Đối với học sinh người dân tộc, việc tiếp thu những tri thức và kỹ năng tiếng Việt là hoàn toàn mới bởi tiếng mẹ đẻ của các em và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau.. Lịch sử nghiên cứ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ƯỜN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-
t i
ÌM HIỂU HỰC ẠN DẠY VÀ HỌC
MÔN IẾN VIỆ CỦA HỌC SINH LỚP 3
ÊN ĐỊA BÀN HUYỆN IA AI, ỈNH IA LAI
Nẵng, tháng 5/2016
iáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Thúy Nga Sinh viên hự hiện : Nguyễn Thị Quỳnh
Trang 2Lời đầu tiên với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Thúy Nga, giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận
Tôi cũng xin cảm ơn quý Thầy Cô trong khoa Giáo dục Tiểu học Bốn năm học Đại học là khoảng thời gian quý báu không chỉ cho riêng tôi mà của tất cả sinh viên trong khoa Nhờ sự dạy bảo của quý Thầy Cô mà hôm nay, tôi mới có được vốn kiến thức , kĩ năng cũng như niềm đam mê để hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng rất cảm ơn các thầy cô giáo và học sinh lớp 3 của hai trường trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai: Tiểu học Võ Thị Sáu, Tiểu học Phan Chu Trinh đã giúp tôi có nguồn tư liệu thực tế trong quá trình nghiên cứu,thực hiện khóa luận Cùng với niềm cảm kích ấy, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Vì thời gian và năng lực có hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhân được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ 4
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Cấu trúc đề tài 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Khát quát chung về dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 6
1.1.1 Nhiệm vụ và vai trò của môn Tiếng Việt 6
1.1.1.1 Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt 6
1.1.1.2 Vai trò của môn Tiếng Việt 6
1.1.2 Nguyên tắc chung dạy học Tiếng Việt 7
1.1.2.1 Nguyên tắc giao tiếp 7
1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển tư duy 8
1.1.2.3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm tâm lý và trình độ phát triển tiếng mẹ đẻ của học sinh 9
1.1.3 Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 9
1.1.3.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ 10
1.1.3.2 Phương pháp giao tiếp (thực hành giao tiếp) 10
1.1.3.3 Phương pháp luyện tập theo mẫu 11
1.1.4 Chuẩn trình độ tối thiếu môn Tiếng Việt lớp 3 11
1.2 Giới thiệu khái quát về huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 15
1.3 Tiếng Việt và tiếng Jrai trong sự ương đồng và khác biệt 16
1.3.1 Sự tương đồng 16
1.3.2 Sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Jrai 17
1.4 Đặ rưng âm lý ủa học sinh tiểu học tại huyện Ia Grai, Gia Lai 20
Trang 41.4.1 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học tại huyện Ia Grai, Gia Lai 20
1.4.2 Nhận thức, tình cảm của học sinh tiểu học tại huyện Ia Grai, Gia Lai 20
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 3 23
2.1 Tìm hiểu thực trạng dạy môn Tiếng Việt cho HS lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 23
2.1.1 Khái quát quá trình khảo sát 23
2.1.1.1 Mục đích khảo sát 23
2.1.1.2 Đối tượng khảo sát 23
2.1.1.3 Nội dung khảo sát 23
2.1.1.4 Phương pháp khảo sát 23
2.1.2 Kết quả khảo sát 23
2.2 Tìm hiểu thực trạng học môn Tiếng Việt của HS lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 32
2.2.1 Khái quát qúa trình khảo sát 32
2.2.1.1 Mục đích khảo sát 32
2.2.1.2 Đối tượng khảo sát 32
2.2.1.3 Nội dung khảo sát 32
2.2.1.4 Tiêu chí khảo sát 32
2.2.1.5 Phương pháp khảo sát 33
2.2.2 Kết quả khảo sát 33
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤ LƯỢNG HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 3 ÊN ĐỊA BÀN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI 42
3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 42
3.2 Một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chấ lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 rên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 42
3.2.1 Tổ chức dạy học Tiếng Việt theo hướng thực hành giao tiếp 42
3.2.1.1 Mục đích biện pháp 42
3.2.1.2 Các hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt theo hướng thực hành giao tiếp 43
3.2.1.3 Tổ chức rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho HS theo hướng thực hành giao tiếp 45
Trang 53.2.2 Một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng đọc và viết cho học sinh lớp 3 tại huyện Ia
Grai, tỉnh Gia Lai 53
3.2.2.1 Mục đích xây dựng bài tập 53
3.2.2.2 Nội dung và cách thực hiện 53
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HSTH : Học sinh Tiểu học DTTS : Dân tộc thiểu số HSDTTS : Học sinh dân tộc thiểu số PPDH : Phương pháp dạy học
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Các phương pháp dạy học Tiếng Việt cho HS lớp 3 mà giáo viên thường
sử dụng 24
Bảng 2: Các hình thức tổ chức giáo viên thường sử dụng trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 3 26
Bảng 3: Bảng thể hiện tỉ lệ số giáo viên thực hiện đúng quy trình dạy học Tiếng Việt lớp 3 27
Bảng 4: Những thuận lợi khi dạy học Tiếng Việt của giáo viên lớp 3 trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 28
Bảng 5: Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi dạy học Tiếng Việt cho HS lớp 3 30
Bảng 6: Kĩ năng đọc của học sinh lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 33
Bảng 7: Kĩ năng viết của học sinh lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 35
Bảng 8: Lỗi chính tả của học sinh lớp 3 35
Bảng 9: Các lỗi trong viết đoạn văn của HS lớp 3 38
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện các lỗi chính tả của học sinh lớp 3 trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai 36 Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện lỗi trong viết đoạn văn của HS 38
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 bản sắc văn hóa khác nhau Bên cạnh việc duy trì và bảo vệ ngôn ngữ riêng của mỗi dân tộc thì một trong những nhiêm vụ quan trọng là giáo dục, phổ cập tiếng Việt cho đồng bào các dân tộc thiểu
số Mục đích của việc giáo dục ngôn ngữ này là nhằm cung cấp cho họ một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới
Đối với học sinh người dân tộc, việc tiếp thu những tri thức và kỹ năng tiếng Việt là hoàn toàn mới bởi tiếng mẹ đẻ của các em và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau “Trẻ em dân tộc từ lúc lọt lòng mẹ đã được tiếp xúc, nói tiếng mẹ đẻ là tiếng dân tộc Tiếng Việt là tiếng phổ thông nhưng vẫn là ngôn ngữ thứ hai Tiếng Việt vẫn không phải là tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc, các em vẫn không thể có những ưu điểm bẩm sinh như học sinh Kinh học tiếng Việt” (Mông Ký Slay) Chính
vì thế, các em gặp không ít khó khăn trong việc giao tiếp, tiếp thu các kiến thức bằng tiếng Việt
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục công dân, những kiến thức ở bậc học này cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản để học tiếp lên các bậc học sau Môn Tiếng Việt ở Tiểu học rèn cho học sinh bốn kĩ năng chính: nghe – nói – đọc – viết, nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy Chất lượng của việc học môn Tiếng Việt ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ngôn ngữ của các em, đặc biệt là đối với học sinh dân tộc thiểu số
Huyện Ia Grai thuộc tỉnh Gia Lai, với hơn 50% là người dân dân tộc thiểu số, nơi có vị trí chiến lược trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên nói chung Dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc luôn là nhiệm vụ hàng đầu của những người đang giảng dạy nơi đây Đó là việc dạy học tiếng Việt với tư cách
là ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số đang cư trú tại dải đất này, các dân tộc như Jrai, Bahnar
Chính vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng dạy
Trang 10và học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3 trên địa bàn huyện Ia Grai,tỉnh Gia Lai”
để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
- Về việc dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
Giáo dục ngôn ngữ cho người dân tộc thiểu số nói chung, học sinh dân tộc thiểu số nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như các nhà giáo dục Chính vì thế, có không ít các bài nghiên cứu về việc dạy – học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
Trước hết phải kể đến cuốn “Giáo trình phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc bậc Tiểu học” – dự án phát triển giáo viên Tiểu học (Năm 2008)
Trong giáo trình này, các tác giả đã cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình sách giáo khoa mới Nội dung trọng tâm của giáo trình xoay quanh các phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc theo bốn kĩ năng cơ bản của tiếng Việt (nghe – nói – đọc – viết)
Một số bài nghiên cứu khác về việc vấn đề này như: “Vấn đề rèn luyện kĩ năng nghe – nói cho học sinh dân tộc thiểu số đầu bậc tiểu học qua môn Tiếng Việt” (Ngô Hiền Tuyên/ Tạp chí giáo dục 2008 – số 189 – Kỳ 1 – Tháng 5) Tác giả
đã khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng nghe – nói trong việc tạo cơ sở để học tốt hai kĩ năng đọc - viết Từ đó đưa ra các biện pháp rèn kĩ năng nghe – nói cho học sinh dân tộc thiểu số qua các phân môn của môn Tiếng Việt: Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn
“Tạo môi trường học Tiếng Việt thân thiện và hiệu quả trong lớp học dạy học sinh dân tộc thiểu số” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh được đăng trên “Tạp chí khoa
học giáo dục” – 2010 – số 53 – tháng 2 đưa ra các biện pháp để tạo môi trường học Tiếng Việt hiệu quả trong lớp, từ đó góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
Tuy nhiên, những tài liệu trên đây là những bài tổng hợp, các công trình nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ cho học sinh dân tộc thiểu
số trên cả nước, chưa đi sâu áp dụng cho những vùng miền, dân tộc cụ thể
- Về việc dạy Tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai
Trang 11Nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói chung, trên địa bàn Gia Lai, Tây Nguyên nói riêng là một trong những nhiệm vụ giáo dục hàng đầu, được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tiểu biểu là các bài
nghiên cứu như: Việc dạy chữ dân tộc ở Gia Lai, những khó khăn và vài định hướng (Trần Ngọc Chi/ Tạp chí Giáo dục – 2001 – số 6); Nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học vùng dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai (Trần Thị Yên/ Tạp chí Giáo dục –
2010 – số 248); Chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số: thực trạng và giải pháp (Báo Gia Lai – 2009 – số 2347),… Các bài nghiên cứu đưa ra những tồn tại,
khó khăn trong việc dạy học, dạy tiếng cho học sinh dân tộc thiểu số, trên cơ sở đó, đưa ra một vài định hướng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở tỉnh Gia Lai Song các bài nghiên cứu trên chưa đi sâu vào phân tích, tìm hiểu việc dạy – học tiếng Việt ở tỉnh Gia Lai và vạch ra các biện pháp cụ thể cho các giáo viên áp dụng vào công tác giảng dạy
Các tài liệu trên mới dừng lại ở mức độ chung nhất cho việc dạy học ở tiểu học vùng dân tộc thiểu số, hay đánh giá kết quả dạy học Tiếng Việt trên địa bàn Tây Nguyên, Gia Lai chứ chưa có công trình nghiên cứu, bài viết nào đi vào khai thác, tìm hiểu thực trạng việc dạy và học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuy nhiên, đây sẽ là những tài liệu tham khảo hữu ích cho chúng tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
4 Đối ƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 ối tượng nghiên cứu
- Qúa trình dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
- Qúa trình học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu quá trình dạy và học theo hai mạch kiến thức của môn Tiếng Viêt là: Kĩ năng đọc, kĩ năng viết (viết chính tả, viết đoạn bài) của
Trang 12học sinh ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
5 Phương pháp nghiên ứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên
quan đến đề tài giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về đề tài cũng như đặt cơ sở quan trọng để tìm hiểu trực trạng và đưa ra biện pháp góp phần nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cho học sinh
- Phương pháp quan sát sư phạm: Thông qua những tiết dự giờ, chúng tôi
quan sát quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh
- Phương pháp đi u tra Anket: Chúng tôi tiến hành xây dựng các phiếu anket
điều tra các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học và quy trình dạy học
mà giáo viên áp dụng trong quá trình dạy môn Tiếng Việt, những thuận lợi và khó khăn khi dạy Tiếng Việt cho học sinh trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động dạy học: Bằng cách
nghiên cứu, đánh giá bài làm của học sinh dựa trên những tiêu chí cụ thể, chúng tôi rút ra những nhận xét và kết luận về mức độ đạt được của học sinh cũng như tìm hiểu những khó khăn, hạn chế của các em khi học môn Tiếng Việt
- Phương pháp xử lý số liệu: Trên cơ sở những kết quả điều tra được từ phiếu
anket và sản phẩm hoạt động của học sinh, chúng tôi tiến hành xử lý các số liệu thu được để có đánh giá khách quan về tình hình dạy và học Tiếng Việt của học sinh ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
6 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Tiếng Việt trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
- Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3
7 Giả thuyết khoa học
Nếu những biện pháp mà đề tài đề xuất được áp dụng vào quá trình dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai thì sẽ
Trang 13góp phần nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cho học sinh nơi đây
8 Cấu rú đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng việc dạy và học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3
Chương 3: Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khát quát chung về dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.1 Nhiệm vụ và vai trò của môn Tiếng Việt
1.1.1.1 Nhiệm vụ của môn Tiếng Việt
Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới đưa mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việt – hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên Những kiến thức về tiếng Việt cùng với các kiến thức về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học cũng được cung cấp cho học sinh một cách sơ giản, góp phần hình thành nhân cách “con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Trên cơ sở ấy, môn Tiếng Việt ở Tiểu học thực hiện các nhiệm vụ như sau:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Môn Tiếng Việt cần gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn từ tiếng Việt và hiểu được phần nào cuộc sống xung quanh Môn Tiếng Việt bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính, lành mạnh như: tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng thời hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp
1.1.1.2 Vai trò của môn Tiếng Việt
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lênin) Ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện tâm trạng, tình cảm Nắm ngôn ngữ, lời nói là điều kiện thiết yếu của việc hình thành tính tích cực xã hội của nhân cách Không có một khoa học nào mà người học sẽ nghiên cứu trong tương lai, không có một phạm
vi hoạt động xã hội nào mà không đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về tiếng mẹ đẻ nói riêng và ngôn ngữ nói chung Trình độ trau dồi ngôn ngữ của một người nào đó
là tấm gương phản chiếu trình độ nuôi dưỡng tâm hồn của anh ta Chính vì vậy, Tiếng Việt là môn học trung tâm ở trường Tiểu học
Trang 15Môn Tiếng Việt ở tiểu học vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là công cụ để HS học tập tất cả các môn học khác Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là điều kiện và phương tiện cần thiết của lao động học tập của học sinh Nói cách khác, trẻ muốn nắm kĩ năng học tập, trước hết cần phải nghiên cứu ngôn ngữ, chìa khóa nhận thức, của học vấn, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn Thiếu ngôn ngữ, con người không thể tham gia vào cuộc sống xã hội hiện đại, vào sản xuất hiện đại, vào sự phát triển văn hóa, nghệ thuật
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai, việc học tiếng Việt lại càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết Môn Tiếng Việt cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới
Như vậy, sở dĩ môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt giữa các môn học khác trong trường học là vì, một mặt do ý nghĩa của những kiến thức phổ thông mà môn học này mang lại cho học sinh Mặt khác, những kĩ năng, kĩ xảo được hình thành trong giờ học tiếng là những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống của người học sinh, không phụ thuộc vào nghề nghiệp tương lai của họ
1.1.2 Nguyên tắc chung dạy học Tiếng Việt
Những nguyên tắc đặc trưng của quá trình dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học phải phản ánh được đặc trưng của chính quá trình dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học và chi phối, bao trùm lên tất cả quá trình đó Những nguyên tắc đang được xem là chung nhất và mang tính đặc thù trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học là nguyên tắc giao tiếp (còn gọi là nguyên tắc phát triển lời nói hay nguyên tắc thực hành), nguyên tắc phát triển tư duy (còn gọi là nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện
tư duy hay nguyên tắc phát triển) và nguyên tắc tính đến đặc điểm tâm lý và trình
độ phát triển tiếng mẹ đẻ của học sinh
1.1.2.1 Nguyên tắc giao tiếp
Thực chất của nguyên tắc này là khi dạy tiếng Việt phải luôn luôn hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp (hoạt động nói – viết) Mục đích học tiếng Việt của học sinh tiểu học là để có công cụ để nói – viết Dạy tiếng Việt phải qua hoạt động giao
Trang 16tiếp vì đọc, viết, nghe, nói là bốn kĩ năng giao tiếp chỉ được hình thành và phát triển thông qua giao tiếp Ngôn ngữ là một hệ thống hoạt động chức năng phục vụ cho tư duy, tách khỏi chức năng đó ngôn ngữ sẽ trở thành hệ thống chết Mặt khác, muốn hình thành các kĩ năng, kĩ xảo về tiếng Việt không còn con đường nào khác là học sinh phải thường xuyên được rèn luyện nói – viết, bằng cách sử dụng tri thức về tiếng Việt để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình cho người khác hiểu
Khi thực hiện nguyên tắc này, GV cần chú ý lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tiếp làm mục đích, tức là hướng vào việc hình thành các
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh; xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa chúng vào các đơn vị lớn hơn Ngoài ra, GV phải tổ chức hoạt động nói năng của học sinh để dạy học Tiếng Việt, nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo ở tiểu học
1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển tư duy
Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ thống nhất và biện chứng, chúng thúc đẩy nhau cùng phát triển Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Không có ngôn ngữ thì không thể có tư duy, tư duy phát triển kéo theo sự phát triển của ngôn ngữ Vì vậy, dạy tiếng Việt không chỉ rèn luyện ngôn ngữ mà rèn luyện tư duy
Dạy tiếng Việt không chỉ làm giàu vốn từ, cung cấp cho học sinh những tri thức tiếng Việt mà còn rèn luyện cho học sinh những thao tác của tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp, các phẩm chất tư duy: trí nhớ, sáng tạo, óc tưởng tượng, phương pháp suy nghĩ…Khi đã rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh cũng tức là đã phát triển tư duy cho học sinh, vì ngôn ngữ là vũ khí để tư duy Vì vậy, khi dạy tiếng Việt cần rèn luyện ngôn ngữ gắn liền rèn luyện tư duy
Để thực hiện nguyên tắc này, GV cần chú ý phải chú ý rèn luyện các thao tác
và phẩm chất tư duy trong giờ dạy tiếng Bên cạnh đó, GV phải làm cho học sinh thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ và tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần nói, viết và biết thể hiện nội dung bằng các phương tiện ngôn ngữ
Trang 171.1.2.3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm tâm lý và trình độ phát triển tiếng mẹ đẻ của học sinh
Trước khi đến trường, các em đã có một vốn từ nhất định do học hỏi ở những người xung quanh, đã nắm được một cách tự phát các quy luật ngôn ngữ Vì vậy vốn ngôn ngữ đó không đồng đều Do đó, nguyên tắc này yêu cầu dạy tiếng phải chú ý đến đặc điểm tâm lý của học sinh, đặc biệt là bước chuyển khó khăn từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Ngoài ra, việc dạy tiếng phải dựa trên sự hiểu biết chắc chắn về trình độ tiếng mẹ đẻ vốn có của học sinh
Sự vận dụng nguyên tắc này khi dạy tiếng Việt với hai tư cách là tiếng mẹ đẻ
và tư cách là ngôn ngữ thứ hai có khác nhau Trước hết, với những học sinh người Kinh, khi nghiên cứu tiếng Việt, học sinh tiếp xúc với một đối tượng quen thuộc, gắn bó trực tiếp với cuộc sống hàng ngày của các em Trước khi đến trường, các em
đã nắm hai dạng hoạt động là nói và nghe, các em đã có một vốn từ và quy tắc ngữ pháp nhất định Vì vậy, cần phải điều tra, nắm vững vốn từ tiếng Việt của học sinh theo từng lớp, từng vùng khác nhau để hoạch định nội dung, kế hoạch và phương pháp dạy học Đó là yêu cầu thứ nhất của việc thực hiện nguyên tắc Yêu cầu thứ hai là phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học tiếng Việt Yêu cầu thứ ba là giáo viên cần phát huy những năng lực tích cực của học sinh, hạn chế
và xóa bỏ những mặt tiêu cực về lời nói của các em trong quá trình học tập
Với những học sinh học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai (học sinh dân tộc thiểu số), việc vận dụng nguyên tắc này cũng rất quan trọng Nếu tiếng mẹ
đẻ có đặc điểm giống tiếng Việt thì học sinh cần sử dụng kinh nghiệm nói năng sang tiếng Việt, còn những điểm nào không giống thì xem như cản trở Cần làm so sánh loại hình, nghiên cứu sự chuyển di tích cực và tiêu cực để có ứng dụng trong dạy học tiếng Việt cho những đối tượng này
1.1.3 Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Phương pháp dạy học tiếng Việt là cách thức làm việc của thầy giáo và học sinh nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng tiếng Việt Các phương pháp chỉ được vận dụng trong dạy tiếng Việt và thường được sử dụng phổ biến trong nhiều phân môn Tiếng Việt ở tiểu học, đó là: phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp giao tiếp và phương pháp luyện tập theo mẫu
Trang 181.1.3.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phân tích là một thao tác trí tuệ đặc trưng của trường học Nó là một trong những kĩ năng quan trọng mà trường tiểu học phải hình thành cho học sinh Cũng vì vậy, phân tích được sử dụng trong tất cả các môn học ở tiểu học Trong dạy học tiếng Việt, phương pháp phân tích được cụ thể hóa thành phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp được sử dụng một cách có
hệ thống trong việc xem xét tất cả các mặt của ngôn ngữ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấu tạo từ, chính tả, phong cách với mục đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ, hình thức và cách thức cấu tạo, ý nghĩa của chúng trong nói năng Các dạng phân tích ngôn ngữ: quan sát ngôn ngữ (là giai đoạn đầu trong quá trình phân tích ngôn ngữ nhằm tìm hiểu ra điểm giống và khác nhau và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định), phân tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích chính tả, phân tích tập viết, phân tích ngôn ngữ các tác phẩm văn chương…Tất cả các dạng phân tích ngôn ngữ đều là bộ phận cấu thành của nhiều bài tập khác nhau: bài tập tập đọc, tập viết, chính tả, luyện nói và viết văn với nhiệm vụ mang tính phân tích
1.1.3.2 Phương pháp giao tiếp (thực hành giao tiếp)
Phương pháp giao tiếp là phương pháp đặc trưng của môn học Tiếng Việt bởi
“ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” ( Lê - Nin) Qúa trình dạy học Tiếng Việt ở tất cả các cấp đều cần phải được tổ chức như một quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ
Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy tiếng dựa vào lời nói, vào những thông báo sinh động, vào việc tổ chức quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách
có hiệu quả trong những tình huống nói năng cụ thể Phương pháp này gắn liền với phương pháp luyện tập theo mẫu Cơ sở của phương pháp giao tiếp là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Nếu ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp thì lời nói được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ Chính vì vậy, dạy tiếng Việt theo phương pháp giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói trong từng cá nhân học sinh Phương pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói, còn các kiến thức lí thuyết thì được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài học Để thực hiện phương pháp giao tiếp, cần có mục đích giao tiếp, môi trường giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp
Trang 191.1.3.3 Phương pháp luyện tập theo mẫu
Phương pháp luyện tập theo mẫu là phương pháp mà học sinh tạo ra các đơn
vị ngôn ngữ, lời nói bằng mô phỏng lời thầy giáo, sách giáo khoa…Phương pháp này gồm nhiều dạng bài tập như đặt câu theo mẫu cho trước, phát âm hoặc đọc diễn cảm theo thầy giáo Phương pháp này thường được sử dụng trong giờ tập đọc, chính
tả, luyện từ và câu, tập làm văn
Để sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu, giáo viên cần phải làm các công việc như: nắm chắc được mẫu – mục tiêu dạy học cụ thể; có khả năng tạo các mẫu tiếng Việt; GV cần nắm chắc những điểm còn sai lệch ở học sinh so với mẫu và có những thủ thuật dạy học để chuyển những sản phẩm lời nói lệch lạc, sai mẫu của học sinh về đúng mẫu
Bên cạnh đó, tùy theo đối tượng và nội dung, tính chất của các phân môn Tiếng Việt, giáo viên sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp trực quan, phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp trò chơi Ngoài
ra, với đối tượng học sinh dân tộc, giáo viên còn áp dụng các phương pháp dạy học khác như: phương pháp trực tiếp, phương pháp sử dụng tiếng mẹ đẻ
Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học (học theo lớp, học theo nhóm, học cá nhân) cần được vận dụng một cách linh hoạt trong mỗi bài học nhằm khơi dậy hứng thú của học sinh, mang lại hiệu quả tích cực Chúng ta không nên tuyệt đối hóa, cô lập phương pháp hoặc tuyệt đối hóa, cô lập một hình thức tổ chức dạy học nào
1.1.4 Chuẩn trình độ tối thiếu môn Tiếng Việt lớp 3
Chuẩn trình độ tối thiểu là yêu cầu mà mọi đối tượng HS cần đạt được Căn cứ vào chuẩn trình độ này, GV lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp, đây cũng là cơ sở để GV đánh giá kết quả học tập của HS Dưới đây là chuẩn trình độ tối thiểu đối với môn Tiếng Việt lớp 3
- Biết cách viết hoa tên
Trang 20riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài (phiên âm) 1.1.2 Từ vựng Biết tên các từ ngữ (gồm cả
thành ngữ, tục ngữ dễ hiểu)
về lao động sản xuất, văn hóa, xã hội, bảo về Tổ quốc,…
1.1.3 Ngữ pháp - Nhận biết được các từ chỉ
sự vật, hoạt động, đặc điểm, tính chất
- Nắm vững mô hình phổ biến của câu trần thuật đơn
và đặt câu theo những mô hình này
- Biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm
Dùng câu hỏi: Ai?, Cái gì?, Thế nào?, Làm gì? Để nhận diện từng thành phần câu trần thuật
1.1.4 Phong cách ngôn
ngữ và biện pháp tu từ
Bước đầu nhận biết biện pháp so sánh, nhân hóa trong bài học và trong lời nói
1.2 Tập làm văn - Biết cấu tạo ba phần của
bài văn
- Bước đầu nhận biết đoạn văn và ý chính của đoạn văn
- Nhận biết các thành phần mở bài, thân bài, kết bài qua các bài tập đọc và qua các câu chuyện được học
- Biết tìm ý chính của một đoạn văn đã đọc theo gợi ý; lựa chọn đầu đề cho đoạn văn
Trang 21- Bước đầu nhận biết cấu tạo của một số loại văn bản thông thường
- Nhận biết các thành phần của bức thư, lá đơn, báo cáo đơn giản về công việc
2 Kĩ năng
2.1 Đọc
2.1.1 Đọc thông - Đọc đúng, rõ ràng, rành
mạch các văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí…có độ dài khoảng 200 chữ, tốc độ đọc 70 – 80 chữ/phút Đọc thầm nhanh hơn lớp 2 (90-100 chữ/phút)
- Biết đọc phân biệt lời nhân vật trong các đoạn đối thoại và lời người dẫn chuyện
2.1.3 Ứng dụng kĩ năng
đọc
- Thuộc được 6 bài thơ, đoạn văn dễ nhớ, có độ dài khoảng 80 chữ
- Biết sử dụng mục lục sách, thời khóa biểu, đọc thông báo, nội quy… để phục vụ sinh hoạt và học tập bản thân
2.2 Viết
2.2.1 Viết chữ
Viết đúng và nhanh các kiểu chữ thường và chữ hoa cỡ nhỏ; viết chữ rõ ràng, đề nét, liền mạch và thẳng hàng
Trang 222.2.2 Viết chính tả - Nghe – viết, nhớ - viết
chính tả có độ dài khoảng
60 – 70 chữ trong 15 phút, không mắc quá 5 lỗi, trình bày đúng quy định, bài viết sạch
- Viết đúng tên riêng Việt Nam và một số tên riêng nước ngoài
- Biết phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài viết
2.2.3 Viết đoạn văn, văn
2.3.1 Nghe - hiểu
Kể lại được một đoạn truyện, mẩu chuyển đã nghe thầy cô kể trên lớp
2.3.2 Nghe – viết - Nghe viết chính tả có độ
dài 70 chữ, trong đó có từ chữ âm, vần khó hoặc từ có
âm, vần, thanh dễ viết sai do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương, tên riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài
- Ghi lại được một vài ý trong văn bản tin ngắn đã nghe
Trang 23- Nói được một đoạn đơn giản về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc bằng câu hỏi
- Nêu ý kiến cá nhân, nhận xét ý kiến của bạn trong các tiết học trên lớp và trong sinh hoạt tập thể
- Giới thiệu hoạt, động của tổ, lớp dựa trên báo cáo hoặc văn bản đã chuẩn bị theo mẫu
1.2 Giới thiệu khái quát về huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
Huyện Ia Grai ngày nay nằm về phía tây tỉnh Gia Lai, phía bắc giáp huyện Chư Păh, phía nam giáp huyện Đức Cơ, Chư Prông, phía tây giáp tỉnh Ratanakiri (vương quốc Campuchia) và huyện Sa Thầy (tỉnh Kon Tum), phía nam và phía đông nam giáp thành phố Pleiku, có tọa độ địa lý từ 1345’ đến 1415’ vĩ độ bắc và
từ 10727’ đến 10804’ kinh độ đông
Ia Grai có diện tích tự nhiên là 1.112,38 km2 Tổng dân số của huyện là 75.593 người, trong đó: người Kinh là 35.660 người (chiếm 47, 2 %); người Jrai: 39.509 người (52, 3%); người Bahnar: 17 người; các dân tộc khác là 407 người (chiếm 0, 5%) Mật độ dân số trung bình là 66, 44 người/ km2
Sau khi chia huyện, địa giới hành chính của Ia Grai ổn định cho đến nay, với
10 đơn vị hành chính, bao gồm các xã: Ia Sao, Ia Hrung, Ia Khai, Ia Pếch, Ia Chia,
Trang 24Ia O, Ia Krai, Ia Tô, Ia Dêr và thị trấn Ia Kha
Trong cộng đồng người Jrai huyện Ia Grai, lễ hội là hình thức tín ngưỡng phổ biến Các buổi lễ cầu thần, ma chay, thường được tổ chức rất trọng thể với nhiều hình thức phong phú, đa dạng nhằm bày tỏ những mong muốn được sức khỏe, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, thóc lúa được nhiều
Kinh tế của người Jrai chủ yếu là nương rẫy, ngoài ra, đồng bào còn biết làm ruộng nước ở những vùng đất thấp, gần sông suối, thuận lợi cho việc dẫn nước vào ruộng một cách thô sơ, đơn giản Do đặc điểm của nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, mùa màng phụ thuộc vào thời tiết nên thu nhập của người dân rất thấp, bên cạnh đó, do việc chi tiêu, sử dụng sản phẩm không có kế hoạch nên thường dẫn đến tình trạng đói nghèo, đời sống kinh tế khó khăn, thiếu thốn
Ngày nay trong điều kiện phát triển của xã hội, đồng bào dân tộc ở Ia Grai đã biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, phát triển kinh tế vườn, kinh tế hộ gia đình, trồng các loại cây công nghiệp dài ngày cho hiệu quả kinh tế cao Nhiều gia đình đồng bào dân tộc đã vươn lên làm giàu cho chính bản thân và còn giúp đỡ cộng đồng cùng phát triển kinh tế, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện
1.3 Tiếng Việt và tiếng Jrai trong sự ƣơng đồng và khác biệt
Cũng như mọi ngôn ngữ khác, tiếng Việt và tiếng Jrai có các hệ thống ngữ âm,
hệ thống từ vựng và hệ thống ngữ pháp Sử dụng phương pháp ngôn ngữ học so sánh tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Jrai sẽ giúp cho việc biên soạn tài liệu dạy tiếng mẹ đẻ và dạy tiếng Việt đúng đối tượng hơn và nhờ đó việc dạy tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt cho học sinh Jrai thuận lợi và đạt hiệu quả hơn
1.3.1 Sự tương đồng
Ngữ âm và chữ viết: Về ngữ âm, hai ngôn ngữ này có mô hình cấu trúc có 4
thành phần: âm đầu, âm đệm, âm chính (âm gốc), âm cuối Số lượng âm vị như phụ
âm, nguyên âm về cơ bản giống nhau, phẩm chất ngữ âm của các yếu tố này cũng gần
nhau Về chữ viết, tiếng Việt và tiếng Jrai đều được xây dựng trên mẫu tự La – tinh
Từ vựng: Trong tiếng Việt và tiếng Jrai có hai lớp từ là lớp từ thuần và lớp từ
vay mượn Hai ngôn ngữ đều có hiện tượng từ đồng nghĩa/ trái nghĩa; từ đa nghĩa và từ đồng âm Ở hai ngôn ngữ có hiện tượng giống nhau về phương ngữ (tiếng địa phương)
Trang 25Về ngữ pháp: Ngôn ngữ Jrai cũng có những đặc trưng như tiếng Việt Cấu tạo
từ bằng hình thức/ phương thức ghép và phương thức chuyển nghĩa Ngoài ra, ngôn ngữ Jrai còn dùng phương thức phụ tố để chuyển nghĩa và bổ sung vốn từ Tổ chức
cú pháp về cơ bản giống tiếng Việt
Phương hức cấu tạo từ: Về đại thể, những dạng cấu trúc từ ngữ trong tiếng
Jrai cũng giống trong vốn từ tiếng Việt với các mức độ tần suất đậm nhạt khác nhau: từ đơn, từ ghép (từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập), từ láy (từ láy âm, từ láy vần, từ láy toàn bộ )
Cấu trúc cú pháp
Cấu trúc thành phàn, trật tự từ trong câu đơn cũng tương tự nhau:
Kâo ngã brua/ hiam kla/ ( Tôi làm việc tốt)
Adơi kào ngã brua/ ka hiam kia/ ( Em tôi làm việc hưa tốt.)
Adơi kào ngã brua/ hiam kla/ mơh?( Em tôi làm việc tốt không?)
1.3.2 Sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Jrai
Tiếng Việt và tiếng Jrai có sự khác biệt lớn về nguồn gốc, ngữ âm và chữ viết,
từ vựng và ngữ pháp
Ngôn ngữ
Phương diện
Nguồn gốc thuộc ngữ hệ Nam Á thuộc ngữ hệ Nam Đảo Ngữ âm và chữ
- Ở TV có tiểu hệ nguyên âm đôi
- Tiếng Jrai không có thanh điệu
PHỤ ÂM
- Jrai chỉ đơn thuần nguyên
âm đơn
Trang 26/jơ/)
Từ vựng - Trong tiếng Việt, đại từ nhân
xưng ở ngôi thứ nhất phân biệt sắc thái khá lớn Ngay cả cùng một đối tượng nhưng thời điểm và hoàn cảnh giao tiếp khác nhau cũng có cách sử dụng từ khác nhau
- Ở ngôi thứ nhất trong tiếng Jrai, đại từ nhân xưng Kào (tôi, tao, em, con, ) mang tính trung hòa rất cao Trong giao tiếp, để xưng hô với người đối thoại, không hề có
sự phân biệt tuổi tác, địa vị
xã hội
Ngữ pháp - Về phương thức cấu tạo từ:
+ Từ đơn đa tiết trong tiếng Việt cấu tạo bởi các tiếng
+ Từ phức trong TV có hai loại :
Từ phức trong tiếng
Jrai có ba loại: từ ghép, từ
láy, từ chắp (phái sinh):
tôpk, kơthung, chơgan Từ
phái sinh được tạo thành bằng cách chắp một yếu tố phụ (gọi là phụ tố) vào 1 yếu tố gốc ( gọi là căn tố)
- Về cấu trúc, thành phần, trật tự
từ trong câu
Trang 27thường đặt ở cuối câu
Ví dụ: Hỏi với thái độ bình
thường: Pơpă (1) inh (2) nao (3)? Đâu (1) anh (2) đi (3)? Hỏi với thái độ bực tức:
Ih (1) nao (2) pơpă (3)?Anh
Ví dụ: Kao bu thăo ôh hơget như lăi – Tôi không biết anh
ấy ( chị ấy) nói gì
+ Tiếng Jrai thì các từ chỉ mức độ đứng ở vị trí cuối câu
Ví dụ: Nhu hra/ m rơgơi bia/ Cậu ấy học rất giỏi
Có thể thấy sự khác biệt ngôn ngữ và thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ tạo ra nhiều cản trở việc học tiếng Việt của học sinh Jrai và sự tương đồng – cơ sở của sự chuyển di tích cực giữa hai ngôn ngữ được phát huy Nắm được sự tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Jrai về ngữ âm, chữ viết, từ ngữ và ngữ pháp chắc
Trang 28chắn sẽ giúp giáo viên và học sinh Jrai có nhiều thuận lợi khi dạy và học tiếng Việt
1.4 Đặ rƣng âm lý ủa học sinh tiểu học tại huyện Ia Grai, Gia Lai
1.4.1 ặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học tại huyện Ia Grai, Gia Lai
Khác với học sinh người Kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt Thực tế cũng có số ít các em được trải qua
sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm Non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước vào lớp Một Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em
Môi trường học tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số bị bó hẹp Các em hầu như không thể có được số lượng và mật độ các cuộc giao tiếp bằng tiếng Việt nhiều như học sinh người Kinh Ở trường học, học sinh dân tộc chỉ tiếp xúc duy nhất với thầy, cô giáo – những người nắm vững tiếng Việt Do số học sinh trong lớp thì đông
mà lại chỉ có một giáo viên nên cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt giữa học sinh và giáo viên rất có hạn Nội dung các vấn đề được đề cập trong các cuộc giao tiếp chủ yếu chỉ liên quan tới bài học, trong khi các vấn đề của đời sống ngôn ngữ lại luôn sống động và đa dạng
Mặt khác, quá trình học tiếng Việt của học sinh dân tộc luôn chịu ảnh hưởng
từ tiếng mẹ đẻ Theo một xu hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ được học sinh dân tộc đưa vào trong quá trình học tiếng Việt Hệ quả là, những yếu
tố giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ tạo điều kiện thuận lợi, còn những yếu
tố khác nhau lại cản trở, gây khó khăn cho học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng Việt, đó cũng là nguyên nhân khiến học sinh dân tộc mắc các lỗi sử dụng tiếng Việt như lỗi phát âm, lỗi dùng từ, lỗi sử dụng câu…
1.4.2 Nhận thức, tình cảm của học sinh tiểu học tại huyện Ia Grai, Gia Lai
Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc thiểu số tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai,
Trang 29chúng tôi nhận thấy rằng, các em học sinh ở đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình Cái nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân Những học sinh tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung và trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai nói riêng không có sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ có "ngày hai buổi đến trường", các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô, lo cho cuộc sống vật chất của gia đình đang chật vật, thiếu thốn Vào thời điểm mùa màng, số lượng học sinh trên lớp học rất ít Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa màng, cũng xin phép giáo viên chủ nhiệm, nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên trở lại trường khi mùa gặt kết thúc Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận bản, vận động các em đến trường
Hiện nay, trên địa bàn huyện Ia Grai, học sinh dân tộc thiểu số được sắp xếp học cùng học sinh dân tộc người Kinh Cách bố trí như vậy tạo điều kiện cho các
em hòa nhập với cộng đồng, tăng cường khả năng giao tiếp cũng như tạo môi trường học tiếng Việt cho các em Tuy nhiên, mặt trái của mô hình này là khiến các
em học sinh dân tộc có cảm giác tự ti, mặc cảm, chưa thực sự hòa nhập vào môi trường học tập Các em cũng đã biết nhìn ngắm những trang phục của các bạn học sinh người Kinh, nhìn lại trang phục của mình Nếu số lượng học sinh thiểu số nhiều hơn học sinh Kinh thì tình trạng trên ít xảy ra, còn nếu số lượng học sinh thiểu số ít hơn số lượng học sinh người Kinh thì tình trạng trên càng diễn ra nặng
nề Trong lớp chắc chắn sẽ có sự phân biệt, kỳ thị ở hai đối tượng học sinh trên Một bộ quần áo, một đôi dép hay những phụ kiện đơn giản khác của các bạn khi đến trường cũng làm cho các em băn khoăn, suy nghĩ về nhau, so sánh lẫn nhau Nhiều em học sinh người dân tộc thiểu số chân đất đến trường, hoặc trong trang phục cũ kỹ, hay với những đồng phục bắt buộc nhàu nát mà các em không chỉ dành cho đến trường, hay cùng với những cuốn tập bị bỏ quên ngay sau khi rời lớp Tâm
tư ấy cũng phần nào làm cho tinh thần học tiếng Việt của các em học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị suy giảm
Vốn kiến thức về tiếng Việt hạn chế khiến các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các em rất khó tiếp thu bài ở những môn học
Trang 30khác Điều này đồng nghĩa với việc kiềm hãm sự phát triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp,
"sợ" phải đến trường Học tập lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em
Đối với người dân tộc Tây Nguyên, không gian sống của họ rất đặc trưng, không có ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và đương nhiên sẽ không gian sống cá nhân Chính vì vậy, việc tạo một không gian học tập cho học sinh là điều không thể Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học tập cho các em, mà còn làm cho chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút
Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không chú trọng tới việc học của con, em mình Điều này cho thấy đa số các em không được nằm trên một cái nền học vấn nhất định nào đó của gia đình Việc học tập của các em phải nhờ đến sự tận tâm của giáo viên, nhờ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường Cho nên ý thức học tập là đặc tính rất cần được chúng ta xây dựng cho các em
Tiểu kết: Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu những vấn đề cơ bản về việc dạy
học Tiếng Việt ở Tiểu học như: vai trò và nhiệm vụ của môn Tiếng Việt, các nguyên tắc và phương pháp dạy học Tiếng Việt,… Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu
vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai cũng như điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Jrai Chúng tôi nhận thấy, những đặc điểm này ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tâm lý của học sinh nơi đây Tìm hiểu, nghiên cứu về những vấn đề lý luận trên giúp chúng tôi có nền tảng cơ sở lý luận cũng như có cái nhìn bao quát về đề tài mà mình đang nghiên cứu Từ đó, có định hướng chính xác để nghiên cứu những vấn đề ở chương 2 và đề
ra những biện pháp ở chương 3
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT
2.1.1.2 Đối tượng khảo sát
Chúng tôi khảo sát tại 2 lớp khối 3 và 30 GV làm công tác giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 trường tiểu học trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Đó là Trường Tiểu học Phan Chu Trinh, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
2.1.1.3 Nội dung khảo sát
Quy trình dạy học của các phân môn trong môn Tiếng Việt
Khảo sát các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học mà GV thường
sử dụng trong quá trình dạy học
Những thuận lợi và khó khăn thường gặp khi dạy học tiếng Việt cho HS trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
2.1.1.4 Phương pháp khảo sát
Sử dụng phương pháp đàm thoại, phương pháp điều tra bằng Anket
Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin khi tham gia dự giờ của
Trang 32Qua điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1: Cá phương pháp dạy học Tiếng Việt cho HS lớp 3 mà giáo viên
hường sử dụng
Mức độ sử dụng
Phương pháp dạy học
Rất thường xuyên
Thường xuyên Ít khi
Không sử dụng bao giờ
PP luyện tập theo mẫu 3 10 27 90 0 0 0 0
HS Trong quá trình dự giờ các tiết dạy môn Tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy GV thường xuyên rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho HS tuy nhiên phương pháp giao tiếp chưa thật sự được vận dụng hiệu quả trong các tiết dạy mà mới chỉ dừng lại ở hình thức vấn đáp
Bên cạnh đó, do đặc thù đối tượng HS chủ yếu là HS dân tộc thiểu số, nên ngoài các phương pháp dạy học Tiếng Việt đặc trưng thì phương pháp trực tiếp (phương pháp
sử dụng tiếng Việt để dạy môn Tiếng Việt) cũng được nhắc đến như một phương
Trang 33pháp dạy học Kết quả khảo sát cho thấy 100% GV thường xuyên sử dụng phương pháp trực tiếp trong dạy học Tiếng Việt Trong khi đó, có tới 93,3% GV không bao giờ sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc thiểu số) trong dạy học Tiếng Việt, chỉ có 6,7% GV sử dụng phương pháp này (Tuyệt đại đa số GV có sử dụng tiếng mẹ đẻ trong dạy học là GV người DTTS) GV cho biết họ rất hạn chế sử dụng tiếng mẹ đẻ, chỉ trường hợp HS không hiểu nghĩa từ mà GV đã giải thích bằng tiếng Việt, bắt buộc GV phải dùng tiếng mẹ đẻ để giúp các em hiểu rõ nghĩa từ Điều này cho thấy,
GV rất chú trọng trong việc tạo môi trường Tiếng Việt cho HS, tạo điều kiện để các
em rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
90% GV thường xuyên sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu Qua trao đổi, dự giờ, chúng tôi thấy GV chủ yếu sử dụng phương pháp này trong hoạt động đọc mẫu (trong phân môn Tập đọc), viết mẫu trong phân môn Tập viết, trong một
số bài tập khó đối với HS,… Như vậy, đa số GV đã phối hợp hài hòa giữa việc hướng HS đến “cái chuẩn” và phát huy vai trò “trung tâm” của HS trong hoạt động học 10% GV sử dụng rất thường xuyên phương pháp này Những GV này chia sẻ
do mặt bằng học lực của HS trên địa bàn không cao nên bắt buộc GV phải hoạt động mẫu nhiều để định hướng, hướng dẫn HS hoạt động
Đối với phương pháp thảo luận nhóm, chỉ có 13,3% GV sử dụng rất thường xuyên và 86,7% GV thường xuyên sử dụng phương pháp này trong dạy học Tiếng Việt Qua dự giờ và trao đổi, hầu hết GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong một số hoạt động của tiết dạy như luyện đọc theo nhóm, thực hiện một số bài tập Như vậy, GV chưa khai thác triệt để phương pháp dạy học này trong dạy học Tiếng Việt, trong khi đó đây là một trong những phương pháp tích cực để rèn kĩ năng giao tiếp cho HS
Cũng từ kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy, phương pháp trò chơi và phương pháp đóng vai chỉ được đa số GV sử dụng trong mức độ thỉnh thoảng Chỉ
có 16, 7% GV sử dụng phương pháp trò chơi, 26, 7% GV sử dụng phương pháp đóng vai thường xuyên Vì thế, các tiết học Tiếng Việt chưa thực sự phát huy tính tích cực, hứng thú học tập cho các em Do đó dạy học theo hướng thực hành giao tiếp cũng chưa thật sự phát huy được vai trò của mìnnh trong dạy học Tiếng Việt
Để tìm hiểu các hình thức tổ chức dạy học giáo viên thường sử dụng trong
Trang 34quá trình tổ chức dạy học Tiếng Việt, chúng tôi đưa ra câu hỏi thứ hai: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức dạy học nào?
Qua quá trình điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2: Các hình thức tổ chứ giáo viên hường sử dụng trong quá trình dạy
học môn Tiếng Việt lớp 3
Mức độ
Hình thức
tổ chức dạy học
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ sử dụng
Bảng số liệu trên cho thấy, hai hình thức dạy học được tuyệt đại đa số giáo viên sử dụng thường xuyên đó là: dạy học cả lớp, dạy học cá nhân (100%); trong khi đó 86,7% GV thỉnh thoảng mới dạy học theo nhóm; 96,7% GV không bao giờ
sử dụng phương phương pháp dạy học ngoài lớp
Trao đổi với giáo viên về các hình thức dạy học, GV trên địa bàn cho biết thời gian cho một tiết học rất ít (40 phút đối với Tập đọc, 35 phút đối với các phân môn còn lại), điều đó khiến GV khó có thể sử dụng hình thức dạy học ngoài lớp Hình thức dạy học theo nhóm chỉ được tiến hành như phương pháp thảo luận nhóm trong một số hoạt động như: luyện đọc trong phân môn Tập đọc, thảo luận thực hiện một
số yêu cầu trong luyện từ và câu, tập làm văn, kể chuyện và hầu như không được sử dụng trong phân môn chính tả và tập viết
Như vậy trong môn Tiếng Việt, giáo viên tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai chủ yếu sử dụng hình thức dạy học cả lớp và dạy học cá nhân Điều này, tạo điều kiện thuận lợi cho GV truyền đạt đầy đủ kiến thức đến cả lớp; GV có thể giúp đỡ học sinh khó khăn theo kịp chương trình học tập bằng cách gợi ý, tháo gỡ khó khăn trong cách làm bài cũng như phát huy học sinh năng khiếu Tuy nhiên, chỉ 13, 3%
GV sử dụng hình thức thảo luận nhóm rất thường xuyên trong môn Tiếng Việt
Trang 35Điều này cho thấy GV mới chú trọng đến các hoạt động dạy học mà chưa chú trọng phát triển kĩ năng giao tiếp cho các em Dạy Tiếng Việt là cung cấp cho HS công cụ giao tiếp, thế nhưng ngay trong chính môn học, GV lại chưa thực sự phát huy, khai thác hình thức dạy học này để rèn kĩ năng giao tiếp cho HS
Để tìm hiểu quy trình dạy học Tiếng Việt của giáo viên ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, chúng tôi tiến hành dự giờ các tiết dạy Tiếng Việt lớp 3 cũng như trao đổi
và phát phiếu khảo sát Qua điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 3: Bảng thể hiện tỉ lệ số giáo viên thực hiện đúng quy rình dạy học
Tuy nhiên trong quá trình dự giờ, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số tồn tại
cụ thể như sau:
Trong rèn kĩ năng đọc cho HS, GV chưa dành nhiều thời gian hơn cho việc luyện đọc những từ khó, đặc biệt những từ HSDTTS thường phát âm sai cũng như giải nghĩa những từ khó GV chưa thật sự vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp giao tiếp, phương pháp trò chơi, phương pháp đóng vai, Chính vì thế, chưa gây được hứng thú học tập cũng như phát huy tính tích cực cho các em Trình bày bảng của GV chưa thật sự khoa học, chưa thể hiện được nội dung quan trọng của bài lên bảng để HS theo dõi Hình thức dạy học của GV chưa
Trang 36thật sự phát huy tính tích cực, chủ động của HS GV chưa tổ chức thêm hình thức thảo luận nhóm để tạo điều kiện cho các em có thể trao đổi, tăng cường giao tiếp Bên cạnh đó, GV chưa sử dụng hiệu quả phương pháp trò chơi (thi đọc, ong tìm chữ, kết bạn,…), phương pháp đóng vai để gây hứng thú học tập cho các em cũng như rèn kĩ năng giao tiếp cho HS
Trong rèn kĩ năng viết, GV chưa phát huy được vai trò trung tâm của HS Ví
dụ trong phân môn Chính tả, GV chưa tạo điều kiện cho HS tự phát hiện các từ mà bản thân các em cảm thấy khó viết, dễ viết sai rồi trao đổi với nhóm và với giáo viên Phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi,…chưa được GV vận dụng, khai thác hiệu quả
Để tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong quá trình dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, chúng tôi đưa ra câu
hỏi thứ 3: Trong quá trình dạy học Tiếng Việt cho HS lớp 3 trên địa bàn huyện, thầy (cô) có những thuận lợi và khó khăn nào không? Nếu có, thầy (cô) cho biết đó là những thuận lợi, khó khăn gì?
Qua điều tra, chúng tôi thu được bảng kết quả như sau:
Bảng 4: Những thuận lợi khi dạy học Tiếng Việt của giáo viên lớp 3 trên
địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
SL Tỉ lệ
(%)
SL Tỉ lệ
(%) Nhận được sự quan tâm từ phía nhà
trường, chính quyền địa phương các cấp
Thường xuyên được bồi dưỡng về
chuyên môn
Đổi mới phương pháp dạy và học, tạo
điều kiện phát huy tính chủ động, tích
cực của học sinh Ý thức học tập của các
em được nâng lên rõ rệt
23 76,7 7 23,3 0 0
Đời sống kinh tế của người dân địa 6 20 24 80 0 0
Trang 37phương được cải thiện dần, phụ huynh
tạo điều kiện cho con em đến trường
HSDTTS và HS người kinh học chung,
các em có cơ hội giao tiếp nhiều hơn
Trường nằm ở vị trí trung tâm nơi cư trú
của người dân nên thuận lợi cho HS đến
trường
Qua kết quả điều tra, 100% GV đều rất đồng ý rằng thuận lợi trong quá trình dạy học Tiếng Việt cho HS lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đó là nhận được sự quan tâm từ phía nhà trường, chính quyền địa phương; GV được thường xuyên bồi dưỡng về chuyên môn Nhà trường, chính quyền địa phương luôn cố gắng tạo mọi điều kiện để GV công tác, giảng dạy Phối hợp với GV xây dựng môi trường giáo dục, tăng cường mối quan hệ: Nhà trường – xã hội trong giáo dục GV không ngừng được nâng cao nghiệp vụ để bắt kịp với tình hình đổi mới giáo dục, đặc biệt là trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay Bên cạnh đó, nhờ vị trí trường khá thuận lợi (nằm ở trung tâm nơi cư trú của người dân) nên khoảng cách
từ nhà đến trường của HS khá gần, HS không phải đi một đoạn đường xa như trước đây để đến trường học
76, 7% GV rất đồng ý rằng đổi mới phương pháp dạy và học, tạo điều kiện phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh Ý thức học tập của các em được nâng lên rõ rệt GV cho biết nếu như trước đây, GV với vai trò trung tâm, HS thường bị động, ù lì trong học tập thì giờ đây, khi phương pháp dạy học đã đổi mới, HS là trung tâm, các em tự tin hơn, mạnh dạn và chủ động hơn rất nhiều trong học tập
Đa số GV (80%) đồng ý đời sống kinh tế của người dân địa phương được cải thiện dần, phụ huynh tạo điều kiện cho con em đến trường Kinh tế địa phương đã
có những bước chuyển mình đáng kể trong những năm gần đây, đời sống của người dân cũng dần được cải thiện, đặc biệt là người dân tộc thiểu số So với trước đây,
HS đã có điều kiện hơn để học tập
Có đến 80% GV rất đồng ý cho rằng HSDTTS và HS người kinh học chung, các em có cơ hội giao tiếp nhiều hơn GV cho biết qua các hoạt động tập thể trong
Trang 38học tập cũng như các hoạt động giáo dục khác, một mặt HSDTTS được tăng cường khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt, mặt khác các em dần tự tin hơn đồng thời xây dựng tình đoàn kết giữa các dân tộc Tuy nhiên, HSDTTS chưa thật sự hòa đồng, mạnh dạn, đại đa số các em còn rụt rè trong hoạt động tập thể
Công tác giảng dạy trên địa bàn huyện có những đặc thù so với những địa phương khác Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, GV trên địa bàn huyện gặp không ít khó khăn, thử thách Qua kết quả điều tra, chúng tôi thu được bảng số liệu như sau:
Bảng 5: Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi dạy học
Tiếng Việt cho HS lớp 3
Mức độ
Các khó khăn
Rất đồng ý Đồng ý Không đồng ý
SL Tỉ lệ (%)
HS phải tham gia lao động ngoài giờ
học, không có hoặc ít có thời gian cho
Điều kiện kinh tế trên địa bàn còn khó
khăn, HS không có điều kiện đầy đủ
về cơ sở vật chất phục vụ cho học tập
6 19,8 24 80,2 0 0
Thời gian hạn chế, không phụ đạo
thêm được cho HSDTTS
Từ bảng số liệu, chúng tôi nhận thấy bất đồng ngôn ngữ và thời gian hạn chế
là hai khó khăn mà 100% GV rất đồng ý Để làm rõ điều này, chúng tôi đã trực tiếp trao đổi với GV nơi đây để tìm hiểu nguyên nhân GV giảng dạy trên địa bàn, đa số
là người dân tộc Kinh, chính vì thế hầu hết thầy cô không biết tiếng Jrai, dẫn đến tình trạng bất đồng ngôn ngữ GV cho biết, việc bất đồng ngôn ngữ khiến HS gặp
Trang 39khó khăn trong việc tiếp thu những kiến thức cũng như thông tin mà GV truyền đến Tuy các em là đối tượng HS lớp 3 nhưng vốn từ của các em rất hạn chế, chính vì thế các em gặp khó khăn trong việc thể hiện những suy nghĩ, cũng như tâm tư tình cảm đến GV Hơn nữa, thời gian trên lớp lại hạn chế (hiện tại, các trường tiến hành dạy học một buổi), chính vì thế GV ít có thời gian phụ đạo, kèm thêm cho HS, đặc biệt
là HSDTTS Bên cạnh đó, điều này cũng gây khó khăn trong công tác vận động, trao đổi với phụ huynh học sinh về tình hình học tập của các em
Tự học luôn đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến kết quả học tập đối với HS, thế nhưng HS lớp 3 trên địa bàn huyện Ia Grai lại không có hoặc ít
có thời gian cho việc tự học ở nhà, do các em phải tham gia lao động, phụ giúp gia đình Đây là khó khăn tuyệt đại đa số GV (100%) gặp phải Kinh tế của vùng mang đặc trưng của của vùng kinh tế nông nghiệp, điều kiện gia đình lại khó khăn, chính
vì thế, ngoài giờ học, đa số các em phải tham gia phụ giúp gia đình (chăn bò, lên rẫy,…), thời gian cho việc học tập hầu như là rất ít
100% GV cũng đồng ý môi trường học tiếng Việt của HS hạn chế là một khó khăn trong việc dạy học Tiếng Việt Trong sinh hoạt gia đình hầu như các thành viên không bao giờ sử dụng tiếng phổ thông mà hoàn toàn sử dụng tiếng mẹ đẻ trong quá trình giao tiếp Vì vậy, các em thường rất ngại khi giao tiếp bằng tiếng phổ thông
33, 3% GV rất đồng ý và 66, 7% GV đồng ý trình độ dân trí thấp là một trong những khó khăn trong công tác dạy học nơi đây Phụ huynh HSDTTS chưa thật sự ý thức được vai trò của việc học, các em chủ yếu tự học, không nhận được sự kèm cặp từ phía gia đình Phần đa các bậc cha mẹ thường không quan tâm đến việc học tập của con cái mà phó thác toàn bộ cho các thầy cô giáo trong trường Cùng với đó, nhiều hủ tục lạc hậu như làm cúng, làm ma, kiêng,… gia đình thường cho con em nghỉ học không lý do Đời sống của đa số người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
Ia Grai còn gặp nhiều khó khăn nên thường vào mùa nương rẫy, một bộ phận nhỏ học sinh còn hay nghỉ học để phụ giúp công việc gia đình Dẫn đến tỷ lệ chuyên cần của các em chưa cao
10% GV đồng ý với khó khăn cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn Qua thực thế điều tra, chúng tôi nhận thấy các xã ở phía tây của huyện (xã Ia O, Ia
Trang 40Nhin,…) vẫn còn tình trạng thiếu phòng học, phòng học thiếu kiên cố Hầu hết các trường chưa được cung cấp các trang thiết bị hiện đại như phòng máy, máy chiếu (mỗi trường thường chỉ có một máy chiếu và màn hình chủ yếu phục vụ cho các tiết dạy chuyên đề) Cơ sở vật chất nhà trường hầu như chỉ dừng lại ở cung cấp kiến thức chứ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển năng lực cho người học
80, 2% GV đồng ý một trong những khó khăn trong dạy học đó là điều kiện kinh tế trên địa bàn còn khó khăn, HS không có điều kiện đầy đủ về cơ sở vật chất phục vụ cho học tập Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy hầu như HS người DTTS rất thiếu thốn về đồ dùng học tập Sách vở các em chủ yếu phụ thuộc phần lớn vào chính sách hỗ trợ của nhà nước Sự đầu tư của phụ huynh cho con cái về thời gian cũng như sách vở, đồ dùng học tập hầu như là không có Điều này quả thật ảnh hưởng không nhỏ đến tâm thế học tập của HS cũng như chất lượng học tập của các em
2.2 Tìm hiểu thực trạng học môn Tiếng Việt của HS lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
2.2.1 Khái quát qúa trình khảo sát
2.2.1.1 Mục đích khảo sát
Nhằm đánh giá đúng thực trạng học môn Tiếng Việt lớp 3 ở huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Khảo sát khả năng đọc và viết, tìm hiểu những lỗi và nguyên nhân mắc lỗi của HS lớp 3
2.2.1.2 Đối tượng khảo sát
Chúng tôi khảo sát 100 HS lớp 3 tại 2 trường tiểu học trên địa bàn huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Đó là Trường Tiểu học Phan Chu Trinh, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
2.2.1.3 Nội dung khảo sát
- Tỉ lệ HS đạt và chưa đạt ở các kĩ năng đọc và viết
- Khảo sát các lỗi HS thường mắc phải khi đọc và viết
2.2.1.4 Tiêu chí khảo sát
- Chúng tôi tiến hành khảo sát, phân loại kết quả đọc của HS trên các tiêu chí: đọc đúng, đoc nhanh, đọc hiểu và đạt cả 3 tiêu chí Kết quả viết của HS chúng tôi phân loại đạt và chưa đạt Những tiêu chí phân loại này dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng mà chúng tôi đã trình bày cụ thể ở chương 1, trang 11 -15