1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số bệnh thường gặp và các biện pháp phòng chống bệnh cho trẻ nhà trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non thuộc quận hải châu tp đà nẵng

86 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo như nhận định trên ta thấy, mặc dù việc đưa ra những biệp pháp nhằm bảo đảm sự phát triển cho trẻ là biện pháp tốt, có tính hiệu quả cao nhưng chúng tôi nhận thấy rằng, trong thực t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - MẦM NON

Đà Nẵng, 05/2014

Trang 2

Đặc biệt cho em được gửi lời cảm ơn đến Thạc sĩ Vũ Đình Ngàn, người đã tận tình hướng dẫn và góp ý rất kỹ lưỡng, đã giúp em cũng như các bạn khác

có thể hoàn thành đề tài một cách tốt nhất

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu nhà trường, quý

cô và toàn bộ trẻ ở trường mầm non 19/5, Hoa Phượng Đỏ đã tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài Và em xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này

Do đề tài được nghiên cứu và biên soạn trong thời gian ngắn, bản thân còn nhiều hạn chế về kiến thức chuyên ngành và thực tế nên không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập Chính vì vậy, em rất mong nhận được những đóng góp, phản hồi của các thầy cô và lãnh đạo khoa Giáo dục Tiểu học- mầm non Xin trân trọng gửi đến quý thầy cô đề tài này

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Quý Anh

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG ĐỀ TÀI

Bảng 1.1: Bảng kích thước thực quản để tham khảo khi đặt ống thông < 2

tháng: 0,8 - 0,9cm đường kính 22 Bảng 1.2: Bệnh thường gặp ở trẻ tại trường mầm non 19/5: 33 Bảng 1.3: Bệnh thường gặp ở trẻ tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ: 34 Bảng 1.4: Kết quả thể hiện mức độ nhận biết về một số bệnh thường gặp của

giáo viên 37 Bảng 1.5 Kết quả giáo viên thực hiện giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ ở

các trường mầm non 37 Bảng 1.6 Kết quả giáo viên thực hiện việc tuyên truyền các hình thức phòng

chống một số bệnh thường gặp cho phụ huynh học sinh 38 Bảng 1.7 Kết quả của việc giáo viên thực hiện một số công việc nhằm phòng

ngừa một số bệnh thường gặp cho trẻ 38 Bảng 2.1: Một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non 40

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 3

4 Giả thuyết khoa học: 4

5 Phạm vi nghiên cứu: 4

6 Phương pháp nghiên cứu: 4

7 Cấu trúc của luận văn: 4

PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP CHO TRẺ NHÀ TRẺ - MẪU GIÁO Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN: 6

1.1.1 Sức khỏe là cơ sở, là nền tảng để con người tiến hành mọi hoạt động 6

1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản về sức khỏe 6

1.1.1.2 Sức khỏe là nền tảng, là cơ sở để con người tiến hành mọi hoạt động 8

1.1.1.3 Nội dung chăm sóc bảo vệ sức khỏe ban đầu trẻ em 9

1.1.2 Tổng quan về một số bệnh thường gặp, hình thức và kĩ năng phòng chống một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non 9

1.1.2.1 Tổng quan về một số bệnh thường gặp 9

1.1.2.2 Tổng quan về hình thức tổ chức phòng chống 11

1.1.2.3 Tổng quan về kĩ năng phòng chống 12

1.1.3 Đặc điểm về tâm lý của trẻ mầm non 13

1.1.4 Đặc điểm về sinh lý của trẻ mầm non 18

1.1.4.1 Đặc điểm sinh lý của hệ xương 18

1.1.4.2 Đặc điểm sinh lý của hệ cơ: 20

Trang 5

1.1.4.3 Đặc điểm sinh lý của da: 21

1.1.5 Đặc điểm cấu tạo của trẻ 21

1.1.5.1 Đặc điểm cấu tạo hệ tiêu hóa ở trẻ: 21

1.1.5.2 Đặc điểm của hệ hô hấp: 22

1.1.5.3 Đặc điểm hệ thần kinh ở trẻ: 23

1.1.5.4 Đặc điểm hệ cơ - xương của trẻ: 24

1.1.6 Đặc điểm bệnh lý ở trẻ: 25

1.1.6.1 Giai đoạn trước khi sinh: 25

1.1.6.2 Giai đoạn sau khi sinh: 26

1.1.6.3 Thời kỳ bú mẹ (nhũ nhi): 26

1.1.6.4 Thời kỳ răng sữa: 27

1.1.7 Ý nghĩa và tác dụng của việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non khi đang mắc một số bệnh thường gặp 28

1.1.7.1 Mục tiêu của việc giáo dục kĩ năng cho trẻ mầm non 28

1.1.7.2 Hình thức giáo dục kĩ năng tự phục vụ 28

1.1.7.3 Ý nghĩa và tác dụng của việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non khi đang mắc một số bệnh thường gặp 28

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 29

1.2.1 Mục tiêu của việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non hiện nay 29

1.2.2 Nội dung về một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non 30

1.2.3 Tình hình mắc bệnh ở trẻ em………32

1.2.3.1 Tình hình mắc bệnh chung……… 32

1.2.3.2 Tình hình mắc bệnh ở trẻ em Việt Nam……….33

1.2.4 Bảng thống kê các bệnh thường gặp mà trẻ thường mắc phải ở trường mầm non 19/5, Hoa Phượng Đỏ thuộc quận Hải Châu - TP Đà Nẵng 33

1.2.5 Tìm hiểu thực tế phòng chống một số bệnh thường gặp ở trường mầm non 35 1.2.5.1.Tình hình trẻ mắc một số bệnh thường gặp ở Việt Nam: 35

1.2.5.2 Tìm hiểu thực tế việc phòng ngừa các bệnh thường gặp ở các trường mầm non 36

Trang 6

1

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP CHO TRẺ NHÀ TRẺ- MẪU GIÁO Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 39 2.1 TÌM HIỂU MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ MẦM NON 40

Trang 7

2.1.2 Phân loại một số bệnh thường gặp ở trẻ 43

2.1.2.1 Bệnh không truyền nhiễm: 43

2.1.3.1 Đối với bệnh không truyền nhiễm 50

2.1.3.2 Đối với bệnh truyền nhiễm: 55

2.2 GIÁO DỤC MỘT SỐ KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ VÀ TÁC DỤNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC MỘT SỐ KĨ NĂNG TRÊN ĐỐI VỚI TRẺ MẦM NON 59 2.2.1 Thói quen vệ sinh thân thể 59

2.2.1.1 Thói quen rửa mặt 60

2.2.1.2 Thói quen rửa tay 60

2.2.1.3 Thói quen đánh răng 60

2.2.1.4 Thói quen chải tóc 60

2.2.1.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ 61

2.2.2 Thói quen ăn uống có văn hóa vệ sinh 61

2.2.3 Thói quen hoạt động có văn hóa vệ sinh 61

2.2.4 Thói quen giao tiếp có văn hóa 62

2.3 MỘT SỐ YÊU CẦU VỀ VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ ĐỂ PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP CHO TRẺ MẦM NON NHẰM ĐEM LẠI HIỆU QUẢ 62

2.3.1 Yêu cầu đối với giáo viên 62

2.3.2 Yêu cầu đối với trẻ 65

2.3.3 Các yêu cầu khác 66

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

1 Kết luận 66

2 Một số ý kiến đề xuất 68

3 Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 0

Trang 8

1

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”

Đúng thế, trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những búp măng non, búp sen sẽ tỏa hương thơm ngát đưa đất nước Việt Nam vươn

xa khắp bốn phương Vì vậy, trong mọi thời đại giáo dục mầm non luôn chiếm một vị trí quan trọng trong xã hội

Giáo dục mầm non là ngành học mở đầu, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí hết sức quan trọng đó là hình thành những

cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ vào trường phổ thông Vì thế, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nói rằng: “Giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” Trẻ từ 0- 6 tuổi đang hình thành và phát triển, cơ thể còn non nớt của trẻ chịu sự tác động mạnh mẽ và sự ảnh hưởng có tính quyết định của môi trường xung quanh đến quá trình tăng trưởng và phát triển đó Để trẻ em có một cơ thể khỏe mạnh, thông minh, nhanh nhẹn, làm nền tảng cho giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách lành mạnh, chúng ta cần phải đảm bảo về cách chăm sóc, nuôi dưỡng cho trẻ một cách có khoa học nhằm giúp trẻ có sức khỏe tốt, đảm bảo cho quá trình tăng trưởng và phát triển ở trẻ diễn ra tốt hơn

Theo ông Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục “Dân số-Kế hoạch hóa gia đình” cho biết đến thời điểm này dân số Việt Nam đạt 88,78

triệu người Trong đó, trẻ em chiếm 1/3 dân số cả nước Bên cạnh đó, theo thống kê ở các nước trên thế giới, số lượng trẻ em ngày nay chiếm 1/3 dân số thế giới Số lượng trẻ em chiếm phần lớn tổng dân số trong cả nước cũng như trên thế giới nhưng nếu không đảm bảm tốt về cách chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thì khả năng trẻ mắc bệnh là rất cao Đây cũng là một trong số những quan tâm cấp thiết của các nhà Tâm bệnh học hiện nay, sự quan tâm trên không phải là ngẫu nhiên, bởi các nhà sinh lý học, tâm bệnh học cũng như nhà giáo

Trang 9

Vì thế, sự quan tâm đến sức khỏe, sự phát triển của trẻ không chỉ là trách nhiệm của cha mẹ trẻ mà còn là trách nhiệm của các cấp nhà trường, quý cô nuôi dạy trẻ như trong quá trình nuôi dạy trẻ quý cô cần phải đề ra những phương pháp, cách thức chăm sóc có khoa học cho trẻ khi trẻ mắc bệnh nhằm giúp trẻ nhanh khỏi bệnh Bên cạnh đó để đảm bảo cho trẻ có sức khỏe tốt thì không thể không kể đến một phần trách nhiệm của xã hội, xã hội cần chú tâm đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phòng, chống bệnh cho trẻ, cụ thể

là cần chú tâm hơn đến công tác đầu tư tiêm chủng vắcxin, phòng ngừa dịch bệnh đối với trẻ sơ sinh cũng như trẻ ở lứa tuổi mầm non

Theo như nhận định trên ta thấy, mặc dù việc đưa ra những biệp pháp nhằm bảo đảm sự phát triển cho trẻ là biện pháp tốt, có tính hiệu quả cao nhưng chúng tôi nhận thấy rằng, trong thực tiễn cho thấy quá trình thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ vẫn còn chưa đồng bộ, bộc lộ những hạn chế như: chưa thể hiện được đầy đủ các biện pháp chăm sóc và chữa trị cho trẻ, chưa phát huy được tối đa khả năng chẩn đoán bệnh cũng như thực hành một số biện pháp sơ cứu của các cô giáo nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ khi trẻ mắc bệnh

Trang 10

3

Với những lý do cần thiết, cấp bách như trên và để điều tra, tìm hiểu về tình hình bệnh tật của trẻ em và các biện pháp khắc phục những bệnh thường

gặp ở trẻ em nên tôi chọn đề tài “Tìm hiểu về một số bệnh thường gặp và các

biện pháp phòng chống bệnh cho trẻ Nhà trẻ - Mẫu giáo ở các trường Mầm non thuộc quận Hải Châu - Thành phố Đà Nẵng”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc phòng chống một

số bệnh thường gặp cho trẻ Nhà trẻ - Mẫu giáo để thấy được tính nghiêm trọng, cấp bách của một số bệnh ở trẻ và hiểu được các dấu hiệu nhận biết một số bệnh thường gặp ở trẻ từ đó đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc, cách phòng tránh cũng như cách chữa trị phù hợp cho trẻ Mầm non

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phòng chống một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non

Tìm hiểu tình hình thực tế về việc phòng chống một số bệnh thường gặp cho trẻ mầm non, đặc biệt là cách tổ chức, hướng dẫn cho trẻ kĩ năng tự phục vụ trong quá trình trẻ mắc bệnh

Đề xuất biện pháp, kĩ năng phòng chống bệnh thường gặp cho trẻ

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình phòng chống một số bệnh thường gặp cho trẻ ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non

+ Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở trẻ Nhà trẻ - Mẫu giáo ở các trường mầm non thuộc Thành phố Đà Nẵng

Trang 11

4

+ Thời gian: Đề tài nghiên cứu nguyên nhân, diễn biến, đặc điểm nhận biết một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non và cách phòng chống bệnh ở các trường mầm non

4 Giả thuyết khoa học:

Nếu vận dụng được nhiều biện pháp phòng chống một số bệnh thường gặp cho trẻ mẫu giáo có thể hạn chế khả năng phát bệnh và lây lan của bệnh đối với các trẻ xung quanh; từ đó giúp trẻ có đầy đủ sức khỏe tham gia vào hoạt động chơi và học nhằm góp phần phát triển trí tuệ và nâng cao thể lực cho trẻ

5 Phạm vi nghiên cứu:

Tìm hiểu một số bệnh thường gặp ở trẻ từ nhà trẻ đến mẫu giáo ở các trường mầm non 19/5, Hoa Phượng Đỏ thuộc quận Hải Châu- TP Đà Nẵng

6 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương phá điều tra bằng Anket

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Giả thuyêt khoa học

- Phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

5

Phần 2: Nội dung:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phòng chống một

số bệnh thường gặp cho trẻ Nhà trẻ - Mẫu giáo ở các trường Mầm non

Chương 2: Thực trạng về một số bệnh thường gặp và cách phòng chống một số bệnh thường gặp cho trẻ Nhà trẻ - Mẫu giáo ở các trường mầm non

Phần 3: Kết luận và kiến nghị

Trang 13

6

PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP CHO TRẺ NHÀ TRẺ - MẪU GIÁO Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:

1.1.1 Tổng quan về sức khỏe, ý nghĩa của sức khỏe đối với đời sống con người

1.1.1.1 Các khái niệm cơ bản về sức khỏe

Theo tổ chức Y tế thế giới định nghĩa sức khỏe: “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải thuần túy chỉ là

- Sức khỏe tinh thần: là sự thoải mái về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần Nó thể hiện chủ yếu ở sự sảng khoái; ở cảm xúc vui tươi, cảm giác dễ chịu có những ý nghĩ; suy nghĩ mang tính lạc quan, yêu đời; có những quan điểm sống nghiêng về hướng tích cực, chủ động trong mọi hoạt động; luôn ở trong trạng thái có khả năng chống lại những lối sống không lành mạnh, mang tính bi quan

+ Sức khỏe tinh thần là biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh, có đạo đức Cơ sở để thể hiện sức khỏe tinh thần là sự thăng bằng và hài long trong hoạt động tinh thần giữa tình cảm và lý trí

Trang 14

7

- Sức khỏe xã hội: sức khỏe xã hội thể hiện sự thoải mái trong các mối quan

hệ chằng chịt, phức tạp giữa các thành viên: gia đình, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng,… Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội, nếu chúng ta sống càng hòa nhập với mọi người, nhận được sự đồng cảm, yêu mến của moi người thì càng có sức khỏe tốt hơn Cơ sở của sức khỏe xã hội là

sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội

Ba yếu tố về sức khỏe liên quan chặt chẽ với nhau, thể hiện nó là sự thăng bằng, hài hòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người Nó là cơ sở, nền tảng vun đắp, xây dựng cho hạnh phúc của con người

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ chặt chẽ của ba yếu tố sức khỏe

Như vậy, theo định nghĩa nêu trên để có một sức khỏe tốt, một cơ thể khỏe mạnh thì chúng ta cần chủ động trang bị cho mình những kiến thức về cách phòng chống một số bệnh thường mắc phải và cần rèn luyện sức khỏe,

ăn uống hợp lý, khám chữa bệnh theo chu kì

Để có một cơ thể khỏe mạnh, mỗi một cá nhân chúng ta không những

nỗ lực mà cần có sự đóng góp của cả cộng đồng, của toàn xã hội để xây dựng

Thể chất

Sức khỏe

Trang 15

Nền tảng là bộ phận vững chắc mà dựa trên đó các bộ phận khác tồn tại

và phát triển Chẳng hạn, có sức khỏe tốt giúp các hoạt động của con người diễn ra thuận lợi và dễ dàng hơn

Cơ sở là cái làm nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên

đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển Chẳng hạn như thực tiễn là cơ sở của nhận thức

Hoạt động là mối quan hệ qua lại tác động giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người (chủ thể)

Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, có tính xã hội và được thực hiện bằng các thao tác nhất định mà con người tham gia thực hiện

Để thực hiện tốt các hoạt động thì con người cần có một sức khỏe tốt;

sự vận động mang lại cho cơ thể sự khỏe mạnh, dẻo dai và nhanh nhẹn Vốn

dĩ, cuộc sống của con người luôn xoay quanh dòng hoạt động bao gồm các hoạt động riêng lẻ theo các động cơ tương ứng; chúng đan xen, hòa quyện vào nhau và chịu sự chi phối của hệ thống động cơ của nhân cách

Nếu không có sức khỏe thì con người sẽ rất khó khăn khi tham gia và thực hiện các hoạt động; đơn giản như những hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh hằng ngày cũng rất là khó khăn khi ăn không thấy ngon, ngủ không thấy yên giấc

Đối với trẻ em muốn thực hiện các hoạt động vui chơi, học tập, ăn ngủ,

vệ sinh, dù ở lứa tuổi nào đi nữa thì cũng cần phải có một cơ thể khỏe mạnh thì trẻ mới thực hiện tốt các hoạt động này

Bất kì công việc nào cũng cần phải có sức khỏe Muốn được nhận vào làm việc gì thì yếu tố đầu tiên mà người ta xét tuyển là yếu tố sức khỏe; thể hiện rất cụ thể qua tờ giấy khám sức khỏe là minh chứng khi ta nộp hồ sơ xin

Trang 16

9

việc Bởi vậy, sức khỏe cũng là một tiêu chuẩn không thể thiếu trong tuyển dụng Điều kiện tiên quyết ngoài trình độ ra thì trong bất kì tổ chức hay cơ quan nào muốn tuyển dụng nhân viên thì yếu tố sức khỏe là không thể thiếu

Sức khỏe rất quan trọng đối với mỗi một chúng ta, vì muốn thực hiện được bất kì hoạt động nào đi nữa thì cũng cần phải có sức khỏe như câu nói

“Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” Vì thế, chúng ta cần phải biết cách tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của chính bản thân mình, biết tập luyện nâng cao sức khỏe, tham gia các hoạt động phòng chống một số bệnh thường mắc phải

để biết các phòng và chống bệnh khi mắc phải

1.1.1.3 Nội dung chăm sóc bảo vệ sức khỏe ban đầu trẻ em

Theo Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc đã nghiên cứu và đề xuất 7 nội dung chăm sóc, bảo vệ sức khỏe ban đầu trẻ em Cụ thể như sau:

- Theo dõi biểu đồ tăng trưởng (Growth Chart)

- Bù nước bằng đường uống (Oral rehydratation)

- Đảm bảo cho trẻ được bú sữa mẹ (Breast feeding)

- Tiêm chủng phòng bệnh (Immunization)

- Thực hiện kế hoạch hóa gia đình (Family planning)

- Cung cấp thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em (Food Supplement)

- Giáo dục sức khỏe cho bà mẹ (Female Education)

Theo Bộ Y tế Việt Nam có thêm :

- Phòng thiếu vitamin A và các tai biến sản khoa

1.1.2 Tổng quan về một số bệnh thường gặp, hình thức và kĩ năng phòng chống một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non

1.1.2.1 Tổng quan về một số bệnh thường gặp

a Khái niệm về bệnh thường gặp ở trẻ

Bệnh thường gặp là những bệnh không lây lan mà con người thường mắc phải, tuy vậy ở trẻ em cũng thường gặp một số bệnh có tính chất lây lan Nếu không biết cách phòng chống hoặc phòng chống không mang tính khoa

Trang 17

10

học thì bệnh sẽ để lại những di căn, di chứng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người

Ví dụ như: Bệnh suy dinh dưỡng, bệnh sâu răng, bệnh béo phì, bệnh khô mắt

do thiếu vitamin A, bệnh ho gà, bệnh thiếu máu do thiếu sắt, bệnh còi xương dinh dưỡng, bệnh học đường,…

b Một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non

- Bệnh suy dinh dưỡng: trẻ ở (độ 1, độ 2) cân nặng của trẻ thấp hơn so với trẻ

bình thường; lớp mỡ giữa da, bụng, mông, chi mỏng; rối loạn tiêu hóa từng đợt; trẻ có thể biến ăn Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng nặng (độ 3) trẻ gầy đét,

da bọc xương, vẻ mặt như cụ già và toàn bộ lớp mỡ dưới da, bụng, mông, má đều mất; cơ nhẽo; trẻ mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ không chịu chơi, quấy khóc Đối với trẻ suy dinh dưỡng ở dạng thể phù: trẻ phù từ chân

đến mặt rồi phù toàn thân; phù trắng, mềm, ấn lõm [3]

- Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A: trẻ hay nhắm mắt, sợ ánh sáng do khô

kết mạc, giác mạc; soi đáy mắt thường thấy xuất hiện những vùng trắng rải rác dọc theo các mạch máu của võng mạc Ngoài những triệu chứng ở mắt trẻ còn có những biểu hiện như trẻ chậm phát triển về tinh thần và thể chất; da khô, bong vẩy, tăng sừng hóa ở vai, mặt ngoài của chi

- Bệnh béo phì: người béo phì thường có cảm giác bức bối khó chịu về mùa

hè do lớp mỡ dày đã trở thành như một hệ thống cách nhiệt, người béo phì cũng thường xuyên cảm thấy mệt mỏi chung toàn thân, hay nhức đầu tê buốt

ở hai chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái, đặc biệt người béo phì thường phản ứng chậm chạp hơn người bình thường trong sinh hoạt cũng như trong lao động

- Bệnh thiếu máu do thiếu sắt: da trẻ xanh, niêm mạc nhợt nhạt từ từ; trẻ mệt

mỏi, ít hoạt động; trẻ kém ăn, ngừng phát triển cân nặng hay bị rối loạn tiêu hóa

- Bệnh còi xương dinh dưỡng: những biểu hiện ở hệ thần kinh thường là dấu

hiệu sớm nhất: trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình do tình

Trang 18

11

trạng thần kinh bị kích thích; ra mồ hôi ở trán, ở gáy ngay cả khi trời lạnh; do hai tình trạng trên dẫn đến trẻ thường bị rụng tóc ở gáy Dấu hiệu ở xương: ở xương sọ mềm, thóp rộng, bờ thóp mềm, chậm kín thóp; xương hàm dưới chậm phát triển, nửa trên của xương hàm trên úp quá mức gây bẹt hai bên hoặc vòm miệng sâu; răng thường mọc muộn và lộn xộn; lồng ngực có các chuỗi hạt sườn, sờ ở phía trước ngực có thể nhìn thấy như một chuỗi tràng hạt; biến dạng lồng ngực làm ngực dô lên “ngực gà” hoặc ngực “hình chuông”; ở các chi: các đầu xương cổ tay có thể phì đại thành “vòng cổ tay”, nếu trẻ lớn có thể có chân vòng kiểng chữ O hoặc chữ X; ở xương sống: gù, vẹo cột sống Ở hệ cơ: giảm trương lực cơ Một số biểu hiện khác: trẻ thường chậm phát triển vận động, da xanh, hay rối loạn tiêu hóa

- Bệnh sâu răng: tổn thương đầu tiên là vết trắng đục ở thân răng, cổ răng mà

ta có thể nhìn thấy bằng mắt thường triệu chứng lỗ răng là giai đoạn muộn do thương tổn men răng và ngà răng, khi ăn thức ăn chua, ngọt, lạnh hay nóng làm nổi cơn đau

- Bệnh học đường như: Bệnh cong vẹo cột sống: trẻ ngồi với tư thế nghiêng

người về một bên, gù người hay trẻ thường cúi mặt xuống bàn khi học hay khi ngồi vào bàn ăn Bệnh cận thị: trẻ thường cúi mặt, mắt nhìn sát và chằm chằm vào một vật gì đó mà trẻ cầm trên tay hoặc trước mắt trẻ Bệnh loạn thị: trẻ chỉ có thể nhìn thấy rõ những vật gì ở xa, còn những vật ở gần trẻ không nhìn thấy

- Bệnh tiêu chảy: dấu hiệu ban đầu là đi ngoài phân lỏng trên 3 lần/ngày

Tiêu chảy mức độ A nếp véo da mất nhanh và chưa có dấu hiệu mất nước; tiêu chảy mức độ B nếp véo da mất chậm và mất nước nhẹ và vừa; tiêu chảy mức độ C nếp véo da mất rất chậm và có tình trạng mất nước nặng

1.1.2.2 Tổng quan về hình thức tổ chức phòng chống

a Khái niệm về phòng chống bệnh

- Phòng bệnh tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho con

người không mắc bệnh như: ăn uống, nuôi dưỡng đầy đủ; tiêm chủng; luyện

Trang 19

12

tập sức khỏe; vệ sinh môi trường nhằm giúp chúng ta phòng ngừa bệnh tật,

tạo ra khả năng đề kháng, chống lại bệnh tật nhằm nâng cao sức khỏe [4, 8]

- Phòng chống bệnh nhằm cắt đứt các nguồn bệnh và nguồn lây lan, giúp cơ thể khỏe mạnh, phòng trừ bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe với phương châm y học “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”

b Các hình thức phòng chống một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non

- Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng của người lớn (đặc biệt là

cô giáo mầm non) về cách phòng chống một số bệnh thường gặp cho trẻ

- Đa dạng hoá các biện pháp truyền thông phòng chống một số bệnh thường gặp cho trẻ, đặc biệt là tuyên truyền sâu rộng cho phụ huynh hiểu rõ lợi ích của việc đi tiêm vắc xin phòng chống một số bệnh thường gặp cho trẻ

là biện pháp điều trị dự phòng một số bệnh thường gặp hiệu quả nhất hiện nay

- Tăng cường hệ thống giám sát, kiểm tra, xác minh các ca bệnh thường gặp kịp thời để có biện pháp điều trị hiệu quả và nhanh nhất

- Thường xuyên vệ sinh môi trường sống, giữ gìn vệ sinh, tạo môi trường sống xanh- sạch- đẹp- an toàn

1.1.2.3 Tổng quan về kĩ năng phòng chống

a Khái niệm về kĩ năng phòng chống

Kĩ năng là một tập hợp các kĩ năng mà con người có được thông qua học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, tình huống thường gặp trong cuộc sống hằng ngày của con người [5]

Kĩ năng phòng chống bệnh là các kĩ năng cơ bản của con người trực tiếp sử dụng để phòng chống một số bệnh mà con người thường mắc phải

b Những kĩ năng phòng chống một số bệnh thường gặp cần được hình thành cho trẻ mầm non

Trang bị những kĩ năng phòng chống bệnh cho trẻ được coi là việc làm hết sức cần thiết để trẻ chủ động hơn khi trẻ gặp một số bệnh thường gặp, đồng thời tạo cho trẻ ý thức tự bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình

Trang 20

13

Ví dụ: Hướng dẫn, rèn luyện cho trẻ một số kĩ năng tự phục vụ như: kĩ năng

tự xúc ăn, tự cầm muỗng xúc thức ăn, kĩ năng tự đánh răng, tự rửa tay, rửa mặt,…

1.1.3 Đặc điểm về tâm lý của trẻ mầm non

Trẻ em, nhất là trẻ mẫu giáo luôn muốn là trung tâm chú ý của người lớn Khi trẻ làm được việc gì mà trẻ cho là rất "xuất sắc" nhưng với người lớn thì họ cho rằng rất bình thường, trẻ thường cáu giận, quấy khóc cho đến khi được người khác công nhận Trẻ không thích bị chê trong tuổi này và rất dễ tủi thân, hay vùng vằng, làm mình mẩy để được dỗ dành

Đây là thời gian trẻ bắt đầu học hỏi, bắt chước những người xung quanh nên rất nhạy cảm với phản ứng của người lớn và cũng để ý xem những trẻ khác được khen vì nguyên do gì Nhiều người khen không đúng (có thể do thiên vị) dễ dẫn đến mất lòng tin ở trẻ có thể khiến trẻ đâm ra giận và ghét bạn khác Ở tuổi này trẻ cũng chưa có đủ vốn từ và dũng cảm để nói ra hết mọi chuyện Vì vậy khi thấy giữa 2 đứa bé có xích mích, người lớn (nhất là các bà mẹ) cần tìm hiểu nguyên do, đừng bênh con mình mà bỏ qua sự thật

Đặc điểm tâm lý cụ thể ở từng độ tuổi như sau:

* Trẻ Nhà trẻ ( 18- 36 tháng)

- Hoạt động chủ yếu của trẻ ở độ tuổi này là hoạt động với đồ vật, hoạt động

tư thế đi thẳng đứng, hình thái vận động đặc trưng của con người, hoạt động giao tiếp Dần dần chính sự hấp dẫn từ các thuộc tính của đồ vật lôi cuốn sự chú ý của trẻ, khiến trẻ hăng hái tìm tòi, khám phá mọi vật trong môi trường xung quanh, luôn chân luôn tay suốt ngày Tiếp xúc với bất kì đồ vật nào là trẻ hướng tới tìm hiểu chức năng của đồ vật, bắt chước sử dụng đồ vật theo kiểu người như cầm thìa xúc cơm ăn, cầm ly uống nước,…

- Dưới sự hướng dẫn của người lớn, hành động với đồ vật đã tạo ra sự phát triển toàn diện đời sống tâm lý của trẻ ấu nhi

- Trẻ lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm xã hội loại người chứa đựng trong thế giới đồ vật, biết cách sử dụng đồ vật theo kiểu người

Trang 21

14

- Hành động với đồ vật tạo ra sự phối hợp của chân, tay, tai, mắt, hình thành

sự vận động tinh khéo của đôi tay

- Cảm xúc trí tuệ phát triển mạnh; khi đã biết cách sử dụng một số đồ vật , định hướng của trẻ vào môi trường xung quanh phát triển mạnh, mọi vật trong thế giới xung quanh đối với trẻ đều mới lạ, hấp dẫn Gặp bất cứ đồ vật nào trẻ đều tò mò tháo lắp, vặn mở; những hành động này có ý nghĩa rất lớn đối với

sự phát triển trí tuệ của trẻ, cần duy trì phát triển

- Trong quá trình học cách sử dụng đồ vật và thiết lập mối tương quan, trẻ đã nhận ra một cách trọn vẹn về hình dáng, vị trí, phương hướng của đồ vật; dần dần trẻ biết dùng mắt để lựa chọn những đối tượng, bộ phận cần thiết để hành động phù hợp ngay mà không cần phải hành động ướm thử như trước; nhờ vậy mà trẻ có thể hành động theo mẫu mà người lớn yêu cầu

- Tri giác đặc trưng của tuổi này là tri giác không chủ định Cùng với tri giác bằng mắt, tri giác bằng tai của trẻ cũng phát triển rất mạnh

- Thời gian đầu, việc xác lập mối quan hệ không có sẵn được thực hiện bằng những hành động thực tế theo phương thức “Thử và có lỗi”, nhiều khi ngẫu nhiên trẻ tìm ra đáp số

Ví dụ: Sau nhiều lần bấm lung tung vào những bộ phận của điều khiển từ xa, trẻ và phát hiện được cách mở và tắt tivi,…

Như vậy, quá trình tìm hiểu thuộc tính, bản chất và mối quan hệ của sự vật, hiện tượng ở trẻ là nhờ những hành động định hướng bên ngoài nên gọi là tư duy trực quan hành động Đây là loại tư duy xuất hiện sớm nhất trong quá trình phát triển cá thể; trong suốt tuổi ấu nhi loại tư duy này được phát triển mạnh nhờ hành động với đồ vật

- Tuổi lên ba, trên cơ sở tư duy trực quan hành động phát triển mạnh, tư duy trực quan hình tượng bắt đầu hình thành; nhưng chủ yếu vẫn giải quyết nhiệm

vụ bằng hành động thao tác cụ thể, chỉ trong những tình huống đơn giản trẻ mới có khả năng giải quyết tình huống bằng tư duy trực quan hình tượng

Trang 22

15

- Cuối tuổi ấu nhi, chất lượng chú ý tăng lên đáng kể, hướng chú ý được mở rộng, phạm vi đối tượng được trẻ chú ý ngày càng nhiều Đặc biệt trẻ đã tích cực hướng sự chú ý của mình vào ngôn ngữ của người lớn nhằm nghe, bắt chước và đối thoại

- Hoạt động với đồ vật đã thúc đẩy nhu cầu giao tiếp với người lớn bằng ngôn

ngữ trên vỏ não đã làm ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh [6, 46- 56]

* Trẻ Mẫu giáo ( 3 tuổi- 6 tuổi)

- Trẻ 3 tuổi có những đặc điểm sau:

+ Cái nhìn về thế giới rộng mở hơn, các khái niệm về thời gian và không gian bắt đầu có những biến đổi thú vị Các bé bắt đầu hiểu được sự phức tạp của thế giới xung quanh và nhận ra sự khác nhau giữa thực và giả Chúng thường hỏi những câu kiểu như “Buổi tối chim có đi ngủ không mẹ?”, “Hồi ba còn nhỏ thì có con khủng long không?”

+ Với chúng, quá khứ được phân thành: hồi nãy, hôm qua, tuần trước, tháng trước, hồi xưa, hồi ba mẹ nhỏ xíu Tương lai thì được chia thành: ngày mai, sắp… rồi, hay mai mốt con lớn Mặc dù có thể không biết tên của các mùa

trong năm nhưng trẻ 3 tuổi đã bắt đầu tìm ra các mối tương quan, chúng có thể liên tưởng mùa hè với tiết trời oi bức, cả nhà đi du lịch tắm biển, mùa thu với lá vàng và Tết Trung Thu…

+ Tới 3 tuổi, các triệu trứng “bướng bỉnh trẻ lên 2” sẽ dần hết và trẻ sẽ đằm tính hơn Trẻ 3 tuổi có khả năng tập trung tới vài phút để làm một việc gì đó

và thích chơi đùa với các trẻ khác hơn Tới thời điểm này, trẻ cũng biết biểu

lộ nhiều dạng cảm xúc hơn Chúng có thể buồn hoặc tỏ ra đăm chiêu, có thể ganh tị, cảnh giác, sợ hãi hoặc hài lòng, vui vẻ, khoái chí Các bé cũng nắm bắt được nhiều hơn cảm xúc của người khác Chúng biết nên làm cho người lớn hài lòng, với một động lực hết sức mạnh mẽ là được người khác khen ngợi và yêu thương Mặc dù trẻ 3 tuổi có khuynh hướng ít giận dữ hơn trẻ lên

2, nhưng khi mệt hoặc đói thì chúng cũng không ngoan được đâu

- Trẻ 4 tuổi có những đặc điểm sau:

Trang 23

16

+ Lúc lên 4 tuổi trẻ ngày càng ý thức mình là một thành viên trong một tập thể Chúng dành phần lớn thời gian để tạo dựng và giữ vững vị trí với các trẻ đồng trang lứa Chúng cũng dễ dàng sử dụng vốn từ vựng của mình để khen, chê và “chỉnh” những đứa trẻ khác nhằm hướng sự chú ý vào khả năng của chúng và thuyết phục các bạn cùng chơi chấp nhận ý tưởng mà chúng đưa ra + Trẻ 4 tuổi thích chơi với trẻ khác, có thể dọa dẫm hoặc hứa hẹn để giành lấy một đứa bạn hoặc để được “kết nạp” vào một nhóm bạn Vậy nên ở trường mẫu giáo, bạn có thể rất hay nghe thấy những câu như “Mình làm bạn của nhau nhé” và “Mình không chơi với bạn đâu.”

+ Trẻ 4 tuổi cần nhiều không gian để chơi, vì trò nào chúng cũng có thể chơi được cả, đặc biệt là thích trò “siêu nhân” và “quái vật” Mặc dù đã biết chia sẻ

đồ chơi với nhau và thay phiên chơi chung một món đồ nhưng chuyện giành

đồ chơi giữa các bé 4 tuổi vẫn xảy ra như cơm bữa “Chiến tranh” thường bắt đầu bằng việc cãi nhau rồi kết thúc bằng xô đẩy, đấm, đá Thường thì các bé cũng không thể làm nhau đau lắm đâu, nhưng người lớn vẫn phải canh chừng + Lên 4 tuổi, bé thích khám phá những điều mới lạ như đu xích đu, nhớ tên các loại khủng long, đếm từ 1 tới 20, và chơi game trên máy tính Chúng tin vào những gì chúng nhìn thấy, nghe thấy và chạm tay vào Nếu một đứa trẻ 4 tuổi nghĩ rằng ly nước trái cây của nó ít hơn của bạn thì có nghĩa là ly của bạn thật sự nhiều hơn, dù cả 2 ly đều được rót từ 2 hộp như nhau Nếu một đứa trẻ

4 tuổi nghe thấy tiếng một con quái vật đang gầm gừ dưới giường thì có nghĩa

là thật sự có một con quái vật ở dưới giường, mặc cho bố mẹ có giải thích đến đâu chăng nữa Ở tuổi này, bé cũng rất tò mò và rất thích hỏi “Tại sao?”

- Trẻ 5 tuổi có những đặc điểm sau:

+ Bước sang 5 tuổi trẻ dường như lớn hẳn lên trên nhiều phương diện Giống như khi 4 tuổi, trẻ 5 tuổi thích khám phá những điều mới lạ, nhưng

chúng có thể kiên trì luyện tập để thành thục hơn

Ví dụ khi vẽ một cái cầu vồng, một ngôi nhà hay tự họa chân dung, chúng có thể cố gắng vẽ đến khi nhìn được bức tranh như chúng muốn

Trang 24

17

+ Nhà tâm lý học V.X Mukhina đã có những nghiên cứu về tâm lý học trẻ

em và đã đưa ra kết luận: độ tuổi mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non” Ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thành về mọi phương diện hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những

cơ sở ban đầu về nhân cách của con người

+ Trẻ 5 tuổi thích dùng và diễn giải các ký hiệu, biểu tượng Hầu hết trẻ ở độ tuổi này rất nghiêm túc muốn học hỏi, và một số có thể học các cơ chế đọc viết nhanh hơn những đứa khác Chúng thích tự mình đọc menu và gọi món, diễn giải các biển báo giao thông, tự viết danh sách các món đồ cần mua, và

tự viết tên lên nhãn tập hoặc các bức tranh do chúng vẽ Chúng có thể hình dung ra trong đầu những vấn đề đơn giản và có thể nắm bắt khái niệm cộng trừ, dù có thể chúng phải xòe tay ra đếm trước khi trả lời

+ Những đứa trẻ 5 tuổi có cơ hội sử dụng máy tính thường thích các chương trình tương tác Chúng có thể hiểu, áp dụng các luật chơi và nếu như mỗi lần trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến kỹ năng đọc, viết và tính toán và được máy tính hiện ra câu chúc mừng hoặc khen ngợi chúng thì chúng rất thích thú Trẻ 5 tuổi thích những chương trình cho phép chúng tự giải quyết vấn đề, để chúng tự sắp xếp các nhân vật trên màn hình rồi tạo ra một chuyện tưởng tượng riêng của chúng, và các chương trình hướng dẫn chúng vẽ, tô màu, làm thiệp sinh nhật và thiệp mời

+ Trẻ ở độ tuổi này rất có thể tự lập kế hoạch vui chơi trước Chúng chọn bạn

bè tham gia trò chơi dựa trên tiêu chí cùng chung sở thích Những đứa trẻ thích các trò chơi năng động sẽ chọn chơi các trò leo trèo, chạy và đuổi bắt, chơi bóng hoặc đua xe Những đứa trẻ thích các trò chơi tĩnh hơn thì sẽ chơi cát, tìm côn trùng hoặc thằn lằn, chơi đóng kịch hoặc tụm lại trò chuyện với một đứa bạn khác

- Trẻ 6 tuổi có những đặc điểm sau:

Trang 25

18

+ Cuối năm 5 tuổi, đầu 6 tuổi trẻ đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, đã xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý, trẻ chuẩn bị tiến vào bước ngoặt 6 tuổi Bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng, khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳ mẫu giáo, mặt khác tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông Vì vậy trong giai đoạn này phải có bước chuẩn

bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho trẻ đến trường phổ thông

1.1.4 Đặc điểm về sinh lý của trẻ mầm non

Trẻ em là một thực thể tự nhiên đang lớn và đang phát triển, trẻ càng nhỏ gia tốc phát triển càng lớn Quá trình lớn và phát triển đó đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp; có những bước nhảy vọt; có sự khác về chất chứ không đơn thuần về số lượng Mỗi lứa tuổi có những đặc điểm sinh học riêng, chi phối sự phát triển bình thường cũng như quá trình bệnh lý của nó

[7, 110]

1.1.4.1 Đặc điểm sinh lý của hệ xương

Xương là chỗ dựa của toàn bộ cơ thể Một số xương có nhiệm vụ bảo

vệ não, tim, phổi

- Xương sơ sinh: chứa nhiều nước, ít muối khoáng Khi trẻ lớn thì nước giảm,

muối khoáng tăng Do vậy xương trẻ em mềm và có độ chun dãn hơn Màng ngoài xương dày, nên trẻ thường bị gãy xương theo dạng cành tươi Sự tạo cốt

và hủy cốt nhanh

- Điểm cốt hoá ở trẻ em: thường ở giữa các đầu xương và xuất hiện theo từng

thời kỳ Người ta có thể dựa vào điểm cốt hoá để xác định lứa tuổi của trẻ: 3 -

4 tháng xuất hiện điểm cốt hoá ở xương mác; 3 tuổi: xương tháp; 4 - 6 tuổi: xương bán nguyệt và xương thang; 5 - 7 tuổi: xương thuyền; 10 - 13 tuổi: xương đậu

- Đặc điểm của một số xương:

Trang 26

19

+ Xương sọ: Ở trẻ em xương sọ phần đầu dài hơn phần mặt Hộp sọ trẻ em

tương đối to so với kích thước của cơ thể so với người lớn Hộp sọ phát triển nhanh trong năm đầu Khi sinh ra trẻ có 2 thóp: thóp trước và thóp sau Thóp trước sẽ đóng kín khi trẻ được 12 tháng - 18 tháng Thóp sau nhỏ hơn và sẽ đóng kín sau 3 tháng

+ Xương sống: Xương cột sống chưa ổn định Lúc sơ sinh xương cột sống rất thẳng; 2 tháng tuổi trục cột sống quay lưng về phía trước; 6 tháng tuổi cột sống quay lưng về phía sau; 1 năm tuổi cột song vùng lưng cong về phía trước; 7 tuổi xương sống có 2 giai đoạn uốn cong ở cổ và ngực; tuổi dậy thì cong ở vùng thắt lưng

- Lồng ngực: Trẻ dưới 1 tuổi, đường kính trước - sau của lồng ngực bằng

đường kính ngang Càng lớn lồng ngực càng dẹt Xương sườn nằm theo chiều ngang Tuổi đi học xương sườn nằm theo đường dốc nghiêng

Trang 27

20

- Răng: trẻ sơ sinh chưa có răng Trẻ khoẻ mạnh bắt đầu mọc răng vào tháng

thứ 6 Đến 2 tuổi hết thời kì mọc răng sữa Tổng số răng là 20 cái Có thể tính

số răng theo công thức sau:

Số răng sữa = số tháng – 4

Số răng của trẻ được tính:

Từ 5 - 7 tuổi mọc răng hàm, 6 - 7 tuổi bắt đầu thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn, tổng số răng vĩnh viễn là 32 cái

Đối với trẻ bị còi xương răng mọc chậm, men răng xấu,…

1.1.4.2 Đặc điểm sinh lý của hệ cơ:

Hệ cơ cùng với hệ xương chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ thể Sự vận động của các cơ có liên quan đến võ não Những hoạt động và rèn luyện thân thể đều làm tăng thêm hoạt động tinh thần của con người

- Hệ cơ trẻ sơ sinh: chiếm khoảng 25% trọng lượng cơ thể, đến khi trưởng

thành hệ cơ chiếm 42% trọng lượng cơ thể Cơ trẻ em chứa nhiều nước, ít đạm, mỡ và

các muối vô cơ nên khi trẻ bị ỉa chảy thì sụt cân nhanh

- Hệ cơ trẻ em: phát triển không đồng đều Ở trẻ dưới 6 tuổi, các cơ ở đùi, vai,

cẳng chân cánh tay phát triển sớm hơn, trong khi đó các cơ nhỏ như cơ ở bàn tay, ngón tay phát triển chậm hơn Vì vậy trẻ nhỏ chưa làm được các tác động khéo léo, tỉ mỉ cần sử dụng đến những ngón tay

- Đặc điểm sinh lí:

+ Cơ lực: thông thường bên phải mạnh hơn bên trái Cơ lực trẻ em còn yếu

nên không cho trẻ tập luyện thân thể và lao động quá mức

+ Trương lực cơ: Trẻ em trong những tháng đầu sau sinh có hiện tượng tăng

trương lực cơ sinh lý, đặc biệt ở chi trên và chi dưới kéo dài trong vòng 2- 4 tháng

Trang 28

21

- Một số bệnh lý về hệ cơ thường gặp ở trẻ em:

+ Thiếu cơ bẩm sinh: thường gặp ở cơ ngực, hoặc bó ức sườn

+ Nhược cơ bẩm sinh

+ Bệnh loãng dưỡng cơ tiến triển [8, 113]

1.1.4.3 Đặc điểm sinh lý của da:

Bề mặt da của trẻ em so với trọng lượng cơ thể cao hơn người lớn Do

đó sự thải nước theo đường da ở trẻ em sẽ lớn hơn người lớn Diện tích da ở người lớn là 1,73 m2

Diện tích da ở trẻ em được tính theo công thức:

S = [(4p + 7) / (p + 90)]

Trong đó: S tính theo m2

và p tính theo kg

* Da có những chức năng sau:

- Chức năng bảo vệ: da bảo vệ các lớp tổ chức sâu chống lại các tác nhân cơ,

hoá học bên ngoài; chức năng này ở trẻ nhỏ rất yếu so với người lớn Do đó,

da trẻ em rất dễ bị tổn thương và nhiễm trùng

- Chức năng hô hấp và bài tiết: ở trẻ nhỏ, sự hô hấp ở ngoài da biểu hiện rất

mạnh so với người lớn Trong những tháng đầu tuyến mồ hôi chưa làm việc nên da chưa có tác dụng tiết mồ hôi

- Chức năng điều hoà nhiệt: do da có nhiều mạch máu, tuyến mồ hôi chưa

hoạt động, hệ thần kinh chưa hoàn thiện nên điều hoà nhiệt kém, trẻ dễ bị nóng quá hay lạnh quá

- Chức năng chuyển hoá: ngoài chuyển hoá hơi nước, da còn cấu tạo nên các

men, các chất miễn dịch, đặc biệt là chuyển hoá tiền vitamin D thành vitamin

D dưới tác dụng của tia cực tím Vì vậy cần cho trẻ tắm nắng để phòng bệnh còi xương

1.1.5 Đặc điểm cấu tạo của trẻ

1.1.5.1 Đặc điểm cấu tạo hệ tiêu hóa ở trẻ:

* Miệng răng:

- Hốc miệng trẻ nhỏ vì xương hàm ít phát triển; trẻ càng lớn tuổi hốc miệng lớn dần theo thời gian

Trang 29

22

- Niêm mạc miệng mềm, có nhiều mạch máu nhưng khô nên dễ bị tổn thương

và hay bị nấm Trẻ càng lớn tuổi niêm mạc miệng càng đỡ bị tổn thương hơn

- Tuyến nước bọt trẻ chưa biệt hóa tốt nên ít nước bọt và chất lượng kém Trẻ

3 tuổi trở đi tuyến nước bọt ngày càng biệt hóa tốt và trẻ nói nhiều hơn nên tạo nhiều nước bọt và có chất lượng

- Răng sữa bắt đầu mọc từ tháng thứ 6 đến tháng 24 Từ tháng 4 - 5 do sự kích thích của mầm răng, trẻ hay bị nhẻo nước bọt ra ngoài Từ 6 tuổi sẽ thay bằng răng vĩnh viễn

* Thực quản:

- Cơ vòng thực quản dạ dày đóng chưa chặt nên trẻ dưới 1 tuổi hay có hiện tượng trào ngược dạ dày thực quản Nếu không được xử lí kịp thời trẻ có thể

có những biến chứng tại chỗ và toàn thân

Bảng 1.1: Bảng kích thước thực quản để tham khảo khi đặt ống thông < 2

tháng: 0,8 - 0,9cm đường kính

Chiều dài = 1/5 chiều dài cơ thể + 6,3cm

- Van hồi manh tràng có tác dụng chống trào ngược cá chất từ đại tràng vào ruột non , nếu không có van này, trẻ rất dễ bị nhiễm trùng đường tiêu hóa

- Trực tràng có tổ chức mỡ lỏng lẻo nên dễ bị sa khi bị lỵ, ho gà

- Trẻ càng lớn tuổi thì khả năng mắc bệnh nhiễm trùng thấp hơn, thực trạng tổ chức mỡ ngày càng chặt chẽ hơn giúp trẻ tránh khỏi một số bệnh thường gặp

1.1.5.2 Đặc điểm của hệ hô hấp: [9]

* Sự phát triển về bộ máy hô hấp ở trẻ:

- Vùng mũi và họng hầu: mũi và xoang xương cạnh mũi lúc sinh chưa hoàn thiện, phát triển dần theo tuổi Lúc mới sinh đã có xoang hàm, sau đó xoang hàm phát triển dần và hoàn thiện lúc trẻ được 2 tuổi Xoang bướm và xoang trán phát triển từ 3 tuổi đến dậy thì

Trang 30

23

- Niêm mạc và hệ bạch huyết:

+ Trẻ càng nhỏ niêm mạc càng mỏng, nhiều mao mạch dễ bị sung huyết, ngược lại hệ lympho ở trẻ nhỏ chưa phát triển nên dễ nhiễm trùng Hệ thống hạnh nhân phát triển tối đa khi trẻ 4 tuổi trở lên

- Thanh quản: lòng hẹp, thành mềm nên dễ bị chít hẹp do viêm, dị vật, nhấy nhớt và chèn ép Thanh quản phát triển dần theo độ tuổi

* Đường dẫn khí:

- Hệ thần kinh phó giao cảm tác động thông qua dây X gây co cơ trơn Các kích thích phó giao cảm bao gồm khói bụi, xúc động…Atropin ức chế phó giao cảm gây giãn phế quản

- Đường dẫn khí từ phế quản đến ống phế nang tăng dần về đường kính mô đàn hồi, cùng với sự xuất hiện của những vòng có trơn, xung quanh đường dẫn khí làm cho kháng lực ngày càng giảm Vòng sụn nhỏ dần và biến mất ở các tiểu phế quản Cấu tạo từ nay chỉ là những vòng cơ trơn, càng xuống dưới chỉ còn vài sợi cơ trơn mỏng Từ đọan này trở đi, đường dẫn khí được mở thông qua áp lực làm mở phế nang nên rất dễ bị xẹp Đường kính khí quản tăng gấp 2 lần lúc 5 tuổi; phế quản gốc tăng 2 lần lúc 6 tuổi

- Tiêu phế quản tăng 40% khi trẻ lên 2 tuổi và tăng vượt 40% khi trẻ lên 3 tuổi

* Cơ hô hấp, lồng ngực:

- Số lượng sợi cơ và hệ võng nội cơ tương ( sarcoplasmic reticulum) vẫn còn tiếp tục phát triển sau sanh Trẻ sanh non , cơ hoành rất mau “mệt” do hệ võng nội cơ tương chưa phát triển Hệ sụn xương, cơ hô hấp tiếp tục phát triển Lúc sinh lồng ngực mềm, dễ biến dạng Từ 1 tuổi lồng ngực giống như người lớn

- Cơ hô hấp, lồng ngực của trẻ ngày càng phát triển theo độ tuổi tăng dần, đặc biệt hệ sụn ở trẻ phát triển rất nhanh

1.1.5.3 Đặc điểm hệ thần kinh ở trẻ: [10]

* Sự phát triển của hệ thần kinh:

Trang 31

24

- Sự phát triển quan trọng nhất là sự myelin hoá các tổ chức thần kinh Từ 1 -

2 tuổi vỏ não phát triển nhiều hơn, từ 6 – 10 tuổi tổ chức vỏ não khá đầy đủ

* Hệ thần kinh trung ương:

- Gồm não bộ và tuỷ sống:

+ Não : Nằm trong hộp sọ được bao bọc và nuôi dưỡng bởi các màng não và

hệ thống tưới máu não Trọng lượng não sơ sinh 370 - 390 gam ( 1/8 - 1/9 trọng lượng cơ thể ), trong khi não người lớn khoảng 1400 gam ( 1/40 - 1/50 trọng lượng cơ thể ), não phát triển nhanh trong năm đầu ( 1 tuổi : 900 gam ) Não trẻ từ 7 – 8 tuổi phát triển chậm lại

+ Tuỷ sống: Nằm trong ống sống ; trọng lượng lúc mới sinh từ 2 - 6 gam, đến năm 5 tuổi tăng gấp 3 lần Chóp cùng của tuỷ sống trẻ sơ sinh ngang thắt lưng thứ 3 (L3)

- Hệ thần kinh thực vật : Gồm các sợi thần kinh đi từ hệ thần kinh trung ương đến các cơ trơn, cơ tim và biểu mô tuyến thực hiện chức năng một cách tự động Hệ thần kinh này chia làm 2 phần: hệ giao cảm và hệ phó giao cảm hoạt động theo nguyên tắc đối lập nhau; tuy nhiên thời kỳ sơ sinh hệ giao cảm chiếm ưu thế hơn

- Hệ giao cảm có 2 trung tâm:

+ Trung tâm cao: phía sau vùng dưới đồi

+ Trung tâm thấp: nằm ở sừng bên chất xám tuỷ sống từ đốt ngực 1 đến đốt thắt lưng 3

- Hệ giao phó có 2 trung tâm:

+ Trung tâm cao : Nằm phía trước vùng dưới đồi

+ Trung tâm thấp : Nằm ở 2 nơi: Phía trên nằm ở thân não, theo dây III, VII,

IX, X đi đến các cơ quan ở vùng mặt và các tạng trong ổ bụng Phía dưới: ở sừng bên chất xám tuỷ sống từ đốt cùng 2 đến cùng 4 (S2 - S4) rồi theo dây thần kinh chậu đến phần dưới ruột già, bàng quang và cơ quan sinh dục Thời

kì 3 – 6 tuổi hệ giao phó chiếm ưu thế hơn

1.1.5.4 Đặc điểm hệ cơ - xương của trẻ:

Trang 32

25

* Đặc điểm hệ cơ của trẻ:

- Về thành phần hóa học, cơ trẻ em có nhiều nước, ít chất đạm, chất mỡ Do

có nhiều nước khi trẻ bị ỉa chảy nếu bị mất nước nặng thì dễ sụt cân nhanh

- Các cơ trẻ em phát triển không đồng đều Các cơ lớn như cơ đùi, cơ tay, cơ vai phát triển trước; còn các cơ nhỏ như cơ ở lòng bàn tay sau này mới phát triển

- Lực cơ của trẻ yếu; cần hướng dẫn luyện tập để tăng dần lực cơ từng bước, bảo đảm cho trẻ phát triển vận động tốt

* Đặc điểm về hệ xương của trẻ:

- Xương của trẻ em chưa phát triển, hầu hết là tổ chức sụn

- Hình thể xương trẻ em khác với xương người lớn; ở trẻ sơ sinh: đầu to, thân dài, chân tay ngắn, xương sống thẳng, lồng ngực tròn

- Trong thành phần xương của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nhiều nước, ít muối khoáng

- Não trẻ sơ sinh nhiều mao mạch nên dễ bị xuất huyết hoặc xung huyết

- Tổn thương bệnh lý ở não thường biểu hiện rối loạn vừa tháp vừa ngoại tháp; có khi ngoại tháp nặng nề hơn

Mỗi giai đoạn có những đặc điểm về bệnh lý riêng

1.1.6.1 Giai đoạn trước khi sinh:

Từ lúc thụ thai cho đến khi sinh khoảng 270 - 280 ngày, chia thành 2 thời kì:

* Thời kì thai phôi: 3 tháng đầu của thai kì:

- Trong thời kỳ này, noãn thụ tinh được biệt hoá nhanh chóng thành một cơ thể Đây là thời kỳ hình thành thai nhi Trong thời kỳ này, nếu mẹ bị nhiễm các chất độc (thuốc hay hoá chất) hay bị nhiễm virus như nhiễm TORCH

Trang 33

26

(toxoplasmo, rubeola, cytomegalovirus, herpes simplex) thì trẻ sinh ra dễ bị dị tật Bệnh lý trong giai đoạn này thường là sự rối loạn về hình thành và phát triển của thai nhi như những dị tật do “gene”, bất thường về nhiễm sắc thể Những người mẹ lớn tuổi sinh con dễ bị những dị hình về nhiễm sắc thể như hội chứng Down

* Thời kì thai: Tính từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 9:

- Trong thời kỳ thai, thai nhi tiếp tục lớn lên một cách nhanh chóng Trong giai đoạn này sự dinh dưỡng của thai nhi được cung cấp từ người mẹ qua rau thai Nếu người mẹ không đủ dinh dưỡng hay tăng cân kém trong giai đoạn này, trẻ sinh ra dễ có cân nặng thấp hoặc tỉ lệ tử vong cao Việc chăm sóc người mẹ trong thời kỳ mang thai chính là chăm sóc đứa bé trong giai đoạn trước khi sinh

1.1.6.2 Giai đoạn sau khi sinh:

Bắt đầu từ lúc sinh (cắt rốn) cho đến 4 tuần lễ đầu

- Glucose máu trẻ sơ sinh thấp nên cần cho trẻ bú sớm sau khi sinh

- Hệ thống miễn dịch còn non yếu nên trẻ dễ bị nhiễm trùng Tuy vậy nhờ có kháng thể từ mẹ chuyển sang nên trẻ ít bị các bệnh như sởi, bạch hầu,…

- Ngoài một số bệnh của giai đoạn trước khi sinh như các dị dạng, tật bẩm sinh, chúng ta gặp các bệnh có liên quan đến sinh đẻ như ngạt, sang chấn sản khoa Vì thế việc săn sóc tốt trẻ sơ sinh nhất là chăm sóc tốt trong giai đoạn trước khi sinh rất quan trọng để hạn chế việc đẻ khó, nhiễm trùng nhằm hạ thấp tỉ lệ tử vong sơ sinh

1.1.6.3 Thời kỳ bú mẹ (nhũ nhi):

Từ 1 tháng đến 12 tháng tuổi

Trang 34

27

* Đặc điểm bệnh lý:

- Trẻ dễ mắc các bệnh rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy, do mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng cao và chức năng tiêu hóa còn yếu

- Trung tâm điều nhiệt và da của trẻ cũng chưa phát triển đầy đủ, do đó trẻ dễ

bị hạ thân nhiệt hoặc dễ bị sốt cao co giật

- Dễ mắc các bệnh còi xương do hệ xương phát triển nhanh, trong quá trình chuyển hóa chất còn yếu

- Các yếu tố gấy bệnh dễ gây phản ứng não – màng não, do đặc điểm thần kinh các quá trình ức chế, hưng phấn có xu hướng lan tỏa

- Hệ thống miễn dịch còn yếu, dưới 6 tháng trẻ ít bị bệnh lây do có miễn dịch thụ động - kháng thể truyền từ cơ thể mẹ sang Từ trên 6 tháng trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, ho gà, thủy đậu, bạch hầu, viêm đường hô hấp do miễn dịch chủ động còn yếu và miễn dịch thụ động đã giảm dần

- Trong 6 tháng đầu trẻ ít bị các bệnh nhiễm trùng cấp như sởi, bạch hầu do kháng thể từ mẹ (IgG) truyền sang qua rau còn tồn tại ở cơ thể trẻ Càng về sau, miễn dịch từ mẹ truyền sang giảm dần, trong lúc đó hệ thống miễn dịch của trẻ vẫn còn non yếu nên trẻ dễ mắc các bệnh lây nhiễm

1.1.6.4 Thời kỳ răng sữa:

Từ 1 đến 6 tuổi (thời kỳ trước khi đi học) Có thể chia làm 2 thời kỳ nhỏ: tuổi nhà trẻ: 1- 3 tuổi, tuổi mẫu giáo: 4- 6 tuổi

Trang 35

28

- Trẻ dễ mắc các bệnh lây như sởi, cúm, bạch hầu, quai bị, lao do tiếp xúc nhiều

Tóm lại: Sự lớn lên và phát triển của trẻ em trải qua 2 giai đoạn cơ bản bao

gồm 7 thời kỳ Ranh giới giữa các thời kỳ này không rõ ràng mà thường xen

kẽ nhau Ngoài ra còn có một số yếu tố tác động không nhỏ đến quá trình lớn lên và phát triển của trẻ hoặc ảnh hưởng đến dung mạo bệnh tật của trẻ như ngoại cảnh, môi trường sống của trẻ (yếu tố ngoại sinh) Do đó nhiệm vụ của những cán bộ Nhi khoa là phải nắm vững những đặc điểm của các thời kỳ trên, tạo điều kiện đảm bảo cho sự lớn lên và phát triển của đứa trẻ được tốt

1.1.7 Ý nghĩa và tác dụng của việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non khi đang mắc một số bệnh thường gặp

1.1.7.1 Mục tiêu của việc giáo dục kĩ năng cho trẻ mầm non

- Nhằm giúp trẻ biết, hiểu, nắm bắt và thực hiện đúng một số kĩ năng cơ bản

sử dụng hằng ngày để bảo vệ chính bản thân mình khỏi các nguồn bệnh gây hại đến sức khỏe của mình

1.1.7.2 Hình thức giáo dục kĩ năng tự phục vụ

- Tập thể: Giáo dục một số kĩ năng cần thiết để trẻ vận dụng hằng ngày theo

hình thức cả lớp cùng lắng nghe cô giáo hướng dẫn và cùng thực hành

- Cá nhân: Giáo dục cho từng trẻ một, để trẻ nắm bắt hình thức, cách thức thực hiện một cách chính xác và đảm bảo tính khoa học nhất

- Tuyên truyền đến phụ huynh học sinh để phụ huynh cùng hỗ trợ cho trẻ thực hiện một số kĩ năng tại nhà

1.1.7.3 Ý nghĩa và tác dụng của việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non khi đang mắc một số bệnh thường gặp

- Trẻ hiểu và thực hiện tốt những kĩ năng cơ bản để tự phục vụ mà cô giáo tổ chức giáo dục nhằm tự bảo vệ cơ thể mình tránh khỏi những mầm bệnh xung quanh làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ

- Việc thực hiện tốt các kĩ năng cơ bản này giúp nâng cao các kĩ năng, kĩ xảo cho trẻ hơn; dần dần những kĩ năng này trở nên quen thuộc và trẻ có thể thực

Trang 36

29

hiện như một kĩ xảo nhằm tự bảo vệ sức khỏe của chính bản thân mình mà không cần người khác chỉ dẫn

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Mục tiêu của việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non hiện nay

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ và đạo đức; hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một Giáo dục mầm non tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Với các mục tiêu cụ thể như sau:

* Phát triển thể chất cho trẻ:

- Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm bảo

sự an toàn của bản thân

- Khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi

- Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế

- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian

- Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống với sức khoẻ

* Phát triển tình cảm xã hội :

- Có ý thức chăm sóc, bảo vệ bản thân

- Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh

- Có một số phẩm chất cá nhân: mạnh dạn, tự tin, tự lực

- Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ

- Thực hiện một số qui tắc, qui định trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi

* Phát triển nhận thức:

- Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh

- Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, chú ý, ghi nhớ có chủ định

- Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản

Trang 37

- Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật

Theo như những mục tiêu đề ra ở trên, chúng ta có thể thấy rằng một trong những mục tiêu quan trọng của việc chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non hiện nay đó là mục tiêu chăm sóc sức khỏe của trẻ, quan tâm đến quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ; có sức khỏe trẻ mới tích cực tham gia vào các hoạt động và thông qua các hoạt động đó giúp trẻ hình thành và hoàn thiện nhân cách con người toàn diện, có thể nói một đứa trẻ khỏe mạnh sẽ là một đứa trẻ thông minh Vì vậy, cần chăm sóc, bảo vệ sức khỏe tốt cho trẻ nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt

1.2.2 Nội dung về một số bệnh thường gặp ở trẻ mầm non

Một số bệnh thường gặp ở trẻ nhà trẻ - mẫu giáo [12, 45- 82]

- Bệnh sâu răng: đây là một bệnh đã được nói đến từ lâu trong lịch sử y học,

bệnh rất phổ biến ở mọi lứa tuổi, hay gặp ở trẻ tuổi mẫu giáo và trẻ tiểu học, sau đó số răng đau thêm ít đi Nguyên nhân sâu răng do bẩm sinh, do cấu tạo hình thể của răng, do vi khuẩn ở men răng do liên cầu Mutans; ngoài ra còn

do quá trình dinh dưỡng kém

- Bệnh suy dinh dưỡng: là bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ 3

tuổi làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và đặc biệt khi trẻ bị bệnh suy dinh dưỡng, cơ thể suy yếu dễ mắc một số bệnh nhiễm khuẩn, diễn

Trang 38

31

biến nặng có thể gây tử vong Nguyên nhân của bệnh do nuôi dưỡng kém: mẹ không có sữ hoặc thiếu sữa, nuôi dưỡng nhân tạo; cho trẻ ăn nước cháo, ăn bột quá sớm; ăn sam muộn, cho trẻ ăn thiếu chất dinh dưỡng; cai sữa quá sớm; trẻ bị các bệnh nhiễm khuẩn như: lị, ỉa chảy, giun sán,… làm cơ thể trẻ suy yếu, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa kéo dài dẫn đến suy dinh dưỡng

- Bệnh học đường: đây là bệnh khá phổ biến hiện nay, thường gặp ở trẻ mầm

non và tiểu học; nguyên nhân do trẻ ngồi sai tư thế, hay do trẻ bị bẩm sinh, một phần là do cơ sở vật chất không đáp ứng đúng nhu cầu ở từng độ tuổi của trẻ dẫn đến trẻ bị mắc bệnh học đường

- Bệnh béo phì: là bệnh thường gặp ở trẻ, nhiều nhất ở trẻ mẫu giáo; nguyên

nhân do cơ thể trẻ ngày càng tăng trưởng và phát triển, nhu cầu ăn uống của trẻ ngày càng tăng, người lớn lạm dụng và cho trẻ ăn theo nhu cầu nhưng vượt quá chỉ tiêu thành phần dinh dưỡng cần cung cấp một ngày cho trẻ dẫn đến tình trạng trẻ tăng cân nhanh và thừa cân

- Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A: vitamin A cần cho hoạt động của mắt,

nhất là khả năng nhìn trong bóng tối, vitamin còn có chức năng chống khô da, cần cho sự phát triển của xương và khả năng chống nhiễm khuẩn Trẻ em thường bị khô mắt do thiếu lượng vitamin A cần thiết do mẹ thiếu sữa, ăn sam không đúng hoặc nuôi nhân tạo không đảm bảo chất lượng hoặc khi trẻ bị các bệnh ỉa chảy kéo dài, lị, sởi, bệnh gan mãn tính,…hoặc do trong các thức ăn, thức uống hằng ngày chưa đảm bảo đủ lượng vitamin A cần thiết cung cấp cho cơ thể trẻ

- Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính: đây là bệnh rất phổ biến ở trẻ nhỏ dưới 5

tuổi Theo thống kê trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính dẫn đến tử vong thì trong đó: viêm phổi chiếm 35%, tiêu chảy 22%, còn lại là các nguyên nhân khác Ở Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh 1 trẻ/ 1 năm bị 3- 5 lần

- Bệnh còi xương: là bệnh thường gặp ở trẻ mầm non, nhất là trẻ 3 tuổi, đặc

biệt là trẻ từ 3 tháng đến 18 tháng, lứa tuổi mà hệ xương đang phát triển mạnh Nguyên nhân chủ yếu do thiếu ánh áng mặt trời; thiếu sữa mẹ, cai sữa

Trang 39

32

sớm; ăn sữa bò, ăn bột quá sớm, thức ăn bổ sung không đảm bảo số lượng và chất lượng; hoặc do trẻ đẻ non, đẻ sinh đôi hay trẻ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, sởi, ỉa chảy,…

- Bệnh tiêu chảy: bệnh khá phổ biến, tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong rất cao

Bệnh này là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng ở trẻ vì khi bị tiêu chảy trẻ ăn ít, khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng ở ruột giảm, nhu cầu dinh dưỡng lại tăng, nhất là trong những đợt tiêu chảy kéo dài thì tình trạng suy dinh dưỡng càng nặng

- Bệnh đau mắt đỏ: bệnh lây lan thành dịch ở các trường mầm non, lây lan

qua chất tiết của mắt (dử mắt) và lây lan qua các đồ dùng chung như khăn mặt, chậu rửa mặt, chăn, màn, gối, đệm,… và qua ruồi nhặng đạu từ mắt trẻ bị bệnh sang trẻ lành Bệnh thường hay gặp vào mùa đông xuân và mùa hè; những yếu tố như bụi, cát, ánh sáng, sức nóng cũng dễ làm cho bệnh phát sinh

Ở các nước đang phát triển chủ yếu là các bệnh do nhiễm trùng và thiếu

dinh dưỡng, các bệnh truyền nhiễm, các bệnh do kí sinh trùng [13, 9]

1.2.3.2 Tình hình mắc bệnh ở trẻ em Việt Nam

Việt Nam nằm trong khối các nước đang phát triển, nền kinh tế của nước ta còn nghèo nàn, quá trình phát triển kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn cho nên trẻ em Việt Nam thường mắc một số bệnh như: bệnh suy dinh

Trang 40

33

dưỡng, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, bệnh tiêu chảy, sâu răng, bệnh đau mắt đỏ, bệnh học đường, bệnh béo phì

1.2.4 Bảng thống kê các bệnh thường gặp mà trẻ thường mắc phải ở trường mầm non 19/5, Hoa Phượng Đỏ thuộc quận Hải Châu - TP Đà Nẵng

* Bảng 1.2: Bệnh thường gặp ở trẻ tại trường mầm non 19/5:

STT Bệnh thường gặp Lứa tuổi Số lượng

(trẻ)

Số lượng mắc bệnh (trẻ)

Tỉ lệ (%)

Ngày đăng: 26/06/2021, 19:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] www.google.com.vn - danviet.vn Khác
[2, 10] Lại Kim Thúy - Phòng bệnh trẻ em - Trường cao đẳng sư phạm nhà trẻ, mẫu giáo TW1 Khác
[3] NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội- Năm 2012 Khác
[4, 8] Lại Kim Thúy- Phòng bệnh trẻ em - Trường cao đẳng sư phạm nhà trẻ, mẫu giáo TW1 Khác
[5] www.google.com.vn- Bách khoa toàn thư Khác
[6, 46- 56] Tâm lý học trẻ em tuổi mầm non - Dành cho hệ cử nhân sư phạm mầm non Khác
[7, 110] TS. Lê Thanh Vân- Sinh lý học trẻ em - Đại học sư phạm Hà Nội Khác
[8, 113] TS. Lê Thanh Vân- Sinh lý học trẻ em - Đại học sư phạm Hà Nội Khác
[12, 45- 82] Lại Kim Thúy- Phòng bệnh trẻ em- Trường cao đẳng sư phạm nhà trẻ, mẫu giáo TW1 Khác
[13, 9] Lại Kim Thúy- Phòng bệnh trẻ em - Trường cao đẳng sư phạm nhà trẻ, mẫu giáo TW1 Khác
[14, 15- 19] Lại Kim Thúy- Phòng bệnh trẻ em - Trường cao đẳng sư phạm nhà trẻ, mẫu giáo TW1 Khác
[15, 187 – 191] Hoàng Thị Phương - Giáo trình vệ sinh trẻ em- Dùng cho sinh viên các trường Sư phạm mầm non Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w