1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, cảicách hành chính đòi hỏi xây dựng một nền hành chính chính quy, chuyên nghiệpthực sự là của dân, do dân, vì dân

24 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 45,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, cảicách hành chính đòi hỏi xây dựng một nền hành chính chính quy, chuyên nghiệpthực sự là của dân, do dân, vì dân, cùng vớ

Trang 1

Lý do chọn đề tài Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, cảicách hành chính đòi hỏi xây dựng một nền hành chính chính quy, chuyên nghiệpthực sự là của dân, do dân, vì dân, cùng với quá trình đó là “xây dựng đội ngũcán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, cónăng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân” Những phẩmchất đó như là những biểu hiện tập trung đạo đức công vụ của cán bộ, côngchức, viên chức Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và chuyển đổi từ nềnhành chính cai quản sang nền hành chính phục vụ thực hiện các dịch vụ côngđòi hỏi phải nâng cao đạo đức công vụ của tất cả mọi đối tượng cán bộ, côngchức, viên chức khi thực thi công vụ Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứuvấn đề Đạo đức công vụ không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn có ý nghĩathực tiễn Sở dĩ như vậy là vì lý do chủ yếu sau đây: Một là: Đạo đức công vụ làvấn đề cơ bản nhất để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội Có thể nóisau khi xây dựng dựng được hệ thống chính sách đúng đắn, phù hợp với yêu cầuthực tiễn, chức năng quản lý xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam được thực hiện thế nào, hiệu quả, hiệu lực ra sao phụ thuộc đáng kểvào việc thực thi công vụ của đội ngũ công chức nhà nước Nói cách khác đạođức công chức trong việc thực thi công vụ có ảnh hưởng quyết định Vì vậynâng cao đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay là nhiệm vụ cấp bách trong tiếntrình cải cách nền hành chính Hai là: Nhà nước ta luôn xác định nhân tố conngười đóng vai trò then chốt trong công cuộc cải cách hành chính, xây dựngđược một đội ngũ công chức giỏi về nghiệp vụ và đáp ứng được những chuẩnmực của đạo đức công vụ là một trong những yêu cầu cấp bách góp phần đẩymạnh cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền đồng thời nâng caođạo đức công vụ còn là một trong những công cụ hữu hiệu phục vụ cho cuộc đấutranh chống tham nhũng và tiêu cực.

1 6 2 Ba là: Trong nhà nước pháp quyền, người dân có vị trí đặc biệt Xuhướng chung là các chức năng của nhà nước đang hướng tới phục vụ, đáp ứnglợi ích của người dân Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân,

do đó mục tiêu cao nhất là phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn Với bản chất nhưvậy và để thực hiện mục tiêu đó thì đội ngũ công chức phải thực sự là người cóđạo đức Hơn nữa trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi phảinâng cao đạo đức công vụ phù hợp với thông lệ quốc tế khi Việt Nam ngày cànghội nhập sâu rộng với thế giới Bốn là: về phương diện thực tiễn, sau 28 nămtiến hành công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta đangđứng trước những thách thức không nhỏ Tình trạng trách nhiệm và đạo đứccông vụ của đội ngũ công chức đang có nhiều vấn đề; suy thoái đạo đức ở một

bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức Đây là vấn đề nhức nhối, gây bức xúctrong nhân dân, trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng,

Trang 2

sự quản lý của Nhà nước Đại hội XI của Đảng nhận định: Tình trạng suy thoái

về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảngviên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xãhội chưa được ngăn chặn đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp cùng với sựphân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấpnhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và nhà nước, đe dọa sự

ổn định của đất nước [15] Như vậy việc nghiên cứu đạo đức công vụ ở nước tahiện nay để tìm ra phương hướng, giải pháp khắc phục tình trạng này đã trởthành một đòi hỏi bức thiết không chỉ của nền hành chính quốc gia, mà còn lànhu cầu của toàn xã hội Về phương diện lý luận, mặc dù trong những năm gầnđây, chúng ta đã có những công trình, đề tài nghiên cứu về công vụ, công chức,đạo đức cán bộ, công chức Song từ góc độ của Lý luận và lịch sử nhà nước vàpháp luật và trong môi trường xây dựng nhà nước pháp quyền để nghiên cứuđạo đức công vụ vẫn còn bỏ

2 7 3 ngỏ Với mong muốn góp thêm ý kiến làm sáng tỏ thêm những vấn đềliên quan đến đạo đức công vụ, học viên mạnh dạn chọn đề tài “Đạo đức công

vụ trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 2.1 Mục đích nghiên cứu Mục đích củanghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về đạo đức công vụ trong nhà nướcpháp quyền; đánh giá thực trạng đạo đức công vụ của công chức ở Việt Namhiện nay; đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công

vụ của công chức ở nước ta hiện nay 2.2 Nhiệm vụ của luận văn Để đạt đượcmục đích nêu trên: đề tài có nhiệm vụ cụ thể sau: - Nghiên cứu các vấn đề lýluận về đạo đức công vụ và pháp luật về đạo đức công vụ trong nhà nước phápquyền Việt Nam - Phân tích thực trạng đạo đức công vụ của đội ngũ công chứcthời gian qua, từ đó thấy được những hạn chế, yếu kém của nền công vụ nước ta

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật

và nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ công chức nước ta hiện nay 3 Tínhmới và đóng góp của đề tài Luận văn có những đóng góp khoa học mới như sau:

- Đưa ra các luận điểm khoa học về đạo đức công vụ của công chức trong nhànước pháp quyền - Chỉ ra những hạn chế, yếu kém của đạo đức công vụ củacông chức trong quá trình thực thi công vụ và những nguyên nhân của nhữnghạn chế, yếu kém đó - Đề xuất được một số phương hướng, giải pháp có căn cứkhoa học, mang tính thực tiễn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng caotrách nhiệm công vụ, đạo đức công vụ trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

4 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu Chủ đề đạo đức công vụ trong nhà nướcpháp quyền ở Việt Nam là một chủ đề lớn, bao gồm đạo đức công vụ của cán bộ,công chức, viên chức của đối tượng cá nhân khác khi được nhà nước trao quyềnthực thi công vụ Vì vậy,

Trang 3

3 8 4 trong khuôn khổ giới hạn của luận văn thạc sỹ, luận văn chỉ tập trungnghiên cứu về đạo đức công vụ của công chức hành chính nhà nước Đây cũng

là sự tự giới hạn của việc nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đạođức công vụ của đội ngũ công chức trong bộ máy hành chính nhà nước, thôngqua các hoạt động thực thi công vụ của công chức Khi đánh giá thực trạng, luậnvăn nhấn mạnh hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của nó chủ yếu trên các lĩnhvực: thể chế, tổ chức bộ máy, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức và chỉgiới hạn trong hoạt động công vụ của công chức từ năm 1986 đến nay 5 Tổngquan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Ở nước ta có nhiều đề tài côngtrình khoa học ở nhiều giác độ, phạm vi, giới hạn khác nhau về vấn đề đạo đứccông vụ Học viên đã tiếp cận một số công trình khoa học về Đạo đức công vụđược công bố như: - Đề tài khoa học cấp bộ “Xây dựng đạo đức cán bộ côngchức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế” của TS Nguyễn Ngọc Hiến - Học viện hành chính quốc gia, chủnhiệm đề tài.Công trình này - Tìm hiểu về nền hành chính nhà nước của tác giảNguyễn Hữu Khiển, năm 2003 - Đạo đức trong nền công vụ của nhóm tác giả

Tô tử Hạ, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo biên soạn năm 2002; Đề tàinày giới thiệu các kinh nghiệm cũng như giải pháp ở các nước trên thế giới vàViệt Nam về nâng cao đạo đức trong nền công vụ - Công vụ, công chức nhànước của tác giả Phạm Hồng Thái, ấn hành năm 2004 Công trình này tập trunglàm rõ những khía cạnh lý luận, pháp lý về công vụ, công chức nhà nước, nhưngcông trình không có những luận bàn về đạo đức công vụ, đạo đức công chứctrong thi hành công vụ - Xây dựng đạo đức cán bộ công chức Việt Nam thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, của tác giả BùiThế Vĩnh, ấn hành năm 2003.Các tác giả đã đưa ra một số giải pháp chung đểxây dựng đạo đức cán bộ công chức trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc

tế, sự vận dụng kinh nghiệm nước ngoài trong việc thúc đẩy tiến trình luật hóađạo đức công chức ở Việt Nam

4 9 5 - Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp của tác giảNguyễn Duy Quý, ấn hành năm 2006 - Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiệnkinh tế thị trường ở nước ta hiện nay của hai tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn vàNguyễn Văn Phúc, ấn hành năm 2003 - Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đứccông vụ (Đề tài cấp bộ 2006 – 2007) do tác giải Phạm Hồng Thái làm chủ nhiệm

đề tài Đề tài đã có những luận bàn về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức,pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ, đồng thời đã phân tích sự điều chỉnhcủa pháp luật về đạo đức công vụ - Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trịtrong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay- thực trạng và xu hướngbiến động(Đề tài cấp bộ năm 2002- 2003 do Nguyễn Thế Kiệt - Học viện chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm đề tài) - Vấn đề đạo đức của cán bộ

Trang 4

lãnh đạo quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở ViệtNam hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh, năm 2005 của Mai Xuân Hợi - Đạo đức công chức và xây dựng đạo đứccông chức ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ của Lê thị Hằng - Viện triết họcnăm 2008 - Trách nhiệm công chức và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay,Luận án tiến sỹ của Cao Minh Công - Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 2012

- Đạo đức công vụ và vấn đề nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ côngchức ở nước ta hiện nay của tác giả Nguyễn Hữu Khiển đăng trên Tạp chí triếthọc số 10/2003 - Nghiên cứu so sánh qui định về đạo đức công vụ của một sốquốc gia và Việt Nam của tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan, ấn hành năm 2012 Đề tàinày đề cập đến những vấn đề chung về đạo đức công vụ, so sánh đối chiếu quyđịnh về đạo đức công vụ của một số quốc gia trên thế giới và khuyến nghị cho

hệ thống quản lý đạo đức công vụ của Việt Nam - Luật cán bộ công chức năm2008; Luật Khiếu nại năm 2011; Luật tố cáo năm 2011; Luật thực hành tiếtkiệm, chống lãng phí Các công trình trên đã đề cập đến nhiều nội dung phongphú như bàn về đạo

5 10 6 đức công vụ, nội dung vai trò và ý nghĩa đạo đức công vụ trong việcthực thi công vụ Tuy nhiên, trong các công trình nói trên vấn đề đạo đức công

vụ, đạo đức của công chức trong thi hành công vụ đã được các tác giả xem xét,giải quyết ở một số khía cạnh nhất định, từ phương diện đạo đức học, xã hộihọc, triết học, hành chính học, hay pháp luật hành chính, nhưng chưa có côngtrình nào nghiên cứu đạo đức công vụ dưới góc độ của Lý luận và lịch sử nhànước và pháp luật và trong môi trường xây dựng nhà nước pháp quyền Tuy vậy,các công trình trên là tài liệu tham khảo quan trọng giúp cho học viên thực hiệnluận văn này 6 Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp luậncủa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời sửdụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp lịch sử: Xem xét đạo đức công

vụ và pháp luật về đạo đức công vụ theo từng giai đoạn, từng quá trình Từ đótìm ra quy luật của sự phát triển cũng như vai trò của đạo đức công vụ và phápluật về đạo đức công vụ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn kế thừa,tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu về đạo đức công vụ.Tuy nhiên đây không phải là sự sao chép vì đã có sự sắp xếp theo kết cấu kháctheo góc nhìn của tác giả Phương pháp so sánh: So sách đạo đức công vụ vớicác loại hình đạo đức khác Phương pháp thống kê xã hội học: Từ những kết quảthống kê, điều tra, khảo sát về thực trạng đạo đức công vụ để đề ra những giảipháp hợp lý 7 Kết cấu của Luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mụctài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1 Cơ sở

lý luận về đạo đức công vụ trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt NamChương 2 Thực trạng đạo đức công vụ ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Trang 5

Chương 3 Phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao đạo đức công vụtrong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay

6 11 7 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ TRONGNHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1.1 Công vụ,công chức và đạo đức công chức Để nghiên cứu, đánh giá về đạo đức công vụtrong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trước hết cần thống nhất quanđiểm về công vụ, công chức, đạo đức công vụ của công chức, do đó Luận văngiành một phần để làm rõ những khái niệm công vụ, công chức Vì nếu khôngxác định rõ, thì mọi điều viết về đạo đức công vụ cũng không có tính xác định.1.1.1 Công vụ Công vụ là khái niệm mang tính lịch sử được sử dụng rộng rãitrong khoa học chính trị, nhất là trong hoạt động của nhà nước Trong cuốnThuật ngữ hành chính, các tác giả viết: Công vụ là thuật ngữ được sử dụng đểchỉ một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước (gắn với nhà nước hoặcnhân danh nhà nước) do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành theo quiđịnh của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước, phục

vụ lợi ích nhà nước và xã hội [60] Khái niệm công vụ gắn chặt với nền hànhchính nhà nước, là một loại lao động đặc thù thể hiện bộ phận quản lý nhà nước;thực thi pháp luật, đưa pháp luật và đời sống; quản lý và sử dụng hiệu quả côngsản và ngân sách nhà nước phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội “Công vụ là mộthoạt động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chứcnhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý các mặt củađời sống xã hội” [22] Nói đến công vụ là nói đến hoạt động của nhà nước, mộtlĩnh vực đặc thù, mang tính quyền lực công, được thực thi bởi một đội ngũ côngchức hành chính nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trìnhquản lý các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội Đề cập đến công vụ là đề cậpđến trách nhiệm của công chức thực hiện quyền và nghĩa vụ

7 12 8 nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội Về mặt pháp lý, tráchnhiệm thường được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa quyền và nghĩa

vụ Do đó, công vụ chính là trách nhiệm của chủ thể nhân danh quyền lực côngthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo qui định của pháp luật Với ý nghĩa quantrọng như vậy, bất kỳ nhà nước nào cũng phải xây dựng một nền công vụ cóhiệu lực, hiệu quả và nhấn mạnh đến trách nhiệm công vụ Các quốc gia có thểchế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước khác nhau thì quan niệm về hoạt độngcông vụ cũng có điểm khác nhau Tuy nhiên, bản chất và mục tiêu cuối cùng củahoạt động công vụ đều giống nhau Khái niệm công vụ có thể được xem xét,hiểu và tiếp cận dưới nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau: Thứ nhất, công vụ đượchiểu là hoạt động của công chức thực hiện hoạt động hành chính nhà nước Thứhai, công vụ được hiểu là hoạt động của công chức trong các cơ quan nhà nước,đơn vị sự nghiệp của nhà nước và lực lượng vũ trang Cách hiểu này nhằm tách

Trang 6

biệt những hoạt động có tính chính trị với với hoạt động có tính chuyên mônnghề nghiệp Thứ ba, công vụ được hiểu là các công việc của nhà nước, có nghĩahoạt động của mọi thiết chế, tổ chức nhà nước đều thực hiện công vụ Cách hiểunhư vậy quá rộng, gần giống với quan niệm về dịch vụ công của các nước Anh,

Mỹ, người ta coi cả hoạt động lập pháp, quốc phòng an ninh cũng là “dịch vụcông” Nhưng quan niệm này cũng có yếu tố hợp lý là có thể thấy mọi hoạt độngcủa nhà nước trong một chừng mực nhất định đều mang tính chất phục vụ nhândân Trong đó những hoạt động mạng tính chất quyền lực công thì gọi là công

vụ, còn những hoạt động của các tổ chức sự nghiệp nhằm mục đích phục vụcông cộng thì gọi là “dịch vụ công” Thứ tư, công vụ được hiểu là hoạt động của

bộ, công chức, viên chức hoạt động trong mọi cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhànước và cả cán bộ, chiến sỹ làm việc trong các lực lượng vũ trang Từ đây nảysinh vấn đề là không nhận thấy cái đặc thù của từng loại hoạt động nhà nước:hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Như vậy, có nhiều quan niệm và cáchhiểu khác nhau, nhưng điểm chung nhất của các quan niệm đó là tính chất phục

vụ xã hội của hoạt động công vụ đều

8 13 9 gắn với nhà nước, với quyền lực công Công vụ thể hiện ý chí và đápứng lợi ích của nhân dân và của nhà nước Xuất phát từ chỗ công vụ là phươngtiện thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, nó là định chế tổ chức -pháp lý trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước và phải phục vụ ý chí củanhà nước và của nhân dân Công chức khi thưc thi công vụ phải phục vụ nhândân, chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân và của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Ở Việt Nam, do dặc thù riêng, các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổchức chính trị - xã hội là một hệ thống chính trị thống nhất đặt dưới sự lãnh đạocủa Đảng Giữa các cơ quan này luôn có sự liên thông trong sử dụng nguồn nhânlực Do đó công vụ không chỉ thuần túy là hoạt động của công chức nhân danhquyền lực công, mà còn được hiểu là các hoạt động trong phạm vi rộng hơn Đểkhẳng định tính đặc thù này, Điều 2 Luật cán bộ công chức năm 2008 quy địnhhoạt động công vụ “Là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, côngchức theo qui định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [47] ViệtNam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Vì vậyviệc làm rõ nội hàm khái niệm công vụ có ý nghĩa quan trọng đối với việc xâydựng nền hành chính hiệu quả, chuyên nghiệp, trong sạch và có đạo đức phục vụnhân dân Chương trình sáng kiến phòng chống tham nhũng ở Việt Nam năm

2011 khẳng định: Nền hành chính phục vụ là nền hành chính dân chủ, trongsạch,vững mạnh chuyên nghiệp, hiện đại, trong đó đội ngũ cán bộ công chức có

đủ phẩm chất và năng lực, các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực hiệu quả,đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế chính trị, xã hội của đất nước Nền hànhchính phục vụ đóng vai trò phục vụ tốt nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân

Trang 7

chứ không phải để hành dân [56] Tóm lại, khái niệm công vụ được xem xét,hiểu ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau Nhưng theo chúng tôi Công vụ là toàn

bộ hoạt động của công chức trong quản lý xã hội theo chức năng được qui địnhtrong pháp luật nhằm mục đích phục vụ nhân dân, xã hội và nhà nước

9 14 10 1.1.2 Công chức Công chức là bộ phận cấu thành của nền công vụ.Khái niệm công chức bao giờ cũng song hành và gắn liền với sự hình thành,phát sinh và phát triển của nền công vụ Năng lực, hiệu quả hoạt động của nềncông vụ được quyết định bởi trình độ, năng lực của công chức Công chức đượchiểu một cách chung nhất là những người thừa hành quyền lực nhà nước trongthực thi công vụ một cách chuyên nghiệp Thuật ngữ công chức ở Việt Namđược sử dụng qua mỗi giai đoạn lịch sử với phạm vi rộng, hẹp khác nhau, theokhoản 2 Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008: Công chức là công dân ViệtNam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quancủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trungương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân màkhông phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong

cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quanchuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọichung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sựnghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệpcông lập theo quy định của pháp luật [47, Điều 4, Khoản 2] Bên cạnh đó Luậtcòn quy định “công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ mộtchức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Khác với các nước, công chức ở ViệtNam bao gồm: công chức trong các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, côngchức Nhà nước, công chức của các tổ chức chính trị - xã hội, công chức trongđơn vị sự nghiệp công lập, công chức trong cơ quan, đơn vị quân đội và công an.Như vậy, nghiên cứu đạo đức công vụ là nghiên cứu đạo đức trong thi hành công

vụ của cán bộ, công chức

10 15 11 1.1.3 Quan niệm về đạo đức công chức Thuật ngữ “đạo đức” trongtiếng Anh là morality, trong tiếng Pháp là marale đều có gốc từ tiếng La tinh làmoris, có nghĩa là những lề thói đạo nghĩa Trong tiếng Hy Lạp, thuật ngữethicos (hạnh kiểm, luân lý) cũng có nghĩa là lề thói, tập tục Sau này, ngườiphương Tây cũng dùng cả thuật ngữ ethique với nghĩa là đạo đức Trong tiếngViệt thuật ngữ "đạo đức" được giải thích theo nhiều cách khác nhau: Đạo đức là

"Phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội"

"phẩm chất tốt đẹp của con người" [63] Có người giải thích đạo đức là từ ghép,

Trang 8

được tạo bởi hai thành tố "đạo" và " đức"; "đạo" là "một cái đạo lý, một cái lẽnhất định, là ai cũng phải noi đấy mà theo"; " đức" có nghĩa là " cái đạo để lậpthân, thiện, làm thiện, cảm hóa đến người [14] Theo cách giải thích của ĐàoDuy Anh thì chữ "đạo đức" được tạo bởi hai thành tố "đạo" và "đức", “đạo” cónghĩa là đường đi, còn “đức” có nghĩa là có nghĩa là nguyên lý tự nhiên, đượcvào lòng người là đức - Cái lý - pháp người ta nên noi theo [morale,vertu 1].Như vậy, về mặt ngôn ngữ đạo đức được hiểu ở một số khía cạnh sau: Thứ nhất,đạo đức là những chuẩn mực, những quy tắc trong hành vi, cách xử sự giữa conngười với con người; Thứ hai đạo đức là công lý, lẽ phải, chuẩn mực phù hợpvới quy luật của tự nhiên và xã hội, là "cái lẽ sống, lẽ phải, đạo ở đời"; Thứ bađạo đức phẩm chất, nét đẹp của con người Như vậy, về mặt ngữ, nghĩa của từ,người phương Đông và phương Tây đều gặp nhau ở một điểm là đều coi "đạođức" là những chuẩn mực xã hội, mang tính hướng thiện, là công lý, lẽ phảinhằm điều chỉnh ý thức, hành vi con người Từ đó có thể hiểu: đạo đức là “tổnghợp những nguyên tắc, quan điểm, chuẩn mực về điều thiện, điều ác, lương tâm,

lẽ công bằng, điều vinh, điều nhục nhằm hướng con người đến cái chân, cáithiện, cái mỹ ; chống lại cái giả, cái ác, cái xấu” Chủ tịch Hồ Chí Minh là mộtnhà tư tưởng, danh nhân văn hóa thế giới, đã bàn nhiều về vấn đề đạo đức,Người đã sử dụng nhiều phạm trù, khái niệm đạo đức như: trung, hiếu, nhân,nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính đã có trong Nho giáo; dân chủ, công bằng, tự do,bình đẳng, bác ái đã xuất hiện từ thời cổ đại Hylạp, La Mã

11 16 12 Người không sử dụng thuật ngữ “đạo đức cán bộ, công chức, mà sửdụng thuật ngữ đạo đức cách mạng, đạo đức cán bộ” Theo Chủ tịch Hồ ChíMinh: Đạo đức cách mạng không phải trên trời xa xuống Nó do đấu tranh, rènluyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển củng cố Cũng như ngọc càng mài càngsáng, vàng càng luyện càng trong [32] Người căn dặn cái gì cũ mà xấu, thì phảibỏ cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý;cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm; cái gì mới mà hay, thì ta phải làm [29].Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh để trau dồi đạo đức cách mạng, người cán bộ phảiluôn rèn luyện, tu dưỡng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa quanliêu Theo Hồ Chí Minh thì "Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạođức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [33] Tư tưởng củaChủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được khái quát thành nội dungsau: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm Đạo đức cách mạng cũng chính là đạo đức củangười cán bộ, công chức Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nềntảng mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang; Cây phải có gốc, không có gốc thìcây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấycũng không lãnh đạo được nhân dân [30] Người còn nói Đạo đức của ngườicách mạng không phải là những giáo điều suông mà là đạo đức của hành động

Trang 9

Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyệnbền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng,vàng càng luyện càng trong [30] Bên cạnh những chuẩn mực đạo đức đó, đạođức cán bộ còn là" lời nói đi đôi với việc làm (ngôn hành hợp nhất), nêu gươnglàm tốt, đấu tranh và khắc phục thói hư, tật xấu "Quần chúng chỉ quý mếnnhững người có tư cách đạo đức, muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mựcthước cho người ta bắt chước" [30] Như vậy, cán bộ phải là người phục vụtrung thành của nhân dân, gắn bó

12 17 13 chặt chẽ với nhân dân, hết lòng, hết sức tận tuỵ phục vụ nhân dân,lắng nghe ý kiến của nhân dân Đó là tư tưởng cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

về đạo đức người cán bộ cách mạng, đó cũng chính là đạo đức cán bộ, côngchức Trên cơ sở kế thừa và phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạođức cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn có những chủ trương, chính sáchxây dựng đội ngũ cán bộ, công chức vừa hồng vừa chuyên, rèn luyện đạo đứctheo gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Đạo đức cán bộ, công chức theoquan điểm của Đảng ta được khái quát thành các nội dung sau: - Có tinh thầnyêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng và phápluật của Nhà nước - Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng

và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỷ luật Trungthực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm -

Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chínhsách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực

và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Cáctiêu chuẩn đó, có quan hệ mật thiết với nhau Coi trọng cả đức và tài, đức là gốc.Mặt khác các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán

bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống Đảng cũng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải tựgiác rèn luyện đạo đức, lối sống cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; gươngmẫu giữ gìn phẩm chất người chiến sĩ cộng sản, đề cao tinh thần đoàn kết, chốngchủ nghĩa cá nhân; chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước; đồngthời, chú ý giáo dục, thuyết phục gia đình cùng thực hiện [17] Những quanđiểm chuẩn mực chung về đạo đức cán bộ, đảng viên được cụ thể hóa trongnhiều văn bản của Đảng, đặc biệt là những quy định về những việc đảng viênkhông được làm, đồng thời cũng là những chuẩn mực đạo đức của người cán bộ,công chức không chỉ trong công vụ, mà còn trong lối sống sinh hoạt hàng ngàycủa họ

13 18 14 Trên cơ sở quan niệm về đạo đức, quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cán bộ, có thể hiểu:Đạo đức công chức là hệ thống các nguyên tắc, quan điểm, quy phạm về lẽ phải,

Trang 10

sự công bằng, về điều thiện, cái ác, cái đúng, cái sai trong đời sống xã hội, đờisống nhà nước thể hiện ý chí, tâm tư tình cảm của công chức, nhằm điều chỉnh ýthức, hành vi hành vi, cách xử sự của công chức trong hoạt động công vụ, nhiệm

vụ, cũng như thái độ của họ trong công vụ Tư tưởng, quan điểm về đạo đứccông chức là cơ sở nền tảng để xây dựng một nền đạo đức công vụ phục vụ nhândân của công chức Những tư tưởng, quan điểm đó là cơ sở để thể chế hóa thànhpháp luật 1.2 Đạo đức công vụ 1.2.1 Khái niệm và nội dung cơ bản của đạođức công vụ Đạo đức công vụ ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở nền tảngcủa quan điểm: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” [44].Nhân dân là chủ, cán bộ, công chức là công bộc của dân Trong điều kiện nhưvậy, đạo đức công vụ trong tình hình mới có những nội dung cơ bản sau đây:Cán bộ, công chức phải là công bộc của dân, tận tụy phục vụ dân Mọi hoạtđộng đều lấy nhân dân làm mục đích phục vụ Công chức các cơ quan quản lýhành chính tham mưu xây dựng, ban hành các chính sách, thể chế quản lý; phảiquán triệt tinh thần phục vụ dân, thuận lợi cho dân trong làm ăn, sinh sống, thựchiện các quyền con người; thuận tiện trong việc cung cấp các dịch vụ hành chínhcho dân; không sách nhiễu phiền hà, không được cửa quyền khi giải quyết việccủa dân với thái độ xin cho, ban ơn (thể hiện trong việc giải quyết thủ tục hànhchính, cấp các loại giấy phép) Công chức làm việc ở các đơn vị sự nghiệp phảicung cấp tốt dịch vụ cho cá nhân, tổ chức, xóa bỏ cơ chế xin cho, ban ơn thờibao cấp, đồng thời hạn chế tình trạng thương mại hóa khi chuyển sang cơ chế thịtrường (thể hiện ở các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, các dịch vụ văn hóatinh thần, các loại dịch vụ dân

14 19 15 sinh khác) Công chức, viên chức, nhân viên (thuộc khu vực doanhnghiệp, khu vực công) cung cấp các loại dịch vụ mang tính chất dịch vụ hànghóa phải đảm bảo chất lượng tốt, giá thành hợp lý, không phiền nhiễu kháchhàng (các loại dịch vụ điện, nước, bưu điện, môi trường, cơ sở hạ tầng) Cán bộ,công chức có thái độ, tinh thần làm việc tận tụy, có trách nhiệm cao với côngviệc Sự tận tụy phải được thể hiện ở hiệu quả, chất lượng công vụ Công chứchành chính thể hiện ở hiệu quả tham mưu, góp phần xây dựng các chính sách,thể chế đúng, khả thi tạo được động lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội.Công chức chuyên môn sự nghiệp thể hiện ở sự tận tụy với công việc; có sảnphẩm, phục vụ có chất lượng, cung cấp dịch vụ có chất lượng cao, đảm bảođúng là một Nhà nước phục vụ ở các lĩnh vực y tế, giáo dục, dân sinh khác; cósức cạnh tranh tốt hơn so với dịch vụ ngoài Nhà nước; thể hiện rõ tính ưu việtcủa Nhà nước Phẩm chất trong sạch của cán bộ, công chức: Không tham nhũng,tham ô tài sản Nhà nước và của dân Thực hiện công vụ vô tư, với thái độ phục

vụ không đòi hỏi, sách nhiễu, gây khó khăn cho tổ chức, nhân dân Không vụ

Trang 11

lợi, lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để mưu lợi riêng Lành mạnh trong lối sống,sinh hoạt.Thực hiện tiết kiệm cho Nhà nước, cơ quan Có lối sống giản dị, phongcách làm việc, quan hệ với đồng nghiệp, nhân dân tốt Tinh thần đồng đội, hợptác trong thực hiện công vụ: Có tinh thần hợp tác, phối hợp với đồng nghiệptrong cơ quan để cùng thực hiện công vu; biết tập hợp, phát huy trí tuệ, sứcmạnh tập thể; Nhận việc khó về mình, không tranh công, đổ lỗi; gặp việc khócùng hợp tác tìm cách giải quyết; luôn có tinh thần giúp đỡ đồng nghiệp cùnghoàn thành nhiệm vụ Tạo cơ hội để đồng nghiệp phát triển, tiến bộ; Tinh thần vìtập thể, vì việc công; xây dựng cơ quan, tập thể thành đơn vị mạnh Tính kỷ luật

và tinh thần sáng tạo: Đạo đức công vụ thể hiện ở tính kỷ luật, thực hiện nhiệm

vụ được giao theo quy định của pháp luật và theo sự phân công của cấp trên.Tận tâm, tận lực hoàn thành nhiệm vụ với ý thức tổ chức kỷ luật và tính tự giáccao của người cán bộ, công chức.Kỷ luật công vụ thể hiện ở việc chấp hànhnghiêm các quy định, nội quy, chế độ làm việc của cơ quan, tổ chức Không tùy

15 20 16 tiện, tự do, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương, làm việc tùy thích cá nhân…Cùng với tính kỷ luật, đạo đức công vụ bao hàm và đòi hỏi phải có tinh thầnsáng tạo, phát huy sáng kiến của mỗi cán bộ, công chức để hoàn thành nhiệm vụ.Không thụ động, máy móc, quan liêu Có sự sáng tạo trong tư duy, phong cách,phương pháp làm việc; đề xuất sáng kiến để hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quảcao Kết hợp đúng đắn giữa tính kỷ luật và tinh thần sáng tạo là một phẩm chất

cơ bản rất cần thiết của đạo đức công vụ trong một nền công vụ hiện đại, pháttriển Đạo đức công vụ khác với đạo đức thông thường nói chung: Thứ nhất: chủthể đặt ra các qui tắc đạo đức công vụ là cơ quan nhà nước, tổ chức, những nhàhoạt động chính trị, hoạt động nhà nước hoặc được hình thành dần trong đờisống nhà nước bởi công chức và xã hội; do đó một phần đạo đức công vụ đượcthể chế hóa trong các văn bản của cơ quan nhà nước Thứ hai, việc thực hiện cácqui tắc đạo đức công vụ vừa mạng tính tự nguyện,tự giác, vừa mang tính bắtbuộc Người vi phạm quy tắc đạo đức công vụ có thể bị cơ quan nhà nước,người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp chế tài để

xử lý kỷ luật.Việc áp dụng các biện pháp chế tài này là sự đánh giá chính thốngcủa xã hội đối với người vi phạm các qui tắc đạo đức công vụ Ngoài ra, các quitắc đạo đức công vụ còn mang tính xã hội; do đó khi không thực hiện các qui tắcđạo đức công vụ, người công chức còn bị cộng đồng đánh giá Đạo đức công vụ

là một hiện tượng có cơ cấu của nó Khi xem xét đạo đức công vụ tức đạo đứccủa công chức khi thực thi công việc của nhà nước, phải dựa trên hai yếu tố cơbản: Công việc: tức mọi công việc đều phải hướng đến giá trị cốt lõi của côngviệc đó Công việc do công chức đảm nhận mang ý nghĩa xã hội rất cao và do đócần phải thực sự quan tâm đến giá trị công việc Con người thực thi công việcđó: Để hướng đến những giá trị cốt lõi, con người thực thi công việc đó phải là

Trang 12

“người có đạo đức” Tuy nhiên, đạo đức con người trong trường hợp công chức

là sự tổng hòa của các loại đạo đức: cá nhân; công dân, xã hội và nhà nước Haiyếu tố trên tạo nên đạo đức công vụ Và cả hai yếu tố đó kết hợp chặt chẽ, hàihòa với nhau tạo nên điều kiện “cần và đủ” cho sự hình thành đạo đức

16 21 17 công vụ Nếu thiếu một trong hai yếu tố đó, khó có thể tạo nên “môitrường công vụ có đạo đức” * Đạo đức công vụ trước hết được hình thành từđạo đức cá nhân của công chức Công việc của nhà nước do công chức thựchiện Do đó, muốn xem xét khía cạnh đạo đức nghề nghiệp của công việc này,đòi hỏi phải xem xét từ khía cạnh đạo đức cá nhân Đạo đức cá nhân luôn gắnliền với đạo đức xã hội - những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị Nhưngphải nhận thức đúng những giá trị tích cực, những giá trị mang tính “cổ hủ” Vàxét trên một giác độ chung, công chức phải là những người hướng đến nhữnggiá trị tích cực và phải trở thành “ tấm gương” về đạo đức cá nhân trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và pháp quyền Trên giác độ đạođức cá nhân, công chức cũng như mọi công dân phải là một công dân mẫu mực.Khía cạnh mẫu mực của công dân thể hiện cao cả nhất là chấp hành nghiêmchỉnh “pháp luật” của nhà nước ban hành Trước hết, công chức (xét trên nghĩachung nhất) là người tạo ra khuôn khổ pháp luật đó Và họ sẽ là người am hiểunhất những chân giá trị của các quy định của pháp luật Nếu một sự lơ là nào đóđối với các chân giá trị đó, sẽ có tác động ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Hai là,công chức cũng là người triển khai tổ chức thực hiện, đưa những “chân giá trị”của pháp luật vào đời sống (với nghĩa họ là người triển khai tổ chức thực hiệnpháp luật) Sự tuân thủ pháp luật cũng chính là tấm gương cho người khác tuântheo Ba là, công chức là công dân và do đó cũng phải tuân thủ các quy địnhchung của pháp luật dù bất cứ vị trí nào Pháp luật không có phân biệt, đối xửngoại lệ với bất cứ ai Mọi người phải được bình đẳng trong khuôn khổ phápluật Đây là một trong những thách thức về khía cạnh đạo đức cá nhân của côngchức khi họ nắm trong tay “rất nhiều quyền lực nhà nước” họ và những đồngnghiệp của họ có thể “trao đổi cho nhau nhiều yếu tố quyền lực” và do đó, tạocho họ dễ bị đứng “trên, ngoài vòng pháp luật” Tính gương mẫu của công chứckhi chấp hành pháp luật cũng là thể hiện “đạo đức cá nhân” phù hợp nhất vớimột xã hội trong đó sống, làm việc

17 22 18 theo pháp luật của công chức Một công dân nếu vi phạm “nhữngđiều quy định của pháp luật” có thể chỉ bị xem xét từ hai khía cạnh: Công dân vàCông chức Với khía cạnh thứ hai này, phải xử lý công chức nặng hơn rất nhiều

so với công dân cùng vi phạm Đạo đức công chức với khía cạnh công chức làmột con người cụ thể trong không ít trường hợp có thể bị mâu thuẫn về lợi íchtrong quá trình thực thi công vụ * Đạo đức công vụ được hình thành từ khíacạnh đạo đức xã hội của công chức Đạo đức xã hội như trên đã nêu là chuẩn

Ngày đăng: 26/06/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w