Tuy nhiên, trong phạm vi có thể, tiểu luận chủ yếu nghiên cứu chuẩn mực ngôn ngữ báo chí, đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ báo chí, cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ ngữ â
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA: PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH
*****
TIỂU LUẬN MÔN: NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
MỘT SỐ LỖI SỬ DỤNG NGÔN NGỮ THƯỜNG
GẶP TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY
Giảng viên: Trần Thị Vân AnhSinh viên: Nguyễn Thị Thạch Thảo
Mã sinh viên: 1856090035Lớp: Báo MDT CLC K38
Trang 2TIỂU LUẬN: NHỮNG LỖI TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG BÁO CHÍ HIỆN NAY
Thực hiện: Nguyễn Thị Thạch Thảo
Lớp: Báo mạng điện tử CLC K38
MỤC LỤC
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung
I. Ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí
1. Khái niệm về chuẩn mực ngôn ngữ
2. Chuẩn ngôn ngữ và biến thể
II. Tính chất của ngôn ngữ báo chí
Trang 3IV. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và trách nhiệm của người
làm báo
Kết luận
Tài liệu tham khảo
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, báo chí Việt Nam ngày càng trở nên tân tiến, hiện đại Không chỉ dừng ở báo in, báo chí đã và đang phát triển mạnh
mẽ trên các trang mạng xã hội, các kênh thông tin và các tờ báo điện tử Công nghệ đan xen, tất nhiên, lượng thông tin trở nên dồi dào hơn, tiếp cận người đọc nhanh hơn Nếu ngày trước, các tờ báo sẽ chỉ phát hành mỗi ngày một số, 7 số mỗi tuần, thì hiện nay, các trang báo online, các kênh thông tin thường xuyên cập nhật tin tức mỗi giờ, mỗi phút, thậm chí là mỗi giây Ngoài khả năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận, báo chí còn có trách nhiệm góp phần định hình ngôn ngữ, đặc biệt
là những tờ báo được viết cho giới trẻ Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổcông nghệ và thông tin hiện nay, ngôn ngữ trên báo chí đang ngày càng
Trang 4mất đi tính chất mà nó vốn có Không chỉ ở nội dung bài báo, thậm chí những lỗi về ngôn từ còn xuất hiện cả trên tít báo Sự sai lệch này gây ảnh hưởng tiêu cực đến báo chí cũng như người đọc Đề tài này là cần thiết để chúng ta có thể cùng nhau rút kinh nghiệm
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu Những lỗi sử dụng ngôn ngữ thường gặp trên báo chí dạng viết trên các phương tiện truyền thông, báo mạng điện tử
- Phạm vi nghiên cứu:
Có nhiều vấn đề cần nói về việc sử dụng ngôn ngữ trên báo hiện nay Tuy nhiên, trong phạm vi có thể, tiểu luận chủ yếu nghiên cứu chuẩn mực ngôn ngữ báo chí, đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ báo chí, cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm và chữ viết,
từ vựng, ngữ pháp), và các lỗi sai thường gặp trên một số trang báo mạng như và một số tờ báo in Thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
Trang 5NỘI DUNG
I. Ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí
1. Khái niệm về chuẩn mực ngôn ngữ
Theo GS.TS Vũ Quang Hào trong cuốn Ngôn ngữ báo chí, chuẩn mực của ngôn ngữ (chuẩn ngôn ngữ) cần được xét trên hai phương diện: chuẩn phải mang tính chất quy ước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận và sử dụng Mặt khác, chuẩn phải phù hợp phát triển nội tại của ngôn ngữ Từ đó, khi xác định chuẩn ngôn ngữ, đặc biệt là chuẩn ngôn ngữ báo chí, cần phải:
- Dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ để nắm được quy luật phát triển và biến đổi của ngôn ngữ trên tất cả các cấp độ
của nó là ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách
- Xét đến những lí do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hưởng đến sự phát triển của Tiếng Việt Những lí do đó là: những biến đổi lớn lao ngoài xã hội, công cuộc đổi mới đất nước… Những yếu tố xã hội đó dù muốn hay không cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc nội tại của Tiếng Việt, ở từng thời đại lịch sử, nó được thể hiện tức thời, sâu sắc và với một tần số cao trên báo chí
Trang 6Một nhóm nhà khoa học Nga Xô Viết nhấn mạnh đến tính chất xã hội của chuẩn ngôn ngữ, họ xem chuẩn là một hiện tượng xã hội và phát triển có tính lịch sử Quan niệm này đúng nhưng có phần phiến diện vì không tính đến bản thân ngôn ngữ, bỏ qua quy luật phát triển bên trong của cấu trúc ngôn ngữ
Cô-sê-ri-u xem chuẩn là tổng hợp những sự thể hiện các yếu tố trong cấutrúc ngôn ngữ đã được tách ra và củng cố trong thực tế sử dụng Điều đó
có nghĩa là theo ông, hệ thống ngôn ngữ là những hình mẫu trừu tượng còn chuẩn ngôn ngữ là sự thể hiện hình mẫu đó bằng chất liệu ngôn ngữ.Phần lớn ý kiến đều cho rằng chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử dụng Cố nhiên, sự đánh giá lựa chọn đó không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn và do vậy tính chất bắt buộc cũng như tính chất ổn định của chuẩn chỉ là tương đối Mặt khác, chuẩn không phải quy định mà là quy ước, không phải luật mà là chỉ dẫn Tuy nhiên, sự lựa chọn nói trên không những không loại trừ mà còn cho phép, thậm chí đòi hỏi một sự lựa chọn của cá nhân trong một phạm vi giao tiếp nhất định Khi lựa chọn của cá nhân đạt đến trình độ sáng tạo
Trang 7nghệ thuật và được cộng đồng đón nhận, thì cũng có nghĩa là một chệch chuẩn đã ra đời
Chuẩn ngôn ngữ bao gồm 2 nội dung căn bản, đó là cái đúng và sự thích hợp Cái đúng hay còn gọi là tiêu chuẩn đúng phép tắc được cộng đồng ngôn ngữ hiểu và chấp nhận, là một trong những điều kiện để thừa nhận tính chuẩn mực cùa ngôn ngữ
Tuy nhiên, cái đúng mới chỉ là một mặt của chuẩn mực Chuẩn mực còn cần phải thích hợp vì thông tin đúng mà không thích hợp thì hiệu quả thông tin kém Cái thích hợp còn có vai trò nâng cao giá trị thẩm mĩ cùa ngôn từ
Hai nội dung của chuẩn ngôn ngữ có mối quan hệ hữu cơ trong quá trình
sử dụng ngôn ngữ làm cho giao tiếp bằng ngôn ngữ đạt đến hiệu quả caonhất Giải quyết tốt mối tương quan đó giữa cái đúng và cái thích hợp chính là người viết đã đạt đến sự thành công và cái tài của nhà văn, nhà báo trong việc dung ngôn từ có đạt được hay không cũng chính là ở đó
2. Chuẩn ngôn ngữ và biến thể
Trang 8Chuẩn ngôn ngữ có những quy luật và cách sử dụng tồn tại khách quan trong một giai đoạn, trong một cộng đồng nười và mang tính chất bắt buộc tương đối đối với các thành viên cộng đồng Nhưng do chỗ ngôn ngữ luôn vận động nên cái chuẩn chung không những không loại trừ mà còn cho phép những biến thể khác nhau được sử dụng cùng với chuẩn Tình hình đó có thể diễn ra theo 3 chiều hướng:
- Hoặc là giữa biến thể với nhau xảy ra tình trạng cần bằng
- Biến thể cũ lấn át biến thể mới
- Biến thể mới thay thế biến thể cũ
Trong số các biến thể nói trên, có cái được coi là chệch chuẩn Tuy nhiên
đó không phải là cái sai mà là sự sáng tạo nghệ thuật được công chúng chấp nhận và đón nhận một cách hấp dẫn
Trang 9dễ thu hút người đọc nhưng một mặt dễ đưa ngòi bút của tác giảtrở nên lan man, sáo rỗng và chỉ thích hợp với những thể loại
báo chí nhất định
- Sự tồn tại của chệch chuẩn vừa mâu thuẫn vừa độc đáo Mâu thuẫn ở chỗ nó là hiện tượng lâm thời nhưng tông tại trong loại hình ngôn ngữ chuẩn Độc đáo ở chỗ nó là sự sáng tạo của cá
nhân nhưng lại được cả cộng đồng đón nhận bởi nó hấp dẫn
II. Tính chất của ngôn ngữ báo chí
1. Tính chính xác
Đối với ngôn ngữ báo chí, đây là tính chất đặc biệt quan trọng Vì báo chí có chức năng định hướng dư luận xã hội Chỉ cần một sơ suất nhỏ nhất cũng có thể làm cho độc giả hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây
ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng không lường trước được Có thể đưa ra dẫn chứng: Sau chuyến tháp tùng một quan chức cao cấp sang thăm Trung Quốc, một nhà báo đã viết một bài phóng sự, trong đó có câu: “Chúng tôi chia tay với tình hữu nghị dạt dào của hai nước Việt - Trung” Rõ ràng từ “với” ở đây được dùng sai (vì cụm từ “chia tay
với…” biểu đạt ý nghĩa “từ bỏ, từ giã”), cần phải thay nó bằng từ
“trong”
Trang 102. Tính cụ thể
Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí được hiểu là khi nhà báo miêu tả, tường thuật sự việc, phải cụ thể, cặn kẽ đến từng chi tiết nhỏ Có như vậy người đọc, người nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong bài báo Mỗi sự kiện được đề cập trong tác phẩm báo chí phải gắn liền với một không gian, thời gian xác định; với những con người xác định (có tên tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, giới tính…cụ thể) Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên hạn chế tối đa việc dùng từ có tính chất mơ hồ như: “một người nào đó”, “ở một nơi nào đó”, “vào khoảng”, “hình như” …
3. Tính đại chúng
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng Tất cả mọi người trong xã hội, không phụ thuộc nghề nghiệp, trình độ nhận thức, địa vị xã hội, lứa tuổi… đều là đối tượng phục vụ của báo chí Đây vừa là nơi để họ tiếp nhận thông tin, vừa là nơi để bày tỏ ý kiến Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là thứ ngôn ngữ dành cho đại chúng, có tính phổ cập rộng rãi như theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nổi tiếng người Nga V.G
Trang 11Kostomarov đã từng nói: “Ngôn ngữ báo chí phải thích ứng với mọi tầnglớp công chúng sao cho một nhà bác học với kiến thức uyên thâm nhất cũng không cảm thấy chán và một em bé có trình độ còn non nớt cũng không thấy khó hiểu”.
4. Tính ngắn gọn
Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn và súc tích Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, người nghe Thêm vào đó, nó còn làm tốn thời gian của cả người viết lẫn ngườiđọc, dễ dẫn đến các lỗi sai về mặt ngôn từ
5. Tính định lượng
Các tác phẩm báo chí thường bị giới hạn về mặt thời gian hay diện tích xuất hiện trên báo, đó là tính định lượng Vì thế, việc lựa chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ lưỡng, hợp lý để phản ánh đầy đủ lượng sự kiện mà không vượt quá khung cho phép về thời gian và không
gian Theo bài: “Đặt tít ngắn có dễ?” trên trang web Nghề báo
(nghebao.com), có những tít báo rất dài, như: “Hội thảo đổi mới giáo
dục đại học Việt Nam - Hội nhập và thách thức” (tít này dài 64 ký tự),
Trang 12sau khi được sửa lại là: “Hội thảo đổi mới giáo dục đại học” (chỉ còn
33 ký tự) Chúng ta có thể nhận ra tít sau khi sửa chỉ dài gần bằng phân nửa tít trước nhưng nội dung chính vẫn được giữ nguyên Vậy tại sao lại bắt độc giả ngồi đọc những dòng chữ dài lê thê và khiến cho họ cảm thấy “tức mắt” như vậy?
Bài viết trên cũng đã đưa ra chuẩn mực cho một tít báo là khoảng dưới
50 ký tự, theo đó là một vài gợi ý nhỏ khi viết tít:
Trang 13mạnh mẽ tới tâm hồn người nghe, làm cho họ có những trạng thái cảm xúc nhất định theo như người viết mong đợi.
4. Tính khuôn mẫu
Trong văn phong báo chí, ta rất hay gặp những dạng tin như:
- Theo AFP, ngày…tại…trong cuộc gặp gỡ…Tổng bí thư…đã kêu gọi…
- TTXVH, ngày…người phát ngôn Bộ Ngoại giao…cho biết…
Đây chính là tính khuôn mẫu của báo chí, thường bao gồm 6 câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Bao giờ? Như thế nào? Tại sao?
Yếu tố khuôn mẫu không đi một mình Nó thường được kết hợp với thành tố biểu cảm, nên ngôn ngữ báo chí thường mềm mại, hấp dẫn chứ không hề khô khan như trong một văn bản khoa học hay văn bản hành chính
III. Thực trạng và giải pháp
1. Các lỗi sai thường gặp
-Cách viết không thống nhất những từ nước ngoài đã được Việt hóa, tức
là đã được phiên âm, dùng phổ biến trong tiếng Việt Ví dụ: càphê,
Trang 14ximăng, xíchlô, bêtông, axít, vắcxin, kiốt Theo tôi, những từ như thế đã thoát khỏi nguyên gốc, được sử dụng như mọi từ tiếng Việt khác, có dấu tiếng Việt thì cần viết tách ra Hoặc chúng ta có thể sửa bằng cách để tiếng gốc, thay bằng từ đã được phiên âm tiếng Việt.
- Những từ nước ngoài về đo lường viết tắt như: km (ki lô mét), kg (ki lôgam), ha (héc ta), m2 (mét vuông) bị nhiều phóng viên và tờ báo dùng không chuẩn mực Cần lưu ý rằng những từ đó khi đi liền với con số cụ thể thì có thể viết tắt (ví dụ 200ha, 15km) nhưng khi đi với chữ thì phải viết đầy đủ (ví dụ 200 ngàn héc ta, 1 vạn ki lô mét) Điều rất đáng lưu ý
là trong tiếng Việt đã có những từ thay thế rất gọn nhưng ít được dùng,
ví dụ: cây số (ki lô mét), ký (ki lô gam)
- Dùng dấu phẩy (,) tràn lan Không chỉ trên mặt báo mà ngay cả những văn bản quan trọng của nhà nước bây giờ cũng nhan nhản sự lạm dụng dấu phảy Họ lý giải rằng tách ra bằng dấu phẩy để nhấn mạnh, làm rõ từng thành phần, từng yếu tố được nói đến nhưng thực ra không cần thiết bởi không dùng dấu phẩy thì người đọc vẫn hiểu nội dung văn bản đang thể hiện cái gì Rất nhiều từ ghép, thành ngữ cần phải viết liền thì
Trang 15bị tách ra bằng dấu phẩy khiến văn bản trở nên rối, vô duyên, ví dụ: phòng, chống tham nhũng (trong khi đó lại viết liền phòng chống lụt bão); tắm, giặt; cơm, áo, gạo, tiền; rút dây, động rừng; trọng nam, khinh nữ; mưa to, gió lớn; dạy thêm, học thêm; nhà cao, cửa rộng; giận cá, chém thớt…
2. Nguyên nhân
2.1. Nguyên nhân khách quan:
Báo chí hiện đại, hay còn gọi là báo mạng điện tử vẫn còn trên đà cạnh tranh với những trang thông tin Vì cạnh tranh nên có thể khâu kiểm duyệt chưa được chọn lọc kĩ càng và nghiêm túc
2.2. Nguyên nhân chủ quan:
Đến từ nghiệp vụ và kiến thức của người viết bài là chủ yếu Nhiều người làm báo, cộng tác viên của những tờ báo đã không trau dồi đủ kiến thức về từ vựng cũng như cách sử dụng từ vựng, dẫn đến những sai sót không đáng có
Trang 163. Một số lưu ý khi sử dụng ngôn ngữ báo chí
a) Viết tắt: Đối với các từ hay cụm từ được sử dụng lặp đi lặp lại trong một bài báo hay văn bản nói chung, viết tắt không chỉ tiết kiệm được thời gian và công sức mà còn giúp đáp ứng yêu cầu về trình bày (diện tích khổ báo hạn chế, đảm bảo sự hài hòa, cân xứng giữa các thành tố ngôn ngữ…)
- Kiểu viết tắt phổ biến nhất hiện nay là viết các chữ cái đầu tiên của các
âm tiết có trong tên gọi
Ví dụ: xã hội chủ nghĩa là XHCN; ủy ban nhân dân là UBND;
+ Kiểu viết tắt này chỉ được dùng cho các tên gọi được cấu tạo bởi các
từ cùng một thứ tiếng, chủ yếu là tiếng Anh hay tiếng Việt
+ Chỉ được sử dụng hình thức viết tắt trên sau khi đã viết dạng đầy đủ cókèm dạng tắt được đặt trong ngoặc đơn đứng ngay bên cạnh Ví dụ:Học viện Báo chí và Tuyên truyền (HVBCVTT) , Đài Truyền hình Việt Nam (ĐTHVN),…
Trang 17+ Không nên viết tắt theo kiểu trên ở tít Trong trường hợp bất khả
kháng, chỉ nên viết tắt những từ hay cụm từ xuất hiện với tần số cao trong giao tiếp mà hầu hết mọi người đều biết như XHCN, UBND, VTV,GDP …
- Kiểu viết tắt lược bớt các yếu tố theo xu hướng giữ lại ít nhất hai chữ cái trong mỗi âm tiết của tên gọi (trong đó thường có một chữ cái là ký hiệu ghi nguyên âm) Ví dụ: HABECO (Công ty Bia Hà Nội),
VINATABA (Công ty Thuốc lá Việt Nam) … Đối với các tên gọi tiếng Anh, nếu bộ phận chính của tên (bộ phận giúp nhận diện được ngay đặc thù về phạm vi chức năng, lĩnh vực sản xuất hay kinh doanh của đối tượng dịch vụ có tên viết tắt) chỉ có một âm tiết thì trong nhiều trường hợp nó được giữ nguyên VD: HABUBANK (Ngân hàng Xây dựng và Phát triển nhà Hà Nội), SILKTEXTCO (Công ty Xuất khẩu tơ tằm), FAFILM (Hãng Phim Việt Nam), VINAMILK (Công ty Sữa Việt Nam)
Trang 18- Kiểu viết tắt thứ ba kết hợp một âm tiết của từ này với một âm tiết của
từ khác để tạo nên một từ ghép mới rồi gán cho nó ý nghĩa của các từ nguyên gốc
b) Viết hoa: Có một số quy tắc viết hoa cơ bản đã được thừa nhận và đang được sử dụng rộng rãi trong xã hội:
- Viết hoa tên người:
+ Đối với tên người nước ngoài, chỉ cần viết hoa chữ cái đầu ở mỗi bộ phận của tên Ví dụ: Vladimir Putin, Bill Clinton, Victo Hugo …
+ Đối với tên người Việt Nam hay tên người nước ngoài được phiên âm qua Hán - Việt, chữ cái đầu của tất cả các âm tiết đều được viết hoa Ví dụ: Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Đỗ Phủ, Thành Cát Tư Hãn …
- Viết hoa tên địa lý: Tên địa lý được viết hoa giống tên người, ví dụ: Tên địa lý Việt Nam: Trường Sơn, Cửu Long, Hà Nội, Việt Bắc … Tên địa lý nước ngoài: Paris, Berlin, Washington …
- Viết hoa tên các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội: Với tên các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội …chúng ta viết hoa chữ cái