Một số đề xuất dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 thông qua bài tập có nội dung thực tiễn.. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng về vấn đề năng lực g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NĂM 2017
Đề tài:
TÌM HIỂU NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC
TIỄN CỦA HỌC SINH LỚP 5 Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Giảng viên hướng dẫn: TS Hoàng Nam Hải
Th.S Phan Minh Trung Sinh viên thực hiện: Lê Thị Mỹ Hạnh
ĐÀ NẴNG, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NĂM 2017
Đề tài:
TÌM HIỂU NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC
TIỄN CỦA HỌC SINH LỚP 5 Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Giảng viên hướng dẫn: TS Hoàng Nam Hải
ThS Phan Minh Trung Sinh viên thực hiện: Lê Thị Mỹ Hạnh
ĐÀ NẴNG, 2017
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT 7
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 8
1 Lí do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Giả thuyết khoa học 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5.1 Đối tượng nghiên cứu: 9
5.2 Phạm vi nghiên cứu: 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 10
6.2 Phương pháp quan sát 10
6.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục 10
6.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 10
7 Cấu trúc đề tài 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của môn Toán ở tiểu học 13
1.1.1 Vị trí môn Toán ở tiểu học 13
1.1.2 Mục tiêu dạy học môn Toán ở tiểu học 13
1.1.3 Nhiệm vụ môn Toán ở tiểu học 14
1.3 Năng lực và năng lực học tập Toán ở HSTH 19
1.3.1 Khái niệm năng lực 19
1.3.2 Năng lực học tập Toán học ở HSTH 20
1.4 Đặc điểm nhận thức của HSTH 22
1.4.1 Đặc điểm tri giác của HSTH 23
1.4.2 Đặc điểm tư duy của HSTH 24
1.4.3 Đặc điểm tưởng tượng của HSTH 25
1.4.4 Đặc điểm trí nhớ của HSTH 25
1.4.5 Đặc điểm chú ý của HSTH 26
1.4.6 Đặc điểm ngôn ngữ của HSTH 27
1.5 Lịch sử nghiên cứu 27
Trang 41.6 Kết luận chương 1 28
Chương 2 NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN 29
2.1 Về phạm trù thực tiễn 29
2.2 Bài toán có nội dung thực tế 29
2.3 Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn 30
2.3.1 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề 30
2.3.2.Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của học sinh 31
2.3.3 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn 32
2.3.4 Sự cần thiết của phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh trong dạy học 32
2.3.5 Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 thông qua bài toán có nội dung thực tiễn 32
2.4 Kết luận chương 2 33
Chương 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN CỦA HS LỚP 5 TẠI TP ĐÀ NẴNG 34
3.1 Thực trạng SGK Toán lớp 5 34
3.1.1 Thống kê số lượng bài toán có nội dung thực tiễn trong sách Toán 5 34
3.1.2 Kết luận chung 34
3.2 Thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết vần đề cho học sinh lớp 5 thông qua các bài toán có nội dung thực tiễn 37
3.3 Đánh giá thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn của HS lớp 5 ở trường Trần Cao Vân, phường Tân Chính, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng 38
3.3.1 Khái quát quá trình khảo sát 38
3.3.2 Phân tích kết quả khảo sát 40
3.3.3 Đánh giá chung 56
3.4 Kết luận chương 3 57
Chương 4 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN 58
4.1 Quan điểm chung 58
4.2 Một số định hướng đưa ra đề xuất dạy học 58
Trang 54.3 Một số đề xuất dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp
5 thông qua bài tập có nội dung thực tiễn 61
4.3.1 Đề xuất dạy học 1: Khai thác các bài toán có nội dung thực tiễn ở các chủ đề Toán học 62
4.3.2 Đề xuất dạy học 2: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích, tìm tòi lời giải các bài toán thực tiễn 77
4.3.2 Đề xuất dạy học 3: Mô hình hóa Toán học các bài toán thực tiễn trong dạy học Toán ở tiểu học 79
4.4 Kết luận chương 4 83
CHƯƠNG 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84
5.1 Mục đích thực nghiệm 84
5.2 Nội dung thực nghiệm 84
5.3 Kết quả thực nghiệm 84
5.4 Kết luận chương 5 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 89
PHỤ LỤC 91
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Không những chỉ có sự nổ lực, cố gắng của bản thân để hoàn thành khóa luận này
mà nó còn có sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS.Hoàng Nam Hải và ThS.Phan MinhTrung đã tận tình hướng dẫn và động viên để em hoàn thành đề tài khóa luận này
Em trân trọng cảm ơn đến toàn thể các giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học đã trang bị cho em những kiến thức bổ ích và thiết thực để em có được như ngày hôm nay Đồng thời, cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể cán bộ, nhân viên trong trường đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài này
Em xin trân trọng gửi lời tri ân đến Ban giám hiệu, quý thầy cô và toàn thể học sinh của trường tiểu học Trần Cao Vân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian thực tập, tạo mọi điều kiện để em thực hiện,hoàn thành tốt đề tài khóa luận này
Và cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, cổ vũ để em có thêm sức mạnh, tinh thần để hoàn thành khóa luận
Đây là lần đầu tiên thực hiện khóa luận nên sẽ không tránh khỏi những sai sót kính mong được sự đóng góp ý kiến tận tình của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2017
Người thực hiện
Lê Thị Mỹ Hạnh
Trang 8CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: " Giáo dục và Đào tạo là
quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài"
Giáo dục Tiểu học là cấp học cơ bản và nền tảng trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài của nhân cách, phát triển toàn diện và hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản để các em có thể học tập tiếp lên các bậc học cao hơn
" Trong các môn khoa học và kĩ thuật, Toán học giữ vị trí nổi bật Nó là môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác như cần cù và nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lí" (Phạm Văn Đồng, Thư
gửi các bạn trẻ yêu toán, Toán học và tuổi trẻ, 11 - 1967, tr.1)
Toán học có nguồn gốc thực tiễn và là chìa khóa trong hầu hết các hoạt động của con người Toán học có vị trí rất quan trọng, nó có ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ cũng như sản xuất và đời sống Với vai trò đặc biệt, Toán học trở nên thiết yếu đối với mọi ngành khoa học, góp phần làm cho đời sống xã hội càng hiện đại và văn minh hơn Bởi vậy, việc tìm hiểu và rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là điều cần thiết đối với sự phát triển của xã hội và phù hợp với mục tiêu của giáo dục Toán học
Để theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, chúng ta cần phải đào tạo những con người lao động có hiểu biết, có kỹ năng và có ý thức vận dụng những thành tựu của Toán học trong những điều kiện cụ thể nhằm mang lại những kết quả thiết thực Vì vậy, việc dạy học Toán ở trường phổ thông phải luôn gắn bó mật thiết với thực tiễn, nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng và giáo dục họ ý thức sẵn sàng ứng dụng Toán học một cách có hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế, sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc – như trong Nghị quyết Trung Ương 4 (Khóa VII) đã nhấn
mạnh: “Đào tạo những con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng
lực giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra, tự lo được việc làm, lập nghiệp và thăng
Trang 9tiến trong cuộc sống, qua đó góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Việc tìm hiểu và tăng cường rèn luyện năng lực vận dụng Toán học để giải quyết các bài toàn có nội dung thực tiễn là rất thiết thực và có vai trò quan trọng trong hoàn cảnh giáo dục hiện nay của nước ta
Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu năng lực giải quyết các bài
toán có nội dung thực tiễn của học sinh lớp 5 ở Thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu,
nhằm góp một phần nhỏ bé vào việc giảng dạy Toán ở phổ thông, cũng như sự nghiệp phát triển con người toàn diện cho xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng về vấn đề năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn của học sinh lớp 5; từ đó đề ra đề xuất dạy học để nâng cao phát triển năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn cho học sinh lớp 5
3 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm hiểu rõ về năng lực giải quyết vấn đề của HS lớp 5 thông qua giải các bài toán có nội dung thực tiễn, từ đó đưa ra một số đề xuất dạy học thích hợp phát triển năng lực giải quyết vấn đề thì sẽ góp phần rèn luyện, phát triển và nâng cao năng lực vận dụng những kiến thức Toán học vào thực tiễn cho học sinh tiểu học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toán học ở trường tiểu học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận về năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn của học sinh lớp 5
- Đánh giá thực trạng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 và thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua các bài toán có nội dung thực tiễn của HS lớp 5 ở thành phố Đà Nẵng
- Đưa ra một số để xuất dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS lớp 5 thông qua giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn cho HS lớp 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình dạy học Toán ở tiểu học
Trang 106 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu, thu thập, xử lý, chọn lọc và khái quát hóa các thông tin, những nghiên cứu thuộc các vấn đề có liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước Làm sáng tỏ các thuật ngữ liên quan đến đề tài Xây dựng các cơ sở khoa học về mặt lí luận cho đề tài
6.2 Phương pháp quan sát
Để có thêm thông tin khách quan về thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn của HS lớp 5
6.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục
Nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập của học sinh lớp 5 để tìm hiểu năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn của các em
6.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phỏng vấn giáo viên, các nhà quản lý giáo dục để thu thập thông tin, xin ý kiến về những biện pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, đề tài còn bao gồm các chương
sau:
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của môn Toán ở tiểu học
1.2 Nội dung chương trình và yêu cầu kiến thức môn Toán ở lớp 5
1.3 Năng lực và năng lực học tập Toán ở HSTH
1.4 Đặc điểm nhận thức của HSTH
1.5 Lịch sử nghiên cứu
1.6 Kết luận chương 1
Trang 11Chương 2: NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN
2.1 Về phạm trù thực tiễn
2.2 Bài toán có nội dung thực tiễn
2.3 Năng lực giải quyết vấn đề
2.3.1 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
2.3.2.Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
2.3.3 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn
2.3.4 Sự cần thiết của phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS
2.3.5 Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 thông qua bài toán có nội dung thực tiễn
2.4 Kết luận chương 2
Chương 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN CỦA HS LỚP 5 TẠI TP ĐÀ NẴNG
3.3.1.Khái quát quá trình khảo sát
3.3.2 Phân tích kết quả khảo sát
3.3.3 Đánh giá chung
3.4 Kết luận chương 3
Trang 12Chương 4: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA GIẢI QUYẾT BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN
4.1 Quan điểm chung
4.2 Một số định hướng đưa ra đề xuất dạy học
4.3 Một số đề xuất dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 thông qua giải quyết bài tập có nội dung thực tiễn
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của môn Toán ở tiểu học
1.1.1 Vị trí môn Toán ở tiểu học
Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết sức quan trọng bởi vì :
Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc trung học
Môn toán giúp HS nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực.Đối tượng nghiên cứu của toán học với quan hệ về số
lượng và hình dạng là thế giới của hiện thực vì thế ở tiểu học cho dù là những kiến thức đơn giản nhất cũng là những thể hiện của các mối quan hệ về số lượng và hình dáng không gian Chằng hạn, các mối quan hệ về số lượng bao gồm các quan hệ cộng, trừ, nhân, chia, lớn hơn, nhỏ hơn, bằng trên các tập hợp N, Q hoặc những quan hệ giữa những đại lượng VD : quãng đường, t, v; diện tích với chiều dài, chiều rộng hoặc với cạnh đáy, chiều cao… Các hình dáng không gian bao gồm : các biểu tượng hình học : hình tròn, HCN, HV…
Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh Những thao tác tư duy có thể rèn luyện cho HS qua môn Toán bao gồm phân tích tổng hợp, so sánh, tương tự, kết quả hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hoá, đặc biệt hóa Các phẩm chất trí tuệ có thể rèn luyện cho HS bao gồm :tính độc lập, tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn, tính sáng tạo VD : giải 1 bài toán nào đó GV ghi ra
1.1.2 Mục tiêu dạy học môn Toán ở tiểu học
Dạy học môn Toán ở tiểu học có những mục tiêu sau đây:
- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản
- Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống
Trang 14- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt chúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
Ngoài ra môn toán góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất các đạo đức của người lao động trong xã hội hiện đại
1.1.3 Nhiệm vụ môn Toán ở tiểu học
Môn Toán có vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục học sinh tiểu học Toán học cung cấp hệ thống các kiến thức và phương pháp nhận thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống lao động và học tập của mỗi con người Đây là công cụ quan trọng
để học tập các môn học khác và để nhận thức thế giới xung quanh cũng như thành công trong các hoạt động thực tiễn Môn Toán có nhiều đóng góp trong việc hình thành và phát triển các phẩm chất trí tuệ, các năng lực tư duy logic, tư duy sáng tạo, linh hoạt, năng lực giải quyết vấn đề và phương pháp suy nghĩ, tác phong làm việc khoa học, ý chí kiên cường nhẫn nại trong công việc Vì thế mà việc dạy học môn Toán có nhiệm vụ là:
- Cung cấp những kiến thức cơ bản, đơn giản, có quan hệ với thực tiễn về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân về các mặt: khái niệm ban đầu cách đọc, viết các số trên cơ sở nắm chắc hệ ghi số vị trí, việc so sánh và sự sắp xếp theo thứ tự tuyến tính, một số tính chất quan trọng nhất của tập hợp các số đó và các phép tính trong tập hợp các số đó
- Hình thành cho học sinh những biểu tượng ban đầu nhưng đúng đắn về các hình hình học thường gặp, biết nhận dạng, phân biệt được các hình, cung cấp cho học sinh những khái niệm hình học cơ bản gắn với hình dạng không gian như độ dài đoạn thẳng, đường gấp khúc, chu vi và diện tích của các hình đơn giản Hình thành cho học sinh kĩ năng vẽ hình, biến đổi hình thành hình có cùng diện tích
- Cung cấp những kiến thức cơ bản về đại lượng: độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời gian, thống kê đơn giản
- Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống
Trang 15- Bước đầu góp phần phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt chúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
1.2 Nội dung chương trình và yêu cầu kiến thức môn Toán ở lớp 5
Môn Toán được xem là một trong những môn học chiếm vị trí chủ đạo trong nhà trường tiểu học.Đây được xem là những kiến thức cơ bản, tiền đề để cho các em có thể học tập tốt hơn ở các lớp cao hơn Ở tiểu học, số tiết dạy ở mỗi lớp trong một tuần có
Nội dung chương trình học của các em xoay quanh 5 chủ đề chính, cụ thể ở từng lớp
Nội dung chương trình môn Toán ở lớp 5 cụ thể như sau:
- Viết và chuyển đổi các số đo đại lượng dưới dạng số thập phân
- Các phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số thập phân:
+ Phép cộng, trừ các số thập phân có đến 3 chữ số ở phần thập phân Cộng, trừ không nhớ và có nhớ đến 3 lần
+ Phép nhân các số thập phân có tới 3 tích riêng và phần thập phân của tích có không quá 3 chữ số
Trang 16+ Phép chia các số thập phân với số chia có không quá 3 chữ số (cả phần nguyên
và phần thập phân) và thương có không quá 4 chữ số, với phần thập phân có không quá ba chữ số
- Tính chất giao hoán của phép cộng và phép nhân, tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng các số thập phân
- Thực hành tính nhẩm:
+ Cộng, trừ không nhớ hai số thập phân có không quá 2 chữ số
+ Nhân không nhớ một số thập phân có không quá 2 chữ số với một số tự nhiên có
- Cộng, trừ các tỉ số phần trăm; nhân, chia tỉ số phần trăm với một số
- Mối quan hệ giữa tỉ số phần trăm với phân số thập phân, số thập phân và phân
số
2 Đại lượng và đo đại lượng:
2.1 Đo thời gian Vận tốc, thời gian chuyển động, quãng đường đi được
- Các phép tính cộng, trừ các số đo thời gian có đến hai đơn vị đo
- Các phép tính nhân, chia số đo thời gian với 1
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về: vận tốc, thời gian chuyển động, quãng đường
đi được và mối quan hệ giữa chúng
2.2 Đo diện tích Đo thể tích
- Đêcamet vuông, hectômet vuông, milimet vuông; bảng đơn vị đo diện tích
- Giới thiệu các đơn vị đo diện tích ruộng đất: a và ha Mối quan hệ giữa m2 và
Trang 173 Yếu tố hình học:
- Tính diện tích hình tam giác, hình thoi, hình thang Tính chu vi và diện tích hình tròn
- Giới thiệu hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ hình cầu
- Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương Giới thiệu công thức tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần và thể tích hình trụ, hình cầu
4 Yếu tố thống kê:
- Nêu nhận xét một số đặc diểm đơn giản của một bảng số liệu hoặc một biểu đồ thống kê
- Thực hành lập bảng số liệu và vẽ biểu đồ dạng đơn giản
5 Giải bài toán:
Giải bài toán, chủ yếu là các bài toán có đến ba bước tính trong đó có:
5.1 Các bài toán đơn giản về tỉ số phần trăm
- Tìm tỉ số phần trăm của hai số
- Tìm một số, biết tỉ số phần trăm của số đó so với số đã biết
- Tìm một số biết một số khác và tỉ số phần trăm của số đã biết so với số đó 5.2 Các bài toán đơn giản về chuyển động đều, chuyển động ngược chiều và cùng chiều
- Tìm vận tốc biết thời gian chuyển động và độ dài quãng đường
- Tìm thời gian chuyển động biết độ dài quãng đường và vận tốc chuyển động
- Tìm độ dài quãng đường biết vận tốc và thời gian chuyển động
5.3 Các bài toán ứng dụng các kiến thức đã học để giải quyết một số vấn đề của đời sống
Dạy học các chủ đề trong Toán ở lớp 5
*Mục tiêu dạy học Số học ở lớp 5:
- Bổ sung những hiểu biết cần thiết về phân số, số thập phân, hỗn số để chuẩn bị cho việc học số thập phân
- Ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức, kĩ năng về số tự nhiên và phân số; về các phép tính với số tự nhiên và phân số
Trang 18- Nhận biết khái niệm ban đầu về số thập phân; đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số thập phân
- Biết thực hành tính (cộng, trừ, nhân, chia) với các số thập phân (kết quả phép tính là
số tự nhiên hoặc số thập phân có không quá ba chữ số ở phần thập phân)
- Biết tính giá trị biểu thức có đến ba dấu phép tính; biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính, biết vận dụng một số tính chất của các phép tính để tính một cách hợp lí; nhân (chia) nhẩm một số thập phân với (cho) 10; 100; 1000…
- Biết viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời gian dưới dạng số thập phân
* Mục tiêu dạy học Đại lượng và đo đại lượng ở lớp 5:
- Ôn tập bảng đơn vị đo độ dài, bảng đơn vị đo khối lượng
- Nhận biết tên gọi, kí hiệu; độ lớn của các đơn vị đo diện tích: dam2, hm2, mm2 và ha; bảng đơn vị đo diện tích
- Biết chuyển đổi giữa các đơn vị đo diện tích thông thường
- Nhận biết khái niệm Nhận biết tên gọi, kí hiệu các đơn vị đo thể tích thông dụng:
- Nhận biết về vận tốc, quãng đường, thời gian
- Biết cộng, trừ các số đo thời gian có đến hai đơn vị đo; nhân (chia) các số đo thời gian có đến hai đơn vị đo với (cho) số tự nhiên (kháo 0)
* Mục tiêu dạy học “Các yếu tố thống kê” ở lớp 5:
- Củng cố kĩ năng: Đọc và phân tích “Bảng số liệu thống kê” và “Biểu đồ”; tính số trung bình cộng
Trang 19+ Đọc và phân tích số liệu trên biểu đồ hình quạt
* Mục tiêu dạy học “Các yếu tố hình học” ở lớp 5:
- Nhận biết hình tam giác, biết tính diện tích hình tam giác
- Nhận biết hình thang, biết tính diện tích hình thang
- Nhận biết hình tròn, đường tròn Biết tính chu vi và diện tích hình tròn
- Nhận biết hình hộp chữ nhật, hình lập phương Biết tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật và hình lập phương
- Nhận biết hình trụ và hình cầu
- Biết tính diện tích của một số hình bằng cách chia hình đã cho thành các hình đã có cách tính diện tích
* Mục tiêu dạy học “Giải bài toán có lời văn” ở lớp 5:
- Các bài toán liên quan đến tỉ số (ôn tập đầu năm)
- Các bài toán liên quan đến quan hệ tỉ lệ (bổ sung ở phần ôn tập đầu năm)
- Các bài toán về tỉ số phần trăm
- Các bài toán về chuyển động đều
- Các bài toán có nội dung hình học…
1.3 Năng lực và năng lực học tập Toán ở HSTH
1.3.1 Khái niệm năng lực
Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau do sự lựa chọn dấu hiệu khác nhau
NL được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck 1998)
NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể (OECD, 2002)
Trang 20NL là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống (QuébecMinistere de l’Education, 2004)
NL là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống (Nguyễn Công Khanh, 2012)
NL là khả năng vận dụng đồng bộ các kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất đã tích lũy được để ứng xử, xử lí tình huống hay để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả (Lê Đức Ngọc, 2014)
Theo Từ điển Tiếng Việt, “năng lực” có hai nghĩa: “1 Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”; “2 Phẩm chất tâm lí
và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [18, tr.974]
Theo Tâm lý học, năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực ấy [13, tr.575]
Như vậy nghĩa thứ hai trong từ điển là tương tự với khái niệm về năng lực trong tâm lý học Trong bài khóa luận này sẽ quan niệm năng lực như trong tâm lý học Với nghĩa đó, năng lực có thể được rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển…
Cũng theo tâm lý học, để có một loại năng lực nào đó, phải có một loại hoạt động Vận dụng toán học vào thực tiễn là một loại hoạt động riêng, phổ biến và cần thiết
trong đời sống Như vậy, chúng ta có thể nói đến năng lực giải quyết các bài toán
thực tiễn
1.3.2 Năng lực học tập Toán học ở HSTH
NL học tập của HS là tổ hợp đặc điểm tâm lí cá nhân HS thể hiện trong hoạt động học tập đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ học tập đặt ra
Theo V A Cruchetxki: “Những NL toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lí
cá nhân (trước hết là những đặc điểm của hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêu cầu của hoạt động học tập toán, và trong những điều kiện vững chắc như nhau thì là
Trang 21nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với
tư cách là một môn học, đặc biệt nắm vững tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực Toán học”
Theo Đỗ Tiến Đạt và nhóm nghiên cứu Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2012),
có nhiều cách liệt kê NL được hình thành và phát triển qua học tập toán do xuất phát
từ những góc độ khác nhau Đồng quan điểm trên, chúng tôi xác định những NL đặc thù của môn Toán, đó là:
- NL tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa, khái
quát hóa, tưởng tượng, suy luận - giải quyết vấn đề, xử lí và linh cảm trong quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào thực tiễn
NL tư duy của học sinh tiểu học trong quá trình học toán thể hiện qua các thao tác chủ yếu như: phân tích và tổng hợp, so sánh và tương tự, đặc biệt hóa và khái quát hóa , bước đầu chú ý đến NL tư duy logic trong suy luận tiền chứng minh; các NL tư duy phê phán và sáng tạo, cũng như các yếu tố dự đoán, tìm tòi kể cả trực giác toán học và tưởng tượng không gian
- NL giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận
thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống có vấn
đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường
Đây là một trong những NL mà môn Toán có nhiều thuận lợi để phát triển cho người học qua việc tiếp nhận khái niệm, quy tắc toán học và đặc biệt là qua giải toán
- NL mô hình hóa hay còn gọi là NL toán học hóa tình huống thực tiễn là khả
năng chuyển hóa một vấn đề thực tế sang một vấn đề toán học bằng cách thiết lập và giải quyết các mô hình toán học, thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế
- NL giao tiếp toán học là khả năng sử dụng các dạng ngôn ngữ nói, viết và biểu
diễn toán học để làm thuyết trình và giải thích làm sáng tỏ vấn đề toán học NL giao tiếp liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ toán học (chữ, kí hiệu, biểu đồ, đồ thị, các liên kết logic ) kết hợp với ngôn ngữ thông thường NL này được thể hiện qua việc hiểu các văn bản toán học, đặt câu hỏi, trả lời câu hỏi, lập luận khi giải toán
Trang 22- NL sử dụng các công cụ, phương tiện học toán (bao gồm các phương tiện thông
thường và bước đầu làm quen với sử dụng công nghệ thông tin)
Với mỗi người khác nhau thì năng lực học tập toán học cũng khác nhau Năng lực này được hình thành và phát triển trong quá trình học tập và rèn luyện của mỗi học sinh
1.4 Đặc điểm nhận thức của HSTH
Việc hiểu rõ đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học giữ một vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí của đối tượng thì cũng như chúng ta đập búa trên một thanh sắt nguội Do đó, trong quá trình dạy học tiểu học, giáo viên cần phải căn cứ vào những đặc điểm tâm lí lứa tuổi để lựa chọn và xây dựng phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học phù hợp,
có như thế phương pháp dạy học mới mang lại hiệu quả như mong muốn
Theo một số kết quả nghiên cứu về tâm lí lứa tuổi và tâm lí học sư phạm của học sinh tiểu học, Nguyễn Bá Minh và Nguyễn Thị Mỹ Trinh đã chỉ ra rằng:
Kết quả nghiên cứu của H Valong cho rằng: Sự phát triển trí tuệ của đứa trẻ phải thường xuyên gắn bó với toàn bộ quá trình xã hội hóa nhân cách Ông cho rằng đặc trưng của giai đoạn lứa tuổi học sinh là sự phong phú và hướng ra bên ngoài, ra xã hội của các mối quan hệ.Nhờ đó hiểu biết của các em đã đi sâu vào các thuộc tính của sự vật, cách sử dụng chúng
Kết quả nghiên cứu của L X Vugotxky và các nhà tâm lí hoạt động cho rằng đối với lứa tuổi học sinh tiểu học, trẻ học các tri thức khoa học trong đó có tri thức hành động A N Leonchiev cho rằng trong giai đoạn trước tuổi tiểu học, hành động vui chơi có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ em, còn trong giai đoạn tuổi học sinh vai trò này thuộc về hoạt động học tập và giao tiếp
Các nhà tâm lí học L X Vugotxky, X L Rubinxteri, A N Leonchiev đã nhấn mạnh vai trò của hoạt động đối với sự phát triển tâm lí, ý thức của con người nói chung và đối với học sinh nói riêng Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người, nhằm lĩnh hội những tri thức, kĩ năng kĩ xảo mới, những phương thức hành vi
để tạo ra những năng lực và những phẩm chất tâm lí mới đáp ứng yêu cầu của xã hội
Trang 231.4.1 Đặc điểm tri giác của HSTH
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định, do đó các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ví dụ, các em khó phân biệt cây mía với cây sậy, hình có năm cạnh với hình có sáu cạnh
Ở các lớp đầu tiểu học, tri giác của học sinh thường gắn liền với hành động, với hoạt động thực tiễn, trẻ chỉ cảm nhận được những cái nó cầm nắm Tri giác sự vật có nghĩa là phải làm một cái gì đó với sự vật: cầm, nắm, tháo gỡ…sự vật ấy Những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của các em, những gì giáo viên chỉ dẫn thì các em mới tri giác được Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác.Những dấu hiệu, những đặc điểm nào của
sự vật gây cho các em cảm xúc thì được các em tri giác trước hết.Vì vậy, cái trực quan, cái rực rỡ, sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tốt hơn Chính vì vậy, theo V A Cruchetxki, những bức tranh có màu sắc sặc sỡ trong các sách có ảnh hưởng không tốt đến sự học tập kỹ xảo đọc, làm chậm tốc độ đọc Khi đã
có kỹ xảo đọc sơ đẳng thì lúc ấy những bức tranh, ảnh minh họa bắt đầu ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ
Tri giác và đánh giá không gian, thời gian của học sinh tiểu học còn hạn chế Về tri giác độ lớn, các em gặp phải khó khăn khi quan sát các vật quá lớn hoặc quá nhỏ
Ví dụ, trái đất các em cho rằng to bằng mấy tỉnh Các em khó hình dung “ngày xưa”,
“thế kỷ”, “kỷ nguyên”… Điều này cần phải tính đến khi dạy các tri thức về khoa học thường thức, địa lý, lịch sử Một số công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng: thường học sinh tiểu học rất khó hiểu được về thời gian của các sự kiện, những niên đại lịch sử đối với chúng thường rất trừu tượng
Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành một hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên tiểu học rất lớn Giáo viên hằng ngày không chỉ dạy kỹ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét, không chỉ dạy nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe, tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của học
Trang 24sinh để tri giác một đối tượng nào đó, dạy trẻ biết phát hiện những dấu hiệu, thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Điều này cần được thực hiện không chỉ trong lớp học (giới thiệu đồ dùng dạy học, hướng dẫn thực hành…) mà cả khi đi tham quan, dã ngoại
1.4.2 Đặc điểm tư duy của HSTH
Tư duy của học sinh mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Ví dụ: trong các bài tập hay trong các câu Tiếng việt đều có những hình ảnh cụ thể Nhà tâm
lý học J.Piaget cho rằng tư duy của trẻ 7 – 10 tuổi về cơ bản vẫn ở giai đoạn thao tác
cụ thể, trên cơ sở đó có thể diễn ra quá trình hệ thống hóa các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan Ví dụ: trong các giờ học toán đầu tiên ở lớp, khi làm các phép tính học sinh phải dựa vào que tính, ngón tay, tức là dựa vào những vật cụ thể Vì vậy, ở lớp đầu bậc, đặc biệt là lớp 1 khi yêu cầu làm phép tính 2 + 3 nhiều em không làm được, nhưng nếu hỏi các em là: em có 2 quyển vở, mẹ mua cho em thêm 2 quyển
vở nữa thì em có mấy quyển vở Qua đó, các em dễ trả lời hơn
Tính trực quan cụ thể của tư duy của học sinh tiểu học thể hiện rất rõ Ví dụ, cô giáo cho bài toán: “nếu con vịt có 3 chân thì 2 con vịt có bao nhiêu chân” nhiều học sinh sẽ lung túng và thắc mắc làm gì có vịt 3 chân Như vậy, tư duy của các em chưa thoát khỏi tính cụ thể, chưa nhận thức được nghĩa của các từ nếu, chưa biết chấp nhận giả thiết
Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ mặt nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong
và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng
Kỹ năng phân biệt các dấu hiệu và tách ra các thuộc tính bản chất không phải dễ gì thực hiện được ngay Học sinh tiểu học trước hết tập trung vào tri giác những thuộc tính bên ngoài và những dấu hiệu này chưa chắc đã là bản chất Ví dụ khi giải thích khái niệm “chim” học sinh lớp 1 dựa vào dấu hiệu như “bay”, “nhảy”, “hót”, “mổ”, còn học sinh lớp 2 thì lại nhấn mạnh dấu hiệu “biết bay”, “sống trên đồng”, “đậu trên cây”
Trang 25Khi khái quát hóa, học sinh tiểu học thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng tức là công dụng và chức năng
Hoạt động phân tích tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu bậc tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học sinh cuối bậc tiểu học có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Việc học Tiếng Việt và Toán học sẽ giúp học sinh biết phân tích
và tổng hợp Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học sinh tiểu học cho thấy học sinh
ở bậc học này gặp một số khó khăn nhất định khi phải xác định và hiểu mối quan hệ nhân quả
1.4.3 Đặc điểm tưởng tượng của HSTH
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của học sinh tiểu học phát triển không đầy đủ thì nhất định gặp khó khăn trong học tập Khi học sinh học lịch sử thì nhất thiết phải xây dựng trong tưởng tượng bức tranh quá khứ, tìm hiểu địa lý nhất thiết phải có các biểu tượng về cảnh quan, phong tục khí hậu của các nước Tưởng tượng không gian rất cần thiết khi học sinh học Toán
Tưởng tượng của học sinh được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ chưa đến trường nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản hay thay đổi chưa bền vững Trong dạy học, giáo viên cần hình thành biểu tượng qua
mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên Đây được xem là những phương tiện trực quan
1.4.4 Đặc điểm trí nhớ của HSTH
Do các hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của học sinh tiểu học còn chiếm
ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các em ghi nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích Học sinh lớp 1,2 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc,
có khi chưa hiểu những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó, cho nên các em thường học thuộc lòng từng câu, từng chữ tài liệu mà không sắp xếp, diễn đạt theo ý của mình Ghi nhớ máy móc của các em chiếm ưu thế, nhiều học sinh chưa biết cách
Trang 26tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa sử dụng sơ đồ logic, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn các em xây dựng dàn bài học tập, có các điểm tựa ghi nhớ để dần dẫn các em hình thành trí nhớ từ ngữ - logic
1.4.5 Đặc điểm chú ý của HSTH
Chú ý có chủ định của HSTH còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có chủ định chưa mạnh Sự chú ý của HSTH thường được thúc đẩy bởi động cơ gần, đối với các lớp ở cuối bậc thì chú ý có chủ định được duy trì ngay cả với động cơ xa, còn các lớp đầu bậc thì chú ý chủ yếu với động cơ gần (được khen, được điểm cao)
Ở lứa tuổi HSTH chú ý không chủ định được phát triển Những gì mang tính chất mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các em Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi GV sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ,
ít gặp … sẽ gợi cho các em cảm xúc tích cực Vì vậy việc sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mô hình vật thật … là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho HSTH Tuy nhiên cần nhớ rằng HSTH rất mẫn cảm, do đó những
ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra một trung khu hưng phấn ở vỏ não, nó sẽ kìm hãm khả năng phân tích và khái quát hóa tài liệu học tập
Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì được chú ý không chủ định, cho nên mỗi GV cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn và lý thú Mặc khác, cần rèn luyện cho các em chú với với cả những sự vật, hiện tượng không mang lại lý thú lắm K.Đ.Usinxki đã cảnh báo rằng: “Tất nhiên sau khi làm cho giờ học của bạn trở nên hấp dẫn, các bạn không sợ làm trẻ chán, nhưng bạn hãy nhớ rằng trong việc học tập không phải tất cả đều trở thành lý thú, mà nhất định sẽ có những điều buồn tẻ Vậy hãy rèn luyện cho trẻ không chỉ quen làm cả những gì không lý thú nữa”
Sự tập trung chú ý của học sinh lớp 1, 2 còn yếu, thiếu bền vững, điều này có nguyên nhân ở chỗ quá trình ức chế vỏ não còn yếu, chú ý của các em còn phân tán Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng HSTH chỉ có thể tập trung và duy trì chú
ý liên tục trong khoảng từ 30 – 35 phút Sự chú ý của HSTH còn phụ thuộc vào nhịp
độ học tập, nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý
Khả năng phát triển chú ý có chủ định, phát triển tính bền vững, sự tập trung chú ý của HSTH là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải thường xuyên rèn luyện chú ý có chủ định, ý chí Chú ý có chủ định được phát triển cùng với sự
Trang 27phát triển động cơ học tập mang tính chất xã hội cao, với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập
1.4.6 Đặc điểm ngôn ngữ của HSTH
Ngôn ngữ của HSTH phát triển mạnh về ngữ âm, từ ngữ và ngữ pháp Học sinh các lớp cuối bậc tiểu học đã nắm được ngữ âm, song hiện tượng phát âm sai còn phổ biến (đặc biệt là các em lớp 1; lớp 2) Trong một bản điều tra, người ta thấy rằng: 136
em được kiểm tra đọc thì chỉ có 19 em đọc khá và tốt, 45 em phát âm sai “l”, 26 em phát âm sai “l, n”, 33 em phát âm sai “tr”, 36 em phát âm sai “gi”, 47 em phát âm sai
1.5 Lịch sử nghiên cứu
Có lẽ “Tìm hiểu năng lực giải quyết vấn đề của HS lớp 5 thông qua giải các bài toán thực tiễn” một trong những đề tài có liên quan đến bài toán thực tiễn, đề tài thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, trước đây đã có một số nhà nghiên cứu đã khai thác nội dung này cũng như là các nội dung có liên quan, họ đã có các công trình nghiên cứu như:
- Nguyễn Văn Bảo (2005), Góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học để giải quyết một số bài toán có nội dung thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Vinh
- Bùi Huy Ngọc (2003), Tăng cường khai thác nội dung thực tế trong dạy học Số học và Đại số nhằm nâng cao năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn cho Học sinh Trung học cơ sở, Luận án Tiến sỹ Giáo dục học, Trường Đại học Vinh, Vinh
- Lê Thị Thanh Phương, Tăng cường vận dụng các bài toán có nội dung thực tiễn trong dạy học môn Toán Đại số nâng cao 10 – THPT, luận văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trang 28- Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011), Tăng cường vận dụng các bài toán có nội dung thực tiễn vào dạy học Đại số và Giải tích nâng cao 11 – THPT, Luận văn Thạc
sĩ Khoa học Giáo dục
1.6 Kết luận chương 1
Chương 1 là chương cơ sở lí luận, bài khóa luận đã làm rõ các vấn đề lí luận liên quan đến môn Toán và việc dạy học môn Toán ở tiểu học hiện nay cũng như là trước đây Thông qua đó làm rõ được vị trí, vai trò, nhiệm vụ của việc dạy học môn Toán ở trường tiểu học hiện nay
Trang 29Chương 2 NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC
TIỄN 2.1 Về phạm trù thực tiễn
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thực tiễn là những hoạt động của con người, trước hết
là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội” [18, tr.974]
Từ điển học sinh thì định nghĩa: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động của con
người để tạo ra những điều kiện cần thiết cho đời sống xã hội bao gồm các hoạt động sản xuất, đấu tranh giai cấp và thực nghiệm khoa học: không có thực tiễn thì không có
lí luận khoa học” [13, tr.575]
Còn Triết học, Mác và Ăngghen đã quan niệm: “Thực tiễn là những hoạt động vật
chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội” [11, tr.53]
Như vậy, thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ
là những hoạt động vật chất - hoạt động đặc trưng, có mục đích, có ý thức, năng động, sáng tạo Hoạt động này có sự thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau và được tiến hành bởi đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Con người sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình để tác động vào tự nhiên,
xã hội để biến đổi chúng trong hiện thực cho phù hợp với nhu cầu của mình và làm cơ
sở biến đổi hình ảnh sự vật trong nhận thức “Thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian
nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài” [11, tr.55] Con người và xã hội loài
người sẽ không thể tồn tại và phát triển được nếu không có hoạt động thực tiễn (mà
dạng cơ bản đầu tiên và nguyên thủy nhất là hoạt động sản xuất vật chất) “Thực tiễn
là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với thế giới” [11, tr.55]
2.2 Bài toán có nội dung thực tế
Khái niệm bài toán: theo quan niệm của các tác giả L.N.Landa, A.N.Lêônchiep:
“Bài toán là mục đích đã cho trong những điều kiện nhất định, đòi hỏi chủ thể (người giải toán) cần phải hành động, tìm kiếm cái chưa biết trên cơ sở mối liên quan với cái
Trang 30đã biết Như vậy, một bài toán phải có giả thiết (những điều kiện nhất định) và câu hỏi kết luận (cái chưa biết cần tìm kiếm)” [19, tr.7]
Bài toán thực tế là một bài toán mà trong giả thiết hay kết luận có các nội dung liên quan đến thực tế
Để một tình huống thực tế trở thành một bài toán, phải xác định được yêu cầu cần giải quyết từ tình huống và giải quyết được các dữ kiện của khách thể làm giả thuyết của bài toán
Ví dụ 2.1 Tình huống: Một xe máy chạy trên quãng đường AB dài 20km, cần tìm thời
gian mà xe máy chạy hết quãng đường đó
Đây là tình huống thực tế Từ đó, xây dựng nên bài toán thực tế
Bài toán thực tế: “Một xe máy chạy từ nhà đến trường là 20km, với vận tốc trung bình là 40km/h Hỏi thời gian để chiếc xe máy chạy hết quãng đường đó là bao nhiêu?”
Bài toán thực tế này đã được xây dựng để giải quyết tình huống thực tế trên Khi xây dựng bài toán này, phải lựa chọn, tập hợp các dữ kiện về độ dài quãng đường, vận tốc
xe máy… làm giả thiết bài toán (có nhiều yếu tố khác trong tình huống này đã bị bỏ qua, không đưa vào bài toán)
2.3 Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn
2.3.1 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
NL giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống có vấn đề mà
ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường
NL giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán
NL giải quyết vấn đề của HS trong học toán là tổ hợp các NL được bộc lộ qua các hoạt động trong quá trình giải quyết vấn đề
Trang 31Quá trình giải quyết vấn đề có 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Xác định giải pháp giải quyết vấn đề, gồm 3 bước:
Giải pháp đúng
Giải pháp chưa đúng
2.3.2.Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
Dựa theo quan điểm của A.V.Pêtrôvxki, chúng tôi chỉ ra các biểu hiện để đánh giá năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của một học sinh là:
- Huy động được kiến thức Toán học liên quan tới hoạt động giải quyết một nội dung Toán cụ thể
- Có kĩ năng tiến hành được các hoạt động: giải bài toán, xây dựng và nắm vững khái niệm Toán học, chứng minh định lý,…
- Đạt được kết quả phù hợp với mục đích yêu cầu
- Thể hiện được thái độ, tình cảm của mình với những lời giải bài toán: như phát hiện sai lầm và sửa sai, thấy được cái hay, sâu sắc trong mỗi cách giải…
*Cấp độ của năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề:
Ở mức độ thứ nhất: học sinh đáp ứng được những yêu cầu cơ bản, phát hiện và giải quyết vấn đề khi được giáo viên đặt ra một cách tương đối rõ ràng
Ở mức độ thứ hai: học sinh nhận ra được vấn đề do giáo viên đặt ra, hoàn tất việc phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sư gợi ý, dẫn dắt của giáo viên
Ở mức độ thứ ba: học sinh chủ động phát hiện được vấn đề, dự đoán những điều kiện nảy sinh vấn đề và nhận xét cách thức tiếp cận để phát hiện và giải quyết vấn đề
Tìm, thực hiện, kiểm tra giải pháp giải quyết vấn đề Tìm hiểu vấn đề
Trình bày giải pháp giải quyết vấn đề
Trang 322.3.3 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn
- HS biết phát hiện/ xác định rõ vấn đề cần giải quyết; chuyển vấn đề thực tiễn thành
dạng có thể khám phá, giải quyết (bài toán khoa học)
- Thu thập thông tin và phân tích, đưa ra các phương án giải quyết
- Chọn phương án tối ưu và đưa ra ý kiến cá nhân về phương án lựa chọn
- Hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề; khám phá các giải pháp mới mà có thể thực hiện được và điều chỉnh hành động của mình
- Đánh giá cách làm của mình và đề xuất những cải tiến mong muốn
2.3.4 Sự cần thiết của phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh trong dạy học
Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS là hết sức cần thiết Nó giúp học sinh:
- Nắm vững kiến thức, liên hệ giữa các kiến thức
- Có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống, công việc
- Có ý thức trách nhiệm đối với gia đình, xã hội; ý thức nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc
Vậy năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn cần được hình thành, phát triển ngay từ bậc học tiểu học
2.3.5 Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 thông qua bài toán có nội dung thực tiễn
Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh thông qua bài toán có nội dung thực tiễn nghĩa là khi đứng trước một bài toán có nội dung thực tiễn, HS có thể phát hiện, xác định rõ được vấn đề của bài toán, hiểu ra vấn đề bài toán và từ đó tìm tòi, suy luận, phân tích bài toán, huy động các kiến thức Toán học để tiến hành định hướng, xác định phương án và đưa ra cách giải quyết bài toán thực tiễn đó Cuối cùng giải quyết được bài toán thực tiễn một cách triệt để
Khi giải quyết được bài toán thực tiễn , tức là các em đã phải trải qua một quá trình tư duy, vận dụng các kiến thức Toán học đã có, và năng lực giải quyết vấn đề của
Trang 33bản thân để hoàn thành yêu cầu bài toán Thông qua giải quyết bài toán thực tiễn mà
HS đã phát triển, nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của bản thân
2.4 Kết luận chương 2
Trong chương 2, bài khóa luận đã phân tích rõ các vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài Qua đây khẳng định rằng: tìm hiểu năng lực giải quyết vấn đề học sinh thông qua bài toán thực tiễn là cần thiết, phù hợp với thực tiễn dạy học hiện nay Đây được xem là chương cơ sở lí luận làm tiền đề cho việc khảo sát đánh giá thực trạng dạy học giải quyết vấn đề sẽ đưa ra ở chương sau
Trang 34Chương 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN CỦA HS LỚP 5
TẠI TP ĐÀ NẴNG 3.1 Thực trạng SGK Toán lớp 5
3.1.1 Thống kê số lượng bài toán có nội dung thực tiễn trong sách Toán 5
Sách giáo khoa Toán lớp 5 gồm có 5 chương xoay quanh 5 mạch kiến thức
Chương 1: Ôn tập và bổ sung về phân số Giải toán liên quan đến tỉ lệ Bảng đơn vị đo diện tích
Chương 2: Số thập phân Các phép tính với số thập phân
Chương 3: Hình học
Chương 4: Số đo thời gian Toán chuyển động đều
Chương 5: Ôn tập
Sách Toán 5 có tổng cộng 171 bài học, trong đó có 597 bài tập (mỗi bài học thường
có từ 3 đến 4 bài tập; với các bài luyện tập, ôn tập có thể lên đến 5 bài tập), và số lượng bài toán có nội dung thực tiễn là 204 (chiếm 34,17%) Ở những bài học hình thành kiến thức mới thì có bài không có, hoặc chỉ có 1 bài toán có nội dung thực tiễn
Ở các bài học luyện tập, ôn tập thì số lượng bài toán có nội dung thực tiễn chiếm đa số,
và chủ yếu ở dạng toán có lời văn
3.1.2 Kết luận chung
- Các bài toán có nội dung thực tiễn sách Toán 5 thì được hình thành, xây dựng từ các tình huống thực tế rất cần thiết cho cuộc sống của các em sau này Đa phần các bài toán có nội dung thực tiễn đều gây kích thích, hứng thú cho các em hơn so với các bài toán không có nội dung thực tiễn
Ví dụ như:
Bài 1/79:
a) Tìm tỉ số phần trăm của hai số 37 và 42
Trang 35b) Một tổ sản xuất làm được 1200 sản phẩm, trong đó anh Ba làm được 126 sản phẩm Hỏi anh Ba làm được bao nhiêu phần trăm số sản phẩm của tổ
Trong cùng một bài toán, câu b chứa nội dung thực tiễn Ở câu b, các em sẽ kích thích tư duy, trí tưởng tượng và hứng thú giải quyết bài toán Đồng thời, khi giải xong bài toán, các em đã biết giải quyết tình huống thực tế trong cuộc sống các em
- Đa số các bài toán thực tiễn đều gần gũi, xoay quanh cuộc sống của các em Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số bài toán chưa thực sự phù hợp với tâm sinh lý trẻ, với cuộc sống trẻ Do các bài toán đó được xây dựng từ tình huống thực tế chưa gắn liền với những điều bình dị, đơn giản xung quanh trẻ mà nó có tính thiết thực sau này khi các em trưởng thành
đi bao nhiêu người?
Bài 3/46:
Trong vườn thú có 6 con sư tử Trung bình mỗi ngày một con ăn hết 9 kg thịt Hỏi cần bao nhiêu tấn thịt để nuôi số sư tử đó trong 30 ngày?
Trang 36c) Mức nước trong bể cao bằng 3
4 chiều cao của bể Tính thể tích nước trong bể đó (độ dày kính không đáng kể)
Bài 4/138:
Bạn Lan xem giờ tàu từ ga Hà Nội đi một số nơi như sau:
Tính thời gian tàu đi từ ga Hà Nội đến các ga Hải Phòng, Quán Triều, Đồng Đăng, Lào Cai
Trang 373.2 Thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết vần đề cho học sinh lớp 5 thông qua các bài toán có nội dung thực tiễn
Để phát triển năng lực học tập Toán cho HS thì dạy học giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học tích cực, mang lại hiệu quả
Dạy học giải quyết vấn đề thông qua các bài toán thực tiễn sẽ giúp HS mau chóng tiếp nhận được kiến thức, rèn luyện kĩ năng và khả năng vận dụng những kiến thức Toán học và thực tiễn cao, lấy Toán học áp dụng vào thực tiễn, giải quyết các bài toán thực tiễn để rèn luyện năng lực học tập Toán
Hầu hết các ý kiến cho rằng dạy học giải quyết vấn đề thông qua bài toán thực tiễn
để rèn luyện năng lực học tập Toán cho HS là cần thiết
Tuy đã hiểu rõ về sự cần thiết của việc dạy học giải quyết vấn đề thông qua các bài toán thực tiễn, song ở trường tiểu học vẫn chưa được các GV thực hiện nhiều và thực hiện một cách sâu sắc Bởi vì một số lí do sau đây:
- Chương trình SGK lớp 5 chưa có nhiều các bài toán liên quan đến thực tiễn
- GV ngại khi tự đề xuất, đưa ra các bài toán có nội dung thực tiễn vào dạy học Toán
- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học tích cực, song các giáo viên vẫn chưa thực sự thành tạo trong việc vận dụng nó vào dạy học
- HS còn lúng túng trong việc giải quyết các bài toán thực tiễn
- Năng lực giải quyết vấn đề của HS còn hạn chế
Nhìn chung, hầu hết các GV đều nắm rõ được tầm quan trọng của việc đưa các bài toán thực tiễn vào dạy học Toán, và cũng thông qua các bài toán đó mà rèn luyện kĩ năng giải toán cho HS Mà cụ thể ở đây là rèn luyện, nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho HS lớp 5 thông qua các bài toán thực tiễn
Tuy nhiên thì trên thực tế, việc dạy học phát triển giải quyết vấn đề cho HS thông qua các bài toán thực tiễn thì còn quá hạn chế, chưa được thực hiện nhiều Tuy có nhưng rất ít
Trang 383.3 Đánh giá thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn của HS lớp 5 ở trường Trần Cao Vân, phường Tân Chính, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng
3.3.1 Khái quát quá trình khảo sát
3.3.1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát
Đà Nẵng là một thành phố thuộc trung ương từ năm 1997, nằm trong vùng Nam
Trung Bộ, Việt Nam, là trung tâm lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước Đà Nẵng là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung uơng ở Việt
Nam, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Hải Phòng và Cần Thơ
Với đề tài: “Tìm hiểu năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn của HS lớp 5 ở thành phố Đà Nẵng” tôi chọn Đà Nẵng là địa bàn để khảo sát, nghiên cứu Tuy nhiên, do điều kiện không cho phép, tôi chỉ xin nghiên cứu ở một trường tiểu học thuộc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mà tôi đã được thực tập Cụ thể là trường tiểu học Trần Cao Vân, phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Thanh Khê là một quận nằm ở vị trí gần trung tâm của thành phố Đà Nẵng, được
thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1997 Quận Thanh Khê: phía Bắc tiếp giáp với Vịnh
Đà Nẵng, có chiều dài bờ biển là 4,3 km2; phía Đông và Nam giáp với quận Hải Châu; phía Tây giáp huyện Hòa Vang và quận Liên Chiểu Nó có diện tích: 9,36 km2, chiếm 0,73% diện tích toàn thành phố, dân số: 178.447 người, chiếm 19,3% dân số toàn thành phố Với diện tích nhỏ nhất thành phố và dân số đông nên mật độ dân số đông nhất thành phố, lên đến: 19.064,85 người/km2 (Theo niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2010).Quận Thanh Khê gồm 10 đơn vị hành chính cấp phường: Vĩnh Trung, Tân Chính, Thạc Gián, Chính Gián, Tam Thuận, Xuân Hà, An Khê, Hoà Khê, Thanh Khê Đông, Thanh Khê Tây Quận Thanh Khê cũng là Quận thí điểm mô hình
Bí thư Quận ủy đồng thời Chủ tịch UBND Quận Là quận có diện tích nhỏ nhất tại Đà Nẵng Tuy nhiên đây được xem là đầu mối giao thông liên vùng và quốc tế của thành phố Đà Nẵng Đây là địa phương có nhiều lợi thế trong phát triển thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải và kinh tế biển, với chiều dài bờ biển khoảng 4,287 km trải dài trên
4 phường giáp vịnh Đà Nẵng ở phía Bắc là Thanh Khê Tây, Thanh Khê Đông, Xuân
Trang 39Hà, Tam Thuận có điều kiện thuận lợi trong việc nuôi trồng, khai thác và chế biển hải sản
Trên địa bàn quận Thanh Khê – Thành phố Đà Nẵng có 16 trường tiểu học : trường tiểu học Trần Cao Vân, Bế Văn Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Văn Tám, Lê Quang Sung, Hà Huy Tập, Huỳnh Ngọc Huệ, Dũng sĩ Thanh Khê, Hoa Lư, An Khê, Đoàn Thị Điểm, Điện Biên Phủ, Nguyễn Bá Ngọc, Đinh Bộ Lĩnh, Hàm Nghi, Nguyễn Trung Trực
Trường tiểu học Trần Cao Vân nằm ở số 213, đường Lê Duẩn, TP Đà Nẵng Nó là một trường điểm nổi tiếng ở Đà Nẵng, với 3 cơ sở Trường tiểu học Trần Cao Vân gồm có 41 lớp học, trong đó khối lớp 5 gồm có 10 lớp từ 5/1 đến 5/10
3.3.1.3.1.Phương pháp điều tra bằng Anket
Mục đích: Qua điều tra bằng phiếu Anket đối với các giáo viên trực tiếp dạy lớp 5 nhằm nắm bắt thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn
Các bước tiến hành:
Bước 1: Xây dựng phiếu, lấy ý kiến của chuyên gia
Bước 2: Phát phiếu điều tra cho 10 giáo viên đang dạy môn Toán lớp 5 Phiếu điều tra gồm 8 câu hỏi
Bước 3: Xử lý kết quả điều tra
Bước 4: Nhận xét
Trang 403.3.1.3.2 Phương pháp đàm thoại
Mục đích: Để bổ sung thêm thông tin và tính chính xác về thực trạng dạy học phát triển năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn và làm rõ những thông tin thu nhận từ phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
Cách tiến hành: Tôi trực tiếp đến trường gặp gỡ với các giáo viên tại trường Tiểu học Trần Cao Vân để trao đổi bàn về những thuận lợi và khó khăn trong dạy học phát triển năng lực giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng
dạy học môn Toán
3.3.1.3.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Mục đích: Thông qua các sản phẩm là bài kiểm tra có chứa những bài toán có nội dung thực tiễn để đánh giá năng lực giải quyết các bài toán thực tiễn của HS lớp 5 Các bước tiến hành:
Bước 1: Xây dựng bài kiểm tra, lấy ý kiến chuyên gia
Bước 2: Phát bài kiểm tra cho 60 HS khối 5 Bài kiểm tra gồm 5 bài tập
Bước 3: Xử lí bài kiểm tra
Bước 4: Đánh giá năng lực, tìm hiểu những sai lầm của HS
3.3.2 Phân tích kết quả khảo sát
3.3.2.1 Về giáo viên
3.3.2.1.1 Kết quả thăm dò ý kiến giảng dạy của GV
Câu 1: Theo thầy cô, việc vận dụng yếu tố thực tiễn trong dạy học có cần thiết hay
“Học đi đôi với