ngũ quan lại Phát triển văn hóa, giáo dục vàthông qua thi cử để tuyển chọn nhân tài là một phương thức tuyển lựa quan lại mới được

áp dụng từ thời Lý, Trần trở đi Nho giáo với một hệ thống  lý thuyết và quy chế giáodục, thi cử chặt chẽ đã nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu đó Giáo dục theo Nho họcphát triển đã khiến cho các ngành văn hóa, học thuật cũng được đẩy mạnh Nho giáo vớitính cách là một học thuyết chính trị-đạo đức biết lấy sử ký để giáo hóa con người, lấyvăn để chở đạo nên được nhà nước phong kiến Việt Nam sử dụng để phục vụ cho sự pháttriển văn hóa, nghệ thuật của dân tộc

Cuối thời Lê Sơ, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng, triềuđình rệu rã, lòng dân ly tán do những cuộc chiến tranh giành quyền lực kéo dài giữa Lê

và Mạc, Trịnh và Nguyễn, kéo theo sự sa sút của Nho giáo Việc học tập, thi cử Nho họcvẫn được duy trì, song cả về mục đích, nội dung đã có sự xa rời đạo lý thánh hiền Khổng– Mạnh(14) Việc mua bán đề thi, văn bằng, học vị diễn ra công khai và có chủ trươngcủa nhà nước Người ta công khai mang sách, mượn người thi thay và gây ra cảnh hỗnloạn, vô kỷ cương chưa thời nào có Phan Huy Chú nhận xét: “ Từ khi kẻ nịnh thần đềnghị đổi phép thi, hạng sinh đồ ba quan đầy cả thiên hạ Người trên do đó lấy tiền màkhông ngại, kẻ dưới nộp tiền để được đỗ mà không thẹn, làm cho trường thi thành ra chỗbuôn bán”(15)

Ngày đăng: 26/06/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w