Để làm được điều này, trước hết phải giải quyết được những mâu thuẫn hiện hữu giữa công ty và người lao động một cách hài hòa, hợp tình, hợp lý bằng cách giải quyết các chế độ cho người
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên khốc liệt Theo thống kê của Cục quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2018, có 131.275 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng 3,5% so với năm trước) Tuy nhiên, đi kèm theo đó là 90.651 doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động (tăng 49,7%
so với năm trước) Qua đó, có thể thấy rằng doanh nghiệp luôn phải đối mặt với rất nhiều bài toán khó khăn để có thể tồn tại và phát triển.Tuy nhiên, bài toán khó nhất và cần thiết nhất đối với tất cả các doanh nghiệp đó là phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà công ty TNHH MTV Công trình
Đô thị Mỹ Tho cũng nằm trong số đó
Được thành lập vào năm 1998 đến nay, công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho (gọi tắt là công ty) đã trải qua nhiều gia đoạn thăng trầm nhưng chưa bao giờ rơi vào hoàn cảnh khó khăn như hiện tại: năng suất lao động giảm, mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày một tăng Việc thắc mắc, khiếu nại của người lao động liên tục xảy ra dẫn đến việc công ty bị Thanh tra tỉnh tiến hành thanh tra và đã có kết luận vào cuối năm 2016 tuy nhiên đến nay, nhiều vụ việc vẫn chưa được giải quyết triệt để Nguyên nhân là do trong một thời gian dài, một số chế độ của người lao động không được công ty đảm bảo Đồng thời, các nội quy, quy chế của công ty cũng được xây dựng không đúng theo quy định của pháp luật Hệ quả là trong năm 2018, lần đầu tiên sau rất nhiều năm, công ty không đạt doanh thu và lợi nhuận theo kế hoạch đề ra Điều này làm ảnh hưởng xấu đến thu nhập và các chế độ cuối năm của người lao động tại đơn vị, càng khoét sâu, tác động tiêu cực đến niềm tin của người lao động dành cho công ty Tình trạng này nếu để kéo dài sẽ rất nguy hiểm vì có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của đơn vị
Trang 2Muốn thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn hiện tại, công ty bắt buộc phải tìm ra cách để nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Điều này đòi hỏi công ty phải nghiên cứu tìm giải pháp điều chỉnh phương thức sản xuất của mình, trong đó tập trung chủ yếu ở yếu tố con người của lực lượng sản xuất nhằm tăng năng suất lao động của người lao động Để làm được điều này, trước hết phải giải quyết được những mâu thuẫn hiện hữu giữa công ty và người lao động một cách hài hòa, hợp tình, hợp lý bằng cách giải quyết các chế độ cho người lao động, cũng như xây dựng các quy chế, nội quy của công
ty tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về lao động mà trong đó Bộ luật Lao động là trung tâm
Nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng các quy định của Bộ Luật lao động trong việc giải quyết những vấn đề tồn tại ở công ty, hướng đến nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm giúp đơn vị vượt qua những khó khăn hiện tại, tôi quyết định chọn "Vai trò của Bộ luật Lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho" làm đề tài cho tiểu luận
Trang 3Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Phương thức sản xuất và vai trò của con người trong phương thức sản xuất
1.1.1 Phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất được hiểu nôm na là cách thức sản xuất ra của cải vật chất Nếu có phương thức sản xuất hiện đại, hiệu quả thì năng suất lao động sẽ được nâng cao Bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng bao gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất là tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên tham qua vào quá trình sản xuất Mối quan hệ đó được biểu hiện thông qua quá trình lao động sản xuất của cải vật chất Trong quá trình sản xuất của cải vật chất, con người chinh phục giới tự nhiên bằng tổng hợp các năng lực thực tiễn của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu đời sống Do đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện khả năng chinh phục giới tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất được cấu thành từ hai yếu tố: tư liệu sản xuất và con người lao động
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất Quan hệ sản xuất bao gồm ba mặt là: quan hệ
sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức, quản lý, phân công lao động và quan hệ phân phối kết quả, sản phẩm lao động
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau Đó là mối quan hệ giữa nội dung vật chất và hình thức kinh tế của quá trình sản xuất; cũng là mối quan hệ thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, trên cơ sở quyết định của lực lượng sản xuất, tạo thành nguồn gốc và động lực cơ bản của quá trình vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử [3, tr.247] Đó cũng chính là nội dung của quy luật cơ bản nhất
Trang 4của quá trình phát triển xã hội: "quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất"
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn có sự thống nhất với nhau Đây là hai phương diện rất cơ bản của phương thức sản xuất Chúng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau trong quá trình sản xuất của xã hội Do đó, không một phương thức sản xuất nào có thể tiến hành nếu thiếu một trong hai phương diện đó, trong đó lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ của quá trình này, còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó [3,tr.247]
Thứ hai, trình độ của lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất cũng tương ứng như thế vậy Bởi vì quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất là nội dung vậy chất, kỹ thuật của quá trình đó [2, tr.136] Do đó, khi trình độ của lực lượng sản xuất thay đổi thì đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi tương ứng cho phù hợp Sự thay đổi này có thể diễn ra với tốc độ khác nhau, mức độ khác nhau, phạm vi khác nhau,… nhưng tất yếu sẽ diễn ra nhưng thay đổi nhất định vì quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất đóng vai trò là nội dung vật chất của quá trình đó
Thứ ba, quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất Quá trình tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng: tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, kèm theo đó là quá trình sản xuất của cải vật chất cũng tăng, tạo tiền đề cho xã hội phát triển Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất không phù
Trang 5hợp với lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến việc kéo lùi quá trình sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội
1.1.2 Vai trò của con người trong phương thức sản xuất
Con người là một yếu tố trong lực lượng sản xuất - một phương diện cấu thành và quyết định phương thức sản xuất Con người ở đây được hiểu là con người tham gia vào quá trình sản xuất, nằm trong độ tuổi nhất định, có sức khỏe và đời sống tinh thần bình thường Con người cùng với sức lao động (thể lực và trí lực) thông qua hoạt động lao động tạo nên sức mạnh vật chất tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân
và xã hội Do đó, trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, con người là chủ thể của các yếu tố còn lại nên con người giữ vai trò quyết định Vì suy cho cùng, trình độ phát triển của tư liệu sản xuất chỉ là kết tinh giá trị lao động của con người, là sản phẩm lao động của con người, phản ánh trình độ lao động của con người mà thôi Đồng thời, giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ thực tế sử dụng và sáng tạo của người lao động [2, tr.134]
Đặc biệt trong thời đại nhân loại bước qua cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư, vai trò của con người lao động ngày càng quan trọng Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ý thức và thái độ của con người trong quá trình lao động trở thành những tài sản vô giá quyết định sự phát triển của phương thức sản xuất Nhìn vào yếu tố con người, có thể nhận biết được khả năng của một doanh nghiệp thế nào, trình độ phát triển của một quốc gia ra sao Do đó, việc đầu tư, bồi dưỡng phát triển yếu tố con người một cách toàn diện là vô cùng cần thiết không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với quốc gia, dân tộc
Trang 61.2 Quan hệ lao động và vai trò của việc áp dụng luật đối với quan
hệ lao động
1.2.1 Quan hệ lao động
Quan hệ lao động là quan hệ mua bán hàng hóa là sức lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động Quan hệ lao động mang bản chất dân sự thể hiện ở chổ các bên xác lập, thực hiện, chấm dứt hợp đồng trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Vì vậy, khi ký kết hợp đồng lao động, các bên chủ thể đều phát sinh quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể trong nội dung hợp đồng Khi một hoặc các bên không tuân thủ các nghĩa
vụ theo hợp đồng thì đều có thể xảy ra mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp Trong quá trình tồn tại và phát triển của quan hệ lao động thì không thể tránh khỏi việc xảy ra các mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa người lao động và người
sử dụng lao động Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, người sử dụng lao động thường hướng đến lợi nhuận tối đa, cố gắng cắt giảm chi phí nên rất dễ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động
Quan hệ lao động có các đặc điểm như sau:
- Chủ thể của quan hệ lao động là người lao động và người sử dụng lao động Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Người sử dụng lao động là doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ
- Trong quan hệ lao động, người lao động luôn phụ thuộc vào người sử dụng lao động Về mặt pháp lý, người sử dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý quá trình lao động của người lao động, còn người lao động bắt buộc phải tuân thủ Bởi người sử dụng lao động là người có quyền sở hữu tài sản
Trang 7mà các yếu tố cấu thành nên quan hệ sản xuất luôn chịu sự chi phối của quan
hệ sở hữu Bên cạnh đó, người sử dụng lao động còn bỏ tiền ra để mua sức lao động của người lao động Do đó,để việc sử dụng sức lao động đó đạt hiệu quả đòi hỏi người sử dụng lao động phải quản lý một cách chặt chẽ.Về mặt lợi ích kinh tế, giữa người sử dụng lao động và người lao động vừa có sự mâu thuẫn, vừa có sự thống nhất phụ thuộc lẫn nhau Người sử dụng lao động luôn muốn cắt giảm tối đa chi phí, trong đó có tiền lương và các khoản chế độ của người lao động để tối đa hóa lợi nhuận nhưng tiền lương và các chế độ đó là nguồn sống chủ yếu của người lao động Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt quan hệ lao động với các quan hệ khác và là căn cứ để xác định đối tượng điều chỉnh của luật lao động
- Quan hệ lao động chứa đồng bộ các yếu tố kinh tế và xã hội Quan hệ lao động không chỉ liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo đảm đời sống cho người lao động, giảm thiểu các tình trạng tệ nạn xã hội,… mà còn liên quan đến nguồn nhân lực, thu hút đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.2.2 Áp dụng luật trong quan hệ lao động
Trong quan hệ lao động, do phải phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành, phân công của người sử dụng lao động, người lao động luôn ở vị trí yếu thế hơn Vì vậy, nhằm hướng tới việc tạo ra quan hệ lao động bình đẳng hơn, pháp luật đã có những quy định theo hướng bảo vệ người lao động, qua đó hạn chế sự xâm hại về quyền và lợi ích hợp pháp từ người sử dụng lao động đối với người lao động Đây cũng là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật về lao động
Tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Lao động về chính sách của Nhà nước về lao động có quy định rõ: "Bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người lao động; khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động có những
Trang 8điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật về lao động; có chính sách để người lao động mua cổ phần, góp vốn phát triển sản xuất, kinh doanh." Theo đó, Nhà nước chỉ quy định mức tối thiểu về những quyền lợi
mà người lao động được hưởng, đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện để người lao động được thỏa thuận những điều khoản có lợi hơn cho mình
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là Nhà nước không bảo vệ người sử dụng lao động Phía sau việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, Nhà nước cũng "bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, quản lý lao động đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội" Vì dù người lao động là bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động, nhưng người sử dụng lao động là bên có nguy cơ thiệt hại về kinh tế rất nhiều nếu người lao động không đáp ứng, tuân thủ theo thỏa thuận trong hợp đồng Nếu không được bảo vệ thì sẽ không ai dám bỏ tiền ra thuê mướn lao động làm việc Khi đó sẽ khó thu hút đầu tư, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước
Vì hai bên chủ thể của quan hệ lao động luôn đối kháng với nhau về lợi ích: người lao động luôn muốn lương càng cao càng tốt còn người sử dụng lao động thì luôn muốn càng ít chi phí càng tốt; người lao động luôn muốn công việc nhẹ nhàng hơn, thời gian nghỉ nhiều hơn còn người sử dụng lao động thì luôn muốn người lao động làm việc nhiều hơn, hiệu quả hơn, thời gian nghỉ ít hơn;… nên bất cứ khi nào cũng dễ dàng dẫn đến mâu thuẫn Do
đó, việc áp dụng luật để điều chỉnh quan hệ lao động nhằm đảm bảo sự hài hòa, hợp lý về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên chủ thể là rất cần thiết
Qua đó, có thể thấy vai trò của Bộ luật Lao động là rất quan trọng Vì
nó không những giúp điều chỉnh, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ lao động nhằm đảm bảo cho quan hệ lao động hài hòa, ổn định
Trang 9mà thông qua đó, Nhà nước còn có thể tác động, thể hiện sự quản lý của mình đối với nên kinh tế
Chương 2: VAI TRÒ CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH MTV CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ MỸ THO
2.1 Những vấn đề hiện hữu tại công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho
2.1.1 Giới thiệu về công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho
Công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động lĩnh vực công ích và kinh doanh các dịch vụ công cộng theo Giấy phép kinh doanh, Điều lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp; chịu
sự quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang Công ty được thành lập theo Quyết định số 699/1998/QĐ-UB ngày 31/3/1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang với tên gọi là công ty Công trình Đô thị thành phố
Mỹ Tho Đến năm 2011, công ty tiến hành chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo Quyết định 4085/QĐ-CTĐT ngày 31/12/2010 về việc phê duyệt đề án chuyển đổi công ty Công trình Đô thị thành phố Mỹ Tho thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Từ đó lấy tên là công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho đến nay Địa chỉ trụ sở chính của công ty nằm ở số 12, đường Huỳnh Tịnh Của, phường 7, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Công ty hoạt động kinh doanh chủ yếu ở bốn mảng: Chăm sóc, bảo dưỡng công viên, cây xanh; duy trì hệ thống chiếu sáng công cộng; xây dựng, duy tu hệ thống cầu đường, thoát nước; thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt Ứng với các mảng hoạt động kinh doanh, công ty có bốn đội trực tiếp thi công gồm: đội Công viên Cây xanh, đội Cơ điện, đội Xây dựng Cầu đường Thoát nước và đội Vệ sinh Môi trường Công ty hiện đang có gần 400
Trang 10lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trong đó lao động phổ thông chiếm đa số
Từ cuối năm 2016 đến nay, sau khi có kết luận của Thanh tra tỉnh Tiền Giang về việc chấp hành chính sách pháp luật, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao của công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho, các mâu thuẫn giữa người lao động với người sử dụng lao động vẫn tiếp tục tăng cao Nguyên nhân do công ty chưa khắc phục, giải quyết triệt để được các nội dung trong kết luận thanh tra, đồng thời, việc một số quy định trong nội quy, quy chế của công ty, cũng như việc giải quyết các chế độ của người lao động còn chưa hợp lý Hệ quả là năm 2018 vừa qua, lầu đầu tiên kể từ khi thành lập, công ty không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra: tổng doanh thu là 72.254.118.063 đồng/83.000.000.000 đồng (đạt 87,05% kế hoạch đề ra); lợi nhuận là 741.964.974 đồng/5.250.000.000 đồng (đạt 14,13% kế hoạch đề ra); thu nhập hàng tháng bình quân người lao động 5.839.623 đồng/7.276.161 đồng (đạt 80,26% kế hoạch đề ra)
Với việc kết quả sản xuất kinh doanh cuối năm đạt quá thấp so với kế hoạch, các chế độ tiền lương, tiền thưởng cuối năm của người lao động đều thấp hơn nhiều so với mọi năm Điều này lại càng tạo thêm những thắc mắc, khiếu nại trong người lao động, càng kéo công ty vào hoàn cảnh khó khăn hơn trong năm 2019 này
2.1.2 Việc giải quyết chế độ tai nạn lao động đối với người lao động
Do đặc thù kinh doanh nên phần lớn người lao động tại công ty làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, nhất là công nhân ở đội Xây dựng Cầu đường Thoát nước và đội Vệ sinh Môi trường Điều này dẫn đến việc dù công ty đã trang bị, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động nhưng tai nạn lao động vẫn thường xuyên xảy ra Tuy nhiên, trong một thời gian dài, công ty đã không giải quyết chế độ cho người lao động bị tai nạn lao