1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp rèn kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn đạo đức lớp 5

112 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa Việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức cho học sinh mang ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống nói chung và chính bản thân các em nói riêng... Cụ thể, rèn lu

Trang 1

1.1.1.1.1.1.1.1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5

Thuộc nhóm ngành : Giáo dục (GD)

Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Phan Lâm Quyên

Đà Nẵng, năm 2016

Trang 2

Khóa luận này đến nay đã được hoàn thành Có được kết quả này, trước hết em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tại trường

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo hướng dẫn,

cô Nguyễn Phan Lâm Quyên, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em hoàn thành được đề tài này

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trường Tiểu học Trần Cao Vân, TP Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong việc điều tra, thực nghiệm phục vụ cho đề tài này

Em cũng xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các bạn trong tập thể lớp 12STH2 đã giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Tuy nhiên, do năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi sai sót Vì thế, em mong nhận được sự cảm thông, góp ý, bổ sung của thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016

Tôn Nữ Kim Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

6.1 Khách thể nghiên cứu 4

6.2 Đối tượng nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

7.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết 4

7.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lý thuyết 4

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm 4

7.2.2 Phương pháp đàm thoại 4

7.2.3 Phương pháp điều tra viết 4

7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 4

7.3 Phương pháp thống kê toán học 4

8 Cấu trúc đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.1.1.1 Kĩ năng 6

1.1.1.2 Kĩ năng sống 6

1.1.1.3 Kĩ năng giải quyết vấn đề 8

Trang 4

1.1.2 Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học 9

1.1.2.1 Ý nghĩa, mục tiêu của việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề 9

1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức 10

1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học 12

1.1.3.1 Đặc điểm về nhận thức 12

1.1.3.2 Đặc điểm về nhân cách 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Vị trí, mục tiêu, đặc điểm, nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 5 15

1.2.1.1 Vị trí của môn Đạo đức 15

1.2.1.3 Đặc điểm của môn Đạo đức 17

1.2.1.4 Nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 5 19

1.2.2 Thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong môn Đạo đức lớp 5 ở trường tiểu học 23

1.2.2.1 Vài nét về đối tượng điều tra 23

1.2.2.2 Thực trạng nhận thức của học sinh về việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức 5 24

1.2.2.3 Thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức 5 31

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5 42

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức lớp 5 42

2.1.1 Dựa vào mục tiêu môn Đạo đức 42

2.1.2 Dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh 42

2.1.3 Dựa vào kết quả điều tra thực trạng 43

2.2 Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức lớp 5 43

2.2.1 Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải quyết vấn đề 43

Trang 5

2.2.1.1 Sử dụng phương pháp đóng vai 43

2.2.1.2 Sử dụng phương pháp điều tra 47

2.2.2 Sử dụng kĩ thuật dạy học “khăn trải bàn” nhằm rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh 52

2.2.3 Sử dụng tình huống học tập để tạo môi trường cho học sinh rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề 56

2.2.3.1 Sử dụng phiếu bài tập có nội dung giải quyết tình huống 56

2.2.3.2 Sử dụng tình huống đạo đức trên phương tiện nghe nhìn 61

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65

3.1 Mục đích thực nghiệm 65

3.2 Phương pháp thực nghiệm 65

3.3 Tiến hành thực nghiệm 65

3.3.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 65

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 65

3.3.3 Các bước tiến hành thực nghiệm 66

3.4 Kết quả và đánh giá kết quả thực nghiệm 66

3.4.1 Tiêu chí đánh giá 66

3.4.2 Kết quả thực nghiệm 66

3.4.2.1 Bài thực nghiệm số 1: Kính già, yêu trẻ 67

3.4.2.2 Bài thực nghiệm số 2: Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 68

Tiểu kết chương 3 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

1 Kết luận 71

2 Một số ý kiến đề xuất 71

2.1 Đối với giáo viên tiểu học 71

2.2 Đối với gia đình và xã hội 72

3 Hướng nghiên cứu sau đề tài 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 74

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ hứng thú của học sinh về môn học Đạo đức 26

Bảng 1.2 Mức độ hứng thú khi tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 27

trong quá trình học môn Đạo đức 27

Bảng 1.3 Mức độ tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 28

trong quá trình học môn Đạo đức 28

Bảng 1.4 Khả năng giải quyết vấn đề của học sinh 29

Bảng 2.1 Những kĩ năng cơ bản được giáo viên quan tâm rèn luyện cho học sinh trong quá trình dạy học môn Đạo đức 5 33

Bảng 2.2 Kết quả nhận thức của giáo viên về mục tiêu của việc rèn luyện .34

kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5 34

Bảng 2.3 Kết quả đánh giá mức độ trình bày đầy đủ các bước giải quyết vấn đề 36

của giáo viên 36

Bảng 2.4 Kết quả mức độ rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học 37

môn Đạo đức 5 của giáo viên 37

Bảng 2.5 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải trong việc rèn luyện 38

kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh 38

Bảng 2.6 Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề của học sinh 39

Bảng 3.1: Kết quả thực nghiệm bài Kính già, yêu trẻ 67

Bảng 3.2: Kết quả thực nghiệm bài Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 68

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Mức độ hứng thú của học sinh về môn học Đạo đức 26 Biểu đồ 1.2 Mức độ hứng thú khi tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 27 trong quá trình học môn Đạo đức 27 Biểu đồ 1.3 Mức độ tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5 28 trong quá trình học môn Đạo đức 28 Biểu đồ 2.1 Những kĩ năng cơ bản được giáo viên quan tâm giáo dục cho học sinh trong quá trình dạy học môn Đạo đức 5 33 Biểu đồ 2.2 Kết quả nhận thức của giáo viên về mục tiêu của việc rèn luyện .35

kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5 35 Biểu đồ 2.3 Kết quả đánh giá mức độ trình bày đầy đủ các bước giải quyết vấn đề của giáo viên 36 Biểu đồ 2.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề của học sinh 39 Biểu đồ 3.1 Kết quả thực nghiệm lần 1 67 Biểu đồ 3.2 Kết quả thực nghiệm lần 2 68

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực để thực hiện sự nghiệp đó là vô cùng quan trọng Vì vậy, Đảng ta đã xác định: “Con người Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi sự phát triển” (Văn kiện hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trưng ương khóa VIII) Trong phạm vi ngành Giáo dục, mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách con người cần được triển khai và quán triệt một cách triệt để Con người phát triển toàn diện về nhân cách là sự kết hợp hài hòa của phẩm chất và năng lực: cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tâm hồn, trong sáng về đạo đức Sự phát triển nhân cách của con người chịu sự quy định của các mối quan hệ xã hội, nghĩa là các mối quan hệ xã hội quy định bản chất con người Con người mới trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngoài việc nắm vững trí thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, có phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải có kĩ năng sống, kĩ năng hòa nhập

Đặc biệt, trong xu thế hội nhập với một xã hội không ngừng biến đổi hiện nay đòi hỏi con người phải thường xuyên ứng phó với những thay đổi hằng ngày của cuộc sống Các tình huống có vấn đề cần xử lý ngày càng phong phú, đa dạng cần được giải quyết một cách khéo léo, thông minh để duy trì mối quan hệ hòa bình trong xu thế hội nhập của thế giới Do đó, vấn đề giáo dục kĩ năng sống, nhất là kĩ năng giải quyết vấn đề trong các tình huống để giúp học sinh ứng biến với các sự thay đổi là vấn đề mang tính cấp thiết

Bậc Tiểu học là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là lứa tuổi đang phát triển và định hình về nhân cách Ngoài ra, thói quen hành vi của các em vẫn chưa có tính ổn định Bên cạnh đó, vốn kinh nghiệm sống cũng như khả năng diễn đạt ngôn ngữ chưa cao khiến việc giải quyết vấn đề trước các tình huống gặp nhiều khó khăn Vì vậy, việc rèn luyện kĩ năng này ở nhà trường Tiểu học có ý nghĩa quan trọng

Môn Đạo đức là một môn học có thế mạnh trong việc tích hợp và lồng ghép các nội dung giáo dục kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giải quyết vấn đề nói riêng Giáo viên có thể tích hợp hoàn toàn hoặc từng phần nội dung bài học đạo đức

Trang 9

với nội dung giáo dục kĩ năng này trong hoạt động dạy học Tuy nhiên, trên thực tế, các giáo viên tiểu học và các nhà quản lí vẫn chưa thực sự quan tâm đến rèn luyện

kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh đặc biệt là trong môn Đạo đức Chính vì vậy,

tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức lớp 5”

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về cơ sở lí luận và thực trạng việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức cho học sinh lớp 5 ở trường tiểu học Từ đó, đề ra một số biện pháp rèn kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong quá trình dạy học môn Đạo đức một cách hiệu quả

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kĩ năng giải quyết vấn đề là một mảng nhỏ của kĩ năng sống nói chung Kĩ năng giải quyết vấn đề còn được hiểu là kĩ năng xử lý tình huống Việc rèn luyện kĩ năng này cho học sinh tiểu học đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Sau đây, chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

- Phan Anh Xuân, Nghiên cứu dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức 4, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2006 đã đề cập đến những vấn

đề cơ bản về dạy học giải quyết vấn đề, cách xây dựng các tình huống có vấn đề

- Nguyễn Thanh Bình, Giáo trình giáo dục kĩ năng sống, NXB Đại học Sư

phạm Hà Nội, năm 2007 đã trình bày những vấn đề chung về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống Trong đó, tác giả đã đề cập đến tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề

- Thạc sĩ Lê Ngộ, Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường phổ thông,

Chuyên san tạp chí giáo dục số 40 năm 2009, tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của việc đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường, khẳng định vai trò trách nhiệm của nhà trường trong việc kết hợp dạy chữ với dạy người cho học sinh Bên cạnh đó, tác giả đã nêu rõ lợi ích của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh

và làm sáng tỏ nội dung tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các hoạt động nội, ngoại khóa Tuy nhiên, những kiến thức đề cập đến kĩ năng sống còn chung chung đặc biệt qua các môn học, lớp học chưa cụ thể

Trang 10

- Lưu Thu Thủy - Trần Hiền Lương - Lương Việt Thái, Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu học- Lớp 5, NXB Giáo dục, năm 2010 Tác giả đã đưa ra

một số vấn đề chung về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông Bên cạnh đó, các tác giả còn nêu sự vận dụng lý thuyết giáo dục kĩ năng sống vào các môn học Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học

- Lưu Thị Nga, Tích hợp dạy kĩ năng sống cho sinh tiểu học qua môn Khoa học và hoạt động ngoài giờ lên lớp, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009 đã đề cập

đến những vấn đề cơ bản về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học, phương pháp dạy học tích hợp kĩ năng sống vào môn Khoa học và hoạt động ngoài giờ lên lớp

Nhìn chung, các công trình trên đã đưa ra những vấn đề cơ bản về việc giáo dục kĩ năng sống nói chung và việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề nói riêng Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong môn Đạo đức lớp 5 Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài của mình

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các biện pháp rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học một cách hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giải quyết vấn đề nói riêng cho học sinh tiểu học thông qua môn Đạo đức

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong môn Đạo đức lớp 5

- Điều tra thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong môn Đạo đức lớp 5

- Đề ra một số biện pháp và tiến hành thực nghiệm góp phần nâng cao việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức ở trường tiểu học

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Môn Đạo đức lớp 5

Trang 11

- Giáo viên và học sinh khối lớp 5 của trường tiểu học Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng

6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

6.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình rèn luyện kĩ năng sống trong dạy học môn

Đạo đức ở trường tiểu học

6.2 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy

học môn Đạo đức

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài chú ng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

7.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Trong khi đọc tài liệu, sách, báo,

tạp chí và các tài liệu khác, chúng tôi dùng phương pháp này đ ể phân tích, tổng hợp

lý thuyết liên quan đến đề tài để thu thập thông tin cần thiết

7.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hoá lý thuyết: Trên cơ sở phân loại, hệ thống hoá lý thuyết cần thiết để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm

- Quan sát học sinh: Trong các giờ học môn Đạo đức (hành động, lời nói, nét mặt, cử chỉ…)

- Quan sát giáo viên: Dự giờ và quan sát giờ dạy của giáo viên

7.2.2 Phương pháp đàm thoại: Trực tiếp trò chuyện với giáo viên bộ môn và học

sinh để tìm hiểu nhận thức như thế nào về vai trò, ý nghĩa của kĩ năng giải quyết

vấn đề, việc thực hiện kĩ năng này như thế nào

7.2.3 Phương pháp điều tra viết: Sử dụng phiếu Ankét lấy ý kiến của giáo viên, học sinh để thu thập thông tin cần nghiên cứu

7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Gặp trực tiếp các chuyên gia trong lĩnh

vực giáo dục, các giáo viên có kinh nghiệm, các nhà quản lý xin ý kiến, trao đổi về những vấn đề có liên quan đến đề tài thực trạng, hệ thống tiêu chí, hệ thống biện

pháp giáo dục kĩ năng sống cho người học

7.3 Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi s ử dụng các phương pháp thống

kê toán học để xử lý kết quả nghiên cứu, tăng mức độ tin cậy cho đề tài

Trang 12

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương chính

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức lớp 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Theo tác giả Vũ Dũng thì: Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức

về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [2]

Theo G.S.TSKH Thái Duy Tuyên: Kĩ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kĩ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kì một kĩ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định [3]

Từ những khái niệm trên, có thể nhận ra các điểm cốt lõi về kĩ năng như sau:

- Tri thức là cơ sở để hình thành kĩ năng Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động

- Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức có chủ định thành năng lực hành động của cá nhân

- Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra

Từ các điểm phân tích trên, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hoạt động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra

1.1.1.2 Kĩ năng sống

Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống và mỗi quan niệm lại được diễn đạt theo những cách khác nhau

Trang 14

Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cho rằng: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) coi kĩ năng sống là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày [12]

Cũng theo WHO, kĩ năng sống được chia thành 2 loại là kĩ năng tâm lý xã hội và kĩ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết [12]

Thuật ngữ “kĩ năng sống” được nhiều người Việt Nam biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường” Khái niệm kĩ năng sống được người Việt Nam hiểu đầy đủ và đa dạng hơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống” được tổ chức ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại

- Những kĩ năng liên quan đến tri thức, giá trị sống

- Năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp con người có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống [12]

Từ những quan niệm trên, có thể thấy các quốc gia đề dựa trên quan niệm

về kĩ năng sống của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO, UNICEF), nhưng có tính khác biệt do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của từng quốc gia Nội dung giáo dục kĩ năng sống vừa đáp ứng những cái chung có tính chất toàn cầu vừa có tính đặc thù quốc gia

Trang 15

Trong đề tài này, chúng tôi hiểu khái niệm kĩ năng sống từ quan điểm giáo dục như sau:

Kĩ năng sống là tất cả những kĩ năng cần thiết trực tiếp giúp cá nhân sống thành công và hiệu quả, trong đó tích hợp những khả năng, phẩm chất, hành vi tâm

lí, xã hội văn hóa phù hợp và đương đầu được với những tác động của môi trường, cuộc sống hiện đại Những kĩ năng sống cốt lõi cần nhấn mạnh là: kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác và cạnh tranh, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng thích ứng cao, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,…

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung đi vào nghiên cứu kĩ năng giải quyết vấn đề

1.1.1.3 Kĩ năng giải quyết vấn đề

a Khái niệm

Trong cuộc sống, con người phải đối mặt với nhiều tình huống có vấn đề đòi hỏi cần phải đưa ra những quyết định đúng đắn để giải quyết được vấn đề một cách hợp lí nhất Vậy vấn đề là gì? Vấn đề là trạng thái mà ở đó có sự mâu thuẫn hay là có khoảng cách giữa thực tế và mong muốn, đòi hỏi một hành động đáp lại

Như vậy, có thể hiểu kĩ năng giải quyết vấn đề là đưa ra một loạt những ý kiến về vấn đề gặp phải nào đó để lựa chọn, xử lý rồi đưa ra quyết định cuối cùng đạt hiệu quả cao nhất và tiến hành giải quyết

b Các bước giải quyết vấn đề

Để giải quyết một vấn đề, có thể thực hiện theo các bước sau:

Trang 16

Bước 1: Xác định vấn đề

- Xem xét kỹ vấn đề muốn giải quyết là gì?

- Có thật sự là vấn đề đúng nghĩa không?

Bước 2: Thu thập thông tin

- Tìm kiếm các thông tin tích cực hoặc tiêu cực liên quan đến vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải bằng cách đặt câu hỏi:

+ Tính chất của vấn đề (khẩn cấp, quan trọng?)

+ Vấn đề này có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình không?

+ Mức độ khó của vấn đề

Bước 3: Tìm kiếm giải pháp

Trên cơ sở những thông tin đã thu được Vậy:

+ Giải pháp có thể lựa chọn là gì?

+ Các giải pháp sẽ thực hiện như thế nào?

+ Giải pháp nào tốt hơn?

Bước 6: Kiểm định, đánh giá

- Kiểm tra xem cách giải quyết đó có tốt không?

- Có đưa tới những ảnh hưởng không mong đợi nào không?

1.1.2 Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học

1.1.2.1 Ý nghĩa, mục tiêu của việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

a Ý nghĩa

Việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức cho học sinh mang ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống nói chung và chính bản thân các em nói riêng

Trang 17

Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề giúp cho học sinh có thể giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập, rèn luyện đặt ra trong cuộc sống hằng ngày, giúp các em tự chủ, tự tin trong cuộc sống Ngoài ra, kĩ năng này góp phần giúp các em có thể sống

an toàn, khỏe mạnh trong một xã hội luôn luôn biến đổi

b Mục tiêu

Mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giải quyết vấn đề nói riêng cho học sinh tiểu học nói riêng làm thay đổi hành vi của con người từ thói quen sống thụ động, mang lại kết quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiệu quả để nâng cao chất lượng sống cho bản thân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội

Cụ thể, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức 5 nhằm:

- Trang bị cho các em những kiến thức hiểu biết về một số chuẩn mực về hành vi Đạo đức và pháp luật trong mối quan hệ của các em với những vấn đề cụ thể phát sinh từ những tình huống các em tiếp xúc hằng ngày: những lời nói, việc làm của bản thân với những người thân trong gia đình, với bạn bè và công việc của lớp, trường; với bạn bè quốc tế, với cây trồng vật nuôi,…

- Giúp các em học tập, rèn luyện những kĩ năng nói, nhận xét, đứng trước tập thể, lựa chọn, thực hiện hành vi ứng xử và quyết đoán

- Giúp các em có những thái độ trách nhiệm đối với những lời nói, việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, yêu thương người thân, bạn bè, biết

ơn Bác Hồ và các thương binh liệt sĩ, biết đoàn kết bạn bè và biết bảo vệ môi trường

1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức

Để hình thành và phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức đạt kết quả tốt thì cần phải có sự kết hợp nhiều yếu tố như: giáo viên, nhà trường, gia đình và người học…

* Về phía giáo viên:

Giáo viên luôn là người hướng dẫn, chỉ đạo các hoạt động học tập của học sinh Vì vậy, để hình thành và phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh có hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có trình độ về chuyên môn vững vàng Giáo viên

Trang 18

phải có khả năng tích hợp nội dung rèn luyện kĩ năng vào trong quá trình dạy học Đạo đức một cách nghệ thuật và có hiệu quả Thường xuyên trau dồi những kiến thức mới nhằm phục vụ cho bài dạy thêm phong phú và đa dạng, thiết kế bài giảng hợp lí cả về thời gian, địa điểm và trình độ của học sinh

Ngoài trình độ chuyên môn, giáo viên cần phải có những kĩ năng sư phạm cần thiết như: kĩ năng xử lý tình huống, kĩ năng hiểu đặc điểm tâm lý của học sinh,

kĩ năng ra quyết định,… giáo viên phải là người thực sự mẫu mực để học sinh học tập và làm theo

- Nhà trường phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp học sinh trong việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức Cơ sở vật chất phải đảm bảo phù hợp đạt tiêu chuẩn với dự kiến mà bài học đưa ra (lớp học đạt tiêu chuẩn để phục vụ tốt công tác giảng dạy, trang thiết bị dạy học luôn được cải tiến và phù hợp với môn học, kinh phí tổ chức các hoạt động dạy học và hoạt động ngoại khóa…)

- Tạo môi trường hoạt động tích cực và thuận lợi nhất cho hoạt động giáo dục kĩ năng sống nói chung và rèn luyện kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề nói riêng diễn ra thuận lợi và đạt kết quả cao trong môn học Đạo đức

- Nhà trường cần huy động nhiều nguồn lực hỗ trợ từ các tổ chức xã hội, đoàn thể, hội phụ huynh học sinh cả về vật chất lẫn tinh thần

- Nhà trường phải luôn có kế hoạch phối, kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn các tổ chức trong trường, cán bộ quản lý trong việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức

* Về phía gia đình:

Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và suốt đời đối với trẻ Chính vì vậy, gia đình và nhà trường phải luôn giữ mối quan hệ mật thiết với nhau để giúp

Trang 19

cho việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề đạt hiệu quả tốt nhất Cha mẹ cần quan tâm đến giáo dục cho các em có kĩ năng, hành vi phù hợp trong các mối quan hệ ứng xử của các em trong gia đình Nhà trường và xã hội, gia đình phải là nơi rèn luyện cho các em có thói quen ứng xử tốt trước những tình huống khác nhau trong cuộc sống hằng ngày đồng thời giúp có quyết định đúng đắn trước những tình huống đặt ra… Chính kết quả giáo dục của gia đình vừa là nền tảng vừa là sự hỗ trợ cho giáo dục nhà trường, giúp nhà trường thực hiện phát triển nhân cách học sinh tiểu học, đặt cơ sở nền tảng cho việc phát triển bền vững sau này

* Về phía học sinh:

Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học và giáo dục Vì vậy, nhằm rèn luyện kĩ năng sống nói chung và giải quyết vấn đề nói riêng cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất thì các em phải tích cực chủ động rèn luyện, học tập tốt, tham gia tích cực vào các hoạt động học tập Ngoài ra, các em còn cần chủ động trong việc trang

bị cho mình những kĩ năng cơ bản đặc biệt là kĩ năng hợp tác, tập trung ý chí, trao đổi giúp đỡ lẫn nhau trong học tập,… bởi vì học sinh là người quyết định kĩ năng sống của mình Hơn ai hết học sinh phải có nhận thức đúng về sự cần thiết phải rèn luyện kĩ năng sống và có thói quen và ý thức rèn luyện một cách thường xuyên, liên tục trong cuộc sống hằng ngày, trong giờ lên lớp và trong mọi mối quan hệ

1.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học

1.1.3.1 Đặc điểm về nhận thức

a Tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định Do đó, các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ở đầu bậc Tiểu học, tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Trẻ chưa có khả năng điều khiển tri giác của mình, chưa có khả năng xem xét đối tượng một cách tỉ mỉ và chi tiết, tri giác ở thời điểm này thường gắn với hành động trực quan Đến cuối bậc Tiểu học, các em đã nắm được kỹ thuật tri giác, học cách nghe, cách nhìn, phân biệt được những dấu hiệu chủ yếu và quan trọng của sự vật, tri giác dần mang tính có chủ định

Trang 20

Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

c Chú ý

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy

Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định được phát triển Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em, không

d Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em chưa đến trường Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững, ít có tổ chức và dễ bị chi phối bởi tình cảm

Trang 21

Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Sỡ dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú, đã lĩnh hội được những tri thức khoa học do nhà trường đem lại

Về mặt cấu tạo hình tượng, tưởng tượng của các em chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kích thước, về hình dạng những tưởng tượng đã tri giác được Sỡ dĩ như vậy là vì các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát và trừu tượng hơn

e Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể

Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Điều đó tạo khả năng tiến hành những khái quát đầu tiên, so sánh đầu tiên, xây dựng suy luận sơ đẳng

1.1.3.2 Đặc điểm về nhân cách

a Đời sống tình cảm

Đây là lứa tuổi dễ xúc cảm, cảm động và khó kiềm chế càm xúc của mình Các em dễ xúc động thể hiện ở việc các em rất dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp như yêu mến thiên nhiên, động vật Các em khó kiềm chế cảm xúc của bản thân, chưa biết kiểm tra những biểu hiện bên ngoài của tình cảm

Tình cảm cũng dễ thay đổi, dễ dịu đi nhưng cũng dễ bị kích động, vừa khóc

đã có thể cười ngay Các em sống nhiều bằng tình cảm và dễ bị chi phối bởi tình cảm Tình cảm lứa tuổi này còn mong manh thiếu bền vững, chưa sâu sắc

Những xúc cảm của lứa tuổi này thường gắn liền với những tình huống cụ thể, trực tiếp, giàu cảm xúc mà ở đó các em hoạt động hoặc gắn với những đặc điểm trực quan Nó không chỉ biểu hiện trong đời sống sinh hoạt mà còn trong cả hoạt động trí tuệ, các em tiếp thu kiến thức không đơn thuần bằng lý trí, mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình cảm, các em dễ bị “lây” những cảm xúc của người khác

Trang 22

Tình cảm ở các em thường có nội dung phong phú hơn và bền vững hơn lứa tuổi mẫu giáo Thể hiện ở tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và cả tình cảm thẫm mĩ

b Ý chí và tính cách

Ý chí: Các phẩm chất ý chí được hình thành và phát triển, tuy nhiên những phẩm chất này chưa ổn định và chưa trở thành các nét tính cách Năng lực tự chủ còn yếu, đặc biệt cá em thiếu kiên nhẫn, chóng chán, khó giữ trật tự

Tính cách: Các em đang được hình thành trong mọi hoạt động học tập, lao động vui chơi Cụ thể ở các em hình thành những nét tính cách mới như hồn nhiên hay bắt chước những hành vi, cử chỉ của người lớn, tính hiếu động, tính trung thực

và dũng cảm

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí, mục tiêu, đặc điểm, nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 5

1.2.1.1 Vị trí của môn Đạo đức

a Môn Đạo đức là một môn học gắn bó mật thiết với quá trình giáo dục đạo đức ở Tiểu học

Quá trình giáo dục học đạo đức ở Tiểu học được thực hiện bằng hai con đường thống nhất với nhau:

- Con đường tổ chức các hoạt động giáo dục (hoạt động học tập, hoạt động lao động, hoạt động xã hội, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động vui chơi giải trí)

- Con đường dạy học các môn học trong đó có môn Đạo đức

Như vậy, môn Đạo đức nằm trong hệ thống các môn học ở Tiểu học Song, một trong những nét đặc thù của nó là nội dung bao gồm một hệ thống các chuẩn mực hành vi đạo đức cần giảng dạy cho học sinh Do đó, nó gắn bó mật thiết với quá trình giáo dục tiểu học Cụ thể là nó sẽ giúp cho các em:

- Hình thành được ý thức đạo đức (trí thức và niềm tin đạo đức), định hướng giá trị đạo đức về những chuẩn mực hành vi đạo đức đã được quy định

- Bước đầu có những xúc cảm, tình cảm đạo đức

- Định hướng được và bước đầu hình thành được những hành vi và thói quen hành vi đạo đức

Những kết quả này sẽ được quả trình giáo dục tiểu học kế thừa và phát triển, thông qua các hoạt động giáo dục phong phú, đa dạng sẽ giúp cho học sinh thực sự

Trang 23

hình thành được những hành vi và thói quen hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực hành vi đã được quy định, có tính phổ biến, có tính bền vững và có động cơ đúng đắn

b Môn Đạo đức là một môn học trong hệ thống các môn học ở Tiểu học có tác dụng định hướng giáo dục cho các môn học khác

Nhờ sự định hướng của môn Đạo đức, các môn học khác, tùy theo khả năng của mình mà lựa chọn những chuẩn mực hành vi đạo đức để liên hệ, lồng ghép, hay tích hợp vào nội dung của mình cho phù hợp, không máy móc hình thức, không làm cho bài học nặng nề quá tải

c Môn Đạo đức ở Tiểu học tạo tiền đề và cơ sở cho học sinh học tiếp nối môn Giáo dục công dân ở trung học cơ sở

Như chúng ta đã biết, môn Đạo đức ở Tiểu học dạy cho học sinh những chuẩn mực hành vi đạo đức cụ thể Những chuẩn mực hành vi này được lí giải với những tri thức sơ đẳng, đơn giản, dễ hiểu cho phù hợp với trình độ nhận thức và vốn sống của các em Như vậy, suốt trong 5 năm học ở Tiểu học, các em dần dần nhận thức được những hiểu biết về các chuẩn mực hành vi ngày càng khái quát

Trên cơ sở và tiền đề đó, khi lên trung học cơ sở, với trình độ nhận thức đã được phát triển cao hơn, các em có khả năng học tiếp nối môn Giáo dục công dân Mục tiêu của giáo dục tiểu học là: Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các

kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở

1.2.1.2 Mục tiêu của môn Đạo đức

Để góp phần thực hiện mục tiêu đó, môn Đạo đức ở tiểu học nhằm giúp học sinh :

* Về kiến thức: Có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện các chuẩn mực đó (thực hiện các chuẩn mực đó thì có lợi gì? Không thực hiện thì có hại gì?)

* Về kĩ năng, hành vi: Biết nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học ; có kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi

Trang 24

ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các mối quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống ; biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện

* Về giáo dục thái độ: Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình ; yêu thương, tôn trọng mọi người ; mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người ; đồng tình và làm theo cái thiện, cái đúng, cái tốt ; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu

Theo chương trình mới của môn Đạo đức, ta thấy có sự thay đổi trong mục tiêu chung, bởi vì :

- Mục tiêu của dạy học môn Đạo đức ở tiểu học là dạy hành vi đạo đức, nên cần chú trọng kĩ năng, hành vi

- Thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo: Đào tạo con người cho hoạt động thực tiễn, nên học phải đi đôi với hành, dạy học môn Đạo đức cũng như giáo dục đạo đức phải gắn với thực tiễn đời sống, vì đào tạo con người là để phục vụ hoạt động thực tiễn

- Đáp ứng yêu cầu thực tế đời sống đạo đức: Nền kinh tế thị trường có nhiều mặt tích cực ; đồng thời có nhiều tác động tiêu cực làm xói mòn một số giá trị đạo đức truyền thống Do đó, phải quan tâm giáo dục kĩ năng hành vi đúng chuẩn mực đạo đức, thái độ, bản lĩnh kiên định trước tiêu cực, tệ nạn xã hội để mỗi công dân là một pháo đài chống lại tiêu cực và tệ nạn

1.2.1.3 Đặc điểm của môn Đạo đức

a Môn Đạo đức ở Tiểu học đã đưa ra các chuẩn mực đạo đức dưới dạng những chuẩn mực hành vi cụ thể

Học sinh lớp 1, 2, 3 trình độ còn thấp, tư duy cụ thể còn chiếm vai trò rất quan trọng, có tính hay bắt chước, kinh nghiệm sống còn nghèo nàn, nên chưa đủ năng lực nhận thức các chuẩn mực đạo đức trên bình diện lí luận Vì vậy, các chuẩn mực đạo đức được lựa chọn từ các chuẩn mực xã hội, được đưa ra dưới dạng các chuẩn mực hành vi đạo đức cụ thể

Song, so với các lớp 1, 2, 3; học sinh các lớp 4, 5 đã có trình độ nhận thức phát triển hơn Nhận thức đã bắt đầu mang tính chất khái quát Kinh nghiệm sống ở các em đã được phong phú hơn, tuy nhiên, nhận thức của các em chưa thoát li những đối tượng đạo đức dưới dạng những chuẩn mực hành vi đạo đức nhưng đã

Trang 25

chứa đựng nội dung tương đối khái quát cho nhiều tình huống cụ thể Những chuẩn mực hành vi này giúp các em có cách ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ đa dạng phù hợp với những yêu cầu đạo đức mà xã hội quy định

Thực tiễn chứng tỏ rằng, được học các chuẩn mực hành vi, học sinh có điều kiện:

- Dễ hiểu về nội dung, ý nghĩa cá nhân, ý nghĩa xã hội và cách thực hiện

- Nâng cao dần tính khái quát của những hiểu biết có liên quan

- Dễ nhớ lâu

- Và dễ thực hiện trong cuộc sống

b Các chuẩn mực hành vi đạo đức ở được quy định trong chương trình mang tính đồng tâm

Ở học sinh tiểu học, trình độ nhận thức ngày càng được nâng cao, vốn kinh nghiệm ngày càng phong phú, do đó, các chuẩn mực hành vi đạo đức được quy định trong chương trình là có đồng tâm

Vì vậy, trong quá trình dạy học đạo đức ở tiểu học, khi dạy một loại chuẩn mực hành vi đạo đức nào đó có tính đồng tâm thì cần tận dụng những điều có liên quan mà học sinh đã được học từ các lớp dưới, và ngược lại, khi dạy loại chuẩn mực đó ở lớp dưới thì cần chuẩn bị cho câc em có khả năng tiếp thu loại chuẩn mực này ở các lớp trên, tránh tình trạng dạy lớp nào biết lớp ấy

c Những chuẩn mực hành vi đạo đức được giới thiệu bằng những mẫu hành vi đạo đức qua truyện kể đạo đức

Cũng do đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức và vốn sống của học sinh tiểu học, trong quá trình dạy học đạo đức, người ta đưa ra những chuẩn mực hành vi đạo đức, mà những chuẩn mực hành vi này được giới thiệu cho các em bằng những mẫu hành vi đạo đức không phải qua lí thuyết mà qua truyện kể đạo đức

d Mỗi bài đạo đức ở Tiểu học được thể hiện trong hai tiết

Cho đến nay, mỗi bài đạo đức ở Tiểu học với chủ đề về chuẩn mực hành vi đạo đức nào đó đều bắt buộc dạy trong hai tiết

* Tiết 1: Nhiệm vụ cơ bản của tiết này là:

- Bước đầu giúp cho học sinh nắm được những tri thức sơ đẳng về chuẩn mực hành vi đạo đức theo chủ đề bài học Tên, nội dung, ý nghĩa cá nhân, ý nghĩa xã hội, cách thực hiện chuẩn mực hành vi

Trang 26

- Từ đó, bước đầu giúp cho các em chuyển hóa những tri thức vừa được lĩnh hội thành niềm tin về tính đúng đắn, về sự cần thiết phải thực hiện chuẩn mực hành

vi đạo đức vừa học được Như vậy là đã giúp các em bước đầu hình thành được ý thức về chuẩn mực hành vi đạo đức đó

- Bước đầu tạo ra cho các em những cảm xúc đạo đức tốt đẹp có liên quan đến chuẩn mực hành vi đạo đức được học

- Trên cơ sở đó bước đầu xây dựng cho các em năng lực định hướng giá trị về chuẩn mực hành vi đạo đức được học, chuẩn bị chuyển hóa ý thức về chuẩn mực hành vi đạo đức thành hành vi đạo đức

* Tiết 2: Nhiệm vụ cơ bản của tiết này là:

- Tổ chức cho học sinh luyện tập những kĩ năng làm cơ sở cho hành vi

- Định hướng cho các em rèn luyện sao cho chuyển hóa được những kĩ năng thành những hành vi tương ứng phù hợp với những chuẩn mực hành vi được học

- Bước đầu tập một số thao tác, hành động theo chuẩn mực hành vi, thực hiện các hành vi đạo đức, tiến đến rèn luyện hành vi và thói quen trong cuộc sống Qua đó góp phần củng cố tri thức, hình thành thái độ, tình cảm đạo đức đúng đắn cho học sinh

Hai tiết học này liên quan mật thiết với nhau và hỗ trợ cho nhau: Tiết 1 chuẩn bị cho tiết 2 và tiết 2 củng cố, phát triển kết quả của tiết 1

1.2.1.4 Nội dung chương trình môn Đạo đức lớp 5

Nội dung chương trình môn Đạo đức gồm 14 bài được sắp xếp theo những mối quan hệ khác nhau như sau:

I Quan hệ với bản thân

1 – 2 Em là học sinh lớp 5 - Nêu được vị thế của học sinh lớp 5 so với các

Trang 27

II Quan hệ với công việc

5 – 6 Có chí thì nên - Nêu được một số biểu hiện cơ bản của người

để trở thành người có ích cho gia đình, xã hội

III Quan hệ với người khác

7 – 8 Nhớ ơn tổ tiên - Nêu được trách nhiệm của mỗi người đối với

tổ tiên, gia đình, dòng họ

- Thể hiện lòng biết ơn tổ tiên và giữ gìn, phát huy những truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ bằng những việc làm cụ thể, phù hợp với khả năng

- Biết ơn tổ tiên và tự hào về truyền thống của gia đình, dòng họ

9 – 10 Tình bạn - Hiểu được bạn bè có vai trò quan trọng trong

cuộc sống hằng ngày, bạn bè cần phải đoàn kết, thân ái, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là khi khó khăn, hoạn nạn

- Cư xử tốt với bạn bè trong cuộc sống hằng ngày Biết tự nhận xét những hành vi, việc làm

Trang 28

của mình đối với bạn

- Biết bày tỏ thái độ tán thành hoặc không tán thành với những ý kiến, hành vi trong việc đối

xử với bạn bè xung quanh

12 – 13 Kính già, yêu trẻ - Nêu được vì sao cần phải kính trọng, lễ phép

với người già, yêu thương, nhường nhịn em nhỏ

- Thực hiện được những hành vi, việc làm phù hợp với lứa tuổi thể hiện sự kính trọng người già, yêu thương em nhỏ

- Có thái độ thể hiện sự kính trọng, lễ phép với người già, nhường nhịn em nhỏ

14 – 15 Tôn trọng phụ nữ - Nêu được vai trò của phụ nữ trong gia đình và

ngoài xã hội và vì sao phải tôn trọng phụ nữ

- Biết chăm sóc, giúp đỡ chị em gái, bạn gái và người phụ nữ khác trong cuộc sống hằng ngày

- Tôn trọng, quan tâm, không phân biệt đối xử với chị em gái, bạn gái và phụ nữ khác trong cuộc sống hằng ngày

16 – 17 Hợp tác với những

người xung quanh

- Nêu được một số biểu hiện về việc hợp tác với những người xung quanh và ý nghĩa của việc hợp tác

- Có kĩ năng hợp tác với bạn bè trong các hoạt động của lớp, của trường

- Có thái độ mong muốn, sẵn sàng hợp tác với bạn bè, thầy giáo, cô giáo và mọi người trong công việc của lớp, của trường, của gia đình, của cộng đồng

Trang 29

IV Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại

19 – 20 Em yêu quê hương - Biết được vì sao cần phải yêu quê hương và

tham gia góp phần xây dựng quê hương

- Nêu được những việc phù hợp với khả năng để góp phần tham gia xây dựng quê hương

- Yêu mến, tự hào về quê hương mình, mong muốn được góp phần xây dựng quê hương

21 – 22 Ủy ban nhân dân xã

(phường) em

- Bước đầu biết về vai trò quan trọng của ủy ban nhân dân xã (phường) đối với cộng đồng Biết được trách nhiệm của mọi người dân phải tôn trọng ủy ban nhân dân xã (phường)

- Học sinh có ý thức thực hiện các quy định của chính quyền cơ sở, tham gia các hoạt động phù hợp với khả năng do chính quyền cơ sở tổ chức

- Có thái độ tôn trọng ủy ban nhân dân xã (phường)

23 – 24 Em yêu Tổ quốc Việt

Nam

- Biết Tổ quốc em là Việt Nam, Tổ quốc em đang thay đổi từng ngày và đang hội nhập vào đời sống quốc tế

- Có một số hiểu biết phù hợp với lứa tuổi về lịch sử, văn hóa và kinh tế của Tổ quốc Việt Nam

- Có ý thức học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước Tự hào về truyền thống tốt đẹp và quan tâm đến sự phát triển của đất nước

26 – 27 Em yêu hòa bình - Nêu được những điều tốt đẹp do hòa bình đem

lại cho trẻ em

- Nêu được các biểu hiện trong cuộc sống hằng ngày

Trang 30

- Yêu hòa bình, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ hòa bình phù hợp với khả năng do nhà trường, địa phương tổ chức

28 – 29 Em tìm hiểu về Liên

hợp quốc

- Có hiểu biết ban đầu, đơn giản về tổ chức Liên hợp quốc và quan hệ của nước ta với tổ chức quốc tế này

- Biết hợp tác với các nhân viên Liên Hợp Quốc đang làm việc tại địa phương em

- Có thái độ tôn trọng các cơ quan Liên hợp quốc đang làm việc tại nước ta

V Quan hệ với môi trường, tài nguyên thiên nhiên

30 – 31 Bảo vệ tài nguyên

thiên nhiên

- Kể được một vài tài nguyên thiên nhiên ở nước

ta và ở địa phương Nêu được vì sao cần phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

- Biết giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên phù hợp với khả năng

- Đồng tình, ủng hộ những hành vi, việc làm để giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

1.2.2 Thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong môn Đạo đức lớp 5 ở trường tiểu học

1.2.2.1 Vài nét về đối tượng điều tra

Để khảo sát thực trạng việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức 5 cho học sinh, tôi tiến hành khảo sát tại trường tiểu học Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng Đây là ngôi trường nằm ở trung tâm thành phố, có chất lượng giáo dục tốt, là trường có bề dày truyền thống đạt được nhiều thành tích cao trong dạy học và giáo dục học sinh, trường thường xuyên tổ chức các tiết dạy mẫu để giáo viên có thể trao đổi kinh nghiệm, học hỏi nhau Đội ngũ giáo viên đều đạt chuẩn, có năng lực chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường khá đầy đủ Chính vì vậy,

Trang 31

cán bộ quản lí nhà trường và giáo viên rất quan tâm đến các hoạt động giáo dục học sinh và rèn luyện cho các em những kĩ năng cơ bản trong hoạt động học tập, kĩ năng sống trong cuộc sống hằng ngày nhằm giúp các em có thể thích ứng với yêu cầu không ngừng nâng cao của xã hội

Các giáo viên giảng dạy khối 5 tại trường lại càng ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện các kĩ năng sống cho các em Họ hiểu rằng ở độ tuổi của học sinh khối 5, các em đã bắt đầu có nhận thức cá nhân khá rõ ràng, vừa có đủ kiến thức cơ bản để tiếp thu việc giáo dục các kĩ năng xã hội Chính vì thế, việc hình thành các kĩ năng xã hội cơ bản cho các em mang một ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa tạo được những kĩ năng thích ứng với cuộc sống, vừa hình thành nên nhân cách phù hợp với con người hiện đại

1.2.2.2 Thực trạng nhận thức của học sinh về việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn

đề trong dạy học môn Đạo đức 5

a Mục đích điều tra

Việc nghiên cứu thực trạng nhận thức của học sinh về kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức 5 trong đề tài này nhằm tìm hiểu những khả năng, phản hồi, mong muốn của học sinh liên quan đến kĩ năng Từ đó, làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp để rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức cũng như trong cuộc sống hằng ngày một cách nhẹ nhàng, hiệu quả

và phù hợp với mọi đối tượng được giáo dục

b Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là 378 em học sinh thuộc khối lớp 5 của trường tiểu học Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng

c Nội dung điều tra

- Tìm hiểu sự yêu thích và hứng thú của học sinh với môn Đạo đức 5, kĩ năng giải quyết vấn đề

- Tìm hiểu khả năng và mức độ vận dụng giải quyết vấn đề vào thực tế của học sinh

Trang 32

d Phương pháp điều tra

- Phương pháp An-két (phiếu điều tra): Các nội dung chúng tôi đưa ra ở trên được thể hiện dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm và tự luận

- Phương pháp xử lý thống kê: Chúng tôi phát ra phiếu và thu lại phiếu Sau khi thu thập số liệu từ phiếu điều tra, chúng tôi tiến hành xử lý, thống kê, qua đó nhận xét về thực trạng nhận thức của học sinh về kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức 5

- Phương pháp trò chuyện: Chúng tôi đã tiếp xúc trực tiếp với các em học sinh khối 5 trường Tiểu học Trần Cao Vân Trong khi trao đổi, chúng tôi sử dụng các câu hỏi đã được soạn sẵn để nắm bắt khách quan hơn về thực trạng nhận thức của học sinh

e Kết quả điều tra

Khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn và phát phiếu khảo sát cho học sinh khối lớp 5 trường tiểu học Trần Cao Vân thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng về các vấn đề:

- Em có thích môn Đạo đức không?

- Em có thích tham gia giải quyết vấn đề trong giờ học môn Đạo đức không?

- Em có thường đóng góp ý kiến để giải quyết các vấn đề đạo đức?

Chúng tôi nhận thấy các em đều đã có những nhận thức cơ bản về kĩ năng giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức Chẳng hạn, em Võ Minh Thư lớp 5/2 cho rằng: Trong môn Đạo đức có chứa nhiều tình huống có vấn đề, vì vậy kĩ năng giải quyết vấn đề là rất quan trọng khi học môn học này Và khi được hỏi em còn biết là

để hỗ trợ kĩ năng giải quyết vấn đề cần phải có các kĩ năng như: kĩ năng nói trước đám đông, kĩ năng giao tiếp…

Để điều tra mức độ hứng thú của học sinh lớp 5 trường tiểu học Trần Cao Vân về các bài học của môn Đạo đức, chúng tôi đưa ra câu hỏi 1: “Em có thích học môn Đạo đức không?” Kết quả được trình bày ở bảng 1:

Trang 33

Bảng 1.1 Mức độ hứng thú của học sinh về môn học Đạo đức

Biểu đồ 1.1 Mức độ hứng thú của học sinh về môn học Đạo đức

Nhìn vào số liệu chúng ta thấy rằng có 125 học sinh (chiếm 33,1%) rất thích môn Đạo đức và 146 học sinh (chiếm 38,6%) thích môn học Đạo đức Như vậy có thể thấy phần lớn các em đều có hứng thú khi học các bài học của môn Đạo đức Trong khi đó, số học sinh cảm thấy bình thường là 81 học sinh (chiếm 21,4%) và không thích môn Đạo đức là 26 học sinh (chiếm 6,9%) Hai đối tượng học sinh này chiếm hơn một phần tư số lượng học sinh toàn trường Vì vậy, có thể nói đây là một thực trạng đáng được quan tâm khi một số học sinh chỉ coi Đạo đức là một môn học phụ đi kèm với các môn học chính trên lớp mà không hiểu hết được tầm quan trọng cũng như lợi ích thực tế của môn học này

Để có thể nghiên cứu rõ hơn về thực trạng nhận thức về kĩ năng giải quyết vấn đề của học sinh trong môn Đạo đức, chúng tôi lần lượt đưa ra câu hỏi 2 đến câu hỏi 5

Trang 34

Khi khảo sát về mức độ hứng thú của học sinh về việc tham gia giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức, chúng tôi đưa ra câu hỏi 2: “Em có thích tham gia giải quyết các vấn đề trong giờ học môn Đạo đức không?” Kết quả thu được ở bảng 2:

Bảng 1.2 Mức độ hứng thú khi tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5

trong quá trình học môn Đạo đức

Biểu đồ1.2 Mức độ hứng thú khi tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5

trong quá trình học môn Đạo đức

Nhìn vào bảng số liệu, tôi nhận thấy rằng có 175 học sinh (chiếm 46,3%) rất thích tham gia giải quyết vấn đề trong các bài học đạo đức, có 89 học sinh (chiếm 23,5%) thích tham gia giải quyết vấn đề Như vậy, có thể khẳng định phần lớn học sinh của trường tiểu học Trần Cao Vân đều có hứng thú với hoạt động giải quyết vấn đề Đây là một thông tin rất quan trọng bởi hiệu quả của việc giáo dục kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giải quyết vấn đề nói riêng phụ thuộc không nhỏ vào hứng thú học tập và rèn luyện của học sinh Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn học sinh cảm thấy bình thường và không thích tham gia giải quyết vấn đề, chiếm tỉ

lệ 30,2% - gần một phần ba số học sinh toàn trường Như vậy, hoạt động giáo dục

Trang 35

kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học chưa được học sinh tham gia một cách triệt để với thái độ tích cực và tự giác 100%

Để hiểu sâu hơn về mức độ tham gia giải quyết vấn đề của các em, chúng tôi đã tiến hành khảo sát câu hỏi số 3: “Em có thường xuyên tham gia giải quyết vấn

đề trong giờ học Đạo đức không?” Kết quả thu được thể hiện ở bảng 3:

Bảng 1.3 Mức độ tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5

trong quá trình học môn Đạo đức

Biểu đồ 1.3 Mức độ tham gia giải quyết vấn đề của học sinh lớp 5

trong quá trình học môn Đạo đức

Qua bảng số liệu, ta có thể thấy thực trạng học sinh không thường xuyên trực tiếp tham gia giải quyết vấn đề chiếm tỉ lệ rất cao (74,9%) Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới học sinh bị yếu về kĩ năng giải quyết vấn đề Chỉ có 19% học sinh tham gia giải quyết vấn đề một cách thường xuyên Bên cạnh đó, vẫn còn có 6,1% học sinh chưa bao giờ tham gia giải quyết vấn đề Qua con số trên, có thể nhận thấy nhà trường và giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc rèn kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh Nguyên nhân dẫn đến học sinh không tham gia giải quyết vấn đề thường xuyên là do lớp quá đông nên các em thường tham gia giải

Trang 36

quyết vấn đề theo hình thức gián tiếp (thảo luận nhóm) Sau đó, một em đại diện cho nhóm lên trình bày kết quả thảo luận, giáo viên ít có điều kiện quan tâm từng

em học sinh trong việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

Qua kết quả khảo sát trên tôi cho rằng môi trường tập luyện, rèn luyện các kĩ năng sống của học sinh tiểu học còn chưa tốt, giáo viên chưa bao quát được cả lớp cũng như chưa thực sự thu hút được học sinh vào các hoạt động rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề Từ đó, tôi nhận thấy vấn đề cần đặt ra là trong giờ học các môn chiếm ưu thế trong giáo dục kĩ năng sống, các buổi sinh hoạt ngoại khóa, hoặc các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường, giáo viên cần có những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục, các hình thức tổ chức giáo dục để tạo môi trường tập luyện, rèn luyện kĩ năng sống nói chung và kĩ năng giải quyết vấn đề nói riêng cho học sinh tiểu học

Để nắm rõ hơn về khả năng giải quyết vấn đề của các em, tôi đã đưa ra một tình huống trắc nghiệm và một tình huống tự luận để yêu cầu các em trả lời Với tình huống trắc nghiệm, hầu hết các em đều chọn được phương án trả lời tối ưu nhất, nhưng với kết quả thu được ở tình huống tự luận thì đã cho thấy có sự phân hóa về khả năng giải quyết vấn đề Tình huống như sau: “Nhà Hoa khó khăn, mẹ Hoa phải đi thu nhặt ve chai để nuôi hai chị em ăn học Hoa luôn mặc cảm và muốn nghỉ học để kiếm tiền phụ giúp gia đình Nếu em là bạn của Hoa, em sẽ làm gì?” Kết quả thu được như sau:

Bảng 1.4 Khả năng giải quyết vấn đề của học sinh

1 Học sinh không giải quyết được 86/378 22,8

2 Học sinh nêu ra được cách giải quyết 292/378 77,2

3 Học sinh nêu được cách giải quyết hay 151/378 51,7

Trang 37

Hình 1: Hình ảnh về câu trả lời của học sinh

Dựa vào bảng số liệu ta thấy số lượng học sinh còn yếu trong việc giải quyết vấn đề là không nhỏ (22,8%) Tuy nhiên, trong 77,2% học sinh đưa ra được cách giải quyết có đến 56,7% là cách giải quyết hay Điều đó cho thấy đa số học sinh đã tiếp thu được nội dung tích hợp rèn luyện các kĩ năng vào trong các môn học cũng như các em đã được trang bị một ít vốn kinh nghiệm sống từ nhà trường, gia đình

và xã hội Vậy làm thế nào để có thể cân bằng được khả năng giải quyết vấn đề giữa các em học sinh? Đây là một bài toán khó dành cho các nhà giáo dục hiện nay

Trang 38

với hoạt động giải quyết vấn đề Và hầu hết các em đểu có nhận thức cơ bản về tầm quan trọng của kĩ năng này

 Kết luận:

Qua kết quả khảo sát trên chúng tôi nhận thấy hoạt động giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học chưa được học sinh tham gia một cách triệt để với thái độ tích cực và tự giác 100% Hầu hết học sinh đều có hứng thú với môn Đạo đức nói chung và hoạt động giải quyết vấn đề nói riêng Để khắc phục thực trạng này, cần có sự thay đổi về môi trường tập luyện, rèn luyện kĩ năng sống của học sinh Giáo viên cần phải thiết kế các bài tập thực hành và kích thích, thu hút học sinh tích cực tham gia thực hành kĩ năng sống và kĩ năng giải quyết vấn đề trong các giờ học Đạo đức và trong các hoạt động khác

1.2.2.3 Thực trạng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức 5

a Mục đích điều tra

Việc nghiên cứu thực trạng trong đề tài này nhằm đánh giá đúng những ưu, nhược điểm của quá trình dạy học tích hợp rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức 5 để đề xuất biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế ở hiện tại, góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 5

Trang 39

b Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là 32 giáo viên đã

và đang giảng dạy môn Đạo đức tại khối 3,4,5 ở trường tiểu học Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng

c Nội dung điều tra

- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng, mục tiêu, ý nghĩa, nhiệm vụ của rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức 5

- Tìm hiểu mức độ rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề của giáo viên trong dạy học môn Đạo đức 5

- Tìm hiểu những khó khăn và nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong việc rèn luyện kĩ năng trong dạy học môn Đạo đức 5

d Phương pháp điều tra

- Phương pháp điều tra An-két: Các nội dung chúng tôi đưa ra ở trên được thể hiện dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận trong phiếu điều tra

- Phương pháp xử lý thống kê: Chúng tôi đã phát ra 32 phiếu và thu lại 32 phiếu Những số liệu chúng tôi thu được từ phiếu điều tra được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học, qua đó nhận xét khái quát về thực tế rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức 5

- Phương pháp trò chuyện: Chúng tôi đã tìm đến và trò chuyện với một số giáo viên giảng dạy môn Đạo đức 5 Qua tiếp xúc, chúng tôi đưa ra các câu hỏi, đồng thời lấy ý kiến giáo viên liên quan đến việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

e Kết quả điều tra

Sau khi gặp trực tiếp và trao đổi với các giáo viên đã và đang chịu trách nhiệm giảng dạy môn Đạo đức cho học sinh khối 5 trường tiểu học Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy rằng các giáo viên đều có ý kiến: Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề thực sự cần thiết cho các em học sinh Kĩ năng này giúp các em có thể giải quyết và đưa ra các quyết định hợp lí trong các tình huống xảy ra xung quanh hằng ngày

Để điều tra về việc giáo viên đã những rèn luyện các kĩ năng cơ bản nào cho học sinh trong việc dạy học môn Đạo đức 5, chúng tôi đã xây dựng câu hỏi sau

Trang 40

trong phiếu điều tra giáo viên: “Câu 2: Trong việc dạy học môn Đạo đức 5, thầy (cô) chú trọng việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nào sau đây?”

Và chúng tôi đã thu được kết quả:

Bảng 2.1 Những kĩ năng cơ bản được giáo viên quan tâm rèn luyện cho học sinh

trong quá trình dạy học môn Đạo đức 5

Biểu đồ 2.1 Những kĩ năng cơ bản được giáo viên quan tâm giáo dục cho học sinh

trong quá trình dạy học môn Đạo đức 5

Qua kết quả điều tra, chúng tôi thấy rằng tất cả các kĩ năng trên đều được giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học môn Đạo đức 5 nhằm giáo dục kĩ năng sống cơ bản cho các học sinh

Kĩ năng giải quyết vấn đề được tất cả giáo viên sử dụng (100%) Kĩ năng giao tiếp và hợp tác cùng xếp thứ 2 (92,9%) Hai kĩ năng còn lại là: kĩ năng ra quyết định và kĩ năng nhận thức dao động trong khoảng từ 60% - 70%

Để làm rõ về tỉ lệ này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 5 giáo viên phụ trách môn Đạo đức 5 của trường tiểu học Trần Cao Vân, các giáo viên đều cho rằng: Kĩ năng

Ngày đăng: 26/06/2021, 19:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w