Mục đích nghiên cứu Khảo sát hệ thống bài tập có nội dung độc thoại trong phân môn Tập làm văn và Kể chuyện ở sách giáo khoa Tiếng Việt 2, trên cơ sở đó xây dựng một số bài tập bổ trợ n
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
phân môn Kể chuyện
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM TIỂU HỌC
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một trong những công cụ giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là điều kiện tồn tại của xã hội Nó là phương tiện để con người học tập, giao tiếp và tư duy Ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong ngôn ngữ nói người ta lại chia lời nói miệng thành: hội thoại và độc thoại Nếu như con người sử dụng ngôn ngữ dưới hình thức hội thoại để trò chuyện, tiếp nhận thông tin, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình…thì hình thức độc thoại lại được sử dụng khi trình bày, thuyết trình để người nghe hiểu về một vấn đề nào đó hoặc thuyết phục ai đó tin vào những gì mình nói…Để đạt được điều đó, con người cần phải có sự chuẩn bị trước về nội dung sẽ nói, có kĩ năng
và cả kinh nghiệm Như vậy, kĩ năng độc thoại cũng là một trong những kĩ năng cần thiết đối với sự thành công của mỗi con người Và nhất là trong xã hội ngày càng phát triển như hiện nay, chúng ta không chỉ cần những con người có kiến thức, có phẩm chất đạo đức, có ý tưởng sáng tạo mới lạ, độc đáo mà còn cần ở
họ khả năng trình bày những ý tưởng đó cho mọi người cùng hiểu, thuyết phục mọi người bằng chính ngôn ngữ của mình
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Cùng với các bậc học khác, bậc học này góp phần hình thành nhân cách và cung cấp tri thức cho những chủ nhân tương lai của đất nước thông qua chương trình các môn học Ngoài ra, trong tất cả mọi giờ dạy của các môn học ở những bậc học khác nhau, giáo viên đều có thể rèn luyện cho học sinh kĩ năng độc thoại Tuy nhiên, trong dạy học phân môn Tập làm văn và Kể chuyện của môn Tiếng Việt
ở Tiểu học, giáo viên có nhiều cơ hội hơn để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh
Vì đây là hai phân môn có nhiều bài tập đòi hỏi các em phải trả lời câu hỏi theo cách nghĩ riêng của bản thân hay kể lại câu chuyện cho thầy cô và các bạn nghe bằng ngôn ngữ của chính mình Từ đó, kĩ năng độc thoại của học sinh được hình thành một cách tự nhiên nhất và giúp các em tự tin khi trả lời câu hỏi của thầy
cô giáo, biết cách trình bày ý kiến của mình trước lớp hoặc biết thuyết phục các
Trang 3bạn đồng ý với ý kiến của mình khi thảo luận nhóm…Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động này, vốn từ, vốn sống của các em ngày càng được tích lũy và mở rộng Đây là tiền đề tạo nên sự thành công cho các em trong tương lai Do đó, hình thành và rèn luyện cho học sinh kĩ năng độc thoại là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu nội dung
rèn kĩ năng độc thoại cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn và phân môn Kể chuyện” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Giao tiếp là một trong những kĩ năng cần thiết ở mỗi con người Chúng ta không chỉ cần có kĩ năng hội thoại để trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với những người khác mà chúng ta cũng cần có kĩ năng độc thoại để trình bày vấn
đề trước tất cả mọi người Nhận thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ và giao tiếp, một số nhà ngôn ngữ học, giáo dục học và các ngành khoa học khác đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này Ở đây, chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả đi trước để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình
Tác giả Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh – “ Rèn luyện kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt”, Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ giáo viên, năm 1994 đã đưa khái
niệm về độc thoại và đàm thoại cũng như đưa ra các ví dụ minh họa cụ thể để người đọc có thể phân biệt được hai hình thức này
Lê Phương Nga, Nguyễn Trí –“Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng
Việt 2”, NXB Giáo dục, năm 2001 đã đề cập đến các dạng lời nói gồm có lời nói
miệng (khẩu ngữ) và lời viết (bút ngữ) Tương ứng với hai dạng lời nói này, kĩ năng tập làm văn được chia thành kĩ năng nói và kĩ năng viết Ngoài ra, tác giả chia lời nói miệng thành hai dạng là độc thoại và hội thoại Vì thế, trong phần
“Ứng dụng các dạng lời nói vào dạy học Tập làm văn ở Tiểu học” tác giả có nêu
“ bài làm văn miệng không chỉ có nhiệm vụ chuẩn bị cho bài làm viết mà nó còn
có nhiệm vụ rèn lời độc thoại cho học sinh theo yêu cầu của đầu bài”
Trang 4PGS.TS Nguyễn Trí – “ Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo
chương trình mới”, NXB Giáo dục, tháng 4 năm 2009, đưa ra quan điểm “ Dạy ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong đó dạy cả bốn kĩ năng đọc, viết, nghe, nói
là xu hướng chung trong việc dạy tiếng mẹ đẻ của nhiều nước trên thế giới” Từ
đó, tác giả nêu lên vấn đề về việc dạy bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Tiểu học ở nước ta để các em lấy đó làm công cụ giao tiếp, tư duy Đồng thời, tác giả cũng đưa ra khái niệm độc thoại, hội thoại và sự khác nhau của hai hình thức này để từ đó đi vào tìm hiểu phương pháp dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học
PGS.TS Nguyễn Trí - “Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm
giao tiếp ở Tiểu học”, NXB Giáo dục Việt Nam, tháng 9 năm 2009 đã đề cập
đến việc hình thành cho học sinh bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tương ứng với mỗi kĩ năng, tác giả lại đưa ra những phương pháp dạy học tích cực nhằm hình thành cho học sinh các kĩ năng này Tác giả cũng cho rằng cần phải dạy cho học sinh cả hai kĩ năng độc thoại và kĩ năng hội thoại trong tiết Tập làm văn miệng để các em biết trình bày suy nghĩ, nguyện vọng, tham gia các cuộc thảo luận hoặc sử dụng các nghi thức lời nói để giao tiếp với những người xung quanh…Tuy nhiên, tác giả đi sâu vào phương pháp dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học theo quan điểm giao tiếp
Như vậy, các tài liệu trên chủ yếu đưa ra quan điểm về việc hình thành cho học sinh bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; khái niệm về độc thoại, hội thoại cũng như những vấn đề cơ bản về dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học mà chưa
có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu về độc thoại và xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm rèn kĩ năng độc thoại cho học sinh Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trên vẫn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung rèn kĩ năng độc thoại cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm
văn và Kể chuyện
Trang 53.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu vấn đề rèn kĩ năng độc thoại có mặt người nghe cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn và
phân môn Kể chuyện
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát hệ thống bài tập có nội dung độc thoại trong phân môn Tập làm văn và Kể chuyện ở sách giáo khoa Tiếng Việt 2, trên cơ sở đó xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng độc thoại cho học sinh lớp 2 đạt hiệu quả cao hơn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát hệ thống bài tập có nội dung độc thoại trong phân môn Tập làm văn và Kể chuyện ở sách giáo khoa Tiếng Việt 2
- Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng độc thoại cho học sinh lớp 2 đạt hiệu quả cao hơn
5 Giả thuyết khoa học
Việc khảo sát hệ thống bài tập có nội dung độc thoại (bài tập độc thoại) trong hai phân môn Tập làm văn và Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2 có thể giúp cho giáo viên và sinh viên ngành giáo dục Tiểu học có cái nhìn tổng quát hơn về
hệ thống bài tập này
Việc xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng độc thoại cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn và Kể chuyện sẽ giúp các em có nhiều cơ hội thực hành để củng cố và nâng cao các kĩ năng độc thoại, từ đó vận dụng tốt vào quá trình học tập và giao tiếp Ngoài ra, nó còn giúp học sinh tích lũy, mở rộng vốn từ, vốn kinh nghiệm sống trong giao tiếp và tư duy
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 6- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê hệ thống bài tập có nội dung độc thoại trong phân môn Tập làm văn và Kể chuyện ở sách giáo khoa Tiếng Việt 2, phân loại các bài tập đó thành các kiểu dạng bài theo tiêu chí đề ra
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: so sánh, nhận xét về hệ thống bài tập độc thoại trong phân môn Tập làm văn và Kể chuyện ở sách giáo khoa Tiếng Việt 2 Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng độc thoại cho học sinh đạt hiệu quả cao hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5 Giả thuyết khoa học
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Khảo sát hệ thống bài tập độc thoại trong phân môn Tập làm văn và Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2
Chương 3: Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm rèn luyện kĩ năng độc thoại cho học sinh lớp 2
- Phần kết luận
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái quát về độc thoại
1.1.1 Khái niệm độc thoại
Theo Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh “ Độc thoại là hình thức nói cho
một hoặc nhiều người nghe mà không có chuyển đổi vai giữa người nói và người nghe” [5,193]
Theo Nguyễn Trí “ Độc thoại là lời một người nói với một hay nhiều
người nghe mà không cần lời đáp lại” [10,143]
Ví dụ
Đêm nay anh đứng gác ở trại Trăng ngàn và gió núi bao la khiến lòng anh man mác nghĩ tới trung thu và nghĩ tới các em Trăng đêm nay soi sáng xuống nước Việt Nam độc lập yêu quý của các em Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc, núi rừng, nơi quê hương thân thiết của các em…
Anh nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai…
Ngày mai, các em có quyền mơ tưởng một cuộc sống tươi đẹp vô cùng Mươi mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng này, dòng thác nước đổ xuống làm chạy máy phát điện; ở giữa biển rộng, cờ đỏ sao vàng phất phới bay trên những con tàu lớn Trăng của các em sẽ soi sáng những ống khói nhà máy chi chít, cao thẳm, rải trên đồng lúa bát ngát vàng thơm, cùng với nông trường to lớn, vui tươi
Trăng đêm nay sáng quá! Trăng mai còn sáng hơn Anh mừng cho các em vui tết trung thu độc lập đầu tiên và anh mong ước ngày mai đây, những tết trung thu tươi đẹp hơn nữa sẽ đến với các em
Theo Thép Mới
(Tiếng Việt 4, tập 1, trang 66)
Ví dụ trên đây là một đoạn độc thoại Đó là lời anh chiến sĩ trò chuyện với
các em học sinh nhân ngày “Trung thu độc lập” đầu tiên Đêm trung thu độc lập
đầu tiên, anh chiến sĩ đứng gác, ngắm trăng và trong lòng dạt dào cảm xúc Anh
Trang 8cứ thế suy nghĩ và cùng với các cảm xúc của anh đã tạo nên một bài độc thoại đặc sắc Anh nói tới vẻ đẹp của ánh trăng trung thu độc lập đầu tiên, anh nói tới viễn cảnh đầy tươi đẹp của tương lai sắp tới Vì chắc chắn người nghe (là các
em học sinh) không thể hiện diện trước mặt anh lúc đó nên không thể có lời đáp Những lời độc thoại này của anh được ghi lại thành một bài viết hoàn chỉnh
Như vậy, có thể hiểu “độc thoại” là nói cho một hay nhiều người nghe mà
không cần có sự đáp lời
1.1.2 Đặc điểm của độc thoại
Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về lời nói độc thoại của một số tác giả như Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Đào Ngọc, Nguyễn Quang
Ninh chúng tôi nhận thấy “độc thoại” có những đặc điểm sau:
- Hoàn cảnh xuất hiện
Lời độc thoại là lời nói của một người cho những người khác nghe Tuy nhiên, nếu cô lập lời nói của một người trong cuộc hội thoại thì chúng ta được một lời độc thoại
- Xét về mặt giao tiếp
Độc thoại thường xuất hiện trong một số hoàn cảnh giao tiếp cụ thể như: người báo cáo, thuyết trình trong các buổi họp, hội thảo; thầy giáo giảng bài, học sinh trình bày ý kiến, quan điểm của mình trong các buổi thảo luận… Để đạt hiệu quả cao hơn khi độc thoại thì người nói cần phải chủ động trong việc lựa chọn nội dung, định hướng nói, lựa chọn phương pháp nói cũng như cần thu thập tài liệu (tranh ảnh, vật thật…), xây dựng đề cương, suy ngẫm kĩ về từng nội dung sẽ trình bày Nếu không có sự chuẩn bị công phu, người độc thoại có thể bị lúng túng trong các hoàn cảnh giao tiếp Có thể thấy, người nói giữ vai trò chủ động nhưng phản ứng của người nghe cũng có tác động ít nhiều đến người nói trong từng hoàn cảnh giao tiếp Vì vậy người độc thoại cần phải dự đoán được những phản ứng đó của người nghe để có những thay đổi cho phù hợp
- Xét về mặt cấu trúc
Để lời độc thoại đạt yêu cầu khi giao tiếp, người nói độc thoại phải chú ý đến những mối liên kết bên trong (liên kết về nội dung, về cấu trúc và lô- gic, về
Trang 9cú pháp), biết sắp xếp dàn ý cẩn thận, cặn kẽ để bất cứ người nghe nào cũng hiểu được đồng thời lôi cuốn người nghe Vì vậy, trong khi triển khai nội dung lời độc thoại, người nói cần tạo ra những tình huống thu hút sự chú ý của người nghe, buộc người nghe phải suy nghĩ cùng người nói
Ngôn ngữ độc thoại có tính tổ chức cao vì vậy để nói độc thoại, người nói phải lập kế hoạch không phải cho từng câu riêng lẻ, từng phát ngôn rời rạc mà cho toàn bộ lời độc thoại của mình Kế hoạch này có khi được thảo ra trong đầu,
có khi được viết ra giấy thành những văn bản hoàn chỉnh
Ngoài ra, người nói cần có những cách xưng hô, lựa chọn các đại từ chỉ ngôi thích hợp để tạo lập mối quan hệ với người nghe cũng như cần chọn lọc những từ ngữ phù hợp khi nói Người độc thoại cũng có thể sử dụng các yếu tố phụ trợ như: ánh mắt, điệu bộ cử chỉ…để thu hút sự chú ý của người nghe hơn Tuy nhiên, người nói cần nhớ là không nên lạm dụng các yếu tố phụ trợ này
Qua phân tích các đặc điểm của độc thoại ở trên, chúng tôi thấy: Lời độc thoại thường hướng tới nhiều người, hướng tới những đối tượng xác định Muốn cho lời độc thoại có sức hấp dẫn, người nói cần nắm được nghệ thuật nói; biết lựa chọn nội dung hợp lí, tập trung ý chí và tư tưởng cao độ, hiểu biết đề tài một cách sâu sắc; sắp xếp các ý sẽ trình bày một cách có hệ thống, có lô-gic; biết cách điều khiển giọng nói; biết nắm bắt phản ứng của người nghe để tự điều chỉnh nội dung cũng như nghệ thuật nói…
1.1.3 Phân biệt độc thoại và hội thoại
- Điểm khác nhau giữa độc thoại và hội thoại:
+ Độc thoại là lời một người nói với một hay nhiều người nghe mà không cần lời đáp lại Độc thoại thường xuất hiện trong những hoàn cảnh như thuyết
Trang 10trình; báo cáo trong các cuộc họp hoặc phát biểu ý kiến trong hội nghị, trong các cuộc thảo luận nhóm
+ Hội thoại là cuộc trò chuyện tối thiểu giữa hai người trong đó người nói
và người nghe luôn có sự luân phiên lượt lời, tức là lúc người này nói thì người kia nghe và ngược lại
- Điểm giống nhau giữa độc thoại và hội thoại:
+ Cả hội thoại hay độc thoại đều phải có vấn đề đặt ra để giao tiếp, phải
có đích giao tiếp, tiến hành trong một hoàn cảnh không gian và thời gian nhất định cũng như cùng sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp…
Tuy nhiên, sự phân biệt độc thoại và hội thoại trong quá trình giao tiếp chỉ mang tính tương đối Trong cuộc độc thoại cũng có thể xen vào những cuộc hội thoại ngắn (ví dụ: cháu hỏi xen vào lúc bà đang kể chuyện) hoặc nếu cô lập lời nói của một người lời trong cuộc hội thoại thì ta được lời độc thoại ngắn Vì vậy,
có một số tác giả quan niệm rằng “Độc thoại là một dạng đặc biệt của hội
thoại”
1.1.4 Vai trò của độc thoại
Độc thoại có vai trò quan trọng trong đời sống Ngay từ xa xưa, từ thời nguyên thủy, con người đã biết kể lại những gì mình nghe, mình chứng kiến hoặc những gì mình biết, mình nghĩ cho mọi người trong bộ tộc cùng nghe Đó
có thể được coi sự khởi đầu của hình thức độc thoại là mang chức năng thông tin Cũng nhờ đó, ngôn ngữ thực hiện được chức năng giao tiếp và phát huy được đầy đủ đặc điểm, sức mạnh, vẻ đẹp của nó Hay nói cách khác, ngôn ngữ trở thành ngôn ngữ sống nhờ vào độc thoại (và cả hội thoại) Một ngôn ngữ nếu không được ai sử dụng sẽ trở thành ngôn ngữ chết Có hàng trăm ngôn ngữ đã không còn được người ta biết đến vì không còn ai sử dụng chúng để giao tiếp
Độc thoại là một hiện tượng xã hội, nó nảy sinh từ những nhu cầu của con người để trình bày suy nghĩ, quan điểm hay yêu cầu của mình đến với người khác Nó cũng là một công cụ đắc lực để con người thể hiện bản thân mình trước cộng đồng, xã hội Cùng với thời gian, khả năng độc thoại ở mỗi người sẽ phát triển và hoàn thiện dần, giúp cho con người có thể nghe và hiểu đầy đủ lời
Trang 11nói của người khác và từ đó nói được những lời nói đúng, rõ ràng; bộc lộ được ý nghĩ, thái độ, tình cảm của mình trước những tình huống xảy ra trong cuộc sống Cũng nhờ độc thoại con người có thể tiếp nhận thông tin, tư tưởng, tình cảm và tích lũy kinh nghiệm, tri thức, văn hóa, những thành tựu khoa học tiến bộ của loài người
Trong trường học, độc thoại cũng giữ một vai trò quan trọng Đối với giáo viên, đây là một trong những hình thức hữu hiệu để truyền đạt kiến thức đến với học sinh cũng như có thể hiểu được những suy nghĩ, tình cảm của học sinh Còn đối với học sinh, trước khi đến trường các em đã có một vốn từ tích lũy được trong cuộc sống hàng ngày Các em biết sử dụng vốn từ ấy để trình bày suy nghĩ, ý kiến, yêu cầu của bản thân cho mọi người xung quanh được biết, đồng thời để các em trao đổi với nhau về việc học tập, sinh hoạt, vui chơi hoặc nói với thầy cô về bài vở và những nội dung khác trong nhà trường Tuy nhiên, các em cần phải được học và rèn luyện kĩ năng độc thoại trong nhà trường từ cách phát
âm đến ngữ điệu, giọng điệu, học cách nói có văn hóa, lịch sự
Trong môn Tiếng Việt hiện nay, phân môn Tập làm văn và Kể chuyện đều chú trọng đến rèn kĩ năng nói độc thoại (và cả hội thoại) cho học sinh Các giờ tập làm văn nói có nhiệm vụ luyện cho học sinh khả năng độc thoại để trình bày các bài nói thuộc nhiều thể loại khác nhau như miêu tả, kể chuyện, viết thư, tường thuật…
1.2 Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
1.2.1 Vị trí của phân môn Tập làm văn
Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn khác nhau, trong đó phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn bản Nó có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy và học tiếng Việt xét trên hai phương diện:
- Phân môn Tập làm văn sử dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm cần phải hoàn thiện cả
Trang 12bốn kĩ năng nghe, nói, đọc viết, phải vận dụng các kiến thức đó được hoàn thiện
và nâng cao dần
- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy, tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ
đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt để giao tiếp, học tập tư duy
1.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn
- Sản phẩm của phân môn Tập làm văn là các bài văn viết hoặc nói theo các kiểu bài do chương trình quy định Để sản sinh được các bài văn này, ngoài các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, kĩ năng dùng từ, đặt câu học sinh còn cần có thêm nhiều kĩ năng khác Đó là các kĩ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn…Các kĩ năng này chủ yếu được rèn luyện và phát triển thông qua phân môn Tập làm văn Vì vậy, nhiệm
vụ cơ bản và chủ yếu của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học là cung cấp cho học sinh những kiến thức và hình thành ở các em những kĩ năng nói theo nghi thức lời nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả
- Ngoài thực hiện nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản ở dạng nói hay dạng viết, cùng các môn học khác, phân môn Tập làm văn đồng thời còn rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh Ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng; từ óc quan sát tới trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được tới khả năng nhào nặn các vật liệu có thực trong đời sống để xây dựng nên nhân vật, xây dựng cốt truyện Khả năng tư duy lôgic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình học các kiểu bài có phong cách nghệ thuật Việc phân tích đề, lập dàn ý…giúp cho khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn…của học sinh được rèn luyện tốt hơn
Trang 13- Trong quá trình dạy cho các em nghi thức lời nói, phân môn Tập làm văn cũng đồng thời dạy các em cách cư xử đối với mọi người như lịch sự, lễ phép trong nói năng Ngoài ra, để viết văn các em cần có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và vạn vật xung quanh Từ đây, tâm hồn và nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển Các em cảm nhận được vẻ đẹp của một buổi bình minh, một cây phượng ra hoa, một con mèo mướp nằm sưởi nắng, thấy được dáng vẻ đáng yêu của một em bé tập đi, tấm lưng còng của một cụ già thương con quý cháu…
1.2.3 Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn ở lớp 2
Nếu như ở lớp 1 chưa có phân môn Tập làm văn riêng, kĩ năng nói được hình thành cho học sinh một cách tích hợp thông qua bước luyện nói của giờ học vần và phần luyện nói sau bài tập đọc thì lên lớp 2 các em được học một tiết Tập làm văn riêng biệt để rèn luyện các kĩ năng nói, viết thông qua các bài tập thực hành
Để hình thành kiến thức và kĩ năng tập làm văn, chương trình Tập làm văn ở lớp 2 gồm hai mảng lớn: luyện nói và luyện viết
* Luyện nói được chia thành nói trong hội thoại và độc thoại thành cụm câu có liên kết thành đoạn bài
+ Nội dung dạy hội thoại bao gồm dạy cho các em các nghi thức lời nói như cảm ơn, xin lỗi, lời mời, lời đề nghị, lời yêu cầu, an ủi, chia buồn, ngạc nhiên, thích thú, đáp lời cảm ơn, đáp lời xin lỗi, đáp lời đồng ý, đáp lời chia buồn, đáp lời khen ngợi….Những nội dung này thường được dạy thông qua các tình huống giao tiếp giả định Sau đây là một tình huống giao tiếp giả định trong SGK Tiếng Việt 2, tập 1, trang 38 dùng để dạy học sinh biết cách nói lời cảm ơn khi được người khác giúp đỡ
Nói lời cảm ơn của em trong những trường hợp sau:
a, Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa
b, Cô giáo cho em mượn quyển sách
c, Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi
Trang 14+ Nội dung dạy độc thoại bao gồm độc thoại giới thiệu về bản thân, gia đình theo các câu hỏi gợi ý; kể ngắn theo tranh và câu hỏi; tả người và các em bắt đầu làm quen với dạng bài kể chuyện được chứng kiến Dưới đây là một dạng bài tập độc thoại trong nội dung chương trình, dựa vào câu hỏi gợi ý mà SGK đưa ra (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 12) học sinh trả lời các câu hỏi đó để tự giới thiệu về bản thân mình:
Cũng ở lớp 2, các em bắt đầu được học viết các văn bản nghệ thuật như
kể chuyện, miêu tả Với dạng bài tập kể chuyện, các em sẽ quan sát tranh sau đó
kể lại nội dung mỗi tranh và ghép lại để tạo thành câu chuyện Câu chuyện được xây dựng cần có cốt truyện và nhân vật hợp lí phù hợp với nội dung tranh vẽ Còn đối với thể loại văn miêu tả, ở lớp 2 chỉ yêu cầu học sinh tả những đối tượng gần gũi mà các em yêu mến, thích thú như: tả ngắn về bốn mùa, tả ngắn
về loài chim, tả ngắn về Bác Hồ, tả ngắn về cây cối, tả ngắn về biển…Vì vậy, qua bài làm của mình, học sinh phải gửi gắm tình yêu thương của mình đối với những gì các em miêu tả
1.3 Phân môn Kể chuyện trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
1.3.1 Vị trí của phân môn Kể chuyện
Thích nghe kể chuyện là một đặc điểm của trẻ em Từ thuở lên hai, ba tuổi, trẻ em đã say mê nghe kể chuyện Nhiều người không bao giờ quên những
kỉ niệm về các buổi tối nghe kể chuyện Puskin từng tâm sự “Buổi tối, tôi nghe
kể chuyện cổ tích và lấy việc đó bù đắp những thiếu sót trong sự giáo dục đáng
Trang 15nguyền của mình Mỗi truyện cổ tích ấy mới đẹp đẽ làm sao, mỗi truyện là một bài ca” Lớn lên các em đi học, biết chữ, có thể đọc được truyện nhưng vẫn
không giảm hứng thú nghe kể chuyện Phân môn Kể chuyện trong chương trình Tiểu học trước tiên đáp ứng được yêu cầu trên của trẻ
Cũng như Tập làm văn, Kể chuyện có vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng
mẹ đẻ, trước hết vì hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt
động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống
và tạo điều kiện để học sinh rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe, nói, đọc, viết trong hoạt động giao tiếp
Khi nghe thầy cô giáo kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học
ở dạng lời nói có âm thanh Khi học sinh kể chuyện là các em đang tái sản sinh hay sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói
Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của văn học Các tác phẩm văn học có tác động lớn đến tâm hồn và cảm xúc
của các em, đem lại những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh “Truyện cổ tích gắn
liền với cái đẹp góp phần phát triển các xúc cảm thẩm mĩ mà thiếu chúng không thể có tâm hồn cao thượng, lòng mẫn cảm chân thành trước nỗi bất hạnh, đau đớn và khổ ải của con người Nhờ có truyện cổ tích, trẻ nhận thức thế giới không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng trái tim Và trẻ em không phải chỉ có nhận thức mà còn đáp ứng lại sự kiện, hiện tượng của thế giới xung quanh, tỏ thái độ của mình với điều thiện, điều ác.” Vì vậy, truyện có khả năng bồi dưỡng tâm
hồn trẻ thơ Sự hiểu biết về cuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các
em sẽ nghèo đi nếu không có môn học Kể chuyện trong nhà trường
Với vai trò của hành động kể và sản phẩm truyện, phân môn Kể chuyện
có vị trí rất quan trọng trong dạy học Tiếng Việt
1.3.2 Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện
Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện
ở trẻ em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe - nói, đồng thời phát triển
tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho học sinh
Trang 16Trước hết, phân môn Kể chuyện phát triển kĩ năng nói cho học sinh Giờ
kể chuyện rèn cho các em kĩ năng nói trước đám đông dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật với các thủ thuật hấp dẫn người nghe, để có thể điều khiển được giọng kể hợp với diễn biến từng loại truyện khác nhau Đồng thời với kĩ năng nói, các kĩ năng nghe, đọc, kĩ năng ghi chép cũng được phát triển trong quá trình kể lại truyện đã nghe, đã đọc
Cùng với việc rèn các kĩ năng ngôn ngữ, tư duy của các em cũng được phát triển Học sinh được sống trong thế giới của các nhân vật, thâm nhập vào các tình tiết của truyện, tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ kể chuyện, từ đó tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mĩ của các em cũng được phát triển thêm
Phân môn Kể chuyện góp phần tích lũy vốn sống, vốn văn học cho học sinh Học sinh được tiếp xúc với tác phẩm văn học qua giờ kể chuyện Suốt bậc Tiểu học các em đã được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện với nhiều thể loại khác nhau Đó là những tác phẩm văn học có giá trị của Việt Nam và thế giới, từ truyện cổ dân gian đến truyện hiện đại Nhờ đó vốn văn học của học sinh được tích lũy dần Đây là những hành trang quí giá sẽ theo các em trong suốt cuộc đời mình
Không chỉ thế, giờ kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khơi gợi trí tưởng tượng cho học sinh Các em tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, những số phận, những cuộc đời muôn màu muôn vẻ và đặc biệt là cách cư xử của con người trong các trường hợp khác nhau…Nói cách khác, truyện kể đã làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người từ xưa đến nay cho học sinh
Thông qua các câu chuyện kể, trí tưởng tượng của học sinh ngày càng phong phú hơn Và trí tưởng tượng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự
sáng tạo của mỗi người Lê Nin cho rằng “Thật là bất công nếu nghĩ rằng óc
tưởng tượng chỉ cần thiết cho người làm thơ, ngay cả trong toán học cũng cần
có tưởng tượng, ngay cả việc phát minh ra phép tính vi phân và tích phân cũng
sẽ không thể nào có được nếu thiếu óc tưởng tượng Óc tưởng tượng là một phẩm chất vô cùng quý giá.”
Trang 171.3.3 Nội dung chương trình phân môn Kể chuyện ở lớp 2
Khác với phân môn Tập làm văn, phân môn Kể chuyện được dạy ở tất cả các lớp của bậc Tiểu học Ở lớp 2, mỗi tuần các em có một tiết kể chuyện và kĩ năng nghe kể (độc thoại và hội thoại) vẫn là những kĩ năng tiếp tục được rèn luyện cho học sinh nhưng với yêu cầu cao hơn so với ở lớp 1 Trong độc thoại
có thêm yêu cầu học sinh kể bằng lời của mình, kể có thêm một hoặc hai chi tiết sáng tạo, kể lại chuyện theo lời một nhân vật…theo các dạng bài kể từng đoạn hoặc kể lại toàn bộ câu chuyện Chẳng hạn trong bài tập 1(SGK Tiếng Việt 2,
tập 1, trang 97) yêu cầu học sinh kể lại đoạn 1 của câu chuyện “Sự tích cây vú
sữa” bằng lời của các em và hướng dẫn các em bằng một câu gợi ý “Ngày xưa, ở một nhà kia có hai mẹ con….”
Nội dung phân môn Kể chuyện ở lớp 2 gắn bó chặt chẽ với phân môn Tập đọc, nội dung 31 tiết Kể chuyện đều là kể lại những câu chuyện học sinh đã học trong bài tập đọc ở 2 tiết mở đầu mỗi tuần với chủ điểm phù hợp tâm lí và trình
độ nhận thức của các em Những câu chuyện trong bài học góp phần quan trọng hình thành ở các em nhận thức đúng đắn về thế giới xung quanh và trách nhiệm của bản thân
1.4 Một số đặc điểm cơ bản của học sinh giai đoạn đầu bậc Tiểu học
1.4.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
- Tri giác mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết (lớp 1 và 2), tuy nhiên trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tích tách dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn: trẻ cần phải nắm, sờ mó, quan sát sự vật, hiện tượng thì tri giác sẽ tốt hơn
- Tri giác và đánh giá không gian, thời gian còn hạn chế Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựa vào đặc điểm bên ngoài Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần mang tính khái quát Khi khái quát, học sinh Tiểu học thường dựa vào chức năng và công dụng của sự vật hiện tượng, trên cơ sở này chúng tiến hành phân loại, phân hạng Hoạt động phân tích tổng hợp còn sơ đẳng Việc học Tiếng Việt và Toán sẽ giúp các em biết phân
Trang 18tích tổng hợp Trẻ thường gặp khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ nhân quả
- Tưởng tượng còn tản mạn, ít tổ chức, hình ảnh tưởng tượng đơn giản, hay thay đổi Tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện
- Ghi nhớ không chủ định vẫn phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic Nhiều học sinh Tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc Ghi nhớ gắn với mục đích đã giúp trẻ nhớ nhanh hơn, lâu hơn và chính xác hơn
1.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh giai đoạn đầu bậc Tiểu học
Trước khi đến trường, trẻ đã có một vốn ngôn ngữ được hình thành từ cuộc sống thường ngày Nhưng khi đến trường, lần đầu tiên các em có ý thức
rằng không phải muốn nói thế nào cũng được mà phải phân biệt được cái gì “có
thể” và cái gì là “không thể” khi sử dụng ngôn ngữ Lời nói của các em ở giai
đoạn đầu bậc Tiểu học này có tính chất tình huống, là dạng ngôn ngữ hội thoại được tạo ra trong hoạt động vui chơi và các hoạt động khác Khi có tình huống, các em cảm thấy việc nói năng diễn ra rất dễ dàng, không chỉ vì nội dung nói quen thuộc mà còn vì theo mô hình câu đã được định sẵn, các em chỉ cần thay một số từ Ví dụ:
chuyện như “Em tên là gì?”, “Em học trường nào?”,“Em thích học môn học
gì?”…nhưng lại lúng túng trước câu hỏi “Hãy giới thiệu về bản thân” Bởi vì
với câu hỏi kiểu này, các em không chỉ trả lời bằng một câu mà phải nói bằng
Trang 19nhiều câu, trong khi câu hỏi không cho sẵn mô hình câu Đây chính là một khó khăn đối với các em
Không chỉ vậy, khi đến trường, các em còn cần chú ý tìm hiểu về ngôn ngữ của người khác và của chính mình trong khi nói để phát triển ngôn ngữ và
có ý thức điều chỉnh lời ăn tiếng nói của mình từ cách phát âm, cách dùng từ, đặt câu
* Tiểu kết
Trong chương này, chúng tôi đã đưa ra những cơ sở lí luận cơ bản về độc thoại như khái niệm, đặc điểm của độc thoại, phân biệt độc thoại và hội thoại, vai trò của độc thoại trong đời sống; nội dung chương trình phân môn Tập làm văn, phân môn Kể chuyện trong môn Tiếng Việt lớp 2; một số đặc điểm cơ bản
về nhận thức và ngôn ngữ của học sinh giai đoạn đầu bậc Tiểu học Đó là những
cơ sở lí luận cần thiết để chúng tôi tiếp tục thực hiện chương 2 và chương 3
Trang 20CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỘC THOẠI TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN VÀ KỂ CHUYỆN Ở SGK TIẾNG VIỆT 2
2.1 Khảo sát hệ thống bài tập độc thoại trong phân môn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2
2.1.1 Tiêu chí phân loại
Ở lớp 2, các bài tập tập làm văn chủ yếu là các bài tập thực hành Dựa vào nội dung kiến thức mà bài tập cung cấp cho học sinh cũng như yêu cầu của bài tập, chúng tôi thống kê phân loại các bài tập có nội dung độc thoại trong phân môn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2 thành các kiểu dạng như sau:
Dạng 1: Dạng bài kể chuyện
+ Kiểu 1: Kể về người, sự vật theo gợi ý
+ Kiểu 2: Sắp xếp thứ tự các bức tranh và kể lại câu chuyện
+ Kiểu 3: Kể lại nội dung theo tranh để tạo thành câu chuyện
+ Kiểu 4: Đặt tên cho câu chuyện vừa kể
Dạng 2: Dạng bài trả lời câu hỏi
+ Kiểu 1: Trả lời câu hỏi trong SGK
+ Kiểu 2: Đọc đoạn văn sau đó trả lời câu hỏi
+ Kiểu 3: Quan sát tranh sau đó trả lời câu hỏi
+ Kiểu 4: Nghe kể sau đó trả lời câu hỏi
Dạng 3: Nói lời của em
+ Kiểu 1: Nghe các bạn nói, sau đó nói lại những điều em đã nghe được
theo cách của mình
+ Kiểu 2: Dựa vào tranh, nói lời của em về bức tranh đó
2.1.2 Thống kê, phân loại hệ thống bài tập độc thoại trong phân m ôn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2
Qua kết quả khảo sát hệ thống các bài tập độc thoại trong phân môn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2, chúng tôi nhận thấy các bài tập độc thoại trong phân môn này khá phong phú và đa dạng Nội dung yêu cầu đơn giản, dễ hiểu, gần gũi với học sinh Số lượng bài tập độc thoại trong phân môn này là 26 bài
Trang 21trên tổng số 85 bài tập Tập làm văn ở cả hai học kì (chiếm 30,6 %) Dưới đây là bảng thống kê chi tiết của từng kiểu dạng bài tập có nội dung rèn cho học sinh kĩ năng độc thoại trong phân môn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2
Trang 232.1.3 Nhận xét
Qua việc khảo sát, chúng tôi nhận thấy hệ thống bài tập độc thoại trong phân môn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2 có số lượng bài tập chiếm một tỉ lệ tương đối cao (26 bài - chiếm 30,6%) được chia thành 3 dạng và 10 kiểu bài Tất
cả các bài tập độc thoại khi đưa vào phân môn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2 đều có nội dung phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của học sinh Trong
đó, số lượng bài tập của dạng bài “Trả lời câu hỏi” chiếm tỉ lệ lớn nhất, lên tới
16 bài trên tổng số 26 bài tập tập làm văn có nội dung rèn luyện kĩ năng độc
thoại cho học sinh (chiếm 18,8%); dạng bài “Kể chuyện” với 7 bài tập (chiếm 8,2%) và dạng bài “Nói lời của em” có số lượng bài tập ít nhất (3 bài, chiếm
3,6%) Ngoài ra, có thể thấy trong từng dạng, số lượng bài tập giữa các kiểu bài
chưa có sự cân đối Ví dụ như trong “Dạng bài kể chuyện”, kiểu bài “Kể về
người, sự vật theo gợi ý” có tới 4 bài tập trong khi các kiểu bài còn lại chỉ có
duy nhất một bài tập
Dưới đây là nhận xét chi tiết về từng kiểu dạng bài tập độc thoại trong phân môn Tập làm văn ở lớp 2
2.1.3.1 Dạng bài kể chuyện
Qua bảng thống kê cho thấy “Dạng bài kể chuyện” có 7 bài tập độc thoại
(chiếm 8,2%) và được chia thành 4 kiểu bài như sau:
a, Kiểu 1: Kể về người, sự vật theo gợi ý
Ở kiểu bài “Kể về người, sự vật theo gợi ý”, SGK đưa ra những yêu cầu
kèm theo đó là các gợi ý về người, sự vật để học sinh dựa vào đó kể thành bài hoàn chỉnh Kiểu bài này gồm có 4 bài, được phân bố ở học kì I: 3 bài, học kì II:
1 bài (chiếm 4,6%)
Ví dụ: Kể về ông, bà (hoặc một người thân) của em
Gợi ý:
a, Ông, bà (hoặc người thân) của em bao nhiêu tuổi?
b, Ông, bà (hoặc người thân) của em làm nghề gì?
c, Ông, bà (hoặc người thân) của em yêu quý, chăm sóc em như thế nào?
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 85)
Trang 24Như vậy, nhờ vào các gợi ý làm điểm tựa, học sinh sẽ hình dung rõ ràng hơn điều mình sẽ kể, giúp các em bớt lúng túng hơn khi không biết phải chọn kể những điều gì ở người, sự vật mà đề bài yêu cầu Thông qua kiểu bài tập trên, học sinh được rèn luyện kĩ năng nói có nội dung, đúng sự thật, phù hợp với yêu cầu và nói liền mạch theo đề tài đã cho Khi đó, học sinh cần phải nói mạch lạc, trôi chảy để người nghe hiểu rõ về đối tượng đang được nói tới Đồng thời học sinh phải nói hướng vào đề tài đang được đề cập, chẳng hạn học sinh không
được đang nói đến “ông” sau đó chuyển sang nói về “tình cảm yêu quý của em
đối với bà”
Ngoài ra, theo kết quả khảo sát của chúng tôi, trong 4 bài tập mà SGK đưa
ra, có tới 3 bài tập là kể về người thân trong gia đình, chỉ có duy nhất một bài tập yêu cầu học sinh kể về con vật mà các em biết nên có thể nhận thấy các đối tượng được đưa ra làm đề tài cho học sinh nói rất gần gũi và quen thuộc với các
em Vì vậy, kiểu bài “Kể về người, sự vật theo gợi ý” chủ yếu rèn cho học sinh
kĩ năng nói có nội dung xác thực, đúng đối tượng mà đề bài đưa ra, nói một cách trôi chảy, không lan man xa đề, hướng vào nội dung đang nói tới ở mức độ đơn giản, thể hiện được thái độ, tình cảm của bản thân đối với đối tượng được nói đến
b, Kiểu 2: Sắp xếp thứ tự các bức tranh và kể lại câu chuyện
Kiểu bài trên trong SGK chỉ đưa ra 1 bài tập duy nhất (chiếm 1,2%)
- Sắp xếp lại thứ tự các tranh dưới đây Dựa theo nội dung các tranh ấy,
kể lại câu chuyện “Gọi bạn”
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 30)
Nếu như ở kiểu bài 1, SGK đưa ra các gợi ý để học sinh dựa vào đó kể thì
ở kiểu bài “Sắp xếp thứ tự các bức tranh và kể lại câu chuyện”, những gợi ý đó
được thay bằng các bức tranh minh họa không được sắp xếp theo đúng thứ tự Học sinh phải sắp xếp đúng thứ tự các bức tranh, sau đó các em mới dựa vào tranh minh họa và nội dung bài để kể lại câu chuyện bằng lời của mình Từ đó, học sinh rèn luyện được kĩ năng nói logic, lưu loát, hướng vào câu chuyện đang
kể và kể đúng nội dung câu chuyện Ngoài ra, các em có thể sử dụng ngôn ngữ
Trang 25của mình để kể, miêu tả thêm các cảnh vật, chi tiết trong chuyện nhưng không làm thay đổi nội dung câu chuyện Như vậy, sau khi thực hiện bài tập trên, học sinh biết vận dụng vốn từ đã có của mình để kể lại sao cho đúng nội dung, logic
về trình tự diễn biến của câu chuyện, có thể làm rõ hơn một số chi tiết hoặc miêu
tả cảnh vật trong câu chuyện để lôi cuốn người nghe vào câu chuyện mình đang
kể Tuy nhiên, số lượng kiểu bài này quá ít (chỉ có một bài tập) nên theo chúng tôi cần phải đưa ra thêm một số bài tập để rèn luyện cho các em các kĩ năng nói
ở trên
c, Kiểu 3: Kể lại nội dung theo tranh để tạo thành câu chuyện
Số lượng bài tập của kiểu bài trên còn quá ít, SGK cũng chỉ đưa ra một bài tập như kiểu bài 2 (chiếm 1,2%)
- Dựa vào tranh vẽ, hãy kể lại câu chuyện có tên “Bút của cô giáo”
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 62)
Tuy nhiên không giống kiểu bài 2, học sinh cần phải sắp xếp tranh theo
đúng thứ tự rồi kể lại câu chuyện đã học thì ở kiểu bài “Kể lại nội dung theo
tranh để tạo thành câu chuyện”, SGK đưa ra tranh vẽ minh họa kèm theo lời
thoại của nhân vật theo đúng diễn biến của câu chuyện, các em tự tạo ra câu chuyện bằng vốn từ của mình Như vậy, có thể thấy nội dung chương trình Tiếng Việt mới được xây dựng theo cấu trúc đồng tâm, các bài tập đưa ra ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi học sinh phải vận dụng nhiều kĩ năng hơn
Trong bài tập trên, vì câu chuyện không có trong chương trình, các em chỉ dựa vào tranh vẽ để tạo ra câu chuyện bằng ngôn ngữ của mình nên học sinh được rèn cùng lúc nhiều kĩ năng Đó là kĩ năng quan sát để tìm hiểu các chi tiết, nhân vật trong tranh; khả năng sáng tạo nhân vật chính cùng với các tình tiết cho câu chuyện; cách sắp xếp diễn biến câu chuyện cho hợp lí; kĩ năng nói rõ ràng, lưu loát, nói có nội dung, có cốt truyện phù hợp với tranh vẽ và tự tin khi kể câu chuyện chính mình tạo ra Đồng thời, ngoài việc kể lại các chi tiết chính theo diễn biến câu chuyện, các em còn phải lựa chọn ngôi kể, giọng kể phù hợp; vận dụng ngôn ngữ nói của mình để miêu tả các nhân vật, chi tiết nhằm lôi cuốn người nghe vào câu chuyện Ngoài ra, qua việc kể chuyện cũng như lắng nghe
Trang 26câu chuyện của các bạn, vốn từ mới của học sinh được trau dồi và mở rộng thêm Như vậy, có thể thấy mức độ yêu cầu của bài tập này tương đối cao, các kĩ năng nói được rèn luyện cho học sinh cũng phức tạp hơn so với các kiểu bài trước đó
d, Kiểu 4: Đặt tên cho câu chuyện vừa kể
Kiểu bài “Đặt tên cho câu chuyện vừa kể” cũng chỉ có 1 bài tập duy nhất
trong hệ thống bài tập độc thoại ở SGK Tiếng Việt 2 (chiếm 1,2%)
- Đặt tên cho câu chuyện ở bài tập 1
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 47)
Bài tập trên yêu cầu HS đặt tên cho câu chuyện các em vừa tự kể trước
đó Đặt đúng tên gọi cho câu chuyện, học sinh sẽ hiểu được nội dung, ý nghĩa của cả câu chuyện đó, đồng thời nhan đề của câu chuyện cũng góp phần kích thích, khợi gợi sự tò mò, muốn nghe chuyện của người nghe Như vậy, thông qua việc lựa chọn từ ngữ thể hiện đúng nội dung câu chuyện, học sinh được rèn luyện thêm kĩ năng nói sao cho ngắn gọn, có trật tự, cô đọng, xúc tích nhưng vẫn đúng nội dung được nói tới, phù hợp với đề tài
2.1.3.2 Dạng bài trả lời câu hỏi
Trong tất cả các dạng bài tập độc thoại của phân môn Tập làm văn ở SGK
Tiếng Việt 2, “Dạng bài trả lời câu hỏi” có số lượng bài tập nhiều nhất Cụ thể
là có 16 bài tập trên tổng số 26 bài (chiếm 18,8 % trong tổng số bài tập Tập làm
văn) và được chia thành 4 kiểu: Trả lời câu hỏi trong SGK, Đọc đoạn văn sau
đó trả lời câu hỏi, Quan sát tranh sau đó trả lời câu hỏi, Nghe kể sau đó trả lời câu hỏi Trong đó có 7 bài được học ở học kì I, 9 bài học ở học kì II Như vậy,
có thể thấy dạng bài “Trả lời câu hỏi” khá phong phú về nội dung và kiểu bài
tập
a, Kiểu 1: Trả lời câu hỏi trong SGK
Kiểu bài “Trả lời câu hỏi trong SGK” có 4 bài tập (chiếm 4,6%), được
đưa vào học ở chương trình học kì I Học sinh sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi liên quan đến người hoặc sự vật, sự việc xác định Khi trả lời câu hỏi, các em phải tập trung vào nội dung được hỏi đến để trả lời cho đúng, tránh trường hợp trả lời
Trang 27không đúng hướng, lan man, xa nội dung được hỏi Như vậy, thông qua trả lời các câu hỏi một cách ngắn gọn, chính xác, học sinh sẽ được rèn luyện kĩ năng nói có nội dung, hướng vào nội dung câu hỏi, tránh cách nói dài dòng, lạc hướng, tối nghĩa để thể hiện thái độ, tình cảm của mình với đối tượng được nói đến như bạn bè, thầy cô Ngoài ra, các em còn biết giới thiệu một cách đơn giản
về bản thân qua việc trả lời rõ ràng mạch lạc các câu hỏi đưa ra Có thể thấy, mức độ yêu cầu của bài tập này còn khá đơn giản khi yêu cầu các em trả lời các câu hỏi có mô hình câu đã được định sẵn Có nhiều câu hỏi, học sinh chỉ cần thay một số từ ngữ là được câu trả lời
Ví dụ (1) Trả lời câu hỏi:
( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 12)
b, Kiểu 2: Đọc đoạn văn sau đó trả lời câu hỏi
Kiểu bài này gồm có 4 bài tập chiếm tỉ lệ 4,6% nhưng ở học kì I các em mới được làm quen (1 bài), 3 bài còn lại được phân bố ở học kì II
Ví dụ: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
Xuân về
Thế là mùa xuân mong ước đã đến! Đầu tiên, từ trong vườn, mùi hoa hồng, hoa huệ thơm nức Trong không khí không còn ngửi thấy hơi nước lạnh lẽo mà đầy hương thơm và ánh sáng mặt trời Cây hồng bì đã cởi bỏ hết những cái áo lá già đen đủi Các cành cây đều lấm tấm những mầm xanh Những cành xoan khẳng khiu đương trổ lá, lại sắp buông tỏa ra những tán hoa sang sáng, tim tím Ngoài kia, rặng râm bụt cũng sắp có nụ
Theo Tô Hoài
a, Những dấu hiệu nào báo mùa xuân đến?
Trang 28b, Tác giả đã quan sát mùa xuân bằng những cách nào (nhìn, nghe hay ngửi…)?
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 21)
Để thực hiện đúng yêu cầu của bài tập trên, các em phải đọc thật kĩ đoạn văn đã cho, tìm hiểu nội dung đoạn văn sau đó mới trả lời các câu hỏi mà SGK
đưa ra Như vậy, học sinh cần vận dụng cả hai kĩ năng: “kĩ năng đọc” và “kĩ
năng nói” khi thực hiện kiểu bài này Đọc để hiểu nội dung đoạn văn SGK đưa
ra, sau đó mới nói để trả lời câu hỏi Qua kiểu bài “Đọc đoạn văn sau đó trả lời
câu hỏi”, ngoài kĩ năng nói mạch lạc học sinh còn được rèn luyện kĩ năng trả lời
câu hỏi có đầu có cuối, nói năng lịch sự, không nói trống không, khi trả lời câu hỏi nhất thiết phải trả lời đúng sự thật, đúng vấn đề được hỏi một cách ngắn gọn, chính xác, tránh cách nói lan man, tối nghĩa hay mập mờ về nghĩa
c, Kiểu 3: Quan sát tranh sau đó trả lời câu hỏi
d, Trên bầu trời có những gì?
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 67) (2) Quan sát tranh, trả lời câu hỏi:
a, Bạn nhỏ đang làm gì?
b, Mắt bạn nhìn búp bê như thế nào?
c, Tóc bạn như thế nào?
d, Bạn mặc áo màu gì?
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 118)
Ở kiểu bài “Quan sát tranh sau đó trả lời câu hỏi”, SGK đưa ra 5 bài tập
ở cả hai học kì (chiếm tỉ lệ 6%) Những bức tranh để học sinh quan sát thường thể hiện những con người, sự vật, cảnh vật quen thuộc, gần gũi hoặc các em được biết thông qua sách báo, ti vi Từ việc được tận mắt quan sát các chi tiết
Trang 29của bức tranh, học sinh sẽ sử dụng các từ ngữ, cách diễn đạt của bản thân để trả lời câu hỏi mà SGK đưa ra Mức độ yêu cầu của bài tập này cũng cao hơn các
kiểu bài trước như kiểu bài “Đọc đoạn văn sau đó trả lời câu hỏi” vì học sinh
cần nói những gì các em quan sát được nhưng phải đúng vấn đề được hỏi Khi
đó, học sinh được rèn luyện kĩ năng sử dụng vốn từ của mình để trả lời đúng vấn
đề được hỏi, nói những điều xác thực, trả lời một cách rõ ràng, không ngắt quãng, không dài dòng, lan man hay quá đi sâu vào một chi tiết trong tranh
Đồng thời, khi trả lời các câu hỏi như “Sóng biển như thế nào?”, “Trên mặt
biển có những gì?” học sinh có thể dùng các từ ngữ miêu tả sinh động hay so
sánh với những hình ảnh khác để câu trả lời của mình lôi cuốn được người nghe Như vậy, cùng với việc trả lời câu hỏi và lắng nghe câu trả lời của bạn, khả năng nói rõ ràng, chính xác, lôi cuốn người nghe của học sinh sẽ được rèn luyện nhiều hơn
d, Kiểu 4: Nghe kể sau đó trả lời câu hỏi
Kiểu bài “Nghe kể sau đó trả lời câu hỏi” chỉ có ở học kì II của chương
trình Tiếng Việt lớp 2 với số lượng bài tập không nhiều (3 bài – chiếm 3,6%)
(1) Nghe kể chuyện và trả lời câu hỏi
Vì sao?
a, Lần đầu về quê chơi, cô bé thấy thế nào?
b, Cô bé hỏi cậu anh họ điều gì?
c, Cậu bé giải thích vì sao bò không có sừng?
d, Thực ra con vật mà cô bé nhìn thấy là con gì?
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 58)
Các bài tập trên SGK đưa ra có kèm theo tranh minh họa dưới mỗi nhan
đề câu chuyện Tranh minh họa có tác dụng giúp học sinh hiểu rõ hơn câu chuyện được nghe kể Để làm được các bài tập đó, yêu cầu các em phải vận dụng nhiều kĩ năng cùng một lúc Đầu tiên, các em cần phải nghe, nhớ, hiểu nội dung câu chuyện muốn nói gì, muốn khuyên điều gì sau đó dùng vốn từ của mình để trả lời câu hỏi SGK đưa ra Qua đây, học sinh sẽ rèn luyện cho bản thân các kĩ năng độc thoại như nói đúng sự thật được nghe, tôn trọng nội dung thông
Trang 30tin của câu chuyện, nói trôi chảy không ấp úng để thu hút sự chú ý của người nghe Đồng thời khi trả lời câu hỏi, học sinh có thể luyện tập cách nhấn giọng vào những chi tiết trọng tâm hay sử dụng cử chỉ để nhấn mạnh nội dung bài học
mà câu chuyện muốn gửi gắm để người nghe hiểu và tiếp thu bài học đó Có thể
thấy kiểu bài “Nghe kể sau đó trả lời câu hỏi” là kiểu bài có yêu cầu cao nhất trong ba kiểu bài của dạng bài “Trả lời câu hỏi” vì nó đòi hỏi các em phải ghi
nhớ câu chuyện và sử dụng từ ngữ phù hợp, cách diễn đạt trôi chảy, không ngắt quãng để trả lời đúng trọng tâm câu hỏi đưa ra
2.1.3.3 Dạng bài nói lời của em
Dạng bài “Nói lời của em” gồm có 3 bài tập được phân bố ở học kì I (chiếm 3,6%), được chia thành hai kiểu bài Đó là “Nghe các bạn nói sau đó nói
lại những điều em đã nghe được theo cách của mình” và “Dựa vào tranh nói lời của em về bức tranh đó” Yêu cầu chủ yếu của dạng bài này là học sinh sử dụng
vốn từ đã có của mình để nói lại những gì mình đã nghe, đã nhìn một cách rõ ràng, chính xác, đúng nội dung thông tin được nghe
a, Kiểu 1: Nghe các bạn nói, sau đó nói lại những điều em nghe được theo cách của mình
Kiểu bài “Nghe các bạn nói, sau đó nói lại những điều em nghe được theo
cách của mình” chỉ có 1 bài duy nhất được đưa vào chương trình học trong tuần
đầu tiên của học kì I Bài tập yêu cầu học sinh sau khi nghe các bạn trong lớp trả
lời các câu hỏi trước đó (Tên em là gì?, Quê em ở đâu?, Em học lớp nào, trường
nào?, Em thích những môn học nào?, Em thích làm những việc gì?) các em s ẽ
nói lại những thông tin mà mình nghe được về một bạn nào đó trong lớp Bài tập này rèn cho học sinh kĩ năng nghe độc thoại và nói lời độc thoại Dựa vào việc ghi nhớ những gì bạn đã trả lời, học sinh phải tự nói lại những điều đó bằng lời của mình sao cho đúng thông tin đã nghe, đúng sự thật và lưu loát để người không biết về bạn học sinh đó cũng có thể nắm được một vài thông tin cá nhân Như vậy, kĩ năng nghe, nói đúng sự thật sao cho rõ ràng sẽ được rèn luyện khi học sinh thực hiện kiểu bài này Tuy nhiên, với số lượng một bài tập mà SGK đưa ra như vậy là còn quá ít và nội dung yêu cầu của bài tập còn đơn giản so với
Trang 31trình độ của học sinh lớp 2 Bởi vì các em cùng học với nhau nên có nhiều thông tin các em không cần nghe bạn nói nhưng vẫn biết câu trả lời
b, Kiểu 2: Dựa vào tranh, nói lời của em
Kiểu bài “Dựa vào tranh, nói lời của em” gồm có 2 bài tập (chiếm 2,4%)
đều được học ở học kì I Các bài tậpcó kèm tranh minh họa, học sinh sẽ kể lại nội dung mỗi tranh bằng 1, 2 câu
(1) Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1, 2 câu để tạo thành một câu chuyện
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 12) (2) Hãy nói 3, 4 câu về nội dung mỗi bức tranh, trong đó có dùng lời cảm
ơn hay xin lỗi thích hợp
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 38)
Các bài tập trên đòi hỏi ở các em khả năng sáng tạo nhiều hơn các kiểu bài khác Bởi vì dựa vào những bức tranh, mỗi học sinh có một câu chuyện khác nhau, những nhân vật, tình huống truyện khác nhau thể hiện suy nghĩ, khả năng sáng tạo của mỗi người Từ đó, học sinh được rèn luyện và củng cố các kĩ năng độc thoại như nói có nội dung phù hợp với tranh vẽ, biết sắp xếp các tình tiết theo thứ tự hợp lí, khi nói hướng vào nội dung để tránh nói dài dòng, lan man Ngoài ra, các em còn phát huy trí tưởng tượng, khả năng tư duy và mở rộng vốn
từ thông qua việc kể câu chuyện của mình và lắng nghe câu chuyện của các bạn trong lớp Dần dần sau mỗi lần kể chuyện trước lớp, học sinh sẽ hình thành cho mình phong thái tự tin, kể chuyện lôi cuốn
Như vậy qua các nhận xét ở trên, có thể thấy các bài tập độc thoại trong phân môn Tập làm văn ở SGK Tiếng Việt 2 đưa ra có nội dung, yêu cầu phù hợp với đặc điểm tâm lí của học sinh giai đoạn đầu Tiểu học Các bài tập được
xây dựng theo cấu trúc đồng tâm, từ đơn giản đến phức tạp (đầu tiên các bài tập
có tranh vẽ minh họa làm điểm tựa giúp các em biết lựa chọn nội dung nói, d ần dần thay vào những bức tranh là những câu chuyện được nghe giáo viên kể sau
đó ghi nhớ để trả lời câu hỏi) Mức độ yêu cầu của các bài tập ngày càng cao và
càng về sau các bài tập yêu cầu học sinh vận dụng nhiều kĩ năng hơn Chẳng hạn
Trang 32như các bài tập lúc đầu chỉ yêu cầu học sinh dựa vào các gợi ý nói về người hoặc sự vật quen thuộc, càng về cuối chương trình mức độ yêu cầu ngày càng cao hơn, các em phải dựa vào tranh vẽ xây dựng thành một câu chuyện với đầy
đủ các nhân vật, tình tiết và cốt truyện hợp lí Các bài tập cũng đáp ứng được mục tiêu của dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, tức là thông qua việc thực hiện các kiểu bài này, kĩ năng nói độc thoại của học sinh được nâng cao Các em biết nói sao cho rõ ràng, mạch lạc, logic, nói có nội dung, đúng đề tài đang được nói tới, sử dụng từ ngữ có văn hóa và khi nói thể hiện sự tôn trọng, lịch sự cũng như cuốn hút người nghe vào vấn đề mình đang nói Tuy nhiên, số lượng bài tập giữa các kiểu bài trong mỗi dạng chưa có sự cân đối, có kiểu bài
có số lượng bài tập lớn như “Quan sát tranh sau đó trả lời câu hỏi” có tới 5 bài
tập trong khi đó, có những kiểu bài chỉ có một bài tập trong cả chương trình học
như “Kể lại nội dung theo tranh để tạo thành câu chuyện”, “Đặt tên cho câu
chuyện vừa kể”
2.2 Khảo sát hệ thống các kiểu dạng bài tập độc thoại trong phân môn Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2
2.2.1 Tiêu chí phân loại
Các bài học kể chuyện ở Tiểu học được chia làm ba loại: kể chuyện theo
tranh; kể chuyện đã nghe, đã học; kể chuyện được chứng kiến, tham gia Tuy
nhiên, các bài tập kể chuyện ở lớp 2 chỉ có một loại, đó là kể lại chuyện đã học,
đã đọc
Mặc dù chỉ có một loại bài kể chuyện nhưng những bài tập để thực hiện trong giờ kể chuyện lại rất phong phú, đa dạng Dựa vào nội dung yêu cầu của bài tập, chúng tôi thống kê phân loại các bài tập có nội dung độc thoại trong phân môn Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2 thành các kiểu dạng như sau:
Dạng 1: Kể chuyện theo tranh
+ Kiểu 1: Dựa vào tranh kể lại từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện
+ Kiểu 2: Dựa theo tranh, nói lại lời của nhân vật
Dạng 2: Kể theo lời gợi ý
+ Kiểu 1: Kể theo gợi ý hoặc tóm tắt cho sẵn
Trang 33+ Kiểu 2: Tự tóm tắt nội dung và kể từng đoạn câu chuyện
+ Kiểu 3: Dựa vào gợi ý để mở đầu câu chuyện bằng nhiều cách
Dạng 3: Kể chuyện dựa theo dung lượng lời kể
+ Kiểu 1: Kể lại từng đoạn
+ Kiểu 2: Kể lại toàn bộ câu chuyện
Dạng 4: Kể chuyện theo vai
+ Kiểu 1: Kể một đoạn chuyện bằng lời của mình
+ Kiểu 2: Kể theo lời của một nhân vật trong truyện
Dạng 5: Kể một chi tiết trong truyện theo tưởng tượng
2.2.2 Thống kê, phân loại hệ thống các bài tập độc thoại trong phân môn
Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2
Kết quả khảo sát cho thấy phân môn Kể chuyện ở lớp 2 gồm có 80 bài tập được phân bố đều ở cả hai học kì, trong đó có 59 bài tập có nội dung rèn cho học sinh kĩ năng độc thoại (chiếm 73,8%) và được chia thành nhiều kiểu dạng bài Sau đây là bảng thống kê, phân loại chi tiết từng kiểu dạng bài độc thoại trong phân môn Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2
Trang 352.2.3 Nhận xét
Qua bảng thống kê, phân loại ở trên, có thể thấy số lượng bài tập độc thoại trong phân môn Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2 chiếm một tỉ lệ tương đối cao (59/80 bài) và được chia thành nhiều kiểu dạng bài Mặc dù, các dạng bài
tập có số lượng bài không đều nhau, trong đó dạng bài “Kể chuyện theo tranh” (17 bài) và “Kể theo dung lượng lời kể” (21 bài) là hai dạng có số lượng bài tập
nhiều nhất nhưng các bài tập của các kiểu bài mà SGK đưa ra phù hợp với từng chủ điểm và trình độ của học sinh Những câu chuyện đã học không quá dài giúp các em dễ dàng hơn khi luyện tập kể từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện
Từ đó, kĩ năng kể chuyện của học sinh được rèn luyện cao hơn
Dưới đây là những nhận xét chi tiết về các kiểu dạng bài có nội dung rèn
kĩ năng độc thoại cho học sinh trong phân môn Kể chuyện ở SGK Tiếng Việt 2
2.2.3.1 Dạng bài kể chuyện theo tranh
Đây là dạng bài tập yêu cầu học sinh dựa vào điểm tựa là các tranh minh họa để kể lại câu chuyện đã được học trong các tiết Tập đọc trước đó nhằm rèn luyện kĩ năng kể đúng, rõ ràng từng đoạn câu chuyện tạo nền tảng cho việc kể toàn bộ câu chuyện đã học của học sinh Dạng bài này gồm có 17 bài tập (chiếm
21,25%) được chia thành 2 kiểu bài đó là: “Dựa theo tranh kể lại từng đoạn
hoặc toàn bộ nội dung câu chuyện” và “Dựa theo tranh nói lại lời nhân vật”
a, Kiểu 1: Dựa vào tranh kể lại từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện
Trong 17 bài tập độc thoại của dạng bài “Kể chuyện theo tranh” thì kiểu
bài này có 16 bài (chiếm 20%) Học sinh dựa vào các tranh minh họa để kể (các tranh này có thể được sắp xếp theo đúng thứ tự nội dung câu chuyện hoặc sắp xếp sai trật tự và yêu cầu học sinh sắp xếp lại các bức tranh theo đúng nội dung sau đó mới kể từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện)
Ví dụ (1) Dựa vào các tranh sau, kể lại đoạn 1 “Chuyện bốn mùa”
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 6) (2) Dựa theo tranh, kể lại từng đoạn câu chuyện “Có công mài sắt,
có ngày nên kim”
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 5)
Trang 36Như vậy, dựa vào các tranh vẽ, học sinh sẽ tự tin hơn khi kể chuyện Kiểu
bài “Dựa vào tranh vẽ kể lại từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện” rèn luyện cho
các em kĩ năng kể chuyện đúng nội diễn biến, đúng cốt truyện một cách rõ ràng, liền mạch; biết ngắt nghỉ hơi có chủ đích để kích thích sự hứng thú của người nghe, đồng thời tạo tâm thế tự tin cho học sinh khi kể toàn bộ câu chuyện vì khi
đã kể đúng từng đoạn câu chuyện thì kể toàn bộ câu chuyện sẽ dễ dàng hơn Đây
là kiểu bài tập ở dạng đơn giản, yêu cầu tất cả học sinh đều phải thực hiện được
ở mức độ kể đúng và rõ ràng
b, Kiểu 2: Dựa theo tranh nói lại lời của nhân vật
Kiểu bài “Dựa theo tranh nói lại lời của nhân vật” có duy nhất một bài
tập (chiếm 1,25%)
- Dựa theo tranh, hãy nhắc lại lời kể của Nai Nhỏ về bạn mình
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 24)
Kiểu bài trên cũng có điểm tựa là tranh vẽ nhưng yêu cầu học sinh dựa vào tranh minh họa để nhắc lại lời của một nhân vật trong chuyện Đồng thời, cùng với các gợi ý dưới mỗi tranh, các em sẽ tự tin hơn khi nhắc lại lời nói của nhân vật Nai Nhỏ bằng lời của mình Và khi đó, học sinh có thể sử dụng điệu
bộ, giọng điệu thích hợp để diễn tả lại những tình huống nguy hiểm mà Nai Nhỏ
đã trải qua cùng với người bạn Như vậy, kĩ năng nói kết hợp với sử dụng điệu
bộ, cử chỉ để phù hợp trong mỗi tình huống truyện được rèn luyện thông qua việc thực hành
2.2.3.2 Dạng bài kể theo gợi ý hoặc tóm tắt
SGK Tiếng Việt 2 đã đưa ra 14 bài tập của dạng bài “Kể theo gợi ý hoặc
tóm tắt” (chiếm 17,5%) và được chia thành 3 kiểu bài Nếu như ở dạng bài “Kể chuyện theo tranh”, học sinh sẽ dựa vào các điểm tựa là tranh vẽ thì ở dạng bài
này, điểm tựa đưa ra là các gợi ý hoặc câu tóm tắt nội dung từng đoạn chuyện Trong đó, các câu tóm tắt có thể được cho sẵn hoặc học sinh phải tự tóm tắt nội dung mỗi đoạn của câu chuyện bằng cụm từ hoặc câu Như vậy, có thể thấy mức
độ khó hơn của kiểu bài trên đối với học sinh Tuy nhiên, kĩ năng nói sẽ được
Trang 37nâng cao, các em không cần nhìn vào tranh vẽ nhưng vẫn có thể tự tin sử dụng vốn từ của mình kể chuyện rõ ràng, trôi chảy, lôi cuốn, hấp dẫn người nghe
a, Kiểu 1: Kể theo gợi ý hoặc tóm tắt cho sẵn
Trong 14 bài tập của dạng bài “Kể theo gợi ý hoặc tóm tắt” thì kiểu bài
“Kể theo gợi ý hoặc tóm tắt cho sẵn” có tới 10 bài (chiếm 12,5%)
Ví dụ
(1) Kể lại đoạn 1 câu chuyện “Phần thưởng” theo các gợi ý sau:
+ Các việc làm tốt của Na
+ Điều băn khoăn của Na
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 14) (2) Kể lại phần chính của câu chuyện dựa theo từng ý tóm tắt:
a, Cậu bé trở về nhà
b, Không thấy mẹ, cậu ôm lấy một cây xanh mà khóc
c, Từ trên cây, quả lạ xuất hiện và rơi vào lòng cậu
d, Cậu bé nhìn cây, ngỡ như được thấy mẹ
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 97)
Học sinh dựa vào các gợi ý hoặc nội dung tóm tắt đã cho sẵn để lần lượt
kể lại từng đoạn Từ đó, kĩ năng kể chuyện được nâng cao hơn, các em chỉ cần dựa vào các gợi ý để nhớ lại diễn biến chính trong từng đoạn sau đó kể lại bằng ngôn ngữ của mình một cách rõ ràng, trôi chảy thể hiện đúng ý nghĩa câu chuyện Ngoài ra, học sinh có thể kể rõ ràng hơn một tình tiết nào đó, thêm thắt một vài chi tiết phụ như chi tiết tả nhân vật, khung cảnh diễn ra sự việc miễn sao hợp lí và phù hợp với ý nghĩa câu chuyện Học sinh cũng có thể luyện tập cách nhấn giọng hay sử dụng giọng điệu khác nhau cho lời nói của các nhân vật để tạo nên sự cuốn hút riêng trong mỗi cách kể, tuy nhiên không được quá lạm dụng gây ra phản tác dụng đối với người nghe
b, Kiểu 2: Tự tóm tắt nội dung và kể từng đoạn truyện
(1) Hãy tóm tắt nội dung mỗi đoạn của câu chuyện “Những quả đào” bằng một cụm từ hoặc một câu
M: - Đoạn 1: Chia đào
Trang 38- Đoạn 2: Chuyện của Xuân
- Dựa vào kết quả bài tập 1, kể lại từng đoạn
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 92)
Kiểu bài “Tự tóm tắt nội dung và kể từng đoạn truyện” chỉ có một bài tập duy nhất (chiếm 1,2%) So với kiểu bài “Kể theo gợi ý hoặc tóm tắt cho sẵn” thì
kiểu bài này yêu cầu học sinh vận dụng nhiều kĩ năng hơn, mức độ phức tạp cũng cao hơn Vì học sinh phải tự tóm tắt nội dung mỗi đoạn bằng một cụm từ hoặc một câu sau đó mới dựa vào kết quả tóm tắt để kể Như vậy, nếu tóm tắt đúng tức là các em đã hiểu nội dung câu chuyện và sẽ kể đúng nội dung Vì vậy, kiểu bài này rèn luyện cho học sinh đồng thời nhiều kĩ năng khác nhau Đó là kĩ năng biết cách lựa chọn trong vốn từ của mình những từ ngữ phù hợp tóm tắt nội dung một cách chính xác, ngắn gọn; kĩ năng kể chuyện lưu loát, biết nhấn mạnh vào tình tiết nào hay lướt qua tình tiết nào để lôi cuốn người nghe vào câu chuyện, tạo nên sự tò mò kích thích người nghe muốn được nghe hết câu chuyện
c, Kiểu 3: Dựa vào gợi ý để mở đầu câu chuyện bằng cách khác
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi thống kê có 2 bài tập thuộc kiểu bài “Dựa
vào gợi ý để mở đầu câu chuyện bằng cách khác” (chiếm 2,5%)
( 1) Kể lại đoạn mở đầu câu chuyện trên (đoạn 1) bằng hai cách:
- Cách 1: theo trình tự như câu chuyện
- Cách 2:bắt đầu từ “Bố của Chi đang nằm viện để bố dịu cơn đau”, sau đó đến “Mới sáng tinh mơ bông hoa Niềm vui.”
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 105) (2) Kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách mở đầu dưới đây:
Đất nước ta có 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, có cách ăn mặc riêng Nhưng tất cả các dân tộc ấy đều sinh ra từ một mẹ Chuyện
kể rằng
(Tiếng Việt 2, tập 2, trang 118)
Trang 39Kiểu bài trên đưa ra cách mở đầu câu chuyện khác với cách mở đầu mà các em được học trong SGK Như vậy, khi kể các em sẽ cùng bắt đầu câu chuyện bằng cách mở đầu này nhưng mỗi học sinh phải có cách kể diễn biến câu chuyện khác nhau để lôi cuốn người nghe, tạo nên nét phong cách riêng cho mình Học sinh cần phải kể đúng cốt chuyện một cách rõ ràng nếu kết hợp với các cử chỉ, điệu bộ, giọng điệu thì càng tốt Các em cũng có thể khai thác rõ hơn một số chi tiết trong chuyện nhưng không làm lệch lạc nội dung và ý nghĩa câu chuyện
Thông qua các bài tập của kiểu bài “Dựa vào gợi ý để mở đầu câu chuyện
bằng cách khác”, các em sẽ biết cách mở đầu câu chuyện bằng cách gián tiếp để
kích thích sự tò mò và hứng thú của người nghe Qua đây góp phần rèn luyện cho học sinh kĩ năng kể chuyện lưu loát, thể hiện được nội dung và ý nghĩa mà câu chuyện muốn gửi gắm cũng như kĩ năng dẫn dắt người nghe vào vấn đề
mình sẽ nói khi độc thoại
2.2.3.3 Dạng bài kể theo dung lượng
Dạng bài kể theo dung lượng được chia thành hai kiểu bài: “Kể lại từng
đoạn” và “Kể lại toàn bộ câu chuyện” Số lượng bài tập của dạng bài này là
nhiều nhất (21 bài - chiếm 26,25%) Vì nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện là sau khi học xong, học sinh phải biết kể đúng câu chuyện đã học cho mọi người nghe nên số lượng bài tập yêu cầu kể toàn bộ câu chuyện đưa ra như vậy là hợp
lí, đáp ứng được nhiệm vụ và mục tiêu của phân môn Kể chuyện ở Tiểu học
Các bài tập của dạng bài “Kể chuyện theo dung lượng” đều đặt ra một yêu
cầu cho học sinh đó là sau khi đã luyện kể từng đoạn với tranh hoặc gợi ý, tóm tắt các em phải kể lại được toàn bộ câu chuyện ở mức độ kể đúng Nếu muốn kể hay, thu hút người nghe, học sinh phải kết hợp với điệu bộ, cử chỉ phù hợp Như vậy qua dạng bài trên, các em được rèn luyện và nâng cao các kĩ năng độc thoại như kể đúng cốt truyện một cách rõ ràng, không lan man kết hợp với cử chỉ điệu
bộ (nếu có thể) để thể hiện nội dung, ý nghĩa mà câu chuyện muốn gửi gắm tới người nghe; khả năng sử dụng từ ngữ sinh động miêu tả rõ ràng các chi tiết cũng
như tâm trạng nhân vật Vì học sinh được học các bài dạng bài “Kể chuyện theo