1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC CỦA MARX-LENIN VỀ CON NGƯỜIVÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰNGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TAHIỆN NAY

22 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 148,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ---***---TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC CỦA MARX-LENIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC CỦA MARX-LENIN VỀ CON NGƯỜI

VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Vũ Yến Ngọc

Mã sinh viên: 1913320046 Lớp: Anh 01 – NGHG Lớp tín chỉ: TRI114.8 STT: 75

Giáo viên hướng dẫn: TS Đào Thị Trang

Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC CỦA MARX-LENIN VỀ CON NGƯỜI

VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Vũ Yến Ngọc

Mã sinh viên: 1913320046 Lớp: Anh 01 – NGHG Lớp tín chỉ: TRI114.8 STT: 75

Giáo viên hướng dẫn: TS Đào Thị Trang

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong khi thế giới đã trải quan hai cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật vĩ đại,tại sao chúng ta lại phải nghiên cứu về phạm trù con người và vấn đề về con ngườitrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước? Phải chăng phương thứcduy nhất để phát triển nền kinh tế thế giới đó là công nghiệp hoá, hiện đại hoá?Nhưng quan trọng hơn cả, phải chăng chính con người là chủ thể, là mấu chốt, làđiểm khởi đầu cũng như là cái đích của quá trình lâu dài này?

Trước hết có thể nói rằng xã hội hai nguồn tài nguyên: thiên nhiên và conngười là hai nguồn tài nguyên mà loài người tồn tại và phát triển dựa vào Theoquan niệm cổ điển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bịkhai thác cạn kiệt Song, sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờchịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn Kể từ thập niên

60 của thế kỷ XX, kiến thức khoa học của nhân loại chỉ cần khoảng thời gian dưới

7 năm để tăng gấp đôi Và thời gian ấy càng ngày càng được thu ngắn Tính vô tậncủa nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con người nhận thức tính vô tận của thếgiới vật chất, tiếp tục nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa đượckhai thác và sử dụng, phát hiện ra những tính năng mới của những dạng tài nguyênđang sử dụng,… nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội trong những điều kiệnmới Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xãhội Đồng thời, nguồn lực phát triển của xã hội, quan trọng hơn cả cũng chính làcon người- nguồn tiềm năng sức lao động Con người đã làm nên lịch sử của chínhmình bằng lao động được định hướng bởi trí tuệ đó

Chính vì những điều trên mà em quyết định chọn đề tài “Quan điểm triết học

Trang 5

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay” làm đề tài tiểu luậncủa mình với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này Tuy nhiên trong quátrình làm bài, dù em đã có rất nhiều cố gắng nhưng vì lượng kiến thức và hiểu biết

có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, do đó em rất mong cô và các bạn

có thể thông cảm và giúp đỡ em nhiều hơn nữa

Em xin chân thành cảm ơn cô ạ

Trang 6

I QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI

1.1 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử:

1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây

Trong triết học phương Tây có hai khuynh hướng cơ bản là duy vật và duytâm trong quan niệm về con người Các nhà duy vật từ cổ đại đã khẳng định bảnchất vật chất tự nhiên của con người, coi con người cũng như vạn vật trong tựnhiên không có gì là thần bí Tiêu biểu là quan niệm duy vật theo tinh thần nguyên

tử luận của Đêmôcrít về con người Ông cho nguyên tử là cơ sở để tạo nên thể xác

và linh hồn con người

Đến thời kỳ phục hưng và cận đại con người được đề cập một cách hiện thựchơn mặc dù còn mang tính cơ học Các nhà duy tâm thì ngược lại, chú trọng hoạtđộng lý tính của con người Họ coi con người là sản phẩm của những lực lượngsiêu tự nhiên

Nhìn chung, các quan niệm trước và ngoài Mác xem xét con người phiếndiện, nhìn nhận con người còn trừu tượng, chung chung, phi thực tiễn, phi lịch sử,phi giai cấp

1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông

Trong triết học Trung Hoa cổ đại, vấn đề bản tính con người được quan tâmhàng đầu Nho gia cho rằng bản tính con người là thiện, Pháp gia cho rằng bản tínhcon người là bất thiện,còn Đạo gia nhấn mạnh bản tính tự nhiên của con người Từ

Trang 7

sự khác nhau về quan niệm của các trường phái về bản chất con người đã dẫn đếnnhững quan điểm khác nhau về các vấn đề chính trị, đạo đức, xã hội.

Triết học Ấn Độ cổ đại cũng có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất conngười Phật giáo khẳng định bản tính vô ngã (không có cái tôi), vô thường (luônthay đổi) và tính hướng thiện của con người Các trường phái khác đề cập nhiều tớicon người tâm linh

1.2 Quan điểm triết học của Marx-Lenin về con người

1.2.1 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Thực tế, nếu không có tự nhiên, không có lịch sử - xã hội thì không thể cócon người Con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữusinh, nhưng con người luôn là chủ thể lịch sử - xã hội, được thể hiện ở chỗ:

• Các cá nhân con người chủ động lựa chọn sự tác động của xã hội đốivới mình, không chịu khuất phục trước môi trường, điều kiện kháchquan, mà chủ động tác động, cải tạo điều kiện khách quan

• Nhờ hoạt động thực tiễn mà con người cải tạo tự nhiên đồng thời làmnên lịch sử của mình Do vậy chính con người đã sáng tạo ra lịch sử.Thông qua hoạt động thực tiễn của mình con người thúc đẩy xã hộiphát triển từ thấp đến cao

Con người không những là sản phẩm của xã hội mà con người còn là chủ thể cải tạo chúng Bằng mọi hoạt động lao động sản xuất con người sáng tạo ra toàn bộnền văn hoá vật chất, tinh thần Bằng hoạt động cách mạng Con người đánh dấu thêm các trang sử mới cho chính mình mặc dù tự nhiên và xã hội đều vận động theo những quy luật khách quan song quá trình vận động của con người luôn xuất phát từ nhu cầu, động cơ và hứng thú, theo đuổi những mục đích nhất định và do

Trang 8

đó đã tìm cách hạn chế hoặc mở rộng phạm vi tác dụng cuả quy luật cho phù hợp với nhu cầu và mục đích của mình.

Trang 9

1.2.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội

Xuất phát từ con người hiện thực, C.Mác đã nhận thấy lao động đóng vai tròquyết định trong việc phân chia ranh giới giữa con người và động vật Vì lao động

là hoạt động xã hội nên mọi sự khác biệt giữa con người và động vật đều là kết quảcủa cuộc sống con người trong xã hội Cá nhân là thực thể xã hội và bản chất conngười có tính lịch sử cụ thể Điều đó quy định sự khác nhau của con người trongcác thời đại khác nhau, sự khác nhau này tuỳ thuộc vào sự phát triển của xã hội, sựthay đổi các quan hệ xã hội và giao tiếp Vì vậy, bản chất con người là tổng hoà cácmối quan hệ xã hội, không chỉ tổng hoà các mối quan hệ trong hiện taị mà cả trongquá khứ

Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác khẳng định: “Trongtính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”

Như vậy, bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực,không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá thểriêng lẻ mà là tổng hòa của toàn bộ quan hệ xã hội Rõ ràng, con người là conngười hiện thực, sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể, trong một thời đại xácđịnh Bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luônvận động và biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp Bản chất con người khôngphải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiệntồn tại của con người Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con người có vaitrò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó,bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng mỗi sựvận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp)với sự vận động và biến đổi của bản chất con người

Trang 10

Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bảnchất con người, song không có nghĩa là triết học Mác-Lênin coi nhẹ mặt tự nhiên,phủ nhận cái sinh vật trong yếu tố cấu thành bản chất con người Ở đây, con ngườivới tư cách là sản phẩm của tự nhiên, mặt khác con người là một thực thể xã hội.Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử củachính bản thân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt

xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạtđộng vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp vớimục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra Không có hoạt động của con người thìcũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch

sử xã hội loài người

Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làmcho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn

bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng pháttriển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáodục Thông qua đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trởlại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng

xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, cácquy luật nhận thức hướng con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào củalịch sử xã hội loài người

1.2.3 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt

xã hội

Kế thừa những điểm tiến bộ trong lịch sử triết học về con người triết họcMác-Lênin khẳng định con người là sự thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội,

là một thực thể sinh vật - xã hội

Trang 11

Mặt sinh vật thể hiện ở chỗ, cũng giống như những động vật khác, conngười cũng chịu sự quy định của các quy luật sinh học, của tự nhiên như quy luậtđồng hoá và dị hoá, quy luật biến dị và di truyền, v.v Mặt sinh vật có những tươngđồng với động vật cao cấp những đã được người hoá, nhân tính hoá.

Mặt xã hội của con người thể hiện ở chỗ, con người là một loại động vật cótính chất xã hội Toàn bộ đời sống và hoạt động của con người là do hoàn cảnh xãhội quyết định Con người chỉ trở thành người đích thực khi sống trong xã hội và

có hoạt động xã hội cho mình, cho đồng loại Trước hết, đó là hoạt động sản xuấtvật chất Chính hoạt động sản xuất vật chất biểu thị bản chất xã hội của con người

Hai mặt này có quan hệ khắng khít không thể tách rời nhau, trong đó mặtsinh học là nền tảng vật chất tự nhiên của con người, nhưng không phải là yếu tốquyết định bản chất của con người; mặt xã hội mới là mặt giữ vai trò quyết địnhbản chất của con người Bởi mặt xã hội của con người biểu hiện trong hoạt độngsản xuất vật chất Lao động sản xuất ra của cải vật chất là yếu tố quyết định hìnhthành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trongcộng đồng xã hội

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triểncủa con người luôn luôn bị quyết định bởi hệ thống ba quy luật khác nhau nhưngthống nhất với nhau:

• Những quy luật sinh học chi phối đời sống của cơ thể

• Những quy luật hình thành tâm lý, ý thức

• Những quy luật xã hội quy định đời sống xã hội của con người

Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đờisống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ giữa sinh học

và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội

Trang 12

trong đời sống con người như nhu cầu ăn, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầutình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần.

Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặtsinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗicon người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, cònmặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinhhọc phải được nhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhucầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thốngnhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tựnhiên – xã hội

II Vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

2.1 Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Theo quan điểm của Đảng ta xác định công nghiệp hóa là quá trình chuyểnđổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh

tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biếnsức lao động cùng khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại tạo ra năng suất lao động

xã hội cao

Công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm phải gắn liền với hiện đại hóa bởi vìcuộc cách mạng khoa học hiện đại đã và đang diễn ra một số nước phát triển bắtđầu nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Do đó chúng ta cần phảitranh thủ ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tiếp cận với nền

Trang 13

kinh tế tri thức để hiện đại hóa những ngành, những khâu những lĩnh vực có điềukiện nhảy vọt.

Ở nước ta công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủnghĩa xã hội; tăng cường sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc Mục tiêu tổng quátcủa sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta được Đảng cộng sản Việt Nam xácđịnh tại Đại hội lần thức VIII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội lần thứ IX là “Đưanước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa”

2.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghệ hóa – hiện đại hóa đất nước

2.2.1 Con người là nhân tố chủ chốt, sử dụng các nguồn lực khác phục

vụ cho quá trình CNH –HĐH

Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên nó đều chỉ tồn tại ởdưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi kếthợp với nguồn lực con người thông qua sự hoạt động ý thức của con người Bởi lẽcon người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết lợi dụng cácnguồn lực khác gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cũng tácđộng vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các nguồn lực khác chịu sự cảitạo, khai thác của con người và nói đúng thì chúng đều phục vụ nhu cầu, lợi íchcủa con người nếu con người biết cách tác động và chi phối Vì thế trong các yếu

tố thì yếu tố con người quan trọng nhất Chẳng hạn như vốn, tài nguyên là nhữngnguồn lực để tiến hành CNH-HĐH nhưng chúng chỉ trở thành nguồn lực quantrọng và cấp thiết cho sự phát triển khi nằm trong tay của người biết khai thác và

Trang 14

sử dụng chúng Thiếu sự hiện diện của con người thì mọi nguồn lực đều trở nên vônghĩa

2.2.2 Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn

Một khi nó được vật thể hoá để trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sựphát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại đangdẫn các nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nền kinh tếtrí tuệ (mà gọi là tri thức) Ở những nước này lực lượng sản xuất trí tuệ ngày càngphát triển và chiếm tỷ trọng cao Nguồn lợi mà họ thu được từ lao động chất xámchiếm tới 1/2 tổng giá trị tài sản quốc gia

Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đạt đến mức nhờ có cuộc cách mạng con người

có thể tạo ra những máy móc "bắt chước" hay phỏng theo những đặc tính trí tuệcủa chính con người Rõ ràng bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chínhbàn tay khối óc con người mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến sự biến đổi thần

kỳ trong lịch sử phát triển của mình

Nguồn lực con người không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học màcòn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người xã hội nếu biếtchăm lo, bồi dưỡng hợp lý Đó là cơ sở để làm cho năng lực và hoạt động thực tiễncủa con người phát triển như một quá trình vô tận Nhờ vậy con người đã từngbước làm chủ tự nhiên, sáng tạo, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, nhiềucông cụ sản xuất mới, đưa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao

2.2.3 Các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt còn nguồn lực con người là vô tận

Nguồn lực con người không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học mà

Ngày đăng: 26/06/2021, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016, Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học)
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị
3.Phạm Minh Hạc,1996, Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
5. Quan điểm triết học mác-lênin về con người .Phúc triết học bloghttp://phuctriethoc.blogspot.com/2012/01/quan-iem-triet-hoc-mac-lenin-ve-con.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm triết học mác-lênin về con người
6. Tình hình kinh tế - xã hội năm 2010. Tổng cục thống kêhttps://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=10835 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w