Giả thuyết khoa học Sau quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã thống kê, phân loại các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Lịch sử địa phương được tổ chức cho học sinh Tiểu học
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
VÕ THỊ THANH XUÂN
Tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh trong môn
Lịch sử lớp 4, 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI - thế kỷ của nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu hoá đã và đang đặt ra cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo một sứ mệnh vẻ vang cùng những thách thức nặng nề Trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” và giáo dục truyền thống cách mạng; tình yêu quê hương, đất nước; lòng tự hào dân tộc cho học sinh - thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước
Bậc Tiểu học là nền móng, là cơ sở ban đầu cho việc giáo dục toàn diện, góp phần hình thành nhân cách học sinh Cùng với các môn học như Tiếng Việt, Địa lý, Đạo đức, Mỹ thuật… thì môn Lịch sử cũng góp phần rất lớn vào việc bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, nhân sinh quan, thế giới quan, góp phần giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho học sinh, hình thành những phẩm chất của con người Việt Nam Việc giảng dạy môn Lịch sử không chỉ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn kiến thức lịch sử dân tộc mà quan trọng hơn đó là việc giáo dục cho học sinh tình cảm yêu mến, lòng tự hào đối với quê hương và trên cơ sở ý thức về cội nguồn sẽ nảy sinh ý thức tự giác tham gia xây dựng quê hương đất nước Đây cũng chính là mục đích cuối cùng của sự nghiệp giáo dục nói chung
Thế nhưng trong những năm gần đây, chất lượng học tập Lịch sử sa sút nghiêm trọng Vì vậy cần phải có biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch
sử Và một trong những hình thức dạy học vừa mang lại hiệu quả giáo dục vừa phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử là tổ chức dạy học Lịch sử địa phương Việc giảng dạy Lịch sử địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển toàn diện về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ Giảng dạy Lịch sử địa phương một cách hiệu quả sẽ không chỉ trang bị thêm kiến thức, rèn luyện thêm các
kĩ năng cho học sinh mà quan trọng hơn đó là việc giáo dục cho học sinh lòng tự hào với những truyền thống của quê hương Để từ đó các em biết trân trọng và cố gắng học tập để mai sau xây dựng quê hương giàu đẹp
Mỗi miền quê trên đất nước Việt Nam đều in dấu chân lịch sử, đều giàu truyền thống đấu tranh cách mạng và huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh là một trong
Trang 3những mảnh đất như thế Con người nơi đây hiếu học, cần cù sáng tạo trong lao động, thủy chung tình nghĩa trong cuộc sống, không cam chịu làm nô lệ, kiên cường bất khuất trong chiến đấu, suốt chiều dài lịch sử thời đại nào cũng có những anh hùng hào kiệt đứng lên chống giặc ngoại xâm Ngoài ra, Can Lộc còn là nơi có rất nhiều địa danh lịch sử đã đi vào huyền thoại như: Ngã ba Đồng Lộc, Chùa Hương Tích, làng K130 Vì vậy, việc giáo dục truyền thống lịch sử cho học sinh Tiểu học nơi đây để khơi dạy ở các em tình yêu quê hương và ý thức phấn đấu để xứng đáng với mảnh đất mà mình đang sống là một điều vô cùng quan trọng
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài này sẽ là tư liệu quý báu để chúng tôi học tập, nghiên cứu, giảng dạy ở các trường Tiểu học
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy hầu như chưa có ai tập trung nghiên cứu về vấn đề tổ chức dạy học lịch sử địa phương cho học sinh lớp 4, 5 trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh Thiết nghĩ đây là một hướng khai thác đề tài khá hay cần
được nhiều người chú ý đến Vì thế chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu
việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh trong môn Lịch sử lớp 4, 5”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở khoa học của việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho hoc sinh Tiểu học
- Tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh lớp 4, 5 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất phương pháp tổ chức dạy học Lịch sử địa phương nhằm giúp học sinh có được những hiểu biết về địa phương, nơi mình đang sống
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các bài Lịch sử địa phương được tổ chức dạy học cho học sinh lớp 4, 5 trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
Trang 4- Giáo viên giảng dạy các khối lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
- Học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, trong phạm vi môn Lịch sử và chỉ nghiên cứu chương trình Lịch sử lớp 4, 5 Để từ đó đi sâu vào tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh lứa tuổi lớp 4, 5
5 Giả thuyết khoa học
Sau quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã thống kê, phân loại các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Lịch sử địa phương được tổ chức cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh Từ đó, chúng tôi đưa ra những phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh có được những hiểu biết về địa phương mình một cách sâu sắc
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập tài liệu, tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục
vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Phương pháp điều tra, thực nghiệm
Tiến hành dự giờ, kiểm tra học sinh bằng phiếu trắc nghiệm với hệ thống các câu hỏi liên quan đến nội dung bài học
- Phương pháp thống kê, phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp điều tra bằng trò chuyện
Tiến hành trao đổi với nhà trường, giáo viên và học sinh để biết được những phương pháp giáo viên sử dụng để dạy học Lịch sử địa phương, tác động của mỗi phương pháp tới học sinh là như thế nào, hứng thú của các em khi được học về lịch
sử địa phương ra sao và những khó khăn nhà trường gặp phải khi tiến hành dạy Lịch sử địa phương Từ đó thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra bằng thực nghiệm
Trang 5- Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các kết quả điều tra
về tỉ lệ học sinh đạt điểm tốt, khá, trung bình sau khi làm phiếu trắc nghiệm Để từ
đó thấy được hiệu quả của những phương pháp mà giáo viên sử dụng khi dạy Lịch
- Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Giả thuyết khoa học
- Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Tìm hiểu việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh trong môn Lịch sử lớp 4, 5
Chương 3: Khảo sát và thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận
Phụ lục: Các giáo án được soạn để tiến hành dự giờ, kiểm tra đánh giá học
sinh; một số hình ảnh được giáo viên sử dụng để dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm địa phương
Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “Địa phương” “Địa phương là những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong nước” Như vậy, địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất nước
Khái niệm “Địa phương” có thể hiểu theo hai khía cạnh: cụ thể và trừu tượng
- Địa phương, hiểu theo nghĩa cụ thể, là những đơn vị chính của một quốc gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản, làng, buôn, ấp,
- Với nghĩa khái quát, trừu tượng, địa phương được hiểu là những vùng đất, khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng đất khác Ví dụ: miền Bắc, miền Nam, miền Trung, Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng sông Cửu Long v.v
Nhưng cũng có ý kiến quan niệm theo cách đơn giản là: tất cả những gì không phải của “Trung ương” hay “Quốc gia” đều được coi là địa phương Như vậy, thủ đô của một quốc gia hay từng khu vực của thủ đô cũng được xem là địa phương
1.1.1.2 Khái niệm lịch sử địa phương
Lịch sử địa phương là lịch sử của các địa phương, như lịch sử các làng, xã, huyện, tỉnh, vùng, miền,… nó còn bao hàm cả lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các cơ quan, xí nghiệp,… Xét về phạm vi địa lí và lịch sử, các tổ chức và đơn
vị này đều thuộc về phạm vi địa phương, song về mặt chuyên môn, kĩ thuật có thể xếp vào dạng lịch sử chuyên ngành
Trang 7Hiểu một cách đơn giản thì Lịch sử địa phương là những kiến thức cơ bản, thiết thực về lịch sử của một địa phương cụ thể nơi các em sống Đó là sơ lược lịch
sử hình thành và phát triển của địa phương theo dòng thời gian từ khi hình thành qua những giai đoạn lịch sử khác nhau cho đến thời điểm hiện nay
1.1.2 Khái quát đôi nét về huyện Can Lộc
1.1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Địa hình huyện Can lộc bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và đồi núi Về cơ bản, địa hình Can Lộc được chia thành ba kiểu đặc trưng:
- Kiểu địa hình núi thấp: Có độ cao tuyệt đối trên 250 m và độ cao tương đối trên 100 m, phân bố ở 2 xã Thiên Lộc và Thuần Thiện, là vùng phía Bắc của huyện nằm ven dải Hồng Lĩnh, có địa hình dốc, đất đai thuộc dạng đá pha cát, có khả năng sử dụng vào trồng cây công nghiệp ngắn ngày như đậu, lạc, cây hoa màu
và trồng rừng
- Kiểu địa hình đồi: Có độ cao tuyệt đối từ 10 - 250m và độ cao tương đối dưới 100m, phân bố ở các xã Thiên Lộc, Thuần Thiện, Đồng Lộc, Thượng Lộc, Gia Hanh, Phú Lộc, Sơn Lộc, Mỹ Lộc, Thường Nga
- Kiểu địa hình đồng bằng: Có độ cao tuyệt đối dưới 10 m, gồm 13 xã là các xã: Quang Lộc, Xuân Lộc, Trung Lộc, Khánh Lộc, Vĩnh Lộc, Yên Lộc, Trường Lộc, Song Lộc, Kim Lộc, Thanh Lộc, Vượng Lộc, Tiến Lộc, Tùng Lộc và 1 thị trấn
là thị trấn Nghèn Đây là vùng tương đối bằng phẳng, có nhiều sông, đất đai tương đối màu mỡ, đây là vùng sản xuất lúa chính của huyện
Khí hậu Can Lộc một mặt mang những đặc điểm chung của khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc Mặt khác, mang những đặc điểm riêng của tiểu vùng và được phân thành hai vùng rõ rệt
là mùa khô và mùa mưa
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam thổi mạnh dẫn đến hiện tượng bốc hơi nước lớn, gây hạn hán nghiêm trọng, đặc biệt từ tháng 5 đến tháng 7, nhiệt độ trung bình vào mùa này từ 31 -
330C, tháng nóng nhất nhiệt độ lên đến 39 - 400C, độ ẩm trung bình 70%, lượng mưa chỉ chiếm 18 - 22% tổng lượng mưa cả năm
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau, tập trung chủ yếu vào tháng 9 đến tháng 11, nhiệt độ mùa này xuống thấp, có khi xuống 70C Gió mùa Đông Bắc là hướng gió chính trong mùa này Vào đầu mùa mưa thường xuất hiện
Trang 8bão, cuối mùa mưa thường xuất hiện sương mù Mùa này có lượng mưa lớn (2000mm) nên thường gây ngập lụt Trung bình mỗi năm, huyện Can Lộc có 1 - 2 cơn bão đổ bộ vào và chịu ảnh hưởng của 3 - 4 cơn bão
Can Lộc có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhưng có đặc điểm chung là chiều dài ngắn, lưu vực nhỏ, các sông chảy trên địa hình tương đối bằng phẳng Sông lớn nhất là sông Nghèn có chiều dài 50 km, diện tích lưu vực 556 km2 Ngoài
ra, Can Lộc có khá nhiều hệ thống hồ, đập: Đập Cù Lây (Thuần Thiện), hồ Khe Lang (Thường Nga), hồ Vực Trống (Gia Hanh, Phú Lộc), hồ Trại Tiểu (Mỹ Lộc)… cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng
ý nghĩa của những tên gọi ấy có liên quan đến địa lý, lịch sử của huyện này
Thời Lê Sơ, huyện Thiên Lộc được thành lập gồm 27 xã Tên huyện Thiên Lộc cùng với địa giới huyện này được hoạch định rành mạch bắt đầu từ đó Lúc đó, huyện Thiên Lộc thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An Đến thời nhà Nguyễn, năm
Tự Đức thứ 15 (1862), vua ra chỉ dụ: Ở đâu địa danh có chữ “Thiên” phải đổi chữ khác để tỏ lòng tôn kính trời Từ đó, huyện Thiên Lộc phải đổi thành huyện Can Lộc Năm 1984, một phần đất thuộc xã Đại Lộc và xã Thiên Lộc được cắt để thành lập thị trấn Can Lộc, trực thuộc huyện Năm 1992, hai xã Minh Lộc và Thuận Lộc nguyên thuộc huyện Can Lộc được cắt để chuyển về thị xã Hồng Lĩnh Năm 2007, tám xã của Can Lộc ở gần biển được cắt về cho huyện Lộc Hà
1.1.2.3 Danh nhân lịch sử
Can Lộc - mảnh đất “địa linh nhân kiệt” - đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc hiền tài Nơi đây là quê hương của nhiều danh nhân lịch sử, võ tướng, các nhà yêu
nước, danh nhân văn hóa và các học giả, khoa học
a Danh nhân lịch sử thời phong kiến:
Trang 9- Ngô Phúc Vạn (1577 - 1652) quê ở làng Trảo Nha - huyện Thạch Hà - phủ
Hà Hoa - trấn Nghệ An (nay là xã Đại Lộc - huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh) Ông là trọng thần nhà Hậu Lê Ông xuất thân là con nhà tướng, kiêm tài văn võ Ông không chỉ võ nghệ cao cường, thông hiểu binh thư trận pháp mà thánh kinh hiền truyện, thiên văn, địa lý, toán số đều tinh thông cả Ngô Phúc Vạn làm quan dưới triều Lê -Trịnh, được phong đến chức Thái Bảo, tước Tào Quận Công, có nhiều công lao đóng góp giữ yên bờ cõi bảo vệ chính đường, khẩn hoang ruộng đất đem lại lợi ích cho trăm họ trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động ở nước ta thế kỷ XVII Ông mất năm Nhâm Thìn (1652) và được nhân dân lập đền thờ tại quê nhà
- Hà Tôn Mục (1653 - 1707) quê ở xã Tùng Lộc - huyện Can Lộc Ông là một danh thần nổi tiếng triều Lê, có nhiều công trạng đối với đất nước Ông đỗ tiến
sĩ năm 1688, lại đỗ đầu kỳ thi ứng chế, tức kỳ thi dành cho các tiến sĩ ở điện Vạn Thọ với đầu bài do chính vua ra Mấy năm sau, ông lại đỗ khoa Đông Các, khoa thi đặc biệt chỉ dành cho những người đã đỗ Tiến sĩ và đang làm quan Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Lại khoa cấp sự trung (kiểm tra công việc quan lại,
tổ chức), Nội tán (dạy học cho con, cháu vua), Thủy sư, Biên tu quốc sử quán, Đốc đồng (trấn giữ) hai xứ Tuyên - Hưng, Phủ doãn phủ Phụng Thiên (đứng đầu kinh đô), Chánh sứ Năm 1699, nhà Thanh xâm lấn Bảo Lạc (Cao Bằng), Hà Tôn Mục
và Nguyễn Hành đã đẩy lui được quân Thanh trong cuộc đấu tranh ngoại giao với Sầm Trì Phượng Năm 1703, ông đi sứ sang Trung Quốc Vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ được hòa hiếu giữa hai nước, vua Khang Hy hết sức cảm phục, tặng cho ông một bức đại tự do chính Khang Hy viết ba chữ “Nhược, xung, hiên”, khắc
gỗ và sơn son Bức đại tự này hiện còn giữ tại đền thờ Hà Tôn Mục ở quê ông; ba chữ đó có nghĩa là “khiêm nhường, trí tuệ, chí khí cao cả” Hà Tôn Mục cũng là một
trong các tác giả của Đại Việt sử ký tục biên
- Phan Kính (1715 - 1761) quê ở xã Song Lộc - huyện Can Lộc Ông là Lưỡng quốc Đình nguyên Thám hoa, Danh sĩ đời vua Lê Hiển Tông Năm 1744, ông thi Hội đỗ Tiến sĩ, thi Đình đứng thứ nhất và được vua phê chuẩn: Đình nguyên Thám hoa Ông được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: Tuyên uý phó sứ ở Nghệ An; Hiệp Đồng trấn Sơn Tây; Đốc Đồng Tuyên Quang Vào khoảng những năm 1759 - 1760, vua nhà Thanh biết tài của Phan Kính nên đã phong cho ông là
“Lưỡng quốc Đình nguyên Thám Hoa” ban tặng ông một áo gấm màu vàng (Cẩm
Trang 10bào) và một bức trướng ghi dòng chữ: “Thiên triều đặc tứ, Bắc đầu dị nam, nhất nhân nhi dĩ” (Thiên triều đặc ban, phía Nam bắc đầu, chỉ một người thôi)
- Nguyễn Huy Oánh (1722 - 1789) quê ở xã Trường Lộc - huyện Can Lộc Ông là nhà văn, nhà thơ và nhà văn hóa nổi tiếng đời Lê Hiển Tông Năm 1748, ông
đỗ Thám hoa, làm đến Tả thị lang Bộ Lại và thăng Đô ngự sử Ông từng được cử đi
sứ Trung Quốc, làm đến Thượng thư Bộ Công Ngoài là bậc đại khoa và quan nhất phẩm, Nguyễn Huy Oánh còn là một nhà giáo mẫu mực từng giữ chức “Tế tửu Quốc Tử Giám” Chúa Trịnh Sâm và vua Lê Dục Tông khi còn nhỏ từng là học trò của ông Ông thông tuệ cả nho, y, lý, số và là tác giả hơn 40 cuốn sách có giá trị trong kho tàng Hán Nôm của Việt Nam Các tác phẩm chính của Nguyễn Huy Oánh là: Phụng sử yên kinh tập, Bắc dư tập lãm, Sơ học chỉ nam, Phụng sự yên đài tổng
ca, Cổ lễ nhạc chương thi văn tập
- Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) quê ở xã Kim Lộc - huyện Can Lộc Ông là một danh sĩ đời Hậu Lê và Tây Sơn, là quân sư cho Nguyễn Huệ Với cương vị Viện trưởng Viện Sùng Chính, Nguyễn Thiếp đã đề ra những cải cách về văn hóa, giáo dục của nước nhà cuối thế kỷ thứ XVIII
- Nguyễn Huy Tự (1743 - 1790) quê ở xã Trường Lôc - huyện Can Lộc Ông
là nhà thơ đời vua Lê Hiển Tông Ông đậu Hương cống (cử nhân) năm 1759, đậu Tiến sĩ năm 1770, làm quan dưới triều Hậu Lê Năm 1789, ông vào Phú Xuân phò
tá vua Quang Trung Ông là nhà thơ, nhà văn hoá, là tác giả tập thơ nổi tiếng
“Truyện thơ Hoa Tiên”
- Nguyễn Huy Hổ (1783 - 1841) quê ở Trường Lộc - huyện Can Lộc Ông là Danh nhân văn hóa Việt Nam Tuy sinh ra trong một dòng tộc danh giá nhưng ngay
từ khi còn trẻ ông đã phải chịu hàng loạt biến cố trong cả hai gia tộc nội, ngoại Lúc này, nhà Lê bước vào thời kỳ suy vong, hàng loạt người thân nối nhau từ trần Bên nội cha ông không còn, bên ngoại kiêu binh phá nát cơ đồ Dù là danh sỹ văn hay chữ tốt nhưng gặp thời loạn lạc nên Nguyễn Huy Hổ sống ẩn dật ở quê nhà với tư tưởng hoài Lê Thừa hưởng tố chất của ông nội là Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy
Hổ giỏi về y thuật, lý số và thiên văn Năm ông chừng 40 tuổi, vua Minh Mạng mới triệu ông vào làm thầy thuốc trong cung Nhân việc ông chỉ trích việc tính sai của Toàn khâm thiên giám, sau nhà vua nghiệm ra lời ông nói đúng vua ban cho ông chức “Linh đài lang”
b Các võ tướng tiêu biểu trong lịch sử phong kiến
Trang 11- Đặng Tất (? - 1409) quê ở xã Tùng Lộc - huyện Can Lộc Ông là Danh
nhân lịch sử Việt Nam Theo Đặng tộc đại tông phả, ông tổ 4 đời của Đặng Tất là
Đặng Bá Kiển vốn cư ngụ ở vùng kinh kỳ Thăng Long, sau đó di dời vào Nghệ An châu Con trưởng của Bá Kiển là Đặng Bá Tĩnh đỗ thám hoa đời nhà Trần Bá Tĩnh chính là ông nội của Đặng Tất Con trưởng của Bá Tĩnh là Đặng Đình Dực chính là cha Đặng Tất Đặng Tất sinh ra và lớn lên tại làng tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, Nghệ An châu (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) Ông thi đậu Thái học sinh thời nhà Trần và được bổ làm Tri phủ Hoá Châu (nay là vùng Hải Lăng, Quảng trị) Sau đó, ông lại chuyển đến huyện Thăng Bình, Quảng Nam
- Đặng Dung (? - 1414) quê ở xã Tùng Lộc - huyện Can Lộc Ông là Danh nhân lịch sử Việt Nam Đặng Dung là con Đặng Tất, một tướng tài thời Hậu Trần Năm sinh của ông không rõ, chỉ biết ông người làng Tả Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Giận cha mình bị vua Giản Định giết oan (1408) vì lời gièm pha của gian thần sau trận Bô Cô, ông đem quân từ Thuận Hóa về Thanh Hóa, tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi vua, lấy hiệu là Trùng Quang và được giữ chức Đồng bình chương
sự Ông là tác giả bài thơ “Cảm hoài” nổi tiếng
c Các nhà cách mạng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Anh hùng lao
- Ngô Đức Kế (1878 - 1929) quê ở xã Trảo Nha, nay là thị trấn Nghèn - huyện Can Lộc Ông là Danh nhân lịch sử cách mạng Việt Nam Ngô Ðức Kế là một thành viên của phong trào Duy Tân, chống lại chế độ thuộc địa của Pháp tại Việt Nam đầu thế kỷ 20 Năm 1901, ông đậu Tiến sĩ nhưng không ra làm quan mà liên kết với Lê Văn Huân, Đặng Nguyên Cẩn để hoạt động trong phong trào Duy Tân Sau đó, ông bị Pháp bắt và bị đày ra Côn Đảo Sau ra tù, ông làm cho báo
“Hữu Thanh” ở Hà Nội và hoạt động văn hoá
- La Thị Tám sinh tháng 10 năm 1949 tại xã Vĩnh Lộc - huyện Can Lộc, là một nữ Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
là nguyên mẫu nữ nhân vật trong bài hát “Người con gái sông La” của nhạc sĩ Doãn
Trang 12Nho Năm 1967, lúc vừa tròn 18 tuổi, La Thị Tám gia nhập đội Thanh niên xung phong và được biên chế vào đơn vị chủ lực Đại đội 2 - Giao thông vận tải từ tháng
12 - 1967 đến tháng 8 - 1968, đóng tại xã Đồng Lộc Bà được giao nhiệm vụ đứng trên một quả đồi cao, phía trái của Ngã ba Đồng Lộc, vào những lúc máy bay Mỹ ném bom để đếm số lượng bom kẻ thù trút xuống Sau khi máy bay Mỹ vừa đi là La Thị Tám chạy xuống cắm tiêu đánh dấu cho công binh đến phát nổ Suốt 200 ngày đêm ròng rã, bà đã đếm và cắm tiêu được một số lượng bom lớn: 1205 quả Ngày 22/12/1969, bà được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi mới 20 tuổi Sau chiến tranh, bà về quê hương và lập gia đình rồi chuyển về làm việc ở Đảng uỷ cơ quan dân chính Đảng cấp tỉnh Bà kết hôn với một sĩ quan hải quân
d Các học giả, các nhà khoa học
- Nguyễn Đình Tứ (1918 - 1991) quê ở xã Song Lộc - huyện Can Lộc Ông
là một nhà vật lý hạt nhân, nhà lãnh đạo nền khoa học Việt Nam Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương, nguyên Viện trưởng viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, nguyên Bộ trưởng bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Phan Đình Diệu (sinh năm 1936) quê ở xã Trung Lộc - huyện Can Lộc Ông là Giáo sư toán học và là một trong những người được ghi nhận là có công đầu trong kế hoạch đào tạo và phát triển ngành tin học tại Việt Nam Ông là chuyên gia trong các lĩnh vực: toán học kiến thiết, lôgic toán, lý thuyết thuật toán, ôtômat, ngôn ngữ hình thức, lý thuyết mật mã và an toàn thông tin Ông là viện trưởng đầu tiên của viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (nay là viện Công nghệ Thông tin Việt Nam), Chủ tịch sáng lập hội Tin học Việt Nam, Phó trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về công nghệ thông tin khóa I (1993 - 1997)
d Các văn nhân và các nhà hoạt động văn hóa
- Xuân Diệu (1916 - 1985) quê ở Làng Trảo Nha, nay là thị trấn Nghèn – huyện Can Lộc Tên thật của ông là Ngô Xuân Diệu, là một nhà thơ Việt Nam Ông sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê ngoại của Xuân Diệu) Cha là ông Ngô Xuân Thọ (giáo viên), người làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Ông được mệnh danh là ông hoàng của thơ tình và là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ,
Trang 13một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983 Ông đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996)
1.1.2.4 Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh
Can Lộc như một bức tranh thu nhỏ của mảnh đất Hà Tĩnh nói riêng và nước Việt Nam nói chung với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và di tích, danh thắng tiêu biểu, có giá trị tầm cỡ quốc gia và quốc tế Đặt chân đến mảnh đất Can Lộc, chúng ta sẽ được tham quan nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như:
- Đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung: thuộc xã Tùng Lộc, thờ hai vị tướng có công lao lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh xâm lược
- Miếu Biên Sơn: được xây dựng thời nhà Lê ở trung tâm xã Hồng Lộc, thờ Phan Thị Sơn, một nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh
- Mộ trạng nguyên Bạch Liêu: thuộc xã Thiên Lộc Bạch Liêu sinh năm 1236 quê ở Yên Xá - Đông Thành - Nghệ An Ông đỗ Trạng nguyên năm 1266 nhưng không ra làm quan, sau này ông giúp Trần Quang Khải trấn Nghệ An và có công lớn trong cuộc chống quân Nguyên Mông
- Chùa Hương Tích (xã Thiên Lộc, Can Lộc) nằm lưng chừng ngọn Hương Sơn với 99 ngọn cao thấp gắn với truyền thuyết 100 con chim phượng hoàng đi tìm chốn đậu càng thêu dệt nên nhiều câu chuyện huyền bí
- Đền thờ Hà Tôn Mục ở xã Tùng Lộc: Cụ Hà Tôn Mục là một trong số ít những người được thờ sống - thể hiện sự tôn vinh của nhân dân đối với những người có công lao đối với đất nước
- Ngã ba Đồng Lộc nằm ở giao điểm 2 tỉnh lộ số 5 và 15 Trong chiến tranh Việt Nam, nơi đây đã phải hứng chịu hàng ngàn trận bom của máy bay Mỹ và đã chứng kiến sự hy sinh của tiểu đội nữ Thanh niên xung phong gồm 10 người
- Làng K130: Thuộc xã Tiến Lộc - huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh Cùng với Ngã ba Đồng Lộc, làng K130 trong chiến tranh chống Mỹ là sự kiện lịch sử điển hình của tinh thần đoàn kết toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân nhằm giữ vững mạch máu giao thông thông suốt trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Nơi đây có những người nông dân yêu nước không tiếc của cải, máu xương, tình nguyện
dỡ 130 ngôi nhà để lát đường và nhường đường cho 130 chiếc xe chờ hàng phục vụ chiến trường Miền Nam đánh Mỹ
Trang 14- Di tích lịch sử tượng đài Xô Viết được xây dựng tại Ngã ba Nghèn - thị trấn Nghèn - huyện Can Lộc là nơi ghi dấu cuộc đấu tranh của nhân dân huyện Can Lộc
- tỉnh Hà Tĩnh Nơi đây có Đài tưởng niệm, tấm bia ghi tên các liệt sĩ
1.1.2.5 Làng nghề và lễ hội
Mảnh đất Can Lộc còn là một nơi có nhiều làng nghề nổi tiếng được du khách cả nước biết đến Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp bốn phương lại nô nức về với mảnh đất Thiên Lộc để dự lễ hội Chùa Hương Tích được tổ chức ngày 18/2 âm lịch Hành trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện
tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội Xuân Điển diễn ra tại làng Phan Xá, Lợi Xá, xã Tùng Lộc Lễ hội tưởng nhớ thần Tam Lang có công giúp quân Đại Việt đánh thắng giặc ngoại xâm Lễ hội được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 1 âm lịch rất trọng thể với nghi thức quốc lễ Lễ hội có hát tụng thần, có hát chèo, tuồng, thi nấu cơm Ba năm một lần, làng tổ chức bơi thuyền rồng, rước thần trên kênh trước đền Những mùa khác trong năm cũng diễn ra các lễ hội đặc trưng Đó là lễ hội Kỳ Phúc ở Thuần Thiện tổ chức vào ngày 14 - 16 tháng 6 hàng năm Hội có cuộc rước và tế thần, các trò chơi văn hoá, thể thao, đặc biệt là có hội vật Ban đêm có hát Trò Kiều, hát ả đào Cổ Đạm Trò chơi nào cũng đông người tham gia và cuốn hút người xem Bên cạnh những lễ hội mang tính tâm linh, thờ thần cúng phật thì còn có những dịp
lễ để kỉ niệm những sự kiện lịch sử tiêu biểu, những người con đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng đất mẹ Đó là lễ kỉ niệm ngày Xô Viết Nghệ Tĩnh ở Khu di tích Ngã ba Nghèn, thị trấn Nghèn được tổ chức vào ngày 12 tháng 9 dương lịch hàng năm Trước tượng đài Ngã ba Nghèn lịch sử, lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh đặt vòng hoa, dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh cách mạng,
vì độc lập tự do của dân tộc; cầu cho linh hồn các liệt sĩ được siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng, cầu cho nhân dân no ấm
Người Can Lộc với bản tính cần cù, chịu thương chịu khó đã luôn tự mình làm ra các sản phẩm phục vụ cho cho mình và tìm nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống Chính vì điều đó, nhiều sản phẩm của người dân Can Lộc được nhiều người biết đến và có nhiều làng nghề đã trở thành làng nghề nổi tiếng Đó là làng Trường Lưu (thuộc xã Trường Lộc) còn nổi tiếng với nghề dệt vải và hát phường vải Từ
Trang 15đời Hậu Lê, nghề thủ công chính ở Trường Lưu là nghề bông vải, kéo sợi, dệt vải Sản phẩm phục vụ trong làng, trong tổng, bao gồm các loại vải mộc, vải thô may mặc gia đình, có cả tơ lụa cho các cô gái Làng Trường Lưu đã hình thành phường vải và hát ví phường vải cũng phát triển ở đây Hiện nay, nghề dệt vải ở Trường Lưu đã mai một Từ Trường Lưu, nếu ghé qua làng Yên Lạc (xã Quang Lộc), chúng
ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi bắt gặp những chiếc áo tơi vẫn được sử dụng trong đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây Ở Yên Lạc, bao đời nay, áo tơi là công cụ không thể thiếu trong lao động sản xuất Cái đáng quý là chiếc áo đã thành truyền thống, thành “của độc” mà người xưa “để lại” vẫn được giữ gìn Trải qua bao đời đến nay, người dân Yên Lạc vẫn còn giữ được nghề chằm tơi truyền thống, và là một trong những làng hiếm hoi, nếu không nói là duy nhất
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học
1.1.3.1 Những thay đổi của trẻ bắt đầu đi học
Học sinh bắt đầu bước vào bậc Tiểu học sẽ phải làm quen với môi trường học tập mới khác hẳn với trường Mầm non Các em phải chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập là chủ đạo Các em phải đi học đúng giờ, không được
bỏ học, trong lớp phải ngồi yên lặng nghe cô giáo giảng bài, làm bài tập về nhà đầy
đủ và đúng thời hạn Tính chất quan hệ qua lại giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với gia đình cũng thay đổi Điều này sẽ gây cho các em không ít khó khăn trong việc thích ứng với môi trường mới trong giai đoạn đầu của giáo dục phổ thông
Đại đa số trẻ em được chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý để đến trường phổ thông Các em muốn đến trường để xem nhà trường có gì khác với ở nhà Do trẻ chỉ
có hứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng thú đó dễ dàng mất đi Vì thế cần làm cho trẻ có hứng thú với chính quá trình học tập, với sự hấp dẫn của nội dung tri thức Do đó, yêu cầu đặt ra đối với những nhà sư phạm là phải lựa chọn và tổ chức các phương pháp, hình thức dạy học sao cho gây được hứng thú tìm hiểu, học tập ở hầu hết học sinh
Sự thay đổi hoạt động chủ đạo diễn ra khi trẻ bắt đầu đi học Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là hoạt động học tập, nó làm thay đổi một cách cơ bản những động cơ, hành vi của trẻ, mở ra những nguồn phát triển mới của nhận thức và đạo đức ở trẻ, hành động học phải được xem như là đối tượng để lĩnh hội, sau đó trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức khái niệm khoa học Cách học vừa là tiền đề,
Trang 16công cụ, phương tiện, vừa là mục đích của dậy học Hoạt động học bắt đầu nảy sinh
ở lớp 1 và 2, hình thành ở lớp 3 và 4, định hình ở lớp 5
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi
tiết (lớp 1 và 2) Tuy nhiên, trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tích, tách dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó
Tri giác về đánh giá không gian, thời gian còn hạn chế; tri giác chưa chính xác độ lớn của những vật quá lớn hoặc quá nhỏ
Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào đặc điểm bên ngoài Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát Khi khái quát, học sinh Tiểu học thường dựa vào chức năng và cộng dụng của sự vật, hiện tượng Trên cơ
sơ đó tiến hành phân loại, phân hạng Hoạt động tổng hợp ở học sinh Tiểu học còn
sơ đẳng
Tưởng tượng còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng thì đơn giản, hay thay đổi Tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện Ngoài ra, “nói dối” là hiện tượng gắn liền với sự phát triển tưởng tượng của trẻ
Chú ý không chủ định ở trẻ vẫn phát triển, chú ý có chủ định còn yếu và thiếu bền vững Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động học tập Trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgic Nhiều học sinh Tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng ghi nhớ máy móc Ghi nhớ gắn với mục đích đã giúp trẻ nhớ nhanh hơn, lâu hơn và chính xác hơn
1.1.3.3 Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học
Nét tính cách của học sinh Tiểu học mới hình thành nên chưa ổn định Hành
vi của trẻ mang tính bột phát và ý chí còn thấp Tính cách điển hình của trẻ là hồn nhiên và dễ tin Trẻ thích bắt chước hành vi của người xung quanh hay trên phim ảnh Học sinh Tiểu học ở Việt Nam sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động
Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học đã phát triển khá rõ rệt: Từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ (lớp 1 và 2) đến nhu cầu tìm hiểu nguyên nhân, quy luật và các mối quan hệ (lớp 3, 4, 5) Nhu cầu đọc sách phát triển cùng với việc phát triển kỹ xảo đọc Cần hình thành nhu cầu nhận thức cho trẻ ngay từ sớm
Trang 17Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh Tiểu học là sự vật, hiện tượng cụ thể nên cảm xúc, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể Học sinh Tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kiềm chế cảm xúc của mình Tình cảm của học sinh Tiểu học còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Sự chuyển hóa cảm xúc nhanh
Việc nắm được đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học vô cùng quan trọng đối với mỗi người giáo viên Là căn cứ để giáo viên xác định phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho gây được hứng thú, mang lại hiệu quả dạy học cao nhất
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng; một số nhân vật lịch sử điển hình; một số thành tựu văn hóa tiêu biểu đánh dấu sự phát triển của địa phương
- Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm
- Vận dụng những hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống
1.2.1.3 Thái độ
- Đánh giá đúng giá trị của của di tích lịch sử
- Giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc
- Hình thành lòng yêu mến, yêu quý di tích lịch sử quê hương Có thái độ đúng đắn trong việc bảo vệ di tích lịch sử thông qua việc tìm hiểu những giá trị của
di tích lịch sử
Trang 18- Khơi dậy ở học sinh tinh thần ham học, say mê tìm hiểu về lịch sử địa phương
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc dạy học Lịch sử địa phương ở Tiểu học
1.2.2.1 Vai trò
Ở trường phổ thông, giảng dạy Lịch sử địa phương có khả năng to lớn trong việc cung cấp cho học sinh những tri thức về lịch sử địa phương, làm phong phú thêm những hiểu biết của các em về quê hương mình, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương, hình thành những khái niệm về nghĩa vụ đối với quê hương, tạo cho học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc
Giảng dạy Lịch sử địa phương góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng chính trị, lao động, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh
Lòng tự hào đất nước, dân tộc Việt Nam bắt đầu từ lòng tự hào những chiến công của cha ông đã làm nên ngay trên mảnh đất quê hương thân yêu nơi các em sinh ra và lớn lên
Học sinh cũng tự hào với những thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương từ trước đến nay, đặc biệt trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội
Liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, tạo những biểu tượng lịch
sử cụ thể, sinh động, thuận lợi trong việc lĩnh hội các khái niệm phức tạp, những kết luận, những khái quát khoa học Đồng thời cũng góp phần giúp học sinh tiếp cận với đời sống thực ở địa phương, hiểu được những nét đặc thù của lịch sử địa phương, tìm hiểu những truyền thống tốt đẹp của của quê hương, những đóng góp của nhân dân địa phương đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Điều này rất quan trọng để phát triển tư duy lịch sử cho học sinh
Dạy học Lịch sử địa phương làm cho học sinh thấy rõ ý nghĩa lịch sử tiến bộ của chế độ XHCN đang được xây dựng ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam, bước đầu đem lại những thành quả to lớn, cụ thể trong việc nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân lao động ở mỗi địa phương
Lịch sử địa phương giáo dục cho học sinh lòng yêu lao động qua nhiều thế
hệ, từ đó xác định nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp đó của địa phương
Việc giảng dạy Lịch sử địa phương còn làm cho học sinh nắm vững hơn khái niệm khoa học hiện đại của hệ thống tự nhiên - con người - xã hội, thấy được vai trò của con người trong việc chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ con người
Trang 19Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có một mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, nằm trong cặp phạm trù “cái riêng và cái chung” Tri thức lịch sử địa phương là những biểu hiện sinh động, đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc Để nghiên cứu, nhận thức lịch sử dân tộc một cách hoàn chỉnh, sâu sắc, người học phải nghiên cứu lịch sử địa phương vì lịch sử dân tộc được hình thành trên cơ sở khối lượng tri thức, tài liệu của lịch sử địa phương đã được khái quát hoá, tổng hợp ở mức độ cao Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử đều xảy ra ở một địa phương nhất định
và nó gắn chặt với một không gian cụ thể ở một địa phương cụ thể nên nó mang tính chất địa phương rất rõ nét Nếu tách rời lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương
sẽ làm cho bộ môn Lịch sử trở nên thiếu khoa học, thiếu lôgic, thiếu chặt chẽ, thiếu sâu sắc và giá trị thuyết phục của nó sẽ bị hạn chế
Chúng ta đều biết rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra đều mang tính chất địa phương, vì nó gắn với một vị trí không gian cụ thể của một địa phương nhất định dù rằng các sự kiện đó có tính chất, quy mô và mức độ ảnh hưởng khác nhau Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng ảnh hưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp nhưng cũng có những sự kiện, hiện tượng mà tác động của nó vượt ra khỏi khung giới địa phương, mang ý nghĩa quốc gia, thậm chí là ý nghĩa quốc tế Mặt khác, tìm hiểu về lịch sử địa phương không chỉ là việc riêng của các nhà nghiên cứu
mà còn là nhu cầu của mỗi con người
Ngoài ra, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự am tường cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về quê hương, xứ sở, nơi chôn rau cắt rốn của mình, hiểu từ mối quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc
Môn Lịch sử nói chung và phần Lịch sử địa phương nói riêng vốn có vị trí, ý nghĩa to lớn đối với giáo dục thế hệ trẻ Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào với những thành tựu dựng nước của tổ tiên, xác định vị trí trong hiện tại, có thái độ đúng với sự phát triển hợp qui luật của tương lai
Lòng yêu quê hương là biểu hiện quan trọng nhất của lòng yêu nước chân chính Từ thuở bé thơ, mỗi chúng ta đều biết về con người, cảnh vật, quá khứ nơi chôn nhau cắt rốn của mình Những câu hát ru, những câu chuyện cổ tích của bà,
mẹ, chị mà một phần không nhỏ nói về quê hương, đã sớm in sâu vào tâm trí trẻ em, làm tăng thêm lòng yêu quê da diết và là tri thức ban đầu về quê hương
Trang 20Các môn học về địa phương ở trường Tiểu học, trong đó có những tiết Lịch
sử địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với việc cung cấp, bổ sung những kiến thức khoa học về tự nhiên, xã hội của quê hương trên mọi lĩnh vực Đây là điều kiện thuận lợi cho những học sinh muốn tìm hiểu về lịch sử của dân tộc, quê hương
Lịch sử địa phương là phần chương trình có khả năng dung nạp lớn nhất mọi hình thức học tập (Trên lớp, ở nhà, nội khoá, ngoại khoá, ) Cũng là phần có điều kiện thuận lợi nhất trong việc phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với phương pháp dạy học tích cực
Việc giảng dạy Lịch sử địa phương trong nhà trường có tác dụng trực tiếp và quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy Lịch sử dân tộc của người giáo viên, làm cho bài giảng Lịch sử sinh động hơn, có sức truyền cảm, gây thêm hứng thú học Lịch sử của học sinh, tạo được những biểu tượng lịch sử, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các khái niệm, các hiện tượng trong bài học Lịch sử dân tộc Tri thức lịch
sử địa phương còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục cho người học lòng tự hào
về những truyền thống tốt đẹp của quê hương, địa phương nơi cư trú, khơi dậy tình yêu quê hương xứ sở của các em
1.2.2.2 Ý nghĩa
Nhiệm vụ của nhà trường Tiểu học là đào tạo thế hệ trẻ biết yêu quý tha thiết quê hương của mình, là người lao động tốt, người chiến sĩ tốt trên mặt trận xây dựng và bảo vệ quê hương, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Vì vậy, việc nghiên cứu Lịch sử địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông
a Ý nghĩa phát triển
- Dạy học Lịch sử địa phương là hoạt động thiết thực, đảm bảo được nguyên tắc giáo dục: Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội Những gì các em được học trong nhà trường sẽ được cụ thể hóa ở thực tế
- Bồi dưỡng cho học sinh những kĩ năng cần thiết trong việc vận dụng tri thức vào giải quyết nhiệm vụ cụ thể mà thực tiễn đang đòi hỏi
- Góp phần rèn luyện và phát triển năng lực học tập, nghiên cứu của học sinh
Trang 21b Ý nghĩa giáo dưỡng
- Giúp cho học sinh thấy được sự phát triển đa dạng, sinh động và thú vị của lịch sử địa phương; thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa lịch sử địa phương và dân tộc; thấy được nét đặc thù của lịch sử địa phương
- Kết quả việc nghiên cứu Lịch sử địa phương trong nhà trường góp phần: + Cung cấp tài liệu cho việc dạy học Lịch sử địa phương
+ Giúp địa phương có tài liệu để động viên, tuyên truyền, giáo dục nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế, xã hội của địa phương
+ Thắt chặt mối quan hệ giữa nhà trường với nhân dân địa phương
+ Nguồn tài liệu Lịch sử địa phương rất phong phú và đa dạng là cơ sở để tạo biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, sự kiện lịch sử bởi tri thức lịch
sử địa phương là biểu tượng sinh động, cụ thể của tri thức lịch sử dân tộc
c Ý nghĩa giáo dục
- Tri thức Lịch sử địa phương có ý nghĩa giáo dục sâu sắc lòng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của địa phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo
vệ, giữ gìn di sản văn hóa, di tích lịch sử
- Lòng tự hào, tình cảm tha thiết gắn bó với quê hương, ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ đều được hình thành trên cơ sở những hiểu biết nhất định về lịch sử, truyền thống và con người ở chính nơi mình đã sinh ra, lớn lên, đang học tập để trưởng thành
1.2.3 Mục đích, yêu cầu dạy học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc
Trong nghiên cứu lịch sử, chúng ta thấy rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng nào xảy ra đều mang tính chất địa phương, bởi nó gắn với một vị trí không gian cụ thể ở một hoặc một số địa phương nhất định Tuy nhiên, những sự kiện, hiện tượng
đó có tính chất, quy mô, mức độ ảnh hưởng khác nhau Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng, ảnh hưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp của địa phương, nhưng có những sự kiện, hiện tượng xảy ra có mức độ ảnh hưởng vượt khỏi không gian địa phương, mang ý nghĩa rộng đối với quốc gia, thậm chí đối với cả thế giới Chính vì vậy, có những sự kiện lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc hoặc rộng hơn
là lịch sử thế giới Tri thức lịch sử sẽ làm giàu thêm tri thức của cuộc sống con người Chính vì lẽ đó, sự am tường về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi
Trang 22chôn rau cắt rốn của mình, hiểu rõ mối quan hệ của lịch sử ở địa phương với lịch sử của dân tộc và rộng lớn hơn là lịch sử thế giới
Việc dạy và học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của huyện Thông qua việc dạy học Lịch sử địa phương, hoạt động của nhà trường có điều kiện để gắn liền với xã hội,
lý thuyết đi đôi với thực hành
Việc học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc còn bồi dưỡng cho các em học sinh những kỹ năng cần thiết trong việc vận dụng tri thức lý thuyết vào thực tiễn đang đòi hỏi ở địa phương Từ hoạt động thực tiễn đó, các em thấy được sự phát triển đa dạng, sinh động, phức tạp và thú vị của lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, thấy được nét độc đáo, đặc thù của lịch sử địa phương mình, song vẫn tuân theo qui luật phát triển chung của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại
Nguồn tài liệu lịch sử địa phương với những loại hình đa dạng phong phú, sinh động là cơ sở cho việc tạo những biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, các sự kiện, hiện tượng ở bài học lịch sử Tri thức lịch sử địa phương huyện Can Lộc sẽ có ý nghĩa giáo dục lòng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của địa phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ, giữ gìn di sản văn hoá, di tích lịch sử,
Lịch sử địa phương huyện Can Lộc nếu được tổ chức giảng dạy tốt ở các trường Tiểu học trong huyện sẽ là một trong những nguồn quan trọng làm phong phú tri thức của học sinh về quê hương mình, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương, hình thành những khái niệm về nghĩa vụ đối với quê hương, tạo cho học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc
Việc dạy học Lịch sử địa phương sẽ góp phần hình thành ở mỗi học sinh lòng tự hào đất nước, tự hào về dân tộc Việt Nam mà trước hết là lòng tự hào về những chiến công của cha anh mình đã làm nên ở ngay trong làng xóm thân yêu khi đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Học sinh cũng tự hào với những thành tựu kinh
tế, văn hoá, xã hội của địa phương huyện Can Lộc từ trước đến nay Học sinh không những tự hào về truyền thống anh hùng, bất khuất trong đấu tranh Cách mạng mà cũng tự hào về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng, sản xuất, tự hào về những nghề thủ công truyền thống, về sự tài giỏi khéo léo của những nghệ nhân ở địa phương huyện Can Lộc đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng Giới thiệu cho
Trang 23học sinh những nghề truyền thống, gây cho các em có ý thức bảo vệ và phát triển nghề truyền thống thủ công địa phương
1.2.4 Tìm hiểu thực tế việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
1.2.4.1 Mục đích khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên đối tượng học sinh với mục đích tìm hiểu
về hứng thú học Lịch sử địa phương của học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc Từ đó có phương pháp dạy học thích hợp nhằm thu hút học sinh, đồng thời giúp các em có cái nhìn đúng đắn đối với việc học tập Lịch sử địa phương
Bên cạnh khảo sát học sinh thì chúng tôi cũng tiến hành khảo sát trên đối tượng giáo viên với mục đích tìm hiểu các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học mà giáo viên sử dụng cũng như những khó khăn mà họ gặp phải khi dạy Lịch
sử địa phương huyện Can Lộc Đây là cơ sở đề chúng tôi đề xuất một số ý kiến đóng góp để việc dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh đạt hiệu quả cao hơn
Thông qua tìm hiểu về việc tổ chức dạy học Lịch sử địa phương ở trường
Tiểu học Tiến Lộc, đề tài cũng xin phép được góp tiếng nói vào việc nêu lên thực tế dạy học Lịch sử địa phương ở Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
Từ đó, đưa ra một số ý kiến đóng góp với mong muốn ngày càng nâng cao chất lượng dạy học phần Lịch sử địa phương nói riêng và môn Lịch sử nói chung ở Tiểu học
1.2.4.2 Chuẩn bị khảo sát
a Đối tượng, phạm vi và thời gian khảo sát
- Đối tượng, phạm vi khảo sát:
+ Giáo viên dạy môn Lịch sử lớp 4, 5 trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, với số lượng là 6 giáo viên
+ Học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, với số lượng là 60 học sinh
- Thời gian khảo sát: Ngày 11/4/2012
Trang 24b Nội dung khảo sát
- Khảo sát về thái độ, nguyện vọng, mong muốn của học sinh lớp 4, 5 trường
Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh, đối với việc tổ chức dạy học
Lịch sử địa phương của giáo viên
- Khảo sát thực tế việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học Lịch sử địa phương của giáo viên trường Tiểu học Tiến Lộc, huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
1.2.4.3 Phương pháp khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
1.2.4.4 Kết quả khảo sát
a Khảo sát trên đối tượng học sinh
Bảng 1: Câu hỏi: Em có thích học Lịch sử địa phương không?
5 học sinh trong số 60 học sinh được khảo sát) có thái độ bình thường đối với việc học tập Lịch sử địa phương (không cảm thấy hứng thú cũng không có thái độ thờ ơ) Những học sinh chọn câu trả lời “không” hoặc “bình thường” giải thích nguyên nhân của thái độ đó với lí do chủ yếu là theo các em thì kiến thức Lịch sử địa phương khô khan, thiếu sinh động, quá nhiều mốc thời gian và khó nhớ
Trang 25Bảng 2: Câu hỏi: Trong các giờ dạy Lịch sử địa phương, em có thích được
tham gia các hoạt động học tập như: Kể chuyện lịch sử, đóng vai, tham quan, trò chơi lịch sử,… không?
đã thu hút số đông học sinh tham gia Còn hoạt động tham quan và đóng vai do không có điều kiện nên ít được tổ chức nhưng theo khảo sát thì học sinh rất thích được tham gia những hình thức học tập này Đây cũng là mong muốn hết sức chính đáng của các em Qua đó thể hiện sự quan tâm của học sinh đối với việc nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử địa phương
b Khảo sát trên đối tượng giáo viên
* Về phương pháp dạy học
Câu hỏi: Trong dạy học Lịch sử địa phương ở lớp 4 (5), thầy cô thường sử
dụng những phương pháp dạy học nào?
100% các thầy cô được hỏi đều thể hiện sự nhận thức đầy đủ và hệ thống các phương pháp đặc trưng cho việc dạy học Lịch sử địa phương trong trường Tiểu học
Cụ thể là hầu hết tất cả các thầy cô đều sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học như: Vấn đáp, thảo luận nhóm, trình bày trực quan, trò chơi, Tuy nhiên, trong hệ thống các phương pháp đó, có những phương pháp được giáo viên sử dụng thường xuyên như thảo luận nhóm, vấn đáp Bên cạnh đó cũng có những phương pháp không thường xuyên được sử dụng như đóng vai Khi được hỏi về nguyên nhân vì
Trang 26sao có sự hạn chế trong việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học Lịch sử địa phương thì các giáo viên nêu ra những nguyên nhân sau:
- Khả năng nhập vai của học sinh còn hạn chế
- Học sinh chưa mạnh dạn tham gia đóng vai
- Thời gian cho một tiết dạy Lịch sử địa phương là khoảng 35 - 40 phút Trong khi để tiến hành cho học sinh thực hiện đóng vai cần nhiều thời gian cho học sinh nhận vai, tổ chức thảo luận tập dượt, tổ chức biểu diễn, Vì vậy, phương pháp này được sử dụng một cách khá hạn chế trong dạy học Lịch sử địa phương
Bên cạnh đó, các thầy cô cũng cho biết rằng ngoại khóa là một hình thức mang lại hiệu quả cao và thu hút học sinh trong việc tìm hiểu Lịch sử địa phương
Vì vậy phương pháp này cần được sử dụng thường xuyên trong dạy học Lịch sử địa phương Tuy nhiên, việc tiến hành hình thức dạy học này còn gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, kết quả điều tra là các thầy cô chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng các hình thức ngoại khóa như tham quan, gặp gỡ và trò chuyện với các nhân chứng lịch sử, các hoạt động công tác xã hội, Kết quả đó cho thấy mặc dù đã nhận thức đúng vai trò và hiệu quả của hoạt động ngoại khóa trong dạy học Lịch sử địa phương nhưng trên thực tế thì hình thức này vẫn chưa được thực hiện thường xuyên Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này chủ yếu là do những nguyên nhân sau:
- Mất nhiều thời gian lên kế hoạch và thực hiện
- Bị động vì phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết
- Điều kiện của nhà trường chưa đủ để đáp ứng yêu cầu khi tổ chức cho học sinh tham quan
- Học sinh Tiểu học hiếu động nên khi tổ chức tham quan thì có thể xảy ra nhiều tình huống ngoài dự kiến
Qua khảo sát, chúng tôi đã thu nhận được nhiều hiểu biết về thực tế việc vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cùng với những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi tiến hành dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học
Trang 27trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh Cũng thông qua đó thấy được hứng thú của học sinh khi được học về Lịch sử địa phương Đây sẽ là cơ sở để chứng tôi đưa
ra những ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Tiểu học ở địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh
Trang 28cụ thể có nội dung liên quan đến địa phương, nếu điều kiện cho phép cũng có thể dạy bài học này trên thực địa, hoặc giáo viên có thể biên soạn một nội dung về Lịch
sử địa phương với dung lượng tương ứng các tiết học nói trên để giới thiệu”
2.1.1 Nội dung dạy học Lịch sử địa phương trong chương trình Lịch sử lớp 4
Theo chương trình chung, Lịch sử lớp 4 bao gồm những nội dung chính sau:
- Buổi đầu dựng nước và giữ nước (từ khoảng năm 700 TCN đến năm 179 TCN)
- Thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống ách thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc (từ năm 179 TCN đến năm 938)
- Thời kì xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập, tự chủ, thống nhất (từ cuối thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVIII)
- Buổi đầu triều Nguyễn (từ năm 1802 đến năm 1858)
Dựa trên chương trình sách giáo khoa, dạy học Lịch sử địa phương lớp 4 bao gồm những nội dung chính sau:
- Tìm hiểu nguồn gốc các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa phương hình thành trước thế kỉ 19
Trang 29- Tìm hiểu về lịch sử hình thành và truyền thống văn hóa cũng như con người ở địa phương
- Tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của những vị anh hùng có công lao to lớn trong buổi đầu dựng nước và giữ nước ở địa phương
- Tìm hiểu những sự kiện lịch sử xảy ra ở địa phương từ thời dựng nước và giữ nước đến năm 1858
2.1.2 Nội dung dạy học Lịch sử địa phương trong chương trình Lịch sử lớp 5
Theo chương trình chung, Lịch sử lớp 5 bao gồm những nội dung chính sau:
- Hơn tám mươi năm chống thực dân pháp xâm lược và đô hộ (1858 - 1945)
- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Cách mạng tháng Tám thành công và đất nước dành lại được độc lập -Tình hình đất nước sau Cách mạng tháng Tám và trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (1954 - 1975)
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước từ năm 1975 đến nay
Dựa trên chương trình sách giáo khoa, dạy học Lịch sử địa phương lớp 5 bao gồm những nội dung chính sau:
- Tìm hiểu những nét chính của quá trình lịch sử hình thành làng xã, trường học từ giai đoạn năm 1858 đến nay
- Tìm hiểu về các địa danh lịch sử ở địa phương
- Tổ chức sưu tầm các câu chuyện dân gian, giai thoại, thơ ca, hò, vè liên quan đến sinh hoạt xã hội, đời sống văn hóa, đấu tranh cách mạng của địa phương
- Tìm hiểu về phong tục tập quán, lễ hội ở địa phương
- Tìm hiểu các sự kiện lịch sử liên quan thời kì kháng chiến chống Pháp, chỗng Mỹ của đảng bộ ở địa phương từ năm 1858 đến nay
- Tìm hiểu về cuộc đời hoạt động của các bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng Vũ trang, Anh hùng lao động ở địa phương
Trang 302.2 NỘI DUNG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAN LỘC - TỈNH HÀ TĨNH
2.2.1 Nội dung dạy học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc ở lớp 4
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mỗi địa phương tự lựa chọn nội
dung dạy Lịch sử địa phương phù hợp với giai đoạn lịch sử học sinh đang được học Các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc - tỉnh Hà Tĩnh đã dựa vào nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 và những sự kiện diễn ra tại huyện Can Lộc để đưa vào giảng dạy cho học sinh và chương trình Lịch sử địa phương lớp 4 được lựa chọn bao gồm 2 bài sau:
Bài 1: Chùa Hương Tích
Bài này được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 4 vào tuần 20, sau
khi học sinh học bài “Nước ta cuối thời Trần” Mục đích khi đưa bài này vào giảng
dạy là giúp cho học sinh biết được vào thời Trần có một ngôi chùa được thành lập tại địa phương mình là chùa Hương Tích, giúp học sinh biết được lịch sử hình thành, truyền thống và kiến trúc của ngôi chùa này Để từ đó, củng cố lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; hình thành lòng tự hào dân tộc,
tự hào đối với quê hương mình, để từ đó có thái độ tích cực trong việc xây dựng quê hương, đất nước; giáo dục học sinh ý thức tôn trọng, bảo vệ các di tích lịch sử của quê hương
* Truyền thuyết chùa Hương Tích:
Chùa Hương Tích (xã Thiên Lộc - huyện Can Lộc) nằm lưng chừng ngọn Hương Sơn - một trong bảy ngọn núi đẹp của Hồng Lĩnh mây vờn, tạo biểu tượng hùng vĩ của nước non xứ Nghệ Hồng Lĩnh với 99 ngọn cao thấp gắn với truyền thuyết 100 con chim phượng hoàng đi tìm chốn đậu càng thêu dệt nên nhiều câu chuyện huyền bí Tục truyền do công chúa Diệu Thiện, con gái út của Sở Trang Vương (Tàu), tạo dựng khi đến tu hành ở đây Một truyền thuyết khác có vẻ hợp lý hơn: Xưa kia người ta thường đến am Thánh Mẫu để cầu tự, ông Hiệp trấn họ Trần cầu tự ở đây sinh được 3 con trai đặt tên là Hồng, Hương, Tích và một chúa Trịnh không rõ chúa nào cũng vào cầu tự và sinh được Thế tử Hàng năm, chúa sai người vào đây tạ ơn Phật tổ, sau thấy vùng Hương Sơn - Hà Tây phong cảnh đẹp lại gần kinh thành nên cho xây chùa để tiện đi lễ Phật, khỏi phải vào Ngàn Hống xa xôi Vì vậy, chùa Hương Tích - Hà Tây cũng được gọi theo tên chùa chính: Hương Tích
Tự
Trang 31* Cấu trúc của chùa Hương Tích:
Quần thể chùa Hương Tích gồm có: 2 tòa chùa ngoài và trong, am Thánh Mẫu, đền Thiên Vương (đền thờ Hồng Sơn Đại Vương) và lên cao hơn nữa có nền Trang Vương Chùa Hương Tích với cảnh đẹp thiên nhiên mang lại nhiều cảnh sắc khác nhau, với quần thể kiến trúc tôn giáo đã phối hợp tài tình với vẻ đẹp thiên nhiên ở đó tạo nên những hình khe thế núi
Phía sau chùa là những tảng đá lớn vươn ra che chở, những thân cây cổ thụ tỏa bóng rêu phong tạo nên vẻ u tịch, trầm tư, thiêng liêng, huyền ảo Bên cạnh điện Tam Lang, nhà Bái Đường, giếng Trời, nhà thờ Tổ, như thường thấy trong kiến trúc các ngôi chùa cổ, còn có nhiều hạng mục thiêng liêng như am Diệu Thiện, am Bát Cảnh, thần Hổ Trắng, thác Giải Oan, khe Quỷ Khốc, gắn liền với các sự tích
và truyền thuyết hóa Phật của nàng công chúa Diệu Thiện Cảnh đẹp non nước nơi đây đã được chạm khắc vào “An đỉnh” - một trong chín đỉnh đặt tại Thế miếu trong nội thành cố đô Huế
* Giá trị tâm linh của chùa Hương Tích trong lòng người Việt:
Chùa Hương Tích được xây dựng từ thế kỉ XIII, là địa chỉ văn hóa tâm linh trong lòng người dân Hà Tĩnh và cũng như bao thế hệ người Việt từ xưa đến nay Tọa lạc trên đỉnh núi cao nhất của 99 đỉnh non Hồng, Hương Tích tự là thắng cảnh nổi tiếng, được ngợi ca là “Hoan châu đệ nhất danh lam” Quần thể di tích chùa Hương Tích đã trở thành một địa danh du lịch và là nơi hành hương kì thú của du khách thập phương
Sự tích chùa Hương Tích gắn liền với huyền thoại nàng công chúa Diệu Thiện tu hành thành Phật, một hình ảnh cao đẹp tượng trưng cho phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam giàu lòng nhân ái, bao dung, nghĩa tình, đức độ… luôn khát vọng vươn tới những giá trị của chân - thiện - mỹ Đây cũng chính là ước vọng lớn lao của dân tộc ta trong suốt hàng nghìn năm lịch sử Riêng với người Hà Tĩnh, chùa Hương Tích được xem là “Bàn thờ gia tiên, dù ở đâu lòng người Hà Tĩnh vẫn luôn hướng về ngôi chùa như về nguồn cội”
Vào năm 2009, trên mảnh đất linh thiêng này, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã tiến hành thám sát cổ học di tích nền Trang Vương thu thập được nhiều hiện vật quý như đồ gốm sứ, gạch, đá, mộ táng… xác định được niên đại các lớp kiến trúc văn hóa, quá trình tồn tại cũng như các vấn đề liên quan đến khu vực nền Trang Vương Đồng thời cũng khẳng định được đây là một quần thể kiến trúc thờ
Trang 32Phật phong phú có niên đại từ thời nhà Đường phát triển hưng thịnh thời nhà Trần, với 9 cấp nền trải dài theo địa hình núi Quần thể này được trùng tu thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn bị bỏ hoang và chỉ còn là phế tích như ngày nay
Đã từ lâu, chính quyền và nhân dân Phật tử gần xa đều có nguyện vọng thiết tha được phục dựng quần thể kiến trúc thờ Phật tại đây Việc tu bổ, tôn tạo nền Trang Vương sẽ là điểm nhấn tăng thêm giá trị cho khu di tích chùa Hương Tích, góp phần tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, thúc đẩy sự phát triển du lịch văn hóa cho vùng đất Hà Tĩnh Gần đây, cư sĩ Phật tử Phạm Nhật Vũ (pháp danh Từ Vân) cùng tập đoàn An Viên và Vincom đã phát tâm xây dựng lại ngôi chùa trên nền cũ, với các hạng mục Đại hùng bảo điện, nhà thờ Tổ, nhà khách
Đã thành lệ, hàng năm cứ đến ngày công chúa Diệu Thiện hóa Phật (18/2 âm lịch), nhà chùa mở hội chính thu hút nhiều khách phương xa vượt sông, trèo núi đến nơi đây để chiêm bái Mấy năm gần đây, khi công nghiệp không khỏi được chú trọng, vào đầu năm mới, Hà Tĩnh chọn chùa Hương Tích khai hội mở đầu năm du lịch cho toàn tỉnh
Bài 2: Đất và người Can Lộc Bài này được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 4 vào tuần 32 Phòng
Giáo dục và Đào tạo huyện Can Lộc đưa bài này vào giảng dạy cho học sinh lớp 4 với mục tiêu giúp cho các em hiểu biết sâu rộng hơn về địa phương Can Lộc, biết được lịch sử hình thành, quá trình phát triển của mảnh đất nơi mình đang sống; truyền thống đấu tranh của con người Can Lộc Để từ đó, các em biết tự hào về quê hương Can Lộc, có ý thức bảo vệ và giữ gìn những di tích lịch sử của địa phương, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương, thêm yêu quê hương, đất nước, yêu nền độc lập mà các em đang được hưởng Từ đó, quyết tâm học tập để mai sau xây dựng đất nước giàu đẹp hơn
Trang 33thời xưa, tuy chưa có tài liệu xác nhận địa phận, địa giới một cách rõ ràng, nhưng xét nội dung ý nghĩa của những tên gọi ấy có liên quan đến địa lý, lịch sử của huyện này
Thời Lê Sơ, huyện Thiên Lộc được thành lập gồm 27 xã Tên huyện Thiên Lộc cùng với địa giới huyện này được hoạch định rành mạch bắt đầu từ đó Lúc đó, huyện Thiên Lộc thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An Đến thời nhà Nguyễn, năm
Tự Đức thứ 15 (1862), vua ra chỉ dụ: Ở đâu địa danh có chữ “Thiên” phải đổi chữ khác để tỏ lòng tôn kính trời Từ đó, huyện Thiên Lộc phải đổi thành huyện Can Lộc
* Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên huyện Can Lộc
Huyện Can Lộc là một huyện đồng bằng nằm ở trung tâm tỉnh Hà Tĩnh Phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân và thị xã Hồng Lĩnh, phía Tây Bắc giáp huyện Đức Thọ, phía Tây Nam giáp huyện Hương Khê, phía Nam giáp huyện Thạch Hà, phía Đông
và Đông Nam giáp huyện Lộc Hà Huyện Can Lộc cách thủ đô Hà Nội 330 km, cách thành phố Vinh khoảng 30 km, cách thị xã Hồng Lĩnh khoảng 15 km và cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 20 km
Huyện lị của huyện là thị trấn Nghèn Các đơn vị hành chính của huyện bao gồm thị trấn Nghèn và 22 xã là Thường Nga, Song Lộc, Phú Lộc, Gia Hanh, Thượng Lộc, Đồng Lộc, Yên Lộc, Kim Lộc, Trường Lộc, Thanh Lộc, Trung Lộc, Vĩnh Lộc, Khánh Lộc, Mỹ Lộc, Sơn Lộc, Quang Lộc, Xuân Lộc, Tiến Lộc, Vượng Lộc, Thiên Lộc, Thuần Thiện, Tùng Lộc
Can Lộc là một huyện đồng bằng bán sơn địa, vừa có núi và vừa có đồng bằng Đồng bằng ở giữa hai dãy núi thấp là Hồng Lĩnh và Trà Sơn, cao trung bình 500m gồm đồi núi, đồng bằng, biển Can Lộc có địa hình lòng chảo, nghiêng từ Tây sang Đông và từ Bắc vào Nam, phía Tây và phía Bắc là dãy núi cao, kế tiếp là đồi thoải đến dải đồng bằng nhỏ hẹp Địa hình huyện Can lộc bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và đồi núi
* Đặc điểm kinh tế huyện Can Lộc
Can Lộc luôn “đứng đầu dậy trước”, truyền thống văn hóa và cách mạng của Can Lộc luôn được phát huy trong mọi thời điểm Hiện nay, ngoài Quang Lộc và Thiên Lộc được nhận danh hiệu đơn vị Anh hùng trong thời kỳ đổi mới đồng thời là
xã làm điểm chỉ đạo xây dựng nông thôn mới còn có các xã Đồng Lộc, Khánh Lộc, Thanh Lộc Riêng Thiên Lộc đã đạt 17/19 tiêu chí nông thôn mới
Trang 34Cuộc cách mạng cơ giới hóa ở Can Lộc đã diễn ra sôi nổi với trên 3240 máy móc phục vụ nông nghiệp, trong đó có 1900 máy làm đất và 20 máy gặt đập liên hợp Toàn huyện đã phát triển đàn hươu lên 600 con, 130 ha cây cao su phát triển tốt Toàn huyện có 400 trang trại, có trang trại doanh thu từ 1 - 3 tỷ đồng Nhờ chuyển dịch cơ cấu giống, mùa vụ, huyện Can Lộc đã đạt sản lượng trên 7 vạn tấn lương thực Làng mộc Tràng Đình (Yên Lộc) có 359 hộ ăn nên làm ra, thu hút khách hàng trong và ngoài tỉnh Hiện nay, Can Lộc có 23 dự án lớn nhỏ được đầu
tư Một số sản phẩm được sản xuất ở Can Lộc đã có thương hiệu như rượu Khánh Lộc, gạch tuy nen Thiên Lộc…15/23 xã đã khép kín đường bê tông Năm 2011, toàn huyện có 17 học sinh giỏi Quốc gia, 326 em đạt học sinh giỏi tỉnh, 33 trường học đạt chuẩn, trong đó có 14 trường đạt chuẩn giai đoạn 2, là đơn vị dẫn đầu phong trào giáo dục của tỉnh, 22/23 trạm y tế đạt chuẩn
* Truyền thống đánh giặc giữ nước của người dân Can Lộc
Ngay từ những ngày đầu dựng nước, nhân dân Can Lộc cùng với nhân dân
cả nước đánh thắng giặc Ân Mảnh đất Can Lộc là nơi sinh ra những vị tướng tài ba lỗi lạc trong xây dựng đất nước vào thời Hậu Lê và nhà Nguyễn Đó là Trần Phúc Tuy, Trần Đình Tương, Trần Thất Thục Thời Hậu Trần có Đặng Tất, Đặng Dung Thế kỉ XVII, nhân dân Can Lộc đã ủng hộ nhà Lê xây dựng sự nghiệp của một quốc gia Ở Can Lộc nổi bật lên một dòng tể tướng là dòng họ Ngô với Ngô Phúc Vạn, Ngô Văn Sở,… Sang thế kỉ XVIII, người Can Lộc đóng góp tích cực cho văn hóa
Có nhiều người làm quan và đỗ thám hoa, bảng nhãn Ngoài ra, còn có nhiều ẩn sĩ nổi tiếng giúp ích cho đất nước Những năm 30 - 31, người dân Can Lộc còn tham gia tích cực làm nên phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng Cách mạng tháng Tám Trong những năm kháng chiến chống Mĩ, những cái tên như Ngã ba Đồng Lộc, Làng K130,… đã đi vào lịch sử như những bản hùng ca về tinh thần bất khuất của người dân Can Lộc anh hùng
2.2.2 Nội dung dạy học Lịch sử địa phương huyện Can Lộc ở lớp 5
Phần Lịch sử lớp 5 nhằm cung cấp cho học sinh một số kiến thức về các sự
kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệ thống theo dòng thời gian của lịch
sử Việt Nam từ giữa thế kỉ XIX tới nay Do đó, hai tiết dạy Lịch sử địa phương cũng cần bám sát chương trình, tức là cung cấp thêm cho học sinh một số hiểu biết
về các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của Can Lộc cũng trong khoảng thời gian
Trang 35từ giữa thế kỉ XIX đến nay Vì vậy, chương trình Lịch sử địa phương ở lớp 5 được lựa chọn gồm 2 bài sau:
Bài 1: Xô Viết Nghệ Tĩnh
Đây là một bài có trong chương trình SGK Lịch sử và địa lí lớp 5 Phần Lịch
sử địa phương được tích hợp giới thiệu trong bài này Khi dạy bài Xô Viết Nghệ Tĩnh - tuần 8, giáo viên giành thời gian để giới thiệu cho học sinh biết cụ thể về Can Lộc trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Mục tiêu của bài này là giúp cho cho học sinh biết được phong trào đấu tranh của nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc biểu tình ngày 12 - 9 - 1930 ở Nghệ An; sự đấu tranh anh dũng của người dân huyện Can Lộc nói riêng và Nghệ Tĩnh nói chung để giành quyền làm chủ, xây dựng cuộc sống mới Từ đó giúp các em thêm tự hào về truyền thống đấu tranh cách mạng của người dân Can Lộc, ý thức bảo vệ di tích lịch sử của huyện và cố gắng học tập để mai sau xây dựng quê hương giàu đẹp
* Hoàn cảnh lịch sử của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
Thực dân Pháp trút gánh nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 -
1933 lên vai các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam làm cho đời sống nhân dân
cơ cực, nhất là ở Nghệ An - Hà Tĩnh Chính sách khủng bố nặng nề của thực dân Pháp đã làm cho nhân dân ta căm thù và quyết tâm đấu tranh giành độc lập, giành chính quyền Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời kịp thời lãnh đạo giai cấp công nhân
và nông dân đứng lên đấu tranh chống Đế quốc, phong kiến
* Tinh thần cách mạng của nhân dân Hà Tĩnh trong những năm 1930 - 1931 Nghệ - Tĩnh (tên gọi tắt của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) là nơi diễn ra đỉnh cao của phong trào cách mạng Việt Nam những năm 1930 - 1931 Tại đây, ngày 19/9/1930 đã diễn ra cuộc biểu tình lớn, đi đầu cho phong trào đấu tranh của nhân dân ta
Ngày 12/9/1930, hàng vạn nông dân huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn (Nghệ An) với cờ đỏ, búa liềm dẫn đầu kéo về thị xã Vinh Đoàn người ngày càng đông thêm, vừa đi vừa hô khẩu hiệu “Đả đảo Đế quốc!”, “Đả đảo Nam Triều!”, “Nhà máy về tay thợ thuyền”, “Ruộng đất về tay dân cày!” Thực dân Pháp cho binh lính đến đàn áp nhưng không ngăn được bước tiến của đoàn biểu tình Chúng cho máy bay ném bom vào đoàn người làm hơn 200 người chết, hàng trăm người bị thương Tức nước vỡ bờ, làn sóng đấu tranh càng lên mạnh Suốt tháng 9 và tháng 10 năm
1930, nông dân tiếp tục nổi dậy đánh phá các huyện lị, đồn điền, nhà ga, công sở,
Trang 36Những kẻ đứng đầu thôn xã sợ hãi bỏ trốn hoặc đầu hàng Từ hôm đó, hàng vạn người lại trương cờ, đốt đuốc, bao vây đập phá huyện Nam Đàn, Diễn Châu, Thanh Chương rồi Can Lộc, Hương Sơn Bọn quan lại hoảng sợ trốn khỏi huyện đường Nhiều tên phải tự đem sổ sách ra nộp Chính trong ngày 12 tháng 9 đẫm máu ấy, chính quyền Xô Viết đã xuất hiện đầu tiên ở đình làng Võ Liệt, xã Thanh Long, huyện Thanh Chương Từ tháng 9, chính quyền cách mạng kiểu Xô Viết Nga được thiết lập khắp Nghệ Tĩnh Tại các làng Đỏ, các ủy ban nhân dân mang tên xã bộ nông, thôn bộ nông, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã thực sự là chính quyền của nhân dân
* Can lộc với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
Can Lộc - tâm điểm của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, nơi có 73 làng Xô Viết năm xưa Ở Hà Tĩnh, đồng chí Hoàng Khoái Lạc (huyện Can Lộc), Trần Hưng Mai Kính (huyện Thạch Hà)v.v…ngày đêm bám đất, bám dân lãnh đạo phong trào Các cuộc đấu tranh của nhân dân Can Lộc ngày 1/8, 7/9/1930 đều gắn với tên tuổi của các đồng chí ấy Làng Đỉnh Lữ (huyện Can Lộc), quê hương đồng chí Hoàng Khoái Lạc là nơi phong trào phát triển rầm rộ nhất Dưới sự lãnh đạo của Hoàng Khoái Lạc, làng Đỏ Xô Viết - Đỉnh Lự - đã đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của quê hương Hà Tĩnh
Ngã ba Nghèn nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, cách thành phố Vinh 30 km
về phía Nam Nơi đây là quê hương của nhiều chí sỹ yêu nước như: Ngô Đức Kế, nhà thơ Xuân Diệu… Đây cũng là nơi sớm hình thành các tổ chức cách mạng Từ trước năm 1930 các tổ chức như Hội phục Việt, Đảng Tân Việt cũng đã hoạt động ở đây Trong phong trào 1930 - 1931, tại đây đã nổ ra nhiều cuộc biểu tình của nhân dân Từ tháng 5/1930 đến năm 1931, đã có hơn 40 cuộc biểu tình ở cả huyện và tổng với hàng ngàn người tham gia, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh ngày 1/8/1930 của hơn một ngàn người ở cả hai vùng Thưọng và Hạ Can Lộc kéo về huyện đường đòi lại công điền, công thổ, đòi quyền tự do dân chủ Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, tri huyện Trần Mạnh Đàn đã phải ra tận cầu Nghèn ký vào bản yêu sách 10 điểm do nhân dân đề ra
Ngày 7/9/1930 hơn 2 ngàn nông dân Hạ Can Lộc đã dũng cảm kéo về huyện đường đòi thực hiện các yêu sách đã ký Quần chúng xông vào đập phá huyện đường, thu giấy tờ, đốt sổ sách Bọn địch đã huy động lính khố xanh ra đàn áp
Trang 37nhưng trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng nhân dân, bọn chúng đã hoảng sợ bỏ chạy
Cũng tại Ngã ba Nghèn, Huyện ủy Can Lộc đã phát động cuộc biểu tình lớn với quy mô toàn huyện để kỷ niệm ngày Quảng Châu công xã (12/12/1930) Trong cuộc biểu tình này, nhân dân vùng Thượng đã có ba ngàn người, nhân dân vùng Hạ
có hai ngàn người đội ngũ chỉnh tề, có băng cờ khẩu hiệu chia thành 3 mũi kéo về huyện đường đòi quyền dân sinh, dân chủ Hoảng sợ trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bọn đế quốc và phong kiến đã cho lính xả súng bắn vào đoàn biểu tình làm 42 người chết tại chỗ và hàng trăm người bị thương Tại đây đã ghi nhận nhiều tấm gương hy sinh anh dũng của các chiến sỹ cộng sản Can Lộc như: Võ Quế, Nguyễn Nhân, Phạm Thị Dung, Phan Gần, Hồ Ngọc Tàng, Thanh Sơn, Trần Mẹo, Nguyễn Khiên Sức…
* Những chuyển biến mới ở nơi nhân dân Nghệ Tĩnh giành được chính quyền cách mạng
Những năm 1930 - 1931, ở những nơi nhân dân giành được chính quyền cách mạng, ruộng đất của địa chủ bị tịch thu chia cho nông dân; trong các thôn xã ở Nghệ Tĩnh có nhiều điểm mới như: không hề xảy ra trộm cắp, các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan bị bãi bỏ, tệ nạn cờ bạc cũng bị đả phá, các thứ thuế vô lí được xóa bỏ, nhân dân được nghe giải thích các chính sách và được bàn bạc công việc chung, Người dân ai cũng thấy phấn khởi vì được thoát khỏi ách nô lệ và trở thành người chủ thôn xóm
Trước thành công của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, bọn đế quốc, phong kiến vô cùng hoảng sợ, chúng đã đàn áp phong trào hết sức dã man Chúng điều thêm lính về đàn áp, triệt hạ làng xóm Hàng nghìn Đảng viên cộng sản và chiến sĩ yêu nước bị tù đày và bị giết Đến giữa năm 1930, phong trào lắng xuống Mặc dù vậy, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã tạo ra một dấu ấn lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam và có ý nghĩa hết sức to lớn
Bài 2: Về với huyền thoại một Ngã ba
Bài này được đưa vào giảng dạy trong chương trình Lịch sử địa phương lớp
5 tuần 31 Mục tiêu khi đưa nội dung này vào giảng dạy là giúp học sinh biết được
vị trí địa lí, tầm quan trọng của Ngã ba Đồng Lộc trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước; tội ác của giặc gây ra nơi đây; những con người đã anh dũng hi
Trang 38sinh để bảo vệ huyết mạch giao thông này Tiêu biểu là Mười cô gái Thanh niên xung phong, Ngã ba Đồng Lộc trong ngày giải phóng, hòa bình lập lại Từ đó, giáo dục cho các em lòng tự hào về mảnh đất Đồng Lộc nói riêng và Can Lộc nói chung;
có ý thức giữ gìn, bảo vệ, chăm sóc di tích Ngã ba Đồng Lộc; biết ơn những anh hùng đã ngã xuống để các em có được cuộc sống yên bình như hôm nay, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương, thêm yêu quê hương, đất nước, yêu nền độc lập mà các em đang được hưởng để quyết tâm học tập, mai sau xây dựng đất nước giàu đẹp hơn
* Ngã ba Đồng Lộc trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tuyến đường 1A là tuyến đường chủ yếu để vận chuyển sức người, sức của, vũ khí, vào Nam Sau những trận mưa bom bão đạn của chúng, con đường này đã bị cắt đứt Với khẩu hiệu “xe chưa qua, nhà không tiếc” nhân dân xã tiến Lộc (Can Lộc - Hà Tĩnh) đã đưa nhà, tủ, giường, để làm đường cho xe qua Nhưng càng ngày, địch càng điên cuồng bắn phá giữ dội Đến ngày 20/4/1968, quân và dân ta đã quyết định đổi hướng vận chuyển lên các con đường phía Tây của tỉnh Đoạn đường từ đầu Ngã ba Đồng Lộc trở ra tiếp nối với tuyến đường 1A, có nhiều đường tránh nên quá trình vận chuyển tránh được nhiều thương vong thiệt hại do bom đạn giặc Mĩ đánh phá Còn đoạn Ngã Ba Đồng Lộc, phía trên là đồi núi chằng chịt, phía dưới cũng đồi núi sông hồ cản trở, chỉ có duy nhất một con đường độc đạo 15A đi qua để ta vận chuyển, tiếp viện sức người, sức của và vũ khí vào chiến trường miền Nam Nhận ra vị trí trọng yếu đó, Đế quốc Mĩ đã ngày đêm điên cuồng ném xuống đây hàng loạt tấn bom đạn hòng huỷ diệt, cắt đứt hoàn toàn huyết mạch này
* Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc
Đoạn đường Ngã ba Đồng Lộc là huyết mạch giao thông Chính vì vậy, thông đường là nhiệm vụ vô cùng quan trọng Trong suốt thời gian ấy, có trên 1600 người, gồm nhiều lực lượng tham gia như: dân quân, bộ đội phòng không, người dân địa phương đó Nhưng nhiệm vụ chủ chốt là của năm đại đội Thanh niên xung phong, trong đó có đại đội 551 - N55 - N55 - P18 là đơn vị chủ công Đại đội này
đã đương đầu với 314 trận đánh của địch Hồi 17h ngày 24/7/1968 tiểu đội 4 được lệnh trọng điểm ở khu vực địch vừa thả bom để san lấp hố bom sửa chữa đường, kết hợp sửa chữa hầm trú ẩn, khơi sâu rãnh thoát nước ở đoạn đường độc đạo để nhanh chóng thông đường cho xe qua Nhận nhiệm vụ xong, các cô đến tại hiện trường
Trang 39gấp rút triển khai công việc với cả niềm vui được gửi gắm trên từng chiếc xe qua nên các cô không hề sợ hãi Họ làm việc không ngơi tay, vừa cười, vừa nói, vừa ý
ới gọi nhau Bỗng một tốp máy bay phản lực từ hướng Bắc vào Nam vượt qua trọng điểm, tất cả các cô nhanh chóng nằm rạp xuống đường Hết tiếng máy bay các cô lại chồm dậy làm việc Bất ngờ tốp máy bay phản lực quay lại bay từ trong ra thả một loạt bom rơi đúng vào đội hình 10 cô gái Các tiểu đội Thanh niên xung phong đi sau chồm lên gào thét, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy cũng lao ra gọi tên từng người Khi đến nơi quả bom vừa nổ chỉ thấy một hố bom sâu hoắm, một vài chiếc xẻng, cuốc vǎng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người
Cả 10 cô gái trẻ ấy đã hy sinh
* Ngã ba Đồng Lộc khi hòa bình lập lại
Mười cô gái Đồng Lộc được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng và Ngã
ba Đồng Lộc được công nhận là Di tích lịch sử Hơn thế, Ngã ba Đồng Lộc cùng mười cô gái đã trở thành huyền thoại, là khúc tráng ca bất tử của tuổi trẻ trong cuộc chiến tranh giải phóng, thống nhất đất nước
Ngọn đồi Trọ Voi trơ trọi ngày nào nay đã bạt ngàn thông xanh, những con đường sình lầy năm xưa nay được rải nhựa mịn màng, rộng thênh thang; những bức tượng đài, khu tưởng niệm được dựng lên ghi nhớ chứng tích đấu tranh hào hùng năm nào của dân tộc ta Ngày nay, Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành Khu tưởng niệm Thanh niên xung phong toàn quốc Nơi đây là một quần thể gồm nhiều hạng mục Bên cạnh khu mộ mười cô gái anh hùng, còn có bia tưởng niệm Thanh niên xung phong toàn quốc, nhà trưng bày truyền thống, tượng đài Chiến thắng Mỗi ngày có hàng trăm lượt người tới Đồng Lộc thắp hương, thăm viếng Ngã ba Đồng Lộc - Ngã ba huyền thoại - đã trở thành một điểm hành hương tâm linh, một không gian tưởng niệm linh thiêng
2.3 DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAN LỘC - TỈNH HÀ TĨNH
2.3.1 Yêu cầu về nội dung biên soạn một bài giảng Lịch sử địa phương
- Người giáo viên phải tuân thủ các nguyên tắc của lý luận và phương pháp dạy học, cần phải vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử vào học tập, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử
- Giáo viên cần phải lựa chọn những sự kiện cơ bản, tiêu biểu của Lịch sử địa phương, phù hợp với các thời kì của lịch sử dân tộc, được quy định theo chương
Trang 40trình dạy học Giáo viên cần tránh khuynh hướng lạm dụng quá nhiều tài liệu làm bài giảng sa vào kể lể tình hình địa phương Như vậy không đáp ứng được yêu cầu
cơ bản cần phải truyền thụ cho học sinh, làm cho bài dạy Lịch sử địa phương bị
“loãng”, lan man, học sinh khó xác định kiến thức cơ bản của bài học, mục đích giáo dưỡng của bài học khó thực hiện một cách tốt đẹp
- Nội dung của bài giảng Lịch sử địa phương phải đáp ứng được mục tiêu đã
đề ra, đó là: giáo dục, giáo dưỡng, phát triển Giáo dưỡng là cung cấp cho học sinh những tri thức mới, góp phần làm giàu sự hiểu biết của học sinh về quê hương của mình Trên cơ sở đó thực hiện mục tiêu giáo dục, tức là giáo dục cho học sinh lòng
tự hào và yêu quý quê hương, đất nước; đồng thời, bài giảng Lịch sử địa phương còn phải nhằm góp phần vào việc bồi dưỡng tình cảm, ý thức trách nhiệm đối với quê hương Mặt khác, qua bài giảng Lịch sử địa phương giúp học sinh phát triển tư duy của bản thân, đồng thời các em rèn luyện được những kỹ năng trong học tập Lịch sử, những phương pháp tìm tòi, nghiên cứu (sưu tầm tài liệu, lập bảng thống
kê, niên biểu )
2.3.2 Phương pháp tổ chức dạy học
2.3.2.1 Phương pháp truyền đạt
Trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử địa phương nói riêng, việc
truyền đạt có ý nghĩa rất quan trọng vì lời nói giữ vai trò chủ đạo đối với việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh Việc trình bày miệng không chỉ thực hiện phương pháp thông tin - tái hiện nhằm khôi phục hình ảnh quá khứ mà còn giúp học sinh nhận thức sâu sắc những sự kiện, trình bày những suy nghĩ, hiểu biết trong nghiên cứu, tìm tòi
Lịch sử là những sự việc đã diễn ra và tồn tại khách quan trong quá khứ Do
đó, không thể phán đoán, suy luận, tưởng tượng để nhận thức lịch sử cũng không thể quan sát trực tiếp những sự việc đã xảy ra Vì vậy, muốn nhận thức được lịch sử thì con người phải thông qua những dấu tích của quá khứ, những chứng cớ về sự tồn tại của các sự việc để tái tạo lịch sử, dựng lại hình ảnh về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử một cách cụ thể, rõ nét Và phương pháp hiệu hiêu quả nhất trong việc tái tạo lịch sử là phương pháp trình bày miệng thông qua lời nói sinh động, giàu hình ảnh của giáo viên
Trình bày miệng có nhiều cách tiến hành, nhiều biện pháp cụ thể để học sinh hiểu biết đầy đủ, có hệ thống các sự kiện lịch sử đã diễn ra ở địa phương như: tường