Một trong những giá trị văn hóa mang bản sắc riêng được vun đắp trong suốt quá trình ra đời và phát triển của dân tộc ta đó là văn hóa giữ nước của người Việt.. Hiếm có một dân tộc nào p
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BÀI TẬP CÁ NHÂN
Sinh viên : TỪ DIỆU QUỲNH TIÊN
Lớp : 17 CBC3
Giảng viên : HOÀNG MAI SA
Trang 2II. Văn hóa giữ nước của người Việt Nam
III. Kết luận.
IV. Tài liệu tham khảo.
Trang 3I. Một số vấn đề lý luận chung
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm do con người tạo ra, như vậy văn hóa sẽ bao gồm cả hai khía cạnh, khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị,… và các khía cạnh vật chất như quần áo, nhà cửa, công trình nhân tạo, các loại phương tiện,… Văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo
ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử đã tạo cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý Một trong những giá trị văn hóa mang bản sắc riêng được vun đắp trong suốt quá trình ra đời và phát triển của dân tộc ta đó là văn hóa giữ nước của người Việt Hiếm có một dân tộc nào phải trải qua hơn một nghìn năm lịch sử để đấu tranh chống giặc ngoại xâm, và văn hóa giữ nước của người Việt như là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình chống giặc ngoại xâm ấy
Trang 4II. Văn hóa giữ nước của người Việt Nam:
Văn hóa giữ nước Việt Nam là những giá trị tinh thần truyền thống được sáng tạo trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giữ gìn độc lập của quốc gia - dân tộc Đặc trưng nổi bật của văn hóa giữ nước Việt Nam là: Lòng yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất; tinh thần đoàn kết dân tộc, toàn dân đánh giặc; nghệ thuật đánh giặc độc đáo; tính nhân văn cao cả
1. Lòng yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất :
Lòng yêu nước không phải là giá trị tinh thần riêng của dân tộc
Việt Nam Theo Lê-Nin: “Chủ nghĩa yêu nước là một trong những
tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cố qua hàng trăm hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập” Nhưng chủ nghĩa yêu nước lại
là một giá trị văn hóa tinh thần truyền thống luôn luôn xếp đầu tiên trong danh sách các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc ta Nó là
“tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” là “động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc ta” (theo nhà Sử học, Triết học Trần Văn Giàu)
Lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ xưa đến nay, nó bắt nguồn từ sự kiên cường, bất khuất, ý thức tự tôn, tự chủ dân tộc, ý thức gắn kết chặt chẽ giữa cá nhân gia đình làng xã
-tổ quốc Từ những tình cảm bình dị đối với những người thân thiết, dần dần phát triển thành tình gắn kết giữa xóm làng, quê hương mà cao hơn hết là lòng yêu nước, ý thức tự chủ dân tộc Yêu nước biểu
Trang 5hiện ở khát vọng luôn đặt lợi ích của đất nước lên trước tiên, hết sức chăm lo xây dựng quê hương đất nước, sẵn sàng chiến đấu hi sinh bảo
vệ độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mình, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Bác Hồ từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó
là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc
bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” Lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh câu nói trên của Bác Cách đây những hơn hai nghìn năm lịch sử - từ thời khai thiên lập địa, các Vua Hùng đã ý thức được tinh thần tự lập, tự cường của dân tộc, liên kết các bộ lạc lại với nhau lập nên nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của người Việt chúng ta Tiếp sau đó là người anh hùng Thục Phán đã mạnh mẽ đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Tần, giành lại độc lập cho dân tộc Rồi đến các vị anh hùng phất lên ngọn cờ chính nghĩa, kêu gọi mọi người chung sức, chung lòng như Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Đông Hán, Bà Triệu đánh đuổi quân Ngô,… Và sau khi Ngô Quyền dành chiến thắng vang dội trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ của đất nước ta sau
1000 năm Bắc thuộc Năm 981, nhờ chuẩn bị tốt và tài mưu lược, Lê Hoàn lãnh đạo đánh bại quân Tống, giữ yên bờ cõi đất nước Từ năm 1075-1077, nhân dân ta đánh bại âm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống lần II với trận đánh nổi tiếng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, gắn liền với tên tuổi của vị anh hùng dân tộc Lý Thường
Trang 6Kiệt, và cũng từ thời kì chống Tống xâm lược này đã dẫn đến sự ra đời của bài thơ thần “Nam Quốc Sơn Hà”, được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước ta, khẳng định chủ quyền của đất nước ta:
“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại thư”.
Đến thời nhà Trần, nhân dân ta đã anh dũng 3 lần đánh bại âm mưu xâm lược của quân Mông Cổ (1258, 1285, 1287-1288) Khi ấy, Mông Cổ là một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ có lãnh thổ bao gồm khoảng 40 nước trải dài từ bờ Thái Bình Dương cho tới Trung Đông, Đông Âu và vẫn tiếp tục bành trướng, vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ cây ở đó không mọc được, làng mạc hoang tàn chết chóc, quân Mông Cổ là đội quân hiếu chiến nhất Ấy vậy mà
đế quốc hùng mạnh nhất thế giớ thời kì đó lại 3 lần bị khuất phục bởi
ý chí sắt đá, dũng cảm và kiên cường của nhân dân ta Những chiến thắng của dân nhân ta trước quân Mông Cổ phần lớn đều gắn liền với tên tuổi của nhà quân sự tài ba Trần Hưng Đạo, vị tướng lẫy lừng của dân tộc ta
Vào nửa đầu thế kỉ XV, sau khi nhà Hồ tiến hành cuộc kháng chiến chống nhà Minh xâm lược (1406), nhân dân ta chìm trong lầm than, lại tiếp cảnh bị chế độ phong kiến phương Bắc đặt ánh thống trị,
áp bức, bóc lột nặng nề Trước cảnh lầm than của nhân dân ta, người Năm 1418, khi đã tập hợp được nhiều hào kiệt khắp nơi trong nước,
Trang 7trong đó có Nguyễn Trãi, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại vùng núi Lam ( nay thuộc Thanh Hóa), ban đầu lực lượng nghĩa quân còn yếu, bị quân Minh đàn áp nặng nề, gặp vô vàn khó khăn, (Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần/ Lúc Khôi Huyện quân không một đội), đôi khi những tưởng cuộc khởi nghĩa bị dập tắt Nhưng bằng ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, sau nhiều năm “nằm gai nếm mật”, xây dựng lực lượng,… Lê Lợi đã lãnh đạo nghĩa quân Lam Sơn từng bước đánh bại quân xâm lược Minh, giành lại độc lập cho dân tộc Sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm, Nguyễn Trãi đã viết nên Bình Ngô Đại Cáo, được xem là bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của đất nước ta, là lời khẳng định sắt đá về chủ quyền, lãnh thổ của nước Việt Nam ta Đến nửa sau thế kỉ XVIII, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lãnh đạo nhân dân
ta đánh bại âm mưu xâm lược nước ta của quân Xiêm (1784-1785) với trận đánh nổi tiếng Rạch Gầm-Xoài Mút và đánh bại 30 vạn quân Thanh xâm lược (1788-1789) với những trận đánh vang dội sử sách như trận Ngọc Hồi, Đống Đa,… Xuôi dòng lịch sử thêm 1 thế kỉ, khi đất nước ta đang chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, không khi nào lòng yêu nước của nhân dân ta bị dập tắt Cho dù bằng hình thức nào, dù là đấu tranh vũ trang ( nổi bật là phong trào Cần Vương với hàng tram cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, nổi bật là khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Bãi Sậy,…), dù là đấu tranh trên mặt tư tưởng như phong trào “Chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa” của Phan Châu Trinh, phong trào
“Đông Du” của Phan Bội Châu,… đều thể hiện lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc ta không khi nào nguôi, đặc biệt là khi vận mệnh dân tộc đang bị nguy vong “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì
Trang 8mới hết người Nam đánh tây” câu nói của Nguyễn Trung Trực như là một lời khẳng định rằng, bọn giặc xâm lược sẽ không bao giờ khuất phục được nhân dân ta, người này ngã xuống sẽ có người khác đứng lên để đấu tranh, cứ như vậy lớp lớp cha anh sẽ cùng nhau chung sức đồng lòng đánh đuổi giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước Đến những năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng ra đời là nguồn sáng soi đường chỉ lối, đưa nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lãnh đạo nhân dân dành thắng lợi trong cuộc cách mạng tháng Tám 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á Tiếp theo đó đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Pháp 1954
và chống Mỹ 1975, mang lại độc lập hoàn toàn cho đất nước ta
Cùng với đấu tranh vũ trang, dân tộc ta đã kiên cường đấu tranh
để giữ vững và phát triển bản sắc văn hóa riêng có của dân tộc mình, điển hình là cuộc đấu tranh chống Hán hóa về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán trong suốt chặng đường hơn nghìn năm các triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ; cuộc đấu tranh chống lại chính sách văn hóa nô dịch, phản động của thực dân Pháp và phát xít Nhật những năm đầu thế kỷ XX Văn hóa đã trở thành một mặt trận, đấu tranh trên mặt trận đó cũng không kém phần cam go, phức tạp và quyết liệt so với mặt trận vũ trang Chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam được hình thành từ rất sớm, được thử thách và khẳng định qua bao thăng trầm của dân tộc, được bổ sung, phát triển qua từng thời kì theo yêu cầu phát triển của dân tộc vào thời đại, trở thành một trong những giá trị cao quý và bền vững nhất của dân tộc ta Trải qua bao biến
Trang 9thiên của lịch sử, lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc vẫn luôn tồn tại một cách bền bỉ và tỏa sáng rạng rỡ
2. Tinh thần đoàn kết dân tộc, toàn dân đánh giặc
Để chiến thắng giặc ngoại xâm có lực lượng vật chất lớn hơn ta nhiều lần, nhân dân Việt Nam phải đoàn kết dân tộc thành một khối Đoàn kết toàn dân sẽ tạo ra nguồn sức mạnh lớn lao của dân tộc Thời
kỳ phong kiến, khi bị ngoại bang xâm lược, các triều Tiền Lê, Lý, Trần… đã biết dẹp những mâu thuẫn nội bộ, tập hợp lực lượng, củng
cố triều đình, đoàn kết toàn dân chung sức chống giặc Thời Trần 3 lần đánh bại quân Mông Nguyên vì “bấy giờ vua tôi đồng lòng, anh
em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu, nên giặc mới bó tay” Nghĩa quân Lam Sơn đánh thắng quân Minh vì “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, “nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương dân chúng” Chúng ta thắng thực dân pháp, đế quốc Mỹ chủ yếu vì quân, dân nhất trí một lòng, “mỗi người dân là
Trang 10một người chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài, cả nước là một chiến trường giết giặc” “Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì đứng lên đánh Pháp cứu Tổ quốc Ai có sung dùng sung, ai
có gương dùng gương, ai không có gương thì dùng cuốc thuổng gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”, rồi “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Tư tưởng đoàn kết để tạo nên sức mạnh dân tộc đã được Đảng và Bác Hồ triệt để thực hiện Như Bác đã từng nói “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng lo” Lịch sử dân tộc đã cho thấy rằng, cứ khi nào chúng ta không thực hiện được đoàn kết toàn dân, trong nội bộ có sự chia rẽ thì sức mạnh đất nước bị suy yếu, kẻ thù dễ dàng chiến thắng, còn đất nước bị đặt trước sự tồn vong Thất bại của nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1406) là một trường hợp tiêu biểu Còn khi nào nhân dân ta trên dưới đoàn kết một lòng thì cho dù kẻ thù có hùng mạnh đến đâu cũng bị nhân dân ta khuất phục hoàn toàn
3. Nghệ thuật đánh giặc độc đáo
Nghệ thuật đánh giặc cũng là một trong những đặc trưng nổi bật trong văn hóa giữ nước của người Việt Xuất phát từ các điều kiện cụ thể như việc tương quan lực lượng giữa ta và địch, địch đông và mạnh hơn ta gấp nhiều lần, quân nhu hiện đại, dồi dào hơn mà ông cha ta đã
có nghệ thuật quân sự, cách đánh độc đáo Phương châm cơ bản chỉ đạo xuyên suốt các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta là lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh Thời phong kiến ông cha ta đã có nhiều cách đánh giặc độc đáo, sáng tạo Thời nhà Lý,
Trang 11Lý Thường Kiệt sử dụng cách đánh “Tiên phát chế nhân”, chủ động đánh trước, phá kế hoạch của quân Tống sau đó chủ động lập phòng tuyến sông Như Nguyệt để đẩy lui âm mưu xâm lược Thời nha Trần chống quân Mông Nguyên sử dụng kế sách “Vườn không nhà trống” nhằm đánh vào điểm yếu của địch là lương thảo Lê Lợi dùng kế lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều, đánh bất ngờ,… để đánh bại quân Minh Hay người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ dùng kế rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng tạo thế và lực cho cuộc phản công đánh đòn quyết định tiêu diệt địch trong cuộc kháng chiến chống Xiêm và chống Thanh Đến thời kì đất nước tiến hành kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ cứu nước, ta chủ trương trường kì kháng chiến “Xuất phát từ việc so sánh tương quan giữa ta và địch Địch mạnh hơn ta về sức mạnh vũ khí, quân số, ta mạnh hơn địch về mặt tinh thần Ta chủ trương đánh lâu dài để bồi dưỡng sức ta, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng, khiến cho ta càng đánh càng mạnh, dần chuyển từ thế bị động thành thế chủ động, từng bước dành các thắng lợi và đi đến thắng lợi hoàn toàn” Mặt khác, địch không chỉ đánh ta trên mặt trên quân sự
mà còn tấn công ta trên các mặt trận khác như chính trị, ngoại giao, văn hóa,… Vì vậy, ta không chỉ tập trung chống giặc trên mặt trận quân sự mà còn đánh bại mọi âm mưu của chúng trên mặt trận chính trị, ngoại giao, văn hóa,… để có thể khuất phục dã tâm của chúng hoàn toàn “Nghệ thuật đánh giặc độc đáo của ông cha ta không những chỉ có giá trị trong chiến tranh, mà ngay cả thời bình khi Đảng
ta xác định đối tượng và đối tác đã thể hiện quan điểm vừa kiên cường, tự chủ, vừa mềm dẻo và linh hoạt Việc xử lý các tình huống
Trang 12nảy sinh trong tranh chấp lãnh thổ, biển đảo hiện nay cũng cần có những phương pháp linh hoạt, hiệu quả, kiên trì kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt Đó chính là những nội dung mới trong nghệ thuật đấu tranh giữ nước hiện nay”
4. Tính nhân văn cao cả
Tất cả các cuộc chiến tranh của dân tộc ta đều mang tính chính nghĩa nhằm chống giặc ngoại xâm Tính chất chính nghĩa của các cuộc chiến tranh là nguồn gốc tạo nên tính nhân văn cao cả trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam Ngay từ thời xa xưa, với
tư tưởng chính nghĩa trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, các nhà quân sự luôn đề cao việc tránh đổ quá nhiều máu, gây nhiều thương vong cho quân ta Khi thấy quân địch đã hoàn toàn mất hết tinh thần chiến đấu, ông cha ta luôn chọn giải pháp thương lượng hòa bình để kết thúc chiến tranh, cấp lương thảo, ngựa, cho quân sửa lại cầu đường để quân giặc được trở về với quê hương của họ với điều hiện phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ đất nước ta, bởi lẽ chúng ta
ý thức rõ ràng trong chiến tranh, dù thua hay thắng thì đều phải đổ máu, với một dân tộc có truyền thống nhân ái thì đó là điều không mong muốn, dù là máu ta hay máu địch Tính nhân văn còn được thể hiện trong việc đối xử với tù nhân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng thời có những chính sách khoan hồng với những con người đã từng phản bội đất nước, đi làm tay sai cho giặc Tiếp nối truyền thống đó, hiện nay Đảng và nhà nước ta thực hiện đường lối đối ngoại “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước