Vì vậy, trong việc làm các bài thực hành môn Thủ công của học sinh thường chỉ mang tính khuôn mẫu theo nội dung yêu cầu của giáo viên chứ chưa thấy được khả năng thực hành sáng tạo của h
Trang 2
Lời đầu tiên của khóa luận, en xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trong Khoa Giáo dục Tiểu học – Mầm non đã giảng dạy trong suốt khóa học, trang bị cho em những kiến thức quý báu, tư liệu để hoàn thành khóa luận này
Đặc biệt em xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Trần Thị Kim Cúc, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận
Do lần đầu nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm và năng lực bản thân còn hạn chế nên khóa luận sẽ không tránh khỏi sai sót Vì vậy, em kính mong nhận được sự thông cảm,
sự góp ý bổ sung của quý thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Vân
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Lí do chọn đề tài Error! Bookmark not defined
2 Mục đích nghiên cứu Error! Bookmark not defined
3 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu Error! Bookmark not defined
4.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 4.2 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết Error! Bookmark not defined 5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Error! Bookmark not defined
5.2.1 Phương pháp quan sát: Error! Bookmark not defined 5.2.2 Phương pháp điều tra bằng trò chuyện: T Error! Bookmark not
defined
5.2.3 Phương pháp điều tra bằng Anket: Error! Bookmark not defined 5.2.5 Phương pháp thống kê và tổng kết: Error! Bookmark not defined
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined
7 Cấu trúc khóa luận Error! Bookmark not defined
B PHẦN NỘI DUNG Error! Bookmark not defined CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Error! Bookmark not defined
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Error! Bookmark not defined 1.1.1 Đặc điểm của môn học Thủ công - Kĩ thuật Error! Bookmark not defined
1.1.1.1 Thủ công - Kĩ thuật là môn học mang tính cụ thể và trừu tượng
Error! Bookmark not defined
1.1.1.2 Thủ công - Kĩ thuật là môn học mang tính tổng hợp Error!
Bookmark not defined
1.1.1.3 Thủ công - Kỹ thuật là môn học mang tính thực hành, thực tiễnError!
Bookmark not defined
1.1.1.4 Ngôn ngữ và thuật ngữ của môn học Error! Bookmark not defined
Trang 41.1.2 Đặc điểm riêng của nội dung Gia công giấy bìa Error! Bookmark not defined
1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học Error! Bookmark not defined
1.1.3.1 Những đặc điểm tâm lí chung của học sinh tiểu học Error!
Bookmark not defined
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học Error! Bookmark not
1.2.2 Thực tế dạy và học môn Thủ công ở Tiểu học Error! Bookmark not defined
1.2.2.1 Thực tế dạy học môn Thủ công ở Tiểu học Error! Bookmark not
2.1.1.1 Khái niệm nội dung dạy học Error! Bookmark not defined 2.1.1.2 Thành phần của nội dung dạy học Error! Bookmark not defined
2.1.2 Phương pháp dạy học Error! Bookmark not defined
2.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học Error! Bookmark not defined 2.1.2.2 Một số đặc điểm của phương pháp dạy học Error! Bookmark not
defined
2.1.2.3 Phân loại phương pháp dạy học Error! Bookmark not defined
2.1.2.4 Việc lựa chọn và xây dựng quy trình thiết kế phương pháp dạy học
Error! Bookmark not defined
2.2 NỘI DUNG GIA CÔNG GIẤY BÌA Error! Bookmark not defined
Trang 52.2.1 Ý nghĩa của kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa Error! Bookmark not defined
2.2.2 Các kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa Error! Bookmark not defined
2.2.2.1 Kĩ thuật xé, dán hình Error! Bookmark not defined 2.2.2.2 Kĩ thuật gấp hình Error! Bookmark not defined 2.2.2.3 Kĩ thuật cắt, dán hình Error! Bookmark not defined 2.2.2.4 Kĩ thuật đan nan Error! Bookmark not defined
2.2.3 Dụng cụ và vật liệu cần thiết cho Gia công giấy bìa Error! Bookmark not defined
2.2.3.1 Dụng cụ Error! Bookmark not defined 2.2.3.2 Vật liệu Error! Bookmark not defined
2.3 NỘI DUNG DẠY HỌC MÔN THỦ CÔNG LỚP 1, 2, 3 Error! Bookmark not defined
2.3.1 Mục tiêu môn học Error! Bookmark not defined 2.3.2 Cấu trúc và nội dung chương trình môn Thủ công lớp 1, 2, 3 Error! Bookmark not defined
2.3.2.1 Cấu trúc và nội dung chương trình môn Thủ công lớp 1 Error!
Bookmark not defined
2.4 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN THỦ CÔNG LỚP 1, 2, 3 Error! Bookmark not defined
2.4.1 Khái niệm phương pháp dạy học môn Thủ công ở Tiểu học Error! Bookmark not defined
2.4.2 Các phương pháp dạy học môn Thủ công ở Tiểu học Error! Bookmark not defined
2.4.2.1 Phương pháp trực quan Error! Bookmark not defined 2.4.2.2 Phương pháp thực hành kĩ thuật Error! Bookmark not defined 2.4.2.3 Phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ Error! Bookmark not defined
2.5 SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG
TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC THỦ CÔNG Ở TIỂU HỌC Error! Bookmark not defined 2.5.1 Phương pháp trực quan Error! Bookmark not defined 2.5.2 Phương pháp thực hành kĩ thuật Error! Bookmark not defined
2.5.2.1 Phương pháp làm mẫu Error! Bookmark not defined
Trang 62.5.2.2 Phương pháp huấn luyện - luyện tập Error! Bookmark not defined
2.5.3 Phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ Error! Bookmark not defined
2.5.3.1 Phương pháp diễn giảng trần thuật Error! Bookmark not defined 2.5.3.2 Phương pháp vấn đáp Error! Bookmark not defined
2.5.4 Phương pháp trò chơi học tập Error! Bookmark not defined
2.5.5.1 Kết hợp phương pháp dùng ngôn ngữ với phương pháp trực quan
Error! Bookmark not defined
2.5.5.2 Phương pháp thực hành kĩ thuật kết hợp với phương pháp dùng ngôn
ngữ Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined 3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM Error! Bookmark not defined 3.2 CHUẨN BỊ THỰC NGHIỆM Error! Bookmark not defined 3.2.1 Địa điểm và đối tượng thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.2 Nội dung thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2.3 Tiêu chí đánh giá Error! Bookmark not defined 3.3 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM Error! Bookmark not defined 3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM Error! Bookmark not defined
C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
1 Kết luận Error! Bookmark not defined
2 Kiến nghị Error! Bookmark not defined 2.1 Đối với giáo viên Tiểu học Error! Bookmark not defined 2.2 Đối với các cấp lãnh đạo Error! Bookmark not defined
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
và đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của học sinh Luật GD 2005 đã
quy định mục tiêu của nền GD&ĐT Việt Nam: “Đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng
Trang 7nhân cách, phẩm chất, năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, nhằm thực hiện hai mục tiêu chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”
Để thực hiện mục tiêu trên, trong nhiều năm qua, ngành giáo dục nước
nhà luôn chú trọng đổi mới nội dung và phương pháp dạy học sao cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước Chính Tiểu học là bậc học nền tảng nên sự đổi mới về cách dạy và học là rất quan trọng Việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay Trong dạy học, mỗi một môn học đều có nội dung và phương pháp dạy học riêng để giáo dục và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục nêu trên
Kĩ thuật là môn học được dạy một cách có hệ thống ở trường phổ thông
từ tiểu học cho đến trung học Cũng như các môn học khác, môn Kĩ thuật góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Là một bộ phận của kĩ thuật phổ thông, môn Thủ công (lớp 1, 2, 3) ở tiểu học có vị trí rất quan trọng Môn Thủ công được đưa vào dạy ở bậc tiểu học nhằm mục đích cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu cần thiết như (xé, dán, gấp, cắt, đan nan, làm đồ chơi) Bước đầu rèn luyện một số kĩ năng đơn giản về Thủ công và sử dụng các dụng cụ học
tập đơn giản cho học sinh (kéo, thước, bút chì )
Thủ công là một môn học mang tính thực hành, thực tiễn, nó không chỉ giáo dục kĩ năng sống cho học sinh mà còn khuyến khích các em phát triển năng khiếu và khả năng sáng tạo của mình để tạo ra các sản phẩm Nội dung
và phương pháp dạy học môn Thủ công cũng như các môn học khác đều đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Chương trình Môn Thủ công lớp 1, 2, 3 có nội dung là Gia công giấy bìa, bao gồm các kĩ thuật
xé dán giấy; kĩ thuật gấp hình; kĩ thuật cắt dán hình; đan nan Kỹ thuật Gia
Trang 8công giấy bìa đòi hỏi khả năng khéo léo của đôi tay, tính cẩn thận và khả năng sáng tạo của bản thân học sinh để tạo hình
Thực tế cho thấy việc dạy và học môn Thủ công không đơn giản đối với
cả giáo viên và học sinh Đối với học sinh, để nắm được nội dung này một cách hiệu quả thì các em không chỉ nắm vững các kiến thức lí thuyết về các
kĩ thuật xé dán giấy; kĩ thuật gấp hình; kĩ thuật cắt dán hình; đan nan mà còn đòi hỏi các em phải biết vận dụng kiến thức thực tế và luyện tập thực hành thường xuyên Còn đối với giáo viên, để đạt được mục tiêu dạy học trong nội dung này thì bên cạnh yêu cầu về kiến thức, giáo viên còn phải nắm bắt được mức độ hiểu biết cũng như khả năng thực hành của học sinh Đối với giáo viên, việc dạy học môn Thủ công cho học sinh còn mang tính khuôn mẫu bằng hình thức nêu lí thuyết, hướng dẫn mẫu rồi cho học sinh thực hành, ít chú trọng đến tính chủ động và khả năng thực hành của học sinh Vì vậy, trong việc làm các bài thực hành môn Thủ công của học sinh thường chỉ mang tính khuôn mẫu theo nội dung yêu cầu của giáo viên chứ chưa thấy được khả năng thực hành sáng tạo của học sinh
Bên cạnh đó, việc dạy môn Thủ công chưa được chú trọng, còn nhiều ý kiến cho rằng đây chỉ là một “môn học phụ”, chưa được chú trọng nên chưa đạt được kết quả dạy học cao Để đạt được kết quả cao trong dạy học môn Thủ công đòi hỏi việc thực hiện nội dung và các phương pháp dạy học của giáo viên phải phù hợp với mục tiêu yêu cầu, thực tế dạy học nội dung trên
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm
hiểu nội dung và phương pháp dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này bên cạnh việc tìm hiểu đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học, chúng tôi nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về nội dung và phương pháp dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3 để từ đó xác định
Trang 9những phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học môn Thủ công ở Trường Tiểu học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung chương trình dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3
- Nghiên cứu thực tế dạy học môn Thủ công ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
- Nghiên cứu phương pháp dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3
- Thiết kế một số bài học Thủ công và tiến hành thực nghiệm sư phạm để xác định những phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học môn Thủ công ở Trường Tiểu học
- Đề xuất một số ý kiến nhằm giúp thực hiện tốt nội dung môn học và có những phương pháp dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3 đạt hiệu quả cao
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung chương trình môn Thủ công lớp 1, 2, 3
- Phương pháp dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3
- Những quy định thực hiện chương trình dạy học môn Thủ công ở trường tiểu học do Bộ GD-&ĐT ban hành
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Môn Thủ công lớp 1, 2, 3
- Học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi: tìm hiểu về thái độ học tập của học sinh, cách làm việc của học sinh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 10Thu thập tài liệu, tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các nguồn tài liệu về tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học và các nguồn tài liệu có liên
quan đến nội dung và phương pháp dạy học môn Thủ công
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp quan sát: Dự giờ các tiết dạy mẫu của các giáo viên để
tìm hiểu thực tiễn của việc dạy và học môn Thủ công lớp 1, 2, 3
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng trò chuyện: Tiến hành trao đổi với một số
giáo viên có kinh nghiệm để tìm hiểu về việc lập kế hoạch dạy học và tổ chức dạy học nhằm thu thập thêm thông tin cần thiết bổ sung vào bảng Anket
5.2.3 Phương pháp điều tra bằng Anket: Tiến hành điều tra trên giáo viên và
học sinh để tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Thủ công lớp 1, 2, 3
5.2.4 Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành giảng dạy một số tiết Thủ công
ở một số lớp tại cơ sở thực tập có sử dụng những phương pháp dạy học nhằm
mang lại hiệu quả cao cho môn học
5.2.5 Phương pháp thống kê và tổng kết: Thống kê và tổng kết các các nguồn
tài liệu, các số liệu đã thu được ở trên nhằm phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Từng bước tích lũy kinh nghiệm
- Hi vọng đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc dạy và học môn Thủ công đạt kết quả cao
7 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần:
Phần Mở đầu
Phần Nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương II: Nội dung và phương pháp dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3 Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 11Phần Kết luận và kiến nghị
B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Đặc điểm của môn học Thủ công - Kĩ thuật
1.1.1.1 Thủ công - Kĩ thuật là môn học mang tính cụ thể và trừu tượng
- Tính cụ thể của môn học thể hiện ở nội dung của môn học đề cập đến những vật phẩm kĩ thuật cụ thể (như các dụng cụ lao động cầm tay, các đồ chơi, mô hình kĩ thuật ) cũng như các thao tác kĩ thuật cụ thể (gấp, cắt, dán, đan, lắp ghép, cuốc đất ) Những kiến thức trực quan này học sinh có thể trực tiếp tri giác ngay trên đối tượng nghiên cứu hoặc qua thao tác mẫu của giáo viên Cho nên, khi dạy cho học sinh những biểu tượng này cần:
+ Tăng cường cho học sinh quan sát các vật thật, mô hình, thao tác hoặc các quy trình kỹ thuật cụ thể
+ Coi đối tượng của trực quan như điều kiện, phương tiện, điểm tựa cho quá trình lĩnh hội kỹ thuật
Tính cụ thể giúp cho người học thực hiện tốt nguyên tắc về sự thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng trong quá trình dạy học Nó là điểm xuất phát, giai đoạn đầu của quá trình nhận thức
- Thủ công - Kĩ thuật là môn học mang tính trừu tượng
Tính trừu tượng phản ánh trong hệ thống các khái niệm kĩ thuật như (vật tĩnh, vật động, chuyển động thẳng, chuyển động cong, cân bằng trọng tâm ) Các nguyên lý kĩ thuật (nguyên lý cấu tạo, nguyên lý chuyển động, nguyên lý cắt gọt ), các dạng gia công (gia công biến dạng, gia công nối ghép, gia công cắt gọt ) Các quá trình sinh học (quá trình sản xuất cây trồng và quá trình chăm nuôi vật nuôi nhỏ) mà học sinh không trực tiếp tri giác được Những nội dung đó học sinh muốn hiểu được phải tri giác trừu tượng (nhận thức lý tính)
Trang 12Song để có tư liệu cho tư duy phải có nhận thức cảm tính (trực quan) Vì thế trong các tài liệu kỹ thuật người ta phải trực quan hóa những nội dung trên bằng những phương tiện trực quan như hình vẽ, đồ thị, sơ đồ, mô hình Đặc điểm cụ thể và trừu tượng đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy học phải biết:
+ Tìm ra điểm xuất phát tương đối của mỗi khâu nhận thức Từ cụ thể trực quan hay cái trừu tượng lí thuyết, đều có ý nghĩa cực kì quan trọng trong quá trình tổ chức và điều khiển quá trình nhận thức của học sinh và đó cũng là
cơ sở của việc vận dụng con đường quy nạp hay diễn dịch trong dạy học + Xác định đúng đắn vị trí, vai trò của trực quan, coi nó như là một điều kiện và phương tiện của sự chuyển biến biện chứng từ cái cụ thể sang cái trừu tượng và ngược lại Có nghĩa người dạy kĩ thuật phải biết chế tạo và sử dụng các phương tiện trực quan một cách có mục đích, có hiệu quả nhất
1.1.1.2 Thủ công - Kĩ thuật là môn học mang tính tổng hợp
Thủ công - Kĩ thuật ở bậc tiểu học là một môn học ứng dụng, mà cơ sở của nó là Toán học, Tự nhiên - Xã hội, Khoa học, Mĩ thuật, Đạo đức Nội dung của các môn học này được tổng hợp, vận dụng vào môn học này, kiến thức của các môn này hỗ trợ cho nhau
Đặc điểm này đòi hỏi người dạy Thủ công - Kĩ thuật phải biết:
+ Kết hợp 2 chiều với các môn học có liên quan đến kiến thức vừa tinh giãn lại đỡ trùng lặp
+ Vạch ra ý nghĩa thực tiễn của các môn học, tập áp dụng những kiến thức thu được từ các môn học khác vào thực tiễn
1.1.1.3 Thủ công - Kỹ thuật là môn học mang tính thực hành, thực tiễn
Môn học có đặc điểm này là do đối tượng nghiên cứu và nội dung môn học phản ánh hoạt động thực tế của con người Đó là lao động sản xuất mà trong đó kĩ thuật là bộ phận chủ yếu, dựa trên cơ sở khoa học, những kĩ thuật xuất phát từ thực tiễn và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong thực tế sản
Trang 13xuất và đời sống Chẳng hạn, các phương tiện kĩ thuật (như dao, kéo, cuốc ) bao giờ cũng gắn với một quá trình sản xuất nhất định và các phương pháp gia công (phương pháp cắt gọt, phương pháp gia công biến dạng, quy trình trồng một cây, quy trình nuôi một con ) Đặc điểm này làm cho nội dung của bài dạy bao giờ cũng gần gũi với học sinh nhỏ tuổi mà không làm giảm ý nghĩa khoa học của nó
1.1.1.4 Ngôn ngữ và thuật ngữ của môn học
Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ chung (lời nói, chữ viết) môn Thủ công -
Kĩ thuật còn có những ngôn ngữ đặc trưng của nó Đó là quy ước bản vẽ, quy trình kĩ thuật Ngôn ngữ đặc trưng này vừa mang tính chất nghề nghiệp riêng song nó mang tính chất quy ước quốc gia (các tiêu chuẩn về kĩ thuật)
Những thuật ngữ cũng được sử dụng theo chuyên ngành và theo quy ước nhất định
Đặc điểm này đòi hỏi giáo viên phải biết:
+ Hình thành và cho học sinh sử dụng chính xác các khái niệm, tên gọi, quy ước kĩ thuật trong môn học
+ Biết sử dụng và hướng dẫn học sinh sử dụng các tài liệu kĩ thuật thông thường: Bản vẽ quy trình kĩ thuật, sổ tay kĩ thuật, hồ sơ kĩ thuật của các phương tiện
1.1.2 Đặc điểm riêng của nội dung Gia công giấy bìa
Các sản phẩm của kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa đều làm bằng vật liệu đơn giản, dễ tìm kiếm Đó là loại giấy thủ công màu có bán sẵn trên thị trường Sản phẩm của kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa nhìn chung đơn giản, dễ thực hiện nhưng vẫn có yêu cầu về vật liệu và kĩ thuật:
- Mẫu gấp phần lớn theo quy luật đối xứng Giấy dùng để gấp thường là hình vuông, hình chữ nhật Phải gấp theo đúng quy trình, thao tác đúng kĩ thuật, nếp gấp phẳng, màu sắc đẹp, hợp lí, trang trí trình bày sản phẩm có sáng tạo Mẫu phối hợp gấp, cắt, dán: các đường cắt thẳng hoặc cong phải sát
Trang 14với nét vẽ đã xác định, nhát cắt dứt khoát, cắt đúng hình mẫu Hình dán phải phẳng, nhẵn, bố cục cân đối, sản phẩm sạch sẽ, trang trí đẹp, sáng tạo
- Tùy theo yêu cầu của sản phẩm mà giấy dùng để gấp, cắt, dán có độ dày, mỏng khác nhau Giấy dùng để xé cần mềm, mỏng vừa phải Giấy dùng
để gấp, cắt có độ dày trung bình Giấy để đan hơi cứng thì đan sẽ nhanh hơn
- Mẫu xé, gấp, cắt, dán, đan càng nhỏ thì kĩ thuật càng phải cao
1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
1.1.3.1 Những đặc điểm tâm lí chung của học sinh tiểu học
Đặc biệt đối với học sinh tiểu học, sự kiện quan trọng nhất của các em là cắp sách đến trường Cuộc sống của trẻ lúc này đã thay đổi, hoàn toàn khác trước Trẻ bắt đầu phải thức dậy đúng giờ, không được bỏ học và phải ngồi yên lặng không được nói chuyện trong một thời gian khá lâu, phải làm bài tập, Giai đoạn này trẻ chỉ hứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứng thú dễ mất đi Vì vậy, cần làm cho trẻ hứng thú với quá trình học tập Ở lứa tuổi này, trí tuệ của các em được phát triển chủ yếu bằng phương thức lĩnh hội, bằng hoạt động của chính các em Nói cách khác, các em phải tự làm ra sản phẩm cho chính mình, phải tự hoàn thành nhiệm vụ của mình, đó chính là một nguyên lí vàng ngọc trong giáo dục
Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là một chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưa định hình, chưa hoàn thiện mà các em tiếp tục lớn lên, đang phát triển Trong mỗi
em, mỗi bộ phận, mỗi cơ quan của cơ thể với các chức năng riêng cũng phát triển không đều, chưa hoàn thiện
Sự thay đổi hoạt động chủ đạo diễn ra khi các em bắt đầu đi học Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là hoạt động học tập, hoạt động này làm thay đổi một cách cơ bản những động cơ hành vi của trẻ, mở ra những động cơ hành vi của trẻ, mở ra những nguồn phát triển mới của sức mạnh nhận thức và đạo đức của trẻ Hành động học phải được xem như là đối tượng để lĩnh hội,
Trang 15sau đó trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức, khái niệm khoa học Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn các em cách thức tiếp cận, động viên các em có ý chí vươn lên điều chỉnh động cơ học tập của mình
1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết (lớp 1, 2) và mang tính không chủ định Do đó, các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác và dễ mắc sai lầm Tuy nhiên trẻ em cũng đã bắt đầu có khả năng phân tách các dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng nào
đó Ở các lớp đầu của tiểu học, tri giác gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn, trẻ thường chỉ tri giác được những vật mà trẻ được cầm nắm, sờ mó Tri giác đánh giá không gian, thời gian của trẻ còn hạn chế Tri giác chưa chính xác độ lớn của vật, tri giác thời gian còn nhiều hạn chế
Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựa vào các đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể bên ngoài Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát Hoạt động phân tích, tổng hợp ở trẻ cũng còn sơ đẳng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thay đổi Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hiện tượng đã tri giác trước Ngoài ra,
"nói dối" là hiện tượng gắn liền với sự phát triển tưởng tượng của trẻ
Trí nhớ trực quan hình tượng của học sinh tiểu học phát triển hơn trí nhớ
từ ngữ logic Nhiều học sinh tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc Ghi nhớ gắn với mục đích giúp trẻ nhớ nhanh hơn, lâu hơn và chính xác hơn
Chú ý không chủ định phát triển, chú ý có chủ định còn yếu và thiếu tính bền vững Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển tưởng tượng ở trẻ
1.1.3.3 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
Trang 16- Tính cách của học sinh tiểu học: Tính cách của học sinh tiểu học mới
được hình thành nên chưa ổn định Các hành vi của trẻ thường mang tính xung đột cao (bột phát) và ý chí còn thấp Tính cách điển hình của trẻ là còn hồn nhiên và cả tin, trẻ thích bắt chước hành vi của người xung quanh hay trên phim ảnh Ở nước ta, học sinh tiểu học sớm có thái độ và thói quen tốt
đối với lao động
- Đời sống tình cảm: Đối tượng gây xúc cảm cho học sinh tiểu học
thường là sự vật, hiện tượng cụ thể Vì thế, xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể Các em rất dễ xúc cảm, xúc động Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh, chưa bền vững, sâu sắc Sự chuyển hóa cảm xúc từ trạng thái này sang trạng thái cảm xúc khác diễn ra rất nhanh
- Nhu cầu nhận thức: Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học đã phát
triển khá rõ nét, từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ (ở lớp
1, 2) đến nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối quan hệ, liên hệ (ở lớp 3, 4, 5) Nhu cầu đọc sách phát triển cùng với việc phát triển kĩ xảo đọc Cần phải hình thành nhu cầu nhận thức cho trẻ ngay từ sớm
Việc hiểu rõ các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Nếu ta tác động vào đối tượng mà không hiểu rõ được đặc điểm, tâm sinh lí của đối tượng thì quá trình tác động sẽ không đạt được kết quả như mong muốn Chính vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần phải nắm được đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để lựa chọn hình thức, phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp Có như thế việc dạy học mới đạt kết quả cao
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Sự phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Sống trong thời đại mới, thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; của khoa học kĩ thuật; của thời đại kinh tế tri thức đòi hỏi những con
Trang 17người lao động mới luôn phải năng động sáng tạo, tự tin, tự lực, tự cường Giáo dục chính là nơi đào tạo một cách có quy mô, có hệ thống ra những con người đáp ứng những yêu cầu trên của xã hội Sản phẩm của giáo dục chính là những con người mới trong xã hội
Thế giới đã chuyển sang thời kì kinh tế tri thức, cho nên đầu tư vào giáo dục là đầu tư có hiệu quả nhất cho sự hưng thịnh của mỗi quốc gia Cũng vì lí
do này mà nhu cầu học tập của con người ngày càng nhiều, trình độ dân trí ngày càng cao, một xã hội học tập đang được hình thành và ngày càng phát triển
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học Việc sử dụng có tính sư phạm những thành quả của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi hiệu quả của quá trình dạy học, hiệu quả của các phương pháp dạy học
Như vậy, khi đổi mới mục tiêu và nội dung phương pháp dạy học, những phương pháp đã và đang được sử dụng sẽ không đáp ứng được yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ năng động sáng tạo của tương lai nếu không có sự đổi mới về nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành dạy học Từ đó đòi hỏi sự đổi mới nội dung chương trình, đổi mới hình thức, phương pháp dạy học cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
1.2.2 Thực tế dạy và học môn Thủ công ở Tiểu học
1.2.2.1 Thực tế dạy học môn Thủ công ở Tiểu học
a) Đối tượng tìm hiểu
Đối tượng tìm hiểu của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là những giáo viên đang giảng dạy tại các khối lớp 1, 2, 3 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi Các giáo viên mà chúng tôi tiến hành tìm hiểu là những giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy Trong số này đa số các giáo viên đang tham gia các lớp học bồi dưỡng thường xuyên và tập huấn nâng cao trình độ
Trang 18chuyên môn Số lượng giáo viên mà chúng tôi đã phát phiếu điều tra là 14 giáo viên (6 giáo viên lớp 3, 6 giáo viên lớp 2, 2 giáo viên lớp 1)
b) Nội dung tìm hiểu
- Nhận thức của giáo viên về việc nội dung chương trình dạy học môn Thủ công ở Tiểu học hiện nay
- Nhận thức của giáo viên về việc đổi mới nội dung chương trình môn
Thủ công ở Tiểu học hiện nay
- Các phương pháp dạy học mà giáo viên thường sử dụng khi dạy học môn Thủ công ở Tiểu học
- Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học khi giáo viên dạy học môn Thủ công ở Tiểu học
- Việc sử dụng các phương pháp dạy học Thủ công của giáo viên phụ thuộc vào những yếu tố nào?
- Đánh giá của giáo viên về những thuận lợi và khó khăn trong dạy học môn Thủ công ở Tiểu học hiện nay
c) Phương pháp tìm hiểu
- Phương pháp điều tra bằng An-ket ( phiếu điều tra): Các nội dung tìm hiểu mà tôi đưa ra ở trên đều được thể hiện dưới dạng các câu hỏi trong các phiếu điều tra Các phiếu điều tra được phát cho các giáo viên để lấy ý kiến từ các giáo viên mà tôi điều tra
- Phương pháp trò chuyện: Tôi đã thu thập được một số thông tin thông qua việc trò chuyện, trao đổi với một số giáo viên có nhiều năm trong trong dạy học
- Phương pháp quan sát: Thông qua dự giờ một số tiết dạy Thủ công ở trường thực tập Nguyễn Văn Trỗi tôi đã tìm hiểu về việc thực hiện đổi mới nội dung chương trình môn Thủ công của các giáo viên, việc sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học môn Thủ công ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
Trang 19- Phương pháp thống kê, tổng kết: Những số liệu mà tôi thu được từ phiếu điều tra tôi xử lí thống kê, qua đó nhận xét khái quát về thực trạng dạy học môn Thủ công ở bậc Tiểu học
Việc tìm hiểu trên, bước đầu giúp tôi biết được thực tế việc thực hiện nội dung môn học, việc sử dụng các phương pháp dạy học môn Thủ công ở Tiểu học
Câu 2: Cô (thầy) nhận thấy việc đổi mới nội dung dạy học môn Thủ công ở Tiểu học hiện nay như thế nào?
Tất cả các giáo viên mà chúng tôi xin ý kiến đều cho rằng việc đổi mới nội dung dạy học môn Thủ công ở Tiểu học hiện nay là phù hợp Từ kết quả điều tra trên cho biết là những đổi mới nội dung dạy học môn Thủ công ở Tiểu học hiện nay là phù hợp
Câu 3: Trong dạy học môn Thủ công ở bậc Tiểu học, cô (thầy) đã sử dụng những phương pháp dạy học nào?
Tỉ lệ các phương pháp mà giáo viên thường sử dụng trong quá trình dạy học môn Thủ công ở bậc Tiểu học qua bảng sau:
STT Tên các phương pháp Có sử dụng Không sử dụng
Trang 20đó, giáo viên còn kết hợp với các phương pháp dạy học khác như phương pháp giảng giải 71,42%; phương pháp trực quan 85,71%; phương pháp làm việc với sách giáo khoa 64,28% Bên cạnh đó phương pháp chứng minh là phương pháp ít được sử dụng trong dạy học môn Thủ công và ở đây không được các giáo viên lựa chọn Qua kết quả trên cho thấy tất cả các giáo viên đều nhận thấy rằng trong một tiết dạy chúng ta không nên chỉ sử dụng duy nhất một phương pháp dạy học mà ta nên sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau Việc sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy nhằm giúp cho tiết dạy đạt hiệu quả cao
Câu 4: Các cô (thầy) đã sử dụng các phương pháp đó với mức độ nào trong dạy học môn Thủ công?
* Mức độ sử dụng các phương pháp được thể hiện qua bảng sau:
STT Tên các phương pháp Mức độ sử dụng
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
1 Phương pháp giảng giải 35,71% 53,71% 28,58%
2 Phương pháp vấn đáp 14,28% 42,85% 42,875
4 Phương pháp thực hành kĩ thuật 100% 0% 0%
5 Phương pháp trực quan 78,57% 14,28% 7,15%
Trang 216 Phương pháp làm việc với SGK 7,15% 57,14% 35,71%
8 Phương pháp nêu vấn đề 7,15% 28,57% 64,28%
Nhìn vào bảng thống kê trên, ta nhận thấy mức độ sử dụng các phương pháp dạy học vào môn Thủ công của giáo viên Trong các phương pháp trên thì phương pháp dạy học chủ yếu của môn Thủ công được các giáo viên khái thác tối đa: phương pháp thực hành kĩ thuật, phương pháp quan sát, phương pháp trực quan, phương làm việc với sách giáo khoa Nhóm các phương pháp thực hành, phương pháp sử dụng ngôn ngữ, phương pháp trình bày trực quan được các giáo viên thường xuyên sử dụng, phương pháp chứng minh không được các giáo viên lựa chọn sử dụng
Qua điều tra, chúng tôi còn nhận thấy: Phương pháp thực hành kĩ thuật, phương pháp trực quan, quan sát được sử dụng trong cả 2 tiết của môn Thủ công Phương pháp thực hành kĩ thuật được sử dụng nhiều hơn trong tiết thứ 2; phương pháp trực quan và phương pháp quan sát được sử dụng chủ yếu trong tiết 1, tiết cung cấp lí thuyết, quy trình làm sản phẩm
Câu 5: Khi lựa chọn phương pháp để dạy học các tiết học môn Thủ công, cô (thầy) thường phụ thuộc vào những yếu tố nào?
Trong phiếu điều tra, tôi đã đưa ra 3 yếu tố chủ yếu là: Điều kiện, phương tiện dạy học môn Thủ công ở lớp(trường); Thời gian tiết học; Nội dung bài dạy Qua điều tra, tôi đã thu được kết quả như sau:
- Điều kiện, phương tiện dạy học môn Thủ công ở lớp(trường): 28,57%
- Thời gian tiết học: 21,43%
- Nội dung bài dạy: 50%
Kết quả trên cho thấy việc lựa chọn các phương pháp vào dạy học môn Thủ công phụ thuộc vào cả 3 yếu tố trên Trong ba yếu tố đưa ra trên thì nội dung bài dạy là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học môn Thủ công
Trang 22Câu 6: Việc dạy môn Thủ công ở bậc Tiểu học hiện nay của cô (thầy), có những thuận lợi nào?
Nhận thức của giáo viên về những thuận lợi trong dạy học môn Thủ công ở bậc Tiểu học hiện nay:
- Hầu hết các học sinh yêu thích môn Thủ công, các em thích được thực hành
để rèn luyện sự khéo léo đôi tay của mình để làm ra các sản phẩm
- Hầu hết các giáo viên đều nhận thấy học sinh có đầy đủ sách vở, đầy đủ các dụng cụ, nguyên vật liệu…để giúp các em có thể hoàn thành được sản phẩm
- Nội dung chương trình phù hợp, các bài thực hành vừa sức với học sinh nên các em dễ dàng tự mình hoàn thành được sản phẩm làm cho các em thấy thích thú khi thực hành để tự mình tạo ra các sản phẩm
- Các giáo viên đều cho rằng các sản phẩm thủ công dễ làm, ít tốn kém kinh phí, thuận lợi cho việc giảng dạy
- Các em tiếp thu bài, nắm quy trình để làm ra sản phẩm rất nhanh
Câu 7: Việc dạy môn Thủ công ở bậc Tiểu học của cô (thầy) hiện nay gặp những khó khăn nào?
công ở bậc Tiểu học hiện nay:
thì cũng có không ít khó khăn mà người giáo viên phải đối mặt khi dạy môn Thủ công ở bậc Tiểu học hiện nay:
- Phần lớn các giáo viên đều đưa ra khó khăn là tranh quy trình chưa đầy đủ Giáo viên phải viết bảng phụ các quy trình nên tốn rất nhiều thời gian
- Một số bài có quy trình khó thực hiện nên giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để giảng giải, phân tích, làm mẫu cho học sinh từng bước của quy trình thì các em mới làm được
- Giáo viên phải chuẩn bị sẵn các chi tiết vật mẫu, nguyên liệu ở nhà trước để làm mẫu cho học sinh
Trang 23- Một số học sinh luôn quên đồ dùng học tập, các nguyên vật liệu, dụng cụ…
Vì vậy mà đôi khi giáo viên tốn nhiều thời gian để kiểm tra và nhắc nhở các
- Giáo viên đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học vào trong các bài dạy
- Giáo viên đã xác định được mục đích sử dụng của các phương pháp dạy học trong dạy học môn Thủ công ở bậc Tiểu học Đồng thời các giáo viên cũng đã xác định được cho mình những khó khăn và thuận lợi trong việc dạy học môn Thủ công để từ đó có thể phát huy hết được những mặt thuận lợi và khắc phục những khó khăn nhằm nâng cao kết quả dạy học môn thủ công
1.2.2.2 Tìm hiểu thực tế học môn Thủ công ở Tiểu học
a) Đối tượng tìm hiểu
Đối tượng tìm hiểu của tôi khi thực hiện đề tài này là học sinh ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) ở các khối lớp 1, 2, 3 Do điều kiện khách quan về thời gian tôi chỉ tiến hành tìm hiểu ở
một số lớp (khối lớp 1, 2, 3) với số lượng học sinh được điều tra là 326 em
b) Nội dung tìm hiểu
Nội dung tìm hiểu chủ yếu của tôi là thái độ học môn Thủ công của học sinh, nội dung tìm hiểu là các câu hỏi như sau:
- Em có thích học môn Thủ công không?
Trang 24- Em thích học tiết học nào của môn Thủ công: tiết cung cấp lí thuyết hay tiết luyện tập thực hành?
- Em có thích được quan sát nhiều tranh, vật mẫu khi học dạy môn Thủ công không?
- Các sản phẩm của em được hoàn thành ở trên lớp hay ở nhà?
- Các sản phẩm của em thường được đánh giá ở mức độ nào?
- Em thích nhất là hoạt động nào trong một bài học môn Thủ công?
c) Phương pháp tìm hiểu
- Phương pháp điều tra bằng An-két (phiếu điều tra): Các nội dung tìm hiểu
mà tôi đưa ra dưới dạng các câu hỏi như trên, được phát cho các học sinh ở lớp mà tôi tiến hành tìm hiểu để lấy ý kiến
- Phương pháp quan sát: Thông qua việc dự giờ một số tiết dạy môn Thủ công của giáo viên ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quan sát quá trình thực hành tạo ra các sản phẩm của học sinh, quan sát sản phẩm của học sinh, tôi đã thu được một số thông tin về tình hình học môn Thủ công của học sinh
- Phương pháp trò chuyện: Cũng qua việc trò chuyện với các học sinh về thái độ, nhận thức, sở thích học tập môn Thủ công của các em, tôi cũng đã thu thập thêm được các thông tin về việc học môn Thủ công của các em
d) Kết quả tìm hiểu
Thông qua việc thu thập ý kiến của học sinh, chúng tôi đã tiến hành xử lí
số liệu và đã đưa ra được một số kết quả như sau:
Câu 1: Em có thích học môn Thủ công không?
Trang 25được chú trọng dạy ở trường tiểu học và là một môn học tạo cho các em rất nhiều hứng thú trong học tập Sự hứng thú này không chỉ giúp cho các em học tốt môn học này mà nó còn tạo điều kiện tốt để các em học các môn học khác
Câu 2: Em thích học tiết học nào của môn Thủ công: tiết cung cấp lí thuyết hay tiết luyện tập thực hành?
BẢNG KẾT QUẢ SỐ 2
Em thích học tiết học nào của môn
Thủ công: tiết cung cấp lí thuyết hay
tiết luyện tập thực hành?
Tiết cung cấp lí thuyết
Câu 3: Em có thích được quan sát nhiều tranh ảnh, vật mẫu khi cô giáo dạy môn Thủ công không?
BẢNG KẾT QUẢ SỐ 3
Em có thích được quan sát nhiều tranh ảnh, vật mẫu
khi cô giáo dạy môn Thủ công không?
Có 92,2% ý kiến của học sinh được thăm dò đều có câu trả lời rằng các
em thích được quan sát nhiều tranh ảnh, vật mẫu khi cô giáo dạy môn Thủ
Trang 26công Như vậy, trước khi làm một sản phẩm Thủ công, nếu các em được quan sát các tranh ảnh, vật mẫu thì sẽ giúp cho các em có cái nhìn khái quát ban đầu về sản phẩm mà các em được thực hành Chính vì vậy, khi giáo viên hướng dẫn học sinh các thao tác mẫu, giáo viên nên sử dụng tranh ảnh, vật mẫu cho học sinh quan sát cùng với lời giảng của mình, học sinh sẽ nắm rõ hơn các thao tác mẫu một cách chi tiết và cụ thể hơn Như vậy, việc sử dụng tranh ảnh, vật mẫu trong bài dạy môn Thủ công sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nắm rõ hơn các thao tác, sẽ phát huy được hoạt động học tập tích cực của các em
Câu 4: Các sản phẩm của em được hoàn thành ở trên lớp hay ở nhà?
BẢNG KẾT QUẢ SỐ 4 Các sản phẩm của em được hoàn
ở nhà? Giáo viên cần phải tìm ra được những nguyên nhân đó và tìm cách khắc phục giúp cho tất cả các em đều có thể hoàn thành sản phẩm của mình ngay trên lớp học
Câu 5: Các sản phẩm của em thường được đánh giá ở mức độ nào?
BẢNG KẾT QUẢ SỐ 5 Các sản phẩm của em thường
được đánh giá ở mức độ nào?
Như chúng ta đã biết môn Thủ công là môn học được đánh giá bằng các cấp độ sau:
Trang 27- Học sinh hoàn thành sản phẩm đẹp được xếp loại: A+
- Học sinh hoàn thành được sản phẩm được xếp loại: A
- Học sinh chưa hoàn thành sản phẩm được xếp loại: B
Nhìn vào bảng kết quả trên, chúng ta thấy số học sinh hoàn thành sản phẩm đẹp chiếm hơn một nữa (50,65%), số học sinh hoàn thành được sản phẩm chiếm gần một nữa (44,15%), còn lại 5,2% số học sinh chưa hoàn thành sản phẩm Qua đây ta có thể thấy rằng nội dung các bài thực hành của môn Thủ công là vừa sức với học sinh Hầu hết các em có thể hoàn thành sản phẩm
và còn hoàn thành sản phẩm đẹp Bên cạnh đó, có một số học sinh chưa thể hoàn thành sản phẩm của mình Nguyên nhân có thể do các em mới bắt đầu làm quen với các dụng cụ, vật liệu để tạo ra các sản phẩm thủ công của mình
vì vậy mà đôi tay của các em chưa có sự khéo léo và còn chậm, các em nắm quy trình chưa kĩ nên khi thực hành có thể bị quên cách làm Cho nên giáo viên cần hướng dẫn kĩ các thao tác mẫu cho các em, hướng dẫn các em sử dụng dụng cụ, vật liệu một cách cẩn thận, rõ ràng
Câu 6: Em thích nhất là hoạt động nào trong một bài học môn Thủ công?
Hướng dẫn thao tác mẫu
Thực hành làm sản phẩm
Qua kết quả thu được từ bảng kết quả số 6, chúng ta thấy rằng tỉ lệ học sinh thích hoạt động thực hành làm sản phẩm (59,75%) và hoạt động lắng nghe giáo viên hướng dẫn thao tác mẫu (32,46%) chiếm tỉ lệ cao Tỉ lệ các em thích hoạt động quan sát và nhận xét mẫu chiếm số ít (7,79%) Như vậy, giáo viên cần chú ý cách dạy học các hoạt động khác nhau trong dạy học môn Thủ công, phải tạo cho các em sự hứng thú, tập trung chú ý cao ở tất cả các hoạt động khác nhau trong một tiết học để mang lại hiệu quả dạy học cao
Trang 28Câu 7: Khi làm xong sản phẩm em thường có cảm giác gì?
BẢNG KẾT QUẢ SỐ 7 Khi làm xong sản phẩm em
là các em thích và đem khoe các sản phẩm của mình làm với bạn, với ông bà,
bố mẹ, anh chị của mình Khi được mọi người khen sản phẩm của các em làm đẹp các em sẽ tiếp tục tự mình làm ra những sản phẩm đẹp như vậy nữa Bên cạnh đó thì số lượng những em cảm thấy bình thường sau khi hoàn thành sản phẩm của mình chỉ chiếm số lượng nhỏ (15,59%) Đây có thể là do các em cảm thấy các sản phẩm đó quá đơn giản, các em cảm thấy bình thường khi làm được các sản phẩm đó Trong dạy học Thủ công, giáo viên không chỉ hướng dẫn các em làm các sản phẩm mà giáo viên còn phải giáo dục cho các
em lòng yêu lao động, yêu các sản phẩm do chính mình làm ra Như vậy các
em sẽ thấy tự hào với những gì do chính mình làm ra và từ đó thích thú làm việc
* Kết luận chung:
- Học sinh hầu hết thích học môn Thủ công Đa số các em đều thích học tiết thực hành làm các sản phẩm Thủ công Bên cạnh đó các em cũng nhận thấy được tầm quan trọng của việc lắng nghe giáo viên hướng dẫn quy trình các bước làm sản phẩm
- Các em đều thích được quan sát nhiều tranh ảnh, vật mẫu…của các sản phẩm trước khi thực hành làm các sản phẩm Qua quan sát các vật mẫu, tranh
Trang 29ảnh các em sẽ có cái nhìn khái quát ban đầu về các sản phẩm sẽ làm Hầu hết các sản phẩm của các em được hoàn thành ở trên lớp, các sản phẩm đó thường được đánh giá ở mức độ hoàn thành đẹp và hoàn thành được sản phẩm Song vẫn còn một số học sinh vẫn chưa thể hoàn thành được sản phẩm ở trên lớp và xếp loại B (chưa hoàn thành được sản phẩm)
- Khi hoàn thành xong các sản phẩm, hầu hết các em đều cảm thấy tự hòa với sản phẩm mà mình làm ra Từ sự tự hào đó, các em sẽ thích thú làm các sản phẩm tiếp theo hơn nữa
Tiểu kết
Qua tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc tìm hiểu nội dung
và phương pháp dạy học môn Thủ công lớp 1, 2, 3, chúng tôi nhận thấy việc tìm hiểu về nội dung và phương pháp dạy học môn học là rất quan trọng Việc tìm hiểu về nội dung và phương pháp dạy học môn Thủ công giúp nắm rõ được nội dung của môn học để khi tiến hành các bài dạy đúng với yêu cầu và
có kết quả cao; tìm hiểu được những các phương pháp dạy học môn Thủ công (khái niệm về phương pháp, những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành phương pháp, những lưu ý khi sử dụng phương pháp…)từ đó có thể áp dụng các phương pháp đó vào trong dạy học Thủ công một cách có hiệu quả nhất
Để phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học môn Thủ công ở Tiểu học, chúng tôi sẽ đưa ra một số phương pháp dạy học nâng cao hiệu quả dạy học trong dạy học môn Thủ công ở chương tiếp theo
Trang 30CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN THỦ CÔNG LỚP 1, 2, 3 2.1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 2.1.1 Nội dung dạy học
2.1.1.1 Khái niệm nội dung dạy học
Nội dung dạy học là một nhân tố của quá trình dạy học, nó tạo nên nội dung hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động của học sinh trong mối quan hệ với nhau
Nội dung dạy học quy định hệ thống những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà học sinh cần nắm vững, đảm bảo hình thành ở học sinh những cơ sở của thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức, chuẩn bị cho chúng bước vào cuộc sống Hệ thống những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo này là một bộ phận của vốn kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy, khái quát hóa và hệ thống hóa
Nội dung dạy học là một bộ phận của kinh nghiệm xã hội của loài người,
là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hóa của dân tộc và của loài người
mà người giáo viên cần tổ chức cho học sinh lĩnh hội để đảm bảo việc hình thành nhân cách phát triển toàn diện của họ, đồng thời để góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa vật chất và tinh thần đó Nội dung dạy học mang tính khoa học, sư phạm, lịch sử, giai cấp
2.1.1.2 Thành phần của nội dung dạy học
- Hệ thống những tri thức về tự nhiên xã hội, tư duy về kĩ thuật và cách thức hoạt động
- Hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo hoạt động trí óc và lao động chân tay
- Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
- Những chuẩn mực về thái độ đối với tự nhiên, xã hội, đối với con người
Trang 31và cộng đồng
2.1.2 Phương pháp dạy học
2.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học nói chung là một khái niệm trừu tượng, vì nó không mô tả những trạng thái, những tồn tại tĩnh trong thế giới hiện thực, mà chủ yếu miêu tả phương pháp vận động trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Như vậy phương pháp là cách thức, con đường nhằm đạt được mục đích đề ra
Phương pháp dạy học là phương pháp được xây dựng và vận dụng vào một quá trình cụ thể - quá trình dạy học Đây là quá trình đặc trưng bởi tính hai mặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành song song trong mối quan hệ biện chứng: Hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển), hoạt động học của trò đóng vai trò tích cực, chủ động (tự tổ chức, tự điều khiển) Vì vậy, phương pháp dạy học là tổng hợp những cách thức làm việc của thầy và trò
Thuật ngữ phương pháp có nghĩa là con đường để đạt được mục đích dạy học Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học:
- Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn ( I.Ia.Larner, 1981)
- Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (I.Uk.Babanxki, 1983)
- Theo quan điểm điều khiển học, phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này
Trang 32- Theo bản chất của nội dung, phương pháp dạy học là sự vận động của nội dung dạy học
Như vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học và có thể nói rằng, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
2.1.2.2 Một số đặc điểm của phương pháp dạy học
- Tính khách quan và tính chủ quan của phương pháp dạy học
Tính khách quan: Mọi phương pháp dạy học đều phải xuất phát từ đối tượng, từ đặc điểm, quy luật vận động, cấu trúc của đối tượng Đối tượng của phương pháp dạy học vừa là nội dung dạy học vừa là người học
Tính chủ quan: Phương pháp dạy học do chủ thể giáo viên và học sinh tiến hành Hiệu quả của phương pháp dạy học phụ thuộc vào năng lực người
sử dụng Vì vậy, sự nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo tích cực trong việc sử dụng phương pháp dạy học là yếu tố quyết định hiệu quả dạy học
- Tính mục đích của phương pháp dạy học
Nội dung dạy học quy định phương pháp dạy học Nội dung dạy học được triển khai trên cơ sở mục đích dạy học đã đề ra Do vậy, mỗi mục đích dạy học đòi hỏi phương pháp dạy học tương ứng và mỗi phương pháp dạy học bao giờ cũng hướng tới mục đích cụ thể nào đó Mỗi phương pháp dạy học giúp học sinh đạt được trình độ năng lực nhất định Vì vậy, việc xác định mục đích hình thành năng lực ở học sinh để chọn phương pháp dạy học phù hợp là điều rất quan trọng
- Phương pháp dạy học phụ thuộc vào nội dung dạy học
Hêghen đã nói: " Phương pháp dạy học là sự vận động bên trong của nội dung", nội dung dạy học quy định phương pháp dạy học Nội dung phản ánh cái khách quan, phương pháp dạy học là cái chủ quan- là cách thức, là con đường nhằm truyền tải nội dung dạy học đã xây dựng Như vậy, nội dung dạy
Trang 33học thay đổi, kéo theo sự thay đổi của phương pháp dạy học Trong nhà trường tiểu học, học sinh được lĩnh hội hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua các môn học, do đó người ta phải sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau để phù hợp với từng nội dung của từng môn học Hay nói cách khác, nội dung dạy học mang tính toàn diện thì phương pháp dạy học cũng mang tính toàn diện
- Phương pháp dạy học phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lí của người học
Nhận thức của học sinh tiểu học chủ yếu là nhận thức cảm tính: Từ cụ thể (trực quan sinh động) đến trừu tượng, cho nên các phương pháp dạy học trực quan quan sát rất hay được sử dụng trong các nhà trường tiểu học Do tuổi của học sinh tiểu học còn thấp, năng lực chú ý và trí nhớ kém bền vững nên chúng ta không thể kéo dài nội dung bài học từ giờ này sang giờ khác sẽ làm cho học sinh không nắm được kiến thức của bài học Như vậy, giáo viên không nên sử dụng một phương pháp dạy học duy nhất trong giờ lên lớp của một môn học mà giáo viên nên kết hợp đan xen nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhằm giúp học sinh tập trung chú ý và gây hứng thú học tập
- Phương pháp dạy học gắn liền với phương tiện dạy học
Phương pháp dạy học và phương tiện dạy học là hai phạm trù độc lập nhau nhưng tồn tại và vận động trong mối quan hệ biện chứng với nhau Một phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn liền với phương tiện dạy học Vì nếu chúng ta sử dụng tốt một phương pháp dạy học nhưng không có phương tiện dạy học phù hợp đi kèm thì phương pháp dạy học đó sẽ chưa mang lại hiệu quả cao nhất cho bài dạy Phương tiện dạy học là một bộ phận của phương pháp dạy học vì nó thể hiện phương pháp dạy học Phương tiện dạy học sẽ trở nên vô nghĩa nếu khi nó không chứa đựng phương pháp dạy học Việc lựa chọn phương pháp dạy học phải tính đến những phương tiện dạy học đã có
Trang 34- Phương pháp dạy học gắn liền với đặc điểm đối tượng và hình thức tổ chức dạy học Có thể có nhiều phương pháp và hình thức để truyền tải cùng nội dung Song phải lựa chọn các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng và hình thức tổ chức Việc tìm hiểu rõ đối tượng để lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả của phương pháp dạy học Hình thức dạy học thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi phương pháp dạy học
- Phương pháp dạy học có cấu trúc đa cấp
Phương pháp dạy học thực chất là hệ thống các hành động và thao tác nên việc thiết kế quá trình dạy học đòi hỏi giáo viên bao giờ cũng phải xác lập một hệ thống các hành động, thao tác của thầy và trò tương ứng với từng đơn
vị, nội dung dạy học cụ thể và xây dựng chúng thành quy trình Phương pháp dạy học thực chất là sự thực hiện quy trình ấy trong thực tiễn
- Phương pháp dạy học phụ thuộc vào trình độ của giáo viên
Trong quá trình dạy học, giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Giáo viên phải có đủ đức và tài Ngoài năng lực nghiệp vụ sư phạm rất cần có một chút năng khiếu nghệ thuật múa, hát, vẽ Những điều này giúp ích cho nhiều giáo viên trong quá trình dạy học Việc vận dụng các phương pháp dạy học phụ thuộc vào trình độ, năng lực sư phạm của giáo viên Vì vậy muốn cho các phương pháp dạy học được sử dụng có hiệu quả thì trước hết người giáo viên cần nhận thức rõ về môn học này Giáo viên cần nắm vững các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học phù hợp giúp giáo viên đạt kết quả cao trong quá trình dạy học
2.1.2.3 Phân loại phương pháp dạy học
Căn cứ vào một số góc độ nhìn nhận phương pháp dạy học người ta có thể chia thành các nhóm phương pháp dạy học sau:
- Phân loại theo nguồn gốc, cách truyền tải và đặc điểm tri giác tài liệu của học sinh:
Trang 35+ Phương pháp dùng lời (thuyết trình, vấn đáp, tự đọc)
+ Phương pháp trực quan (minh họa, trình diễn, quan sát)
+ Phương pháp hoạt động thực tiễn
- Theo mức độ sáng tạo trong nhận thức (Skatkin, leene):
+ Phương pháp giải thích, minh họa
+ Phương pháp tái hiện
+ Phương pháp kiểm tra và tự kiểm tra kết quả học tập
- Theo đối tượng lĩnh hội (Đanhilop, Exipov):
+ Phương pháp tìm tòi tri thức mới
+ Phương pháp hình thành kĩ năng, kĩ xảo
+ Phương pháp kiểm tra, đánh giá kĩ năng kĩ xảo
Mức độ vận dụng từng phương pháp trên ở từng loại bài, ở từng lớp, từng giai đoạn dạy học không giống nhau Mỗi phương pháp dạy học trên đều mang những ưu điểm và nhược điểm riêng Để đạt được kết quả cao cho quá trình dạy học, đòi hỏi người giáo viên phải biết phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt trong từng bài dạy của mình
2.1.2.4 Việc lựa chọn và xây dựng quy trình thiết kế phương pháp dạy học
a) Tiêu chuẩn để lựa chọn phương pháp dạy học
Người giáo viên có toàn quyền lựa chọn phương pháp dạy học cho bài dạy của mình, trên cơ sở những điều kiện cụ thể, năng lực và sở trường của mình Tuy nhiên, phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
- Thực hiện tốt nhất mục tiêu bài học (mục tiêu của môn học và mục tiêu
cụ thể của bài học) thông qua việc giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ dạy học
Trang 36- Phát huy được tính chủ động, tự giác, tích cực và tự lực của học sinh, đảm bảo cho các em hoạt động và qua hoạt động mà rèn luyện được phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy logic và phương pháp hành động
b) Cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học
Lựa chọn phương pháp dạy học là nghệ thuật và kinh nghiệm của giáo viên Sau đây là một số cơ sở giúp giáo viên căn cứ vào đó để lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp:
- Căn cứ vào mối quan hệ có tính quy luật giữa mục tiêu - nội dung – phương pháp dạy học Trong mối quan hệ này, mục tiêu dạy học sẽ quyết định nội dung và phương pháp dạy học Nội dung dạy học chi phối việc lựa chọn phương pháp dạy học để truyền đạt nội dung đó
- Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và vốn kiến thức đã có (kiến thức và kinh nghiệm thực tế) của học sinh Các đặc điểm này sẽ giúp giáo viên định rõ mức độ tổ chức các hoạt động tự lực của học sinh Xu hướng chung ở các lớp trên cần phải tăng cường tính tự lực của học sinh trong hoạt động nhận thức, vì vốn hiểu biết và kinh nghiệm cũng như hứng thú của các
em đã cho phép thực hiện ý định này tốt hơn
- Căn cứ vào mục đích lí luận dạy học của bài dạy trong các khâu nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, hoàn thiện và vận dụng các kiến thức cũng như khâu kiểm tra, đánh giá kiến thức Đồng thời kết hợp với các hình thức tổ chức dạy học: dạy học trên lớp, vườn trường, tham quan, ngoại khóa
- Việc lựa chọn phương pháp dạy học còn phải căn cứ vào điều kiện cơ
sở vật chất và thiết bị dụng cụ dạy học cụ thể của từng trường Tiểu học Một phương pháp dạy học sẽ áp dụng rất có hiệu quả cho nội dung dạy học cụ thể, nếu như có đầy đủ phương tiện dạy học Song, nếu thiếu những điều kiện đó thì việc áp dụng phương pháp này nhiều khi lại có kết quả ngược lại
- Cuối cùng, giáo viên cần chú ý rằng không có phương pháp nào được coi
là vạn năng, dù phương pháp đó có giá trị cao trong dạy học đi nữa Lựa chọn
Trang 37phương pháp dạy học chính là nghệ thuật của giáo viên Nghệ thuật đó thể hiện ở chỗ kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học khác nhau, chú ý khai thác mặt tích cực của từng phương pháp, hạn chế mặt tiêu cực của nó Để làm được điều đó, giáo viên cần hiểu bản chất của từng phương pháp mà áp dụng một cách sáng tạo, không rập khuôn sách vở
Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chú ý thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, từ đó gây hứng thú cho người học Bên cạnh đó, ngoài việc chú ý đến nhu cầu, hứng thú của học sinh, người giáo viên cũng phải quan tâm ưu tiên lựa chọn các phương pháp mà học sinh và giáo viên đã thành thạo
Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là yêu cầu thường xuyên của công tác giáo dục và đào tạo, nhằm đào tạo
ra những con người đáp ứng những yêu cầu của xã hội Tuy nhiên, mỗi cách dạy đều có những ưu điểm và hạn chế riêng; không thể có một cách dạy tối ưu cho mọi trường hợp Thêm vào đó, việc thực hiện có hiệu quả mỗi cách dạy luôn đòi hỏi người dạy và người học phải có những phẩm chất, kỹ năng nhất định và những điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện Vì vậy, vấn đề không phải là cách dạy nào tốt hơn, mà là cách dạy nào phù hợp hơn Điều quan trọng nhất là cần xác định lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp học sinh học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao tìm tòi khám phá; lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập
2.2 NỘI DUNG GIA CÔNG GIẤY BÌA
2.2.1 Ý nghĩa của kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa
Tạo hình bằng giấy bìa là lao động thủ công nhẹ nhàng nhưng mang tính nghệ thuật, kĩ thuật, mỹ thuật Qua quá trình sử dụng các dụng cụ đơn giản như bút chì, thước kẻ, kéo để thực hiện các kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa,
Trang 38sự phát triển vận động của bàn tay, ngón tay trẻ thêm linh hoạt, chính xác, đôi tay các em sẽ trở nên khéo léo, nhanh nhẹn hơn Việc thực hành kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa góp phần củng cố kiến thức các môn học khác
hình dạng, kích thước như nhau, qua quy trình xé, gấp, cắt, dán, đan các em
có thể tạo ra vô số sản phẩm có hình dạng, phong phú, đa dạng, hấp dẫn Tạo hình bằng giấy bìa là hoạt động học tập có ý nghĩa giáo dục tình cảm
và nhân cách lao động rất lớn Những giờ học tạo hình bằng giấy bìa sẽ hướng cho các em biết yêu lao động, biết quý trọng sản phẩm lao động, rèn luyện cho các em tính cần cù, kiên nhẫn, khả năng quan sát, tính tích cực sáng tạo, khả năng tư duy, biết cảm nhận vẻ tươi sáng, hài hòa, cân đối của sản phẩm
2.2.2 Các kĩ thuật tạo hình bằng giấy bìa
2.2.2.1 Kĩ thuật xé, dán hình
a) Khái niệm: Xé, dán giấy là hình thức tạo hình bằng cách dùng các mẫu giấy
có màu đậm nhạt khác nhau để miêu tả đồ vật, con người, phong cảnh ở dạng đơn lẻ hay trong một bối cảnh nào đó
Nội dung xé, dán hình được bố trí ở chương trình lớp 1 Học sinh xé, dán hình cơ bản trước sau đó mới vận dụng kĩ thuật xé, dán hình đơn giản như: quả cam, cái cây, con gà con, lọ hoa Trên cơ sở kĩ thuật cơ bản về xé, ghép, dán các hình đã học, các em có thể sáng tạo những mẫu xé, dán các hình khác b) Quy trình xé, dán hình
Bước 1: Chuẩn bị vật liệu dụng cụ: ngoài việc chuẩn bị dụng cụ như bút chì, thước kẻ, hồ dán, giấy màu; cần chú ý chọn loại giấy xé cho phù hợp: giấy phải có độ dày vừa phải, nếu giấy quá mỏng, khi dán dễ bị rộp, giấy quá dày, quá dai sẽ khó xé và đường xé khó chính xác
Bước 2: Đếm ô, kẻ, vẽ
Nếu xé trên giấy thủ công có một mặt kẻ ô thì trước khi vẽ còn phải đếm
Trang 39ô và đánh dấu Bao giờ cũng vẽ ở mặt trái, mặt không có màu hoặc mặt kẻ ô của giấy thủ công Thao tác đếm ô đánh dấu, sau đó kẻ, vẽ phải chính xác thì hình xé mới đúng
Bước 3: Xé và dán
- Kỹ thuật xé giấy
Trước hết, phải xem hình cần xé có mấy bộ phận, yêu cầu về màu sắc như thế nào Mọi vật thể trong tự nhiên đều có hình dạng gần với hình nào đó của hình học, có thể khái quát hóa vật thể đó theo một hình cơ bản Trong khi khái quát hóa các bộ phận, chi tiết để quy về hình cơ bản cần chú ý đến tỉ lệ của từng bộ phận với nhau Muốn xé bất kì hình gì cũng phải quy nó về một hình cơ bản như hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác sau đó dùng bút chì vẽ hình ở mặt sau, vẽ phác từng ộ phận sau đó tiến hành xé Một tay cầm giấy màu, tay còn lại dùng để xé, ta sử dụng các ngón cái và ngón trỏ, các ngón khác có tác dụng đỡ giấy, 2 ngón cái đặt sát mặt trên của tờ giấy, ở mặt dưới tờ giấy, các ngón trỏ cũng đặt sát nhau
Khi xé đường thẳng nên vẽ rõ đường có thể gấp mép hình vẽ theo từng cạnh, miết kĩ, khi xé dùng hai tay kéo giấy sang hai bên đến hết nét vẽ thì dừng lại Cũng có thể tay trái giữ nguyên, tay phải kéo thẳng một đường xuống phía dưới thành dải dài
Khi xé đường cong phải xé từng nhát, một tay xé trở vào phía người xé, một tay xé trở ra Xé ít một, xé từ mép giấy phí trên xuống mép giấy phía dưới Không nên cầm giấy chặt quá, nếu cầm quá chặt, giấy dễ bị nhăn, cầm lỏng giấy dễ bị rách Khi xé cần phải xé tỉ mỉ, từ từ, không được xé mạnh dễ
bị rách giấy Nếu xé nhanh, mạnh thì hình xé sẽ không đẹp và không đều Khi xé, phải xé riêng từng bộ phận Ví dụ như khi xé cái cây, phải xé tán cây riêng, thân cây riêng sau đó mới ghép thành hình cái cây Khi xé dán ngôi nhà, con mèo ta cũng phải xé từng bộ phận sau đó mới ghép thành một bức tranh sinh động
Trang 40- Kĩ thuật dán: Có hai cách là dán theo cách chấm hồ lên nền giấy và phết
hồ lên mặt trái hình Nên dùng bút lông hoặc tăm bông để lấy hồ hoặc có thể dùng tay để bôi hồ Nếu bôi hồ trực tiếp bằng tay thì cần chuẩn bị khăn sạch
để lau tay Sau khi dán xong hướng dẫn học sinh đặt một tờ giấy trắng sạch lên hình vừa dán rồi vuốt nhẹ cho hình mẫu phẳng, đẹp và gắn chặt vào nền + Bôi hồ vào nền: xếp ướm các hình đã xé lên nền giấy, khi thấy cân đối
và hợp lí thì đánh dấu vào vị trí cần dán, sau đó nhấc các chi tiết ra khỏi nền Dùng ngón trỏ tay phải lấy hồ và chấm vào nền đúng chỗ vừa nhắc hình ra + Bôi hồ vào mặt trái hình: Xếp thử các hình lên mặt giấy nền đúng chỗ
đã định Sau đó, đánh dấu vị trí cần dán rồi nhấc từng chi tiết ra Lật mặt sau của các chi tiết và đặt lên một tờ giấy lót sạch hoặc trên một tờ giấy trong Tay trái giữ hình, ngón trỏ tay phải bôi hồ hoặc dùng tăm bông Hồ lấy vừa phải để có thể đi đều khắp hình chính Đặt hồ vào giữa hình, ngón tay đi đều theo vòng tròn rồi lan rộng ra xung quanh, đến mép hình vừa hết hồ là vừa khéo Cho các em lau tay, đặt hình phía có hồ vào vị trí đã định Cũng đặt một
tờ giấy sạch lên hình vừa dán, tay phải vuốt nhẹ để hình mẫu phẳng, gắn chặt vào nền Tiếp tục như vậy với các hình còn lại
Ví dụ 1: Xé, dán quả cam
Chuẩn bị: Bút chì để vẽ hình Dùng giấy màu đỏ hoặc màu vàng cam để xé
quả cam, giấy màu xanh hoặc màu nâu để xé cuống, giấy màu xanh để xé lá
Quy trình kĩ thuật: gồm 3 bước:
Bước 1: Vẽ các chi tiết : quả cam, cuống, lá cam
Bước 2: Xé các chi tiết
Bước 3: Dán quả cam