Câu hỏi trắc nghiệm thường dùng kiểm tra, đánh giá khả năng nhớ những sự kiện hay kiến thức hữu hiệu hơn câu hỏi tự luận, có thể kiểm tra được một lúc nhiều kiến thức của nhiều bài, chươ
NỘI DUNG
HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
1.1 Cở sở lí luận của việc kiểm tra đánh giá
1.1.1 Một số khái niệm trong đo lường đánh giá giáo dục
* Đánh giá ( Evaluation) trong giáo dục Đánh giá trong giáo dục là một trong những quá trình đƣợc tiến hành có hệ thống, liên tục, thường xuyên để xác định mục tiêu dạy học đạt được nhằm làm cơ sở cho những quyết định của thầy giáo ở trường học và bản thân của học sinh để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo ở các trường trung học phổ thông
* Kiểm tra ( testing) trong giáo dục:
- Theo khoa học giáo dục: Kiểm tra là phương tiện hay hình thức của đánh giá Trong kiểm tra người ta xác định được trước các tiêu chí và không thay đổi chúng trong quá trình kiểm tra cũng nhƣ không quan tâm đến quyết định đề ra
- Về mặt lí luận dạy học: kiểm tra có vai trò thông tin ngƣợc trong dạy học, nó cho biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy học của thầy và quá trình của trò để từ đó có thể quyết định cho sự điều khiển tối ƣu của cả thầy lẫn trò
1.1.2 Mục tiêu dạy học, mục đích học tập
* Mục tiêu dạy học: là những gì học sinh cần đạt đƣợc sau khi học xong môn học, nó bao gồm:
- Hệ thống kiến thức khoa học và cả phương pháp nhận thức chung
- Hệ thống các kĩ năng
- Khả năng vận dụng thực tế
- Thái độ, tình cảm đối với khoa học và xã hội
* Mục đích học tập: khi học xong một đơn vị “kiến thức” nào đó thì mục đích học tập của học sinh là:
- Phải lĩnh hội đƣợc nội dung kiến thức đó nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về thế giới tự nhiên và xã hội
- Học sinh đƣợc trang bị kiến thức để đáp ứng yêu cầu về thi tuyển nghề nghiệp và cuộc sống.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Cở sở lí luận của việc kiểm tra đánh giá
1.1.1 Một số khái niệm trong đo lường đánh giá giáo dục
* Đánh giá ( Evaluation) trong giáo dục Đánh giá trong giáo dục là một trong những quá trình đƣợc tiến hành có hệ thống, liên tục, thường xuyên để xác định mục tiêu dạy học đạt được nhằm làm cơ sở cho những quyết định của thầy giáo ở trường học và bản thân của học sinh để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo ở các trường trung học phổ thông
* Kiểm tra ( testing) trong giáo dục:
- Theo khoa học giáo dục: Kiểm tra là phương tiện hay hình thức của đánh giá Trong kiểm tra người ta xác định được trước các tiêu chí và không thay đổi chúng trong quá trình kiểm tra cũng nhƣ không quan tâm đến quyết định đề ra
- Về mặt lí luận dạy học: kiểm tra có vai trò thông tin ngƣợc trong dạy học, nó cho biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy học của thầy và quá trình của trò để từ đó có thể quyết định cho sự điều khiển tối ƣu của cả thầy lẫn trò
1.1.2 Mục tiêu dạy học, mục đích học tập
* Mục tiêu dạy học: là những gì học sinh cần đạt đƣợc sau khi học xong môn học, nó bao gồm:
- Hệ thống kiến thức khoa học và cả phương pháp nhận thức chung
- Hệ thống các kĩ năng
- Khả năng vận dụng thực tế
- Thái độ, tình cảm đối với khoa học và xã hội
* Mục đích học tập: khi học xong một đơn vị “kiến thức” nào đó thì mục đích học tập của học sinh là:
- Phải lĩnh hội đƣợc nội dung kiến thức đó nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về thế giới tự nhiên và xã hội
- Học sinh đƣợc trang bị kiến thức để đáp ứng yêu cầu về thi tuyển nghề nghiệp và cuộc sống
- Học sinh thu thập đƣợc những kinh nghiệm một cách sáng tạo để có thể độc lập nghiên cứu, hoạt động sau này
1.1.3 Mục đích, yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá
* Mục đích Đối với xã hội: Giúp chúng ta thẫm định đƣợc khả năng tiềm tàng của học sinh để biết đƣợc ƣu khuyết điểm của học sinh đó trong khi mở mang kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo hay để xem trình độ của học sinh đạt đến mức độ nào Đối với giáo viên: Giúp giáo viên có điện kiện nắm đƣợc cụ thể, chính xác năng lực trình độ của học sinh để có biện pháp giúp đỡ học sinh củng cố mở rộng và nâng cao kiến thức đã học Thông qua việc KTĐG giúp giáo viên phân loại học sinh, là cơ sở giúp giáo viên nhận biết đƣợc trình độ sƣ phạm cũng nhƣ kết quả dạy học của mình Đối với học sinh: Thúc đẩy quá trình học tập của học sinh, kích thích hứng thú học tập của học sinh Giúp học sinh thấy đƣợc trình độ tiếp thutri thức và những kỹ năng, kỹ xảo của mình qua đó giúp học sinh nhận ra những thiếu sót cần bổ sung để đạt đƣợc khả năng tiếp thu ở mức độ cao hơn
Trong quá trình đào tạo ở bậc phổ thông trung học, thi, kiểm tra, đánh giá là một hoạt động rất phức tạp và rất cần thiết, giữ một vai trò quan trọng và quyết định đến chất lƣợng đào tạo.Đó là một khâu không thể tách rời trong quá trình dạy học
Muốn KTĐG kết quả học tập của học sinh một cách có hiệu quả nhất thì giáo viên phải có thái độ khách quan, công bằng, trung thực, chính xác, tránh thiên vị hoặc có thái độ tùy tiện tự do Từ đó học sinh mới hoàn toàn tin tưởng và làm bài một cách khách quan, tạo cho học sinh có một thái độ đúng mực, có ý thức khi thực hiện bài kiểm tra
- Đảm bảo tính khách quan:
Khi KTĐG phải đảm bảo khách quan, phản ánh đúng thực chất về trình độ, năng lực của học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện Muốn vậy, khi tiến hành KTĐG phải tạo cho học sinh có cùng điều kiện nhƣ nhau để mỗi em tự bộc lộ một cách trung thực, khách quan kết quả lĩnh hội kiến thứ của mình, cần ngăn cản mọi hành vi tiêu cực, đối phó thiếu trung thực khi làm bài Giáo viên nên tạo cho học sinh một tâm thế tốt, tự tin, tự khẳng định mình một cách đúng đắn
Kiến thức cần KTĐG phải phản ánh đúng mục tiêu giảng dạy môn học, bám sát nội dung chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng, phù hợp với thực tiễn giảng dạy và học ở trường Cần tránh tình trạng kiểm tra những kiến thức quá cao, ngoài chương trình
- Đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống và tính thường xuyên:
KTĐG kiến thức của học sinh cần phải tiến hành thường xuyên, có hệ thống, có kế hoạch, kết hợp với nhiều lĩnh vực kiểm tra.Bài kiểm tra dùng để đánh giá phải đƣợc tiến hành từ dễ đến khó
1.1.4 Quy trình của việc kiểm tra đánh giá
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình phức tạp và công phu Vì vậy, để đánh giá kết quả tốt thì quy trình đánh giá gồm các giai đoạn sau:
Căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập để xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá Định ra phương pháp giảng dạy nội dung chương trình, phương tiện dạy học nhằm giúp cho việc học tập đạt đến những mục tiêu đã chọn
Căn cứ vào mục tiêu để xây dựng câu hỏi kiểm tra và các tiêu chuẩn cần đạt đƣợc khi đánh giá kiến thức của học sinh
Tiến hành kiểm tra, thu thập kết quả bài thi đo lường các dấu hiệu để đánh giá mức độ đạt đƣợc về các yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng điểm số
Phân tích kết quả, so sánh các thông tin nhận đƣợc với các yêu cầu đặt ra rồi đánh giá, xem xét kết quả học tập của học sinh, xem xét mức độ thành công của phương pháp giảng dạy của thầy … từ đó cải tiến khắc phục những nhược điểm
Nhƣ vậy, kết quả học tập là mức độ thực hiện các tiêu chí hay chuẩn mực, theo mục đích học tập đã được xác định trong chương trình giáo dục.
Các phương pháp thi và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông
Là phương pháp nhận thức tình cảm tính tích cực như giáo viên đưa ra những mô hình, biểu tƣợng, hình ảnh, phim ảnh, phim học tập, cho học sinh, yêu cầu học sinh dự đoán diễn biến tìm ra nguyên nhân, xác lập mối quan hệ, vận dụng kiến thức đã học để giải thích hiện tượng mà mình quan sát được dưới hình thức một bài kiểm tra
Phương pháp này đòi hỏi sự sắp đặt trước nên thường mất nhiều thời gian, thường được thực hiện trong thời gian ngắn nên thiếu tính đa dạng Mặt khác nếu không chuẩn bị chu đáo, sử dụng khéo léo và đúng mực thì sẽ làm phân tán chú ý, không tập trung vào những dấu hiệu cơ bản, chủ yếu và thậm chí hạn chế năng lực tư duy trừu tượng của học sinh Do đó sử dụng kiểm tra bằng phương pháp quan sát thì độ chính xác không cao, tính khách quan thấp
Là phương pháp hỏi, đáp giữa người dạy và người học Giáo viên đưa ra câu hỏi và yêu cầu học sinh trả lời và dựa vào những kiến thức học sinh trả lời giáo viên có thể đánh giá được kết quả học tập của học sinh Phương pháp này phát huy tính tích cực độc lập trong học tập của học sinh, bồi dƣỡng năng lực diễn đạt ngôn ngữ nói giúp giáo viên thu đƣợc tín hiệu ngƣợc một cách nhanh nhất để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học cho phù hợp với mục đích, yêu cầu đề ra Ngoài ra với phương pháp vấn đáp đòi hỏi học sinh phải học tất cả các kiến thức liên quan, phải có kiến thức tổng hợp
Phương pháp vấn đáp hạn chế được các tiêu cực trong thi cử giúp học sinh phát huy đƣợc tính tích cực, tự giác trong học tập, rèn luyện tính trung thực trong thi cử.Tuy nhiên, một số học sinh còn hạn chế khả năng đối thoại trực tiếp nhƣng có thể trả lời những câu hỏi bằng cách viết rất tốt Do đó cần phải kết hợp nhiều tình huống trong bài kiểm tra
Phương pháp này thường được sử dụng nhiều nhất, vì nó các có ưu điểm sau:
- Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh (TS) cùng một lúc
- Cho phép TS cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
- Cung cấp bản ghi trả lời của TS để nghiên cứu kỹ khi chấm điểm
- Dễ quản lý vì người chấm không tham gia trực tiếp vào bối cảnh kiểm tra Phương pháp này thường được chia thành hai nhóm chính: nhóm các CH tự luận và nhóm các CH trắc nghiệm
1.2.3.1 Phương pháp tự luận Đây là phương pháp mà học sinh phải trả lời bằng một bài viết về vấn đề đƣợc nêu ở trong câu hỏi giáo viên đƣa ra Tùy thuộc vào mục đích giảng dạy mà giáo viên có thể soạn câu hỏi phù hợp với học sinh,với thời điểm kiểm tra và với thời gian quy định
Với phương pháp này giáo viên có thể kiểm tra tiếp thu kiến thức của học sinh ở mức độ nào đó trong những khía cạnh cụ thể Học sinh có thể diễn đạt tƣ tưởng câu nhờ kiến thức, kinh nghiệm học tập đã có.Tuy nhiên việc chấm điểm bài kiểm tra tự luận thường mất nhiều thời gian, kết quả bài kiểm tra phụ thuộc rất nhiều vào người chấm bài kiểm tra và người ra đề kiểm tra.Với phương pháp tự luận học sinh có thể học vẹt, học tủ, quay cóp và có thể trao đổi bài vói nhau trong khi làm bài kiểm tra Do đó thiếu khách quan, độ chính xác thấp, không phản ánh đúng kết quả học tập của học sinh
1.2.3.2 Phương pháp trắc nghiệm khách quan
Là phương pháp mà học sinh trả lời câu hỏi bằng cách lựa chọn Học sinh dựa trên kiến thức đã tích lũy của mình để phân tích, thấy đƣợc ý đúng và trả lời câu hỏi theo ý kiến của mình
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường dùng trong dạy học như: đúng- sai, ghép đôi, điền khuyết, diễn giải và nhiều lựa chọn
Một câu trắc nghiệm loại Đúng – Sai thường được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và học sinh trả lời bằng cách lựa chọn Đúng hoặc Sai Loại câu hỏi này có ƣu điểm là giúp kiểm tra đƣợc một khối lƣợng lớn kiến thức trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, việc chấm bài mang tính khách quan, giáo viên cũng có thể soạn đƣợc nhiều câu hỏi loại này trong một thời gian ngắn
Tuy nhiên, loại câu hỏi này có nhiều khuyết điểm Trước hết, loại câu hỏi này có thể khuyến khích sự đoán mò từ phía học sinh, giáo viên cũng rất khó chẩn định yếu điểm của học sinh do yếu tố đoán mò; trong khi ra đề kiểm tra loại này, giáo viên thường hay trích nguyên văn các câu trong sách nên dễ khiến học sinh có thói quen học thuộc lòng, học tủ, học vẹt hơn là tìm hiểu, suy nghĩ Do đó, câu hỏi loại này có độ tin cậy thấp Loại câu hỏi này thích hợp cho việc khảo sát trí nhớ những sự kiện hay nhận biết các sự kiện
1.2.3.2.2 Câu hỏi loại ghép đôi (đối chiếu cặp đôi) Đây là loại hình đặc biệt của loại câu nhiều lựa chọn Loại câu hỏi này thường được sử dụng trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay thiết lập những mối tương quan nhưng không thích hợp lắm trong trường hợp thẩm định các khả năng nhƣ sắp đặt và áp dụng kiến thức, nguyên lý Loại câu hỏi này có thể giảm thiểu đƣợc sự đoán mò, nhất là khi số lƣợng câu dẫn, câu đáp nhiều và khi số lƣợng câu ở hai cột không bằng nhau Số lƣợng câu hỏi loại này không nên quá nhiều sẽ làm học sinh mất nhiều thời gian để đọc các câu lựa chọn và do đó làm mất thời gian làm bài của học sinh Vì vậy nên sử dụng câu hỏi loại này kết hợp với các loại câu hỏi trắc nghiệm khác
1.2.3.2.3 Câu hỏi loại điền khuyết hay có câu trả lời ngắn
Loại câu hỏi này có hai dạng Chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, đƣợc gọi là loại có câu trả lời ngắn; hay cũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống mà học sinh phải điền vào bằng một từ hay một nhóm từ ngắn, đƣợc gọi là loại điền khuyết Tuy nhiên loại câu hỏi này có hai khuyết điểm lớn đó là cách chấm điểm không dễ dàng và điểm số không đạt đƣợc tính khách quan tối đa Do đó cách chấm điểm của loại câu điền khuyết nhiều khi rất khó khăn và mất nhiều thì giờ Câu hỏi loại này thường được dùng cho các vấn đề như tính toán, đánh giá mức hiểu biết các nguyên lý, giải thích các dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ
1.2.3.2.4 Câu hỏi trắc nghiệm có nhiều lựa chọn Đây là loại câu trắc nghiệm phổ biến nhất, gồm hai phần: phần gốc và phần lựa chọn
+ Phần gốc: là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chƣa hoàn tất) một vấn đề hay đặt ra một ý tưởng với những thông tin cần thiết giúp học sinh hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp
+ Phần lựa chọn: thường gồm từ 4 đến 5 câu trả lời hay câu bổ túc để học sinh lựa chọn, trong đó có 1 câu trả lời là đúng nhất, thích hợp nhất, các câu còn lại là các câu “mồi nhử”
Loại câu hỏi này giúp giáo viên kiểm tra đƣợc một lƣợng kiến thức lớn, tổng quát hơn, kiểm tra đƣợc nhiều nội dung ở nhiều khía cạnh hơn do số lƣợng câu hỏi nhiều hơn so với trường hợp tự luận.Đồng thời khi sử dụng loại câu hỏi này còn hạn chế được trường hợp HS học tử, học vẹt, học lệch; giúp HS rèn được kĩ năng làm bài và khắc phục đƣợc những mặt hạn chế để học tập tốt hơn Không những thế, bằng các phương pháp phân tích câu hỏi, giáo viên có thể xác định câu nào quá dễ, quá khó, câu nào mơ hồ hay không có giá trị so với mục tiêu cần kiểm tra; từ đó có thể chỉnh sửa lại các câu hỏi và cả các câu mồi nhử để hoàn thiện và tăng giá trị của câu trắc nghiệm.
So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Có nhiều tranh luận về loại nào tốt hơn TNTL hay TNKQ
Câu trả lời sẽ tuỳ thuộc vào mục đích của việc kiểm tra – đánh giá.Mỗi loại câu hỏi đều có ƣu điểm cho một số mục đích nào đó Ƣu và nhƣợc điểm của mỗi loại TNKQ và TNTL có những điểm đáng chú ý sau:
Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan
Những năng lực đo đƣợc - Học sinh có thể tự diễn đạt ý tưởng bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của mình nhờ vào kiến thức và kinh nghiệm đã có
- Có thể đo lường khả năng suy luận nhƣ: sắp xếp ý tưởng, suy diễn, tổng quát, so sánh, phân
- Học sinh chọn một câu đúng nhất trong số các phương án trả lời cho sẵn hoặc viết thêm một vài từ hoặc một câu để trả lời
- Có thể đo những khả năng suy luận nhƣ: Sắp đặt ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt nhƣng không hữu hiệu bằng biệt, phân tích, tổng hợp một cách hữu hiệu
- Không đo lường kiến thức ở mức trí năng biết, hiểu một cách hữu hiệu
- Có thể kiểm tra – đánh giá kiến thức của học sinh ở mức trí năng biết, hiểu một cách hữu hiệu
Phạm vi bao quát bài trắc nghiệm
-Có thể kiểm tra – đánh giá đƣợc một phạm vi kiến thức nhỏ nhƣng rất sâu với số lƣợng câu hỏi trong một bài kiểm tra ít
-Vì có thể trả lời nhanh nên số lƣợng câu hỏi lớn, do đó bao quát một phạm vi kiến thức rộng hơn Ảnh hưởng đối với học sinh
- Khuyến khích học sinh độc lập sắp đặt, diễn đạt ý tưởng bằng chính ngôn ngữ của mình một cách hiệu quả và nó tạo cơ sở cho giáo viên đánh giá những ý tưởng đó, song một bài TNTL dễ tạo ra sự “lừa dối” vì học sinh có thể khéo léo tránh đề cập đến những điểm mà họ không biết hoặc chỉ biết mập mờ
- Học sinh ít liên quan đến việc tổ chức sắp xếp và diễn đạt ý tưởng của mình, song TNKQ khuyến khích học sinh tích luỹ nhiều kiến thức và kĩ năng, không “học tủ” nhƣng đôi khi dễ tạo sự đoán mò
Công việc soạn đề kiểm tra
Việc chuẩn bị câu hỏi TNTL do số lƣợng ít nên không khó lắm nếu giáo viên giỏi trong lĩnh vực chuyên môn
Việc chuẩn bị câu hỏi phải nhiều do đó phải đòi hỏi có nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn vững chắc Đây là công việc rất tốn thời gian, ngân hàng đề thi công việc này đỡ tốn công sức hơn
Công việc chấm điểm Đây là công việc khó khăn, mất nhiều thời gian và khó cho điểm chính xác nên đòi hỏi giáo viên phải luôn luôn cẩn thận, công bằng, tránh thiên vị
Công việc chấm điểm nhanh chóng và tin cậy, đặc biệt chiếm ƣu thế khi cần kiểm tra một số lƣợng lớn học sinh.
Các giai đoạn soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan
Quy trình soạn thảo CHTNKQ gồm 4 giai đoạn 10 bước:
* Giai đoạn 1: Quy hoạch bài trắc nghiệm gồm 3 bước:
+ Phân tích nội dung cần giảng dạy:Xác định nội dung chi tiết các kiến thức và kỹ năng cần thiết, quan trọng của môn học mà người học phải lĩnh hội Tùy theo thời điểm khảo sát trong năm học, nội dung kiến thức có thể chỉ trong một hoặc vài chương để kiểm tra một tiết, một học kỳ hoặc toàn năm học Phân tích nội dung môn học để xác định những nội dung cần đƣợc đƣa vào kiểm tra, đánh giá là công việc không dễ dàng, vì các nội dung học tập của một môn học thì rất nhiều, giáo viên phải cân nhắc, chọn lọc kỹ Kết quả công việc trên là một bảng liệt kê những trọng tâm kiến thức cần đo lường
+ Xác định các cấp độ nhận thức cần KTĐG cho từng nội dung: Theo cách phân loại của B.S Bloom, lĩnh vực nhận thức đƣợc chia thành 6 phạm trù chính, xếp từ mức độ đơn giản nhất đến phức tạp nhất tạo thành hình kim tự tháp là: Biết,thông hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá Nhƣng do thực trạng áp dụng trắc nghiệm vào Việt Nam còn mới mẻ, các giáo viên chƣa có kinh nghiệm soạn những CH thuộc mức cao, nên nhiều nhà giáo dục trong nước đề nghị bài trắc nghiệm ở lớp học thường nên sử dụng 3 mục tiêu nhận thức đầu tiên
+ Thiết lập dàn bài nghiệm: Theo tài liệu “Trắc nghiệm và ứng dụng” của
GS TSKH Lâm Quang Thiệp (NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2008)
Cần biết các dự kiến về mục tiêu thường đặt dưới dạng tỉ lệ % Nếu ta điều chỉnh % ở các mức độ biết, hiểu, vận dụng thì sẽ thay đổi độ khó của bài trắc nghiệm.Muốn một đề thi khó hơn, cần phải tăng tỉ lệ % số câu hiểu và vậndụng.Ngƣợc lại, khi giảm tỉ lệ câu hiểu hay áp dụng và tăng tỉ lệ câu biết thì độ khó đề sẽ giảm (Ma trận 2 chiều)
* Giai đoạn 2: Soạn câu trắc nghiệm và tạo đề tương đương gồm 3 bước:
+ Soạn câu trắc nghiệm: Việcsoạn các câu trắc nghiệm phải theo dàn bài đã lập Phải nắm vững kỹ thuật để soạn thật cẩn thận, cân nhắc kỹ lƣỡng mỗi ý định hỏi và từ ngữ sử dụng.Những câu soạn cẩu thả sẽ lộ ra trong quá trình đánh giá câu trắc nghiệm
+ Trao đổi trong nhóm đồng nghiệp: Các CH đƣợc soạn xong phải đƣợc đƣa ra thảo luận trong nhóm đồng nghiệp Việc làm này là cần thiết, vì nhiều đồng nghiệp sẽ giúp khẳng định tính chất “đúng” cũng nhƣ giúp phát hiện ra điểm yếu hay sai sót mà người soạn không ý thức được.Kinh nghiệm các lần thảo luận nhóm cho thấy, qua phản biện của đồng nghiệp, có câu dù đã đƣợc soạn kỹ nhƣng vẫn bị phát hiện ý trong CH chƣa rõ hoặc có một hay vài lựa chọn chƣa phù hợp, chƣa hay
+ Xây dựng các đề gốc và các đề tương đương: Các câu trắc nghiệm đã đƣợc sửa chữa đƣợc tập hợp lại thành một (hay một số) đề gốc đáp ứng đúng cấu trúc, số câu đã qui định trong dàn bài Từ đây, người phụ trách chính về kỹ thuật sẽ tạo ra các đề tương đương (ghi lại mã số từng đề) Số đề tương đương nhiều hay ít thường do tính chất cuộc thi qui định, nhưng hướng chung là càng nhiều càng tốt để tránh HS quay cóp
* Giai đoạn 3: Tổ chức thi và chấm bài kiểm tra:Việc tổ chức thi và chấm thi sẽ khác nhau tùy theo cho HS thi trên máy tính hay làm bài trên giấy
- Nếu thi trên máy tính, khi thời hạn làm bài kết thúc máy có thể thông báo ngay cho thí sinh kết quả số câu làm đúng (hoặc điểm số) Nhƣng quan trọng hơn là các trả lời của từng HS sẽ được lưu lại chung trên 1 file dữ kiện, các thông tin này đƣợc sử dụng cho giai đoạn 4
- Nếu làm trên giấy nên thiết kế sử dụng bảng trả lời riêng (answer sheet) để tiện cho việc chấm điểm Số lƣợng bài thi ít thì dùng bảng đục lỗ đáp án để chấm Nhưng hiện tại đã có máy chấm bài dùng phương pháp quét quang học, rất tiện lợi khi có số lƣợng bài thi nhiều.Các máy chấm bài có nhiều tính năng khác nhau và tốc độ chấm cũng khác nhau
* Giai đoạn 4: Phân tích và lưu trữ câu trắc nghiệm gồm 3 bước:
+ Phân tích bài trắc nghiệm; phân tích câu trắc nghiệm; sửa chữa và lưu trữ câu trắc nghiệm: Sau bước 9, ta đã biết được những câu trắc nghiệm tốt và cần ghi dấu những câu có vấn đề để thẩm tra dần dần Có câu phải loại bỏ, có câu chỉ cần thay một mồi nhử, có câu phải sửa lại ý hỏi, hoặc cách hành văn.Cũng có câu phải xem xét toàn bộ phần hỏi và các lựa chọn Tất cả những điều chỉnh trên một câu trắc nghiệm đều phải căn cứ vào các chỉ số đã tính đƣợc và hệ thống kiến thức chuyên môn làm nền tảng
Hoàn tất công đoạn trên, ta cần lưu trữ lại các câu tốt cũng như câu đã sửa, xóa bỏ câu kém Nhớ lưu lại các chỉ số đã phân tích để theo dõi.
Phân tích câu hỏi
1.5.1 Mục đích của việc phân tích câu hỏi
Sau khi chấm và ghi điểm của một bài trắc nghiệm, giáo viên phân tích các câu trả lời của HS nhằm mục đích:
- Biết đƣợc những câu nào là quá khó và quá dễ để loại ra, giữ lại các câu thoả mãn tiêu chí đánh giá trong đo lường trắc nghiệm
- Lựa chọn ra đƣợc các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt đƣợc HS giỏi và kém
- Biết đƣợc lý do vì sao câu trắc nghiệm không đạt đƣợc hiệu quả mong muốn và cần phải sửa đổi nhƣ thế nào cho tốt hơn
- Việc phân tích CH để biết xem HS trả lời CH nhƣ thế nào và từ đó cần phải sửa đổi để bài trắc nghiệm có thể đo lường thành quả học tập của HS một cách hữu hiệu hơn
- Thông qua kết quả bài trắc nghiệm có thể giúp giáo viên đánh giá mức độ thành công của công việc giảng dạy và học tập để thay đổi phương pháp, lề lối làm việc cho tốt
1.5.2 Phương pháp phân tích câu hỏi
Nguyên tắc chung để phân tích CH của một bài trắc nghiệm là so sánh câu trả lời của HS ở mỗi CH với điểm số chung của toàn bài trắc nghiệm để xem có đạt đƣợc những mục đích đề ra hay chƣa, với mong muốn có nhiều HS ở nhóm điểm cao và ít HS ở nhóm điểm thấp trả lời đúng CH
Phân tích câu trả lời của HS nhằm xác định các chỉ số sau: độ khó và độ phân biệt, mức độ lôi cuốn HS của các câu trả lời cho sẵn ở mỗi CH và độ tin cậy của bài trắc nghiệm Ngoài ra dựa vào lý thuyết IRT, phần mềm Vitesta còn phân tích CH về độ khó b, độ phân biệt a, độ phỏng đoán c và năng lực của HS…theo lý thuyết IRT
1.5.3 Lý thuyết ứng đáp câu hỏi (IRT)
Lý thuyết trắc nghiệm hiện đại hay còn gọi là Lý thuyết ứng đáp CH (IRT) được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu mọi cặp tương tác nguyên tố “học sinh – câu hỏi” (HS-CH) Mỗi HS đứng trước một CH sẽ ứng đáp như thế nào, điều đó phụ thuộc vào năng lực tiềm ẩn của HS và các đặc trƣng của CH Hành vi ứng đáp này đƣợc mô tả bằng một hàm đặc trƣng CH cho biết xác suất trả lời đúng CH P() tùy theo tương quan giữa năng lực HS và các tham số đặc trưng cho CH Để xem xét quan hệ giữa HS và CH trong sự ứng đáp CH, đối với HS chọn tham số năng lực , đối với CH chọn tham số độ khó b Rasch phát biểu rằng: “Một
HS có năng lực hơn một HS khác thì HS trước phải có xác suất lớn hơn để trả lời đúng một CH bất kỳ, cũng tương tự như vậy, một CH khó hơn một CH khác thì xác suất trả lời đúng CH sau là lớn hơn CH trước đối với một HS bất kỳ” Từ phát biểu trên, người ta đã rút ra hệ quả: xác suất P trả lời đúng một CH phụ thuộc vào tương quan giữa năng lực HS và độ khó CH và đƣợc biểu diễn bằng một trong các mô hình sau:
Mô hình một tham số: exp( )
Mô hình hai tham số: exp ( )
Mô hình ba tham số: exp ( )
(3) Đây là một chương trình phân tích đánh giá CH, soạn đề thi, chấm thi trắc nghiệm, v.v đƣợc xây dựng dựa trên Lý thuyết ứng đáp IRT.Các thành tựu quan trọng đó của IRT đã nâng độ chính xác của phép đo lường trong giáo dục lên một tầm cao mới về chất so với các lý thuyết đo lường cổ điển Từ thành tựu tổng quát đó của IRT, người ta có thể đưa ra các quy trình để xây dựng NHCH (item banking), phân tích các kết quả TNKQ để hiệu chỉnh NHCH, chủ động thiết kế các đề trắc nghiệm theo các mục đích đặt ra
1.5.4 Các chức năng cơ bản trong phần mềm Vitesta hỗ trợ lý thuyết IRT
Sau khi tiến hành kiểm tra xong, các phiếu trắc nghiệm đƣợc đƣa vào máy quét Phần mềm Vitesta sẽ thực hiện các công việc nhƣ sau: Chấm điểm bài trắc nghiệm theo đáp án, tính đƣợc độ khó, độ phân biệt theo lý thuyết cổ điển và lý thuyết IRT đối với từng câu trắc nghiệm, số HS chọn phương án, tính phần trăm và độ phân biệt từng phương án Ngoài ra còn có độ phỏng đoán của HS nghĩa là có thể HS trả lời đƣợc những CH vƣợt khỏi năng lực của họ hay cũng có thể không trả lời được những CH dễ dưới khả năng của mình Chức năng không thể thiếu trong phần mềm này là định cỡ đề trắc nghiệm theo các mô hình IRT với 1, 2 và 3 tham số từ đó cung cấp tường minh các đường cong đặc trưng, hàm thông tin của từng CHTN và của ĐTN; độ khó, độ phân biệt của CHTN theo lý thuyết cổ điển; cung cấp thông tin về tương quan giữa đề trắc nghiệm và mẫu HS, sơ đồ bài làm của từng HS; biến đổi điểm thô thành điểm thực theo thang điểm tuỳ chọn Ngoài ra còn có những chức năng khác nhƣng do hạn chế nên chúng tôi không đề cập tới
1.5.5 Những ƣu điểm của Lý thuyết ứng đáp câu hỏi
So với lý thuyết TN cổ điển, lý thuyết TN hiện đại IRT có những ƣu điểm vƣợt trội Vì vậy IRT ra đời nhằm khắc phục những khuyết điểm đó:
+ Thứ nhất: Tính bất biến của các đặc trƣng CH và năng lực của HS
Với trắc nghiệm cổ điển, sau khi chấm bài xong người ta thường chia thành
3 nhóm là nhóm điểm cao chiếm 25%33% HS và nhóm điểm thấp chiếm 25%
33% HS, thông thường chọn 27% sau đó tính độ khó, độ phân biệt của CH, bài trắc nghiệm Nhược điểm của phương pháp này là chỉ chọn 54% HS trong hai nhóm điểm cao và điểm thấp, còn lại 46% nhóm điểm ở mức trung bình không được xét đến và các tham số của CH phụ thuộc vào năng lực của HS Đó cũng chính là nhược điểm của trắc nghiệm cổ điển
- Tính bất biến của các đặc trưng CH:
Với IRT tham số đặc trƣng của CH (liên quan đến độ khó, độ phân biệt, mức độ đoán mò) không phụ thuộc vào mức năng lực của các TS trả lời CH trắc nghiệm Để minh họa rõ hơn ta xét ví dụ cụ thể sau: giả sử có 2 mẫu HS đƣợc chọn để kiểm tra với cùng một ĐTN Nhóm thứ nhất có dải năng lực từ -3-1 với giá trị trung bình -2 Nhóm thứ 2 có dải năng lực từ +1+3 với giá trị trung bình +2 Tỉ lệ trả lời đúng 1 CH đã cho nào đó đƣợc tính từ số liệu quan sát cho mỗi mức năng lực trong 2 mẫu HS đã cho Giả sử đối với mẫu thứ nhất ta thu đƣợc đồ thị phân bố tỉ lệ trả lời đúng theo các nhóm năng lực:
Hình 1.1: Đồ thị phân bố tỉ lệ trả lời đúng CH của mẫu HS thứ nhất
Quá trình ước lượng theo biến cố hợp lý cực đại được sử dụng để tìm đường cong đặc trƣng CH có các tham số a(1) = 1.27 và b(1) = - 0.39 trùng khớp tốt với số liệu quan sát Như vậy, đường cong đặc trưng CH tương ứng với dải năng lực của mẫu HS thứ nhất là:
Hình 1.2: Phần đường cong đặc trưng CH của mẫu HS thứ nhất
Quá trình ƣớc lƣợng nêu trên cũng đƣợc áp dụng đối với mẫu HS thứ 2 Cũng nhƣ mẫu thứ nhất, ở mẫu thứ 2 ta thu đƣợc đồ thị phân bố tỷ lệ trả lời đúng theo các nhóm năng lực đƣợc biểu diễn nhƣ sau:
Hình 1.3: Đồ thị phân bố tỉ lệ trả lời đúng CH của mẫu HS thứ hai
Kết quả ƣớc lƣợng theo thuật toán biến cố hợp lý cực đại đƣợc sử dụng và đường cong đặc trưng CH trùng khớp tốt với số liệu quan sát có các tham số a(2)=1.27 và b(2)=-0.39 và đây cũng chính là phần đường cong đặc trưng CH tương ứng với dải năng lực của mẫu HS thứ 2:
Hình 1.4: Phần đường cong đặc trưng CH của mẫu HS thứ hai
Các tính toán trên cho thấy đối với 2 lần ƣớc lƣợng ta có: a(1) = a(2); b(1) b(2) tức việc ước lượng từ 2 mẫu HS cho cùng các giá trị tham số của đường cong đặc trƣng CH Mà vì rằng cùng 1 CH đƣợc 2 mẫu HS trả lời nên quá trình tìm đường cong trùng khớp liên quan đến cùng 1 đường cong đặc trưng CH Do đó các tham số CH ứng với 2 phép phân tích dựa vào số liệu của 2 mẫu HS sẽ nhƣ nhau Hình 1.5 sẽ biểu diễn sự kết hợp 2 nhóm số liệu của 2 mẫu HS và cũng là 1 đường cong đặc trƣng duy nhất trùng khớp với 2 nhóm số liệu:
Hình 1.5: Đường cong đặc trưng câu hỏi
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH
Đặc điểm cấu trúc nội dung chương các định luật bảo toàn
2.1.1 Đặc điểm nội dung chương các định luật bảo toàn
Trong chương trình vật lý lớp 10 nâng cao thì chương “Các định luật bảo toàn” là chương quan trọng không những về mặt lí thuyết mà còn có ý nghĩa trong thực tế Ở chương trìnhTHCS học sinh đã được học một số kiến thức vật lý ở chương này nhưng được trình bày một cách đơn giản phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh Lên trung học phổ thông thì những nội dung kiến thức này đƣợc lặp lại nhƣng ở mức độ sâu hơn, hoàn thiện hơn có nhiều thí nghiệm minh họa hơn trên cơ sở đó học sinh đã nắm bắt đƣợc những kiến thức về vật lý
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc của chương.
Quy hoạch bài trắc nghiệm
2.2.1 Nội dung kiến thức kỹ năng của học sinh cần có sau khi học
- Phát biểu đƣợc khái niệm hệ kín
- Viết đƣợc công thức tính động lƣợng và nêu đƣợc đơn vị đo của động lƣợng
- Phát biểu và viết đƣợc hệ thức của định luật bảo toàn động lƣợng đối với hệ hai vật
- Nêu đƣợc nguyên tắc chuyển động bằng phản lực
- Phát biểu đƣợc định nghĩa và viết công thức tính công và công suất
- Phát biểu đƣợc định nghĩa và viết đƣợc công thức tính động năng Nêu đƣợc đơn vị đo động năng
- Phát biểu và viết đƣợc hệ thức của định lí động năng
- Phát biểu được định nghĩa thế năng trọng trường của một vật và viết được công thức tính thế năng này Nêu đƣợc đơn vị đo thế năng
- Viết đƣợc công thức tính thế năng đàn hồi
- Phát biểu đƣợc định nghĩa cơ năng và viết công thức tính cơ năng
- Phát biểu đƣợc định luật bảo toàn cơ năng và viết đƣợc hệ thức của định luật này
- Phát biểu và viết đƣợc hệ thức của ba định luật Kê-ple
* Các kỹ năng học sinh cần rèn luyện
- Vận dụng định luật bảo toàn động lƣợng, bảo toàn năng lƣợng để giải đƣợc các bài tập đối với hai vật va chạm mềm, va chạm đàn hồi
- Vận dụng đƣợc công thức A = Fscosα và (Biết cách tính công, công suất và các đại lƣợng trong các công thức tính công và công suất)
- Vận dụng đƣợc biểu thức tính động năng, thế năng đàn hồi, thế năng trọng trường, định lý động năng và độ giảm thế năng để giải các bài toán đơn giản
- Vận dụng định luật bảo toàn cơ năng để giải đƣợc bài toán chuyển động của một vật, của hệ có hai vật
- Vận dụng định luật III Kê-ple để giải toán
2.2.2 Xác định các cấp độ nhận thức a Bảng tính trọng số của đề trắc nghiệm
Số tiết thực Trọng số
Chương IV: Các định luật bảo toàn 15 10 6 9 40 60
Tổng T 6 9 40 60 b Tính số câu hỏi và điểm số cho các cấp độ của đề trắc nghiệm
Cấp độ Nội dung (chủ đề) Trọng số Số câu cần kiểm tra Điểm số
Chương IV Các định luật bảo toàn 40 12→ lấy12 4,0
Chương IV Các định luật bảo toàn 60 18 → lấy 18 6,0
10 2.2.3 Lập bảng ma trận hai chiều
Nhận biết(A) Thông hiểu(B) Vận dụng bậc thấp(C)
1.Định luật bảo toàn động lƣợng
Phát biểu đƣợc khái niệm hệ kín
Nắm vững định nghĩa động lƣợng và nội dung của định luật bảo toàn động lƣợng áp dụng cho hệ kín Đƣa ra đƣợc một số ví dụ về hệ kín
Nhận biết hệ vật, hệ kín, khái niệm động lƣợng, điều kiện áp dụng đƣợc định luật bảo toàn động lƣợng
2 Bài tập Áp dụng đinh luật bảo toàn động lƣợng giải các bài toán đơn giản Áp dụng định luật bảo toàn động lƣợng để giải các bài toán phức tạp
15 Bài tập Áp dụng các định luật Kê- ple để giải các bài toán đơn giản
Vận dụng các định lý về động năng, thế năng, định luật bảo toàn cơ năng để giải các bài toán cụ thể Áp dụng các định luật Kê-ple và các công thức tính tốc độ vũ trụ để giải các bài toán phức tạp
Lựa chọn và sử dụng phối hợp các định luật bảo toàn động lƣợng, năng lƣợng, các định lý, động năng để giải các bài toán phức hợp và chuyển động
Vì giới hạn của khóa luận tốt nghiệp nên bảng ma trận hai chiều còn lại xin tham khảo ở phần phụ lục 1
2.2.4 Bảng phân bố số câu hỏi theo các mục tiêu giảng dạy
Nội dung kiến thức Nhận biết Hiểu Vận dụng bậc thấp
1 Định luật bảo toàn động lƣợng 1 (29) 1 (5) 2
3 Chuyển động bằng phản lực
Bài tập về định luật bảo toàn động lƣợng
6 Động năng Định lí động năng 1 (25) 1 (6) 2
7 Thế năng Thế năng trọng trường 1 (19) 1 (20) 2
10 Định luật bảo toàn cơ năng 1 (1) 1 (9) 2
12 Va chạm đàn hồi và không đàn hồi 1 (22) 1 (26) 2
13 Bài tập về các định luật bảo
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Các định luật bảo toàn”
14 Các định luật Kê-ple Chuyển động của vệ tinh 1 (27) 1 (7) 2
2.3 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương “Các định luật bảo toàn”
Dựa trên những chuẩn kiến thức, kỹ năng và khung phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT năm 2011-2012, chúng tôi đã biên soạn 30 câu trắc nghiệm khách quan ở các mức độ khác nhau: 4 câu ở mức độ nhận biết, 8 câu ở mức độ thông hiểu, 13 câu ở mức độ vận dụng bậc thấp, 5 câu ở mức độ vận dụng bậc cao Sau đây là một vài ví dụ minh hoạ một số câu ứng với 4 mức độ trên:
Câu hỏi nhận biết – kí hiệu loại A
Câu 29: Động lƣợng là đại lƣợng véc tơ:
A Cùng phương, cùng chiều với véctơ vận tốc
B Cùng phương, ngược chiều với véctơ vận tốc
C Có phương vuông góc với véctơ vận tốc
D Có phương hợp với véctơ vận tốc một góc bất kỳ
* Mục đích kiểm tra mức độ nhận biết của học sinh về biểu thức của động lượng
* Nếu học sinh nắm được khái niệm và biểu thức của động lượng thì học sinh sẽ chọn phương án đúng A Nếu học sinh đọc không kỹ các phương án sẽ chọn phương án B Nếu học sinh không nắm được biểu thức động năng thì sẽ chọn phương án C hoặc D
Câu hỏi thông hiểu – kí hiệu loại B
Câu 25: Công thức nào sau đây thể hiện mối liên hệ giữa động lƣợng và động năng?
*Mục đích kiểm tra mức độ thông hiểu của học sinh về mối liên hệ giữa động lượng và động năng
* Nếu học sinh thuộc bài:W đ =(mv 2 )/2, ⃗ ⃗ suy ra W đ =p 2 /(2m) Sẽ chọn phương án đúng A
Nếu học sinh nhầm: P trọng lực sẽ chọn phương án B
Nếu học sinh đổi vế nhầm sẽ chọn phương án C
Nếu học sinh đổi vế nhầm sẽ chọn phương án D
Câu hỏi vận dụng bậc thấp – kí hiệu loại C
Câu 13: Một hòn bi khối lƣợng 20g đƣợc ném thẳng đứng lên cao với vận tốc 4m/s từ độ cao 1,6m so với mặt đất Cho g = 9,8m/s 2 Trong hệ quy chiếu gắn với mặt đất các giá trị động năng, thế năng của hòn bi tại lúc ném vật
* Mục đích kiểm tra mức độ vận dụng bậc thấp của học sinh về công thức tính động năng và thế năng
* Nếu học sinh trình bày được:
W t = mgh = 0,02.9,8.1,6 = 0,31J Học sinh sẽ chọn phương án đúng D
W t = 2mgh = 2.0,02.9,8.1,6 = 0,62J Học sinh sẽ chọn phương án B
W t = mgh = 0,02.9,8.1,6 = 0,31J Học sinh sẽ chọn phương án A
W t =2 mgh = 2.0,02.9,8.1,6 = 0,62J Học sinh sẽ chọn phương án C
Câu hỏi vận dụng bậc cao – kí hiệu loại D
Câu 16: Một người có khối lượng m 1 = 50kg nhảy từ bờ vào thuyền với vận tốc v 1 5 m/s theo phương vuông góc với dòng nước, thuyền có khối lượng m 2 = 250kg đang trôi theo dòng nước Sau đó thuyền chuyển động với vận tốc v hợp với dòng nước một góc α = 30 0 Tìm v và vận tốc v 2 của dòng nước
*Mục đích kiểm tra mức độ vận dụng bậc cao của học sinh về định luật bảo toàn động lượng
* Nếu học sinh phân tích được:
Hệ gồm người và thuyền là hệ kín Động lượng của hệ trước khi người vào thuyền: ⃗ ⃗⃗⃗⃗ ⃗⃗⃗⃗⃗
Sau khi người đã vào thuyền:
⃗⃗⃗⃗ ⃗ Động lượng của hệ được bảo toàn:
Sẽ chọn phương án đúng A
(m 1 + m 2 ) v m 1 v 1 Động lượng của hệ trước khi người vào thuyền: ⃗ ⃗⃗⃗⃗ ⃗⃗⃗⃗⃗
Sau khi người đã vào thuyền:
⃗⃗⃗⃗ ⃗ Động lượng của hệ được bảo toàn:
Hệ gồm người và thuyền là hệ kín Động lượng của hệ trước khi người vào thuyền: ⃗ ⃗⃗⃗⃗ ⃗⃗⃗⃗⃗
Sau khi người đã vào thuyền:
⃗⃗⃗⃗ ⃗ Động lượng của hệ được bảo toàn:
Hệ gồm người và thuyền là hệ kín Động lượng của hệ trước khi người vào thuyền: ⃗ ⃗⃗⃗⃗ ⃗⃗⃗⃗⃗
Sau khi người đã vào thuyền:
⃗⃗⃗⃗ ⃗ Động lượng của hệ được bảo toàn:
Vì giới hạn của khóa luận tốt nghiệp nên số câu hỏi còn lại xin tham khảo ở phần phụ lục 2
KẾT LUẬN CHƯƠNG II Để viết một bài TNKQ nhiều lựa chọn thì phải đi theo đúng quy trình soạn thảo của nó, trong chương 2 chúng tôi đã thực hiện việc quy hoạch và soạn bài trắc nghiệm:
+ Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” Từ đó xác định mục tiêu về mức độ nội dung, kiến thức và các kỹ năng HS cần đạt đƣợc
+ Vận dụng cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá cũng nhƣ kỹ thuật soạn thảo CHTN khách quan nhiều lựa chọn, chúng tôi đã soạn thảo 30 CHTN thuộc các phần kiến thức trong chương “Các định luật bảo toàn”
+ Ở các kiến thức trên chúng tôi đều hướng tới kiểm tra đánh giá trình độ nhận thức của HS ở 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng bậc thấp và vận dụng bậc cao
Các giai đoạn còn lại của quy trình soạn thảo CH được tiếp tục trong chương thực nghiệm sƣ phạm
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng những phương pháp trên có thể áp dụng để soạn thảo CH trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn cho các phần khác nhau trong chương trình Vật lý phổ thông, nhằm không ngừng nâng cao dạy học Vật lý Do thời gian, phạm vi nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp và môn học, nhƣng chúng tôi hy vọng rằng kết quả thực nghiệm sẽ là bài học bổ ích trong công tác giảng dạy và nghiên cứu sau này.
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Mục đích của thực nghiệm sƣ phạm
- Việc thực nghiệm sư phạm là một bước quan trọng và cần thiết nhằm đánh giá tính đúng đắn của giả thuyết khoa học của khóa luận tốt nghiệp
- Từ những kết quả phân tích của đề kiểm tra trắc nghiệm sẽ có đƣợc những kết luận cần thiết nhằm hoàn chỉnh hơn cách thức kiểm tra đánh giá HS
- Ban đầu khái quát đƣợc HS khá, giỏi và yếu kém; việc tiếp thu kiến thức của HS trong một trường và giữa các trường THPT trong cùng một khu vực
- Chọn lựa được các câu hỏi TN đạt yêu câu lưu vào ngân hàng CHTN.
Đối tƣợng thực nghiệm
Để đánh giá và phân tích hệ thống CH trắc nghiệm đã soạn thảo chương
“Các định luật bảo toàn” chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Ngũ Hành Sơn với 165 HS của 4 lớp trên địa bàn Tp Đà Nẵng.
Phương pháp thực nghiệm
Đầu tiên, sau khi biên soạn xong 30 CHTN chúng tôi đã nhờ giáo viên dạy vật lý trường THPT đọc và chỉnh sửa sai sót trong quá trình biên soạn CH
Quá trình thực nghiệm sƣ phạm đƣợc tiến hành nhƣ sau:
Sau khi thiết kế xong một đề kiểm tra, tôi tiến hành soạn đề trên phần mềm soạn thảo câu trắc nghiệm MCMix để tạo đề gốc và trộn thành sáu đề khác nhau để phát cho HS để tránh tình trạng HS trao đổi lẫn nhau.
Kết quả thực nghiệm
Sau khi tiến hành thực nghiệm ở 4 trường phổ thông, chúng tôi đã sử dụng phần mềm VITESTA theo mô hình 3 tham số, ta thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU ĐỊNH CỠ*
SỐ BÁO DANH THÍ SINH:
TỪ VỊ TRÍ THỨ 1 ĐẾN VỊ TRÍ THỨ 2
TỪ VỊ TRÍ THỨ 0 ĐẾN VỊ TRÍ THỨ 0
BÁO CÁO VỀ ĐỀ THI
SAI SỐ THAM SỐ CHO PHÉP 0.001
SỐ VÒNG LẶP ƢỚC LƢỢNG MỖI THAM SỐ: 50
MÔ HÌNH: 3 THAM SỐ ĐỘ TIN CẬY CỦA PHÉP ĐO (CỔ ĐIỂN):
THEO PHƯƠNG PHÁP CHIA ĐÔI CHẴN LẺ ĐỀ THI 0.9677207 ĐỘ TIN CẬY PHÂN TÍCH NĂNG LỰC (PERSON SEPARATION RELIABILITY): 0.9975805
GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH MỨC NĂNG LỰC: 0 ĐỘ LỆCH CHUẨN: 1
GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH ĐỘ KHÓ: 0.126 ĐỘ LỆCH CHUẨN: 1.332 a) Các chỉ số thống kê của từng CH
Dưới đây là số liệu cụ thể của các CH đã được trình bày trong các ví dụ minh hoạ đã nêu ở chương 2:
Bảng 3.1 cũng cho giá trị của tham số b của mọi CH theo lý thuyết IRT trong đề thực nghiệm, cao nhất là 3,92080 và thấp nhất là -2,65199 có nghĩa là tất cả các giá trị b đều nằm trong khoảng cho phép của lý thuyết là -5,00000 đến +5,00000 Giá trị sai số bình phương trung bình MSE (Mean Square Error) cũng là những giá trị dương và nhỏ cho biết độ chính xác của phép đo đối với từng CH Bên cạnh sử dụng lý thuyết trắc nghiệm hiện đại để phân tích, phần mềm cũng cung cấp cho ta các tham số cổ điển của các CH trong ĐTN theo lý thuyết CTT Các tham số này đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích sơ bộ chất lƣợng của từng CH và từng phương án của CH trong ĐTN Ngoài ra, nó còn cung cấp cho ta biết số HS chọn từng phương án trả lời (phương án đúng lẫn phương án nhiễu/sai) và tương quan điểm nhị phân Từ những số liệu này ta có thể đánh giá chất lượng của từng phương án lựa chọn trong mỗi CH của ĐTN
Bảng 3.1: Các tham số a,b,c của các đường cong đặc trưng câu hỏi đề trắc nghiệm
(*) MSE (Mean Square Error): Sai số bình phương trung bình
Theo bảng 3.2 (xem chi tiết ở phụ lục2 ), độ khó cổ điển của các CH nằm trong khoảng giá trị từ 0,27273 đến 0,90303 Nhƣ vậy, các CH của ĐTN có độ khó cổ điển vƣợt không đáng kể so với khoảng giá trị cho phép của lý thuyết trắc nghiệm cổ điển (độ khó nằm trong khoảng từ 0,3 đến 0,8) Nếu đối với phương án đúng tương quan điểm nhị phân ( chính là độ phân biệt cổ điển) phải có giá trị dương và càng lớn càng tốt (thường đòi hỏi 0,2), thì đối với các phương án nhiễu giá trị đó phải âm và càng bé càng tốt Từ các số liệu đó chúng ta có thể đánh giá chất lượng của từng phương án chọn trong từng CH
Bảng 3.2: Trích bảng các tham số của các câu hỏi trong đề trắc nghiệm
Bỏ qua: 0 Độ phân biệt (cổ điển): 0.36398 Độ khó (cổ điển): 0.67273 Độ phân biệt IRT(a): 0.71835 Độ khó IRT(b): -0.76659 Độ phỏng đoán IRT(c): 0.00010
Tỉ lệ TS chọn PA (%) 7.27 8.48 67.27 16.97 Tương quan điểm nhị phân: -0.08752 -0.18894 0.36398 -0.25417 Giá trị t: -1.12171 -2.45640 4.98917 -3.35527 Giá trị p: 0.13182 0.00754 0.00000
Bỏ qua: 0 Độ phân biệt (cổ điển): 0.33238 Độ khó (cổ điển): 0.49091 Độ phân biệt IRT(a): 0.52360 Độ khó IRT(b): 0.09135 Độ phỏng đoán IRT(c): 0.03290
Tỉ lệ TS chọn PA (%) 12.73 35.15 3.03 49.09 Tương quan điểm nhị phân: -0.04624 -0.25819 -0.16031 0.33238 Giá trị t: -0.59092 -3.41210 -2.07347 4.49933 Giá trị p: 0.27770 0.00041 0.01985 0.00001
Bỏ qua: 0 Độ phân biệt (cổ điển): 0.33134 Độ khó (cổ điển): 0.52121 Độ phân biệt IRT(a): 0.42962 Độ khó IRT(b): -0.14349 Độ phỏng đoán IRT(c): 0.00059
Tỉ lệ TS chọn PA (%) 5.45 24.24 52.12 18.18 Tương quan điểm nhị phân: -0.14193 -0.06143 0.33134 -0.27733 Giá trị t: -1.83056 -0.78571 4.48351 -3.68529 Giá trị p: 0.03450 0.21659 0.00001 0.00016
Bỏ qua: 0 Độ phân biệt (cổ điển): 0.08624 Độ khó (cổ điển): 0.33939 Độ phân biệt IRT(a): 0.11531 Độ khó IRT(b): 3.09696 Độ phỏng đoán IRT(c): 0.00010
Tỉ lệ TS chọn PA (%) 15.15 28.48 33.94 22.42 Tương quan điểm nhị phân: -0.06411 -0.14794 0.08624 0.11730 Giá trị t: -0.82014 -1.90983 1.10514 1.50800 Giá trị p: 0.20667 0.02896 0.13536 0.06674 -
Nhƣ vậy, chỉ số thống kê của từng CH không những cho chúng ta biết số thứ tự CH, số HS không chọn phương án, độ phân biệt cổ điển, độ khó cổ điển mà còn cho ta về độ khó, độ phân biệt cũng nhƣ độ phỏng đoán theo IRT, số lƣợng HS chọn phương án tương ứng với A, B, C, D; tương quan điểm nhị phân đó chính là độ phân biệt cổ điển đối với từng phương án trả lời giúp ta lựa chọn mồi hay Giá trị t là giá trị thống kê - độ phù hợp của phân tích cổ điển nhƣng chúng tôi chƣa đi vào nghiên cứu Giá trị p: Đánh giá độ chính xác hay ý nghĩa của đáp án Thông thường đối với dữ liệu tốt p < 0.05 Từ các số liệu trên đó chúng ta có thể đánh giá chất lượng của từng phương án chọn trong từng CH và đưa ra kết luận cho việc chọn hay không các câu đã biên soạn
Sau đây là một số câu ví dụ:
Câu 16: Một người có khối lượng m 1 = 50kg nhảy từ bờ vào thuyền với vận tốc v 1 5 m/s theo phương vuông góc với dòng nước, thuyền có khối lượng m 2 = 250kg đang trôi theo dòng nước Sau đó thuyền chuyển động với vận tốc v hợp với dòng nước một góc α = 30 0 Tìm v và vận tốc v 2 của dòng nước
Bỏ qua: 0 Độ phân biệt (cổ điển): 0.05519 Độ khó (cổ điển): 0.39394 Độ phân biệt IRT(a): 0.05727 Độ khó IRT(b): 3.92080 Độ phỏng đoán IRT(c): 0.00010
Tỉ lệ TS chọn PA (%) 39.39 29.70 10.30 20.61 Tương quan điểm nhị phân: 0.05519 0.00478 0.06716 -0.12254 Giá trị t: 0.70567 0.06100 0.85941 -1.57642 Giá trị p: 0.24070 0.47572 0.19569 0.05843
Câu 21: Hai vật có khối lƣợng m 1 , m 2 ; mà m 2 – m 1 = 0,1 kg nối ở hai đầu một dây nhẹ không dãn vắt qua một ròng rọc khối lƣợng không đáng kể Buông nhẹ cho hai vật chuyển động , sau khi đi được quãng đường s = 1m thì mỗi vật có vật tốc v 2m/s Bỏ qua ma sát Lấy g = 10m/s 2 Tính m 1 , m 2
A m 1 = 0,2 kg và m 2 = 0,3 kg B m 1 = 0,45 kg và m 2 = 0,55 kg
C m 1 = 0,5 kg và m 2 = 0,6 kg D m 1 = 0,4 kg và m 2 = 0,5 kg
Bỏ qua: 0 Độ phân biệt (cổ điển): 0.37622 Độ khó (cổ điển): 0.42424 Độ phân biệt IRT(a): 0.49883 Độ khó IRT(b): 0.38409 Độ phỏng đoán IRT(c): 0.00010
Tỉ lệ TS chọn PA (%) 42.42 31.52 17.58 8.48 Tương quan điểm nhị phân: 0.37622 -0.10559 -0.22874 -0.17880 Giá trị t: 5.18409 -1.35560 -2.99989 -2.32012 Giá trị p: 0.00000 0.08855 0.00156 0.01079
Từ các số liệu ở bảng trên chúng ta có thể chọn các câu hỏi trắc nghiệm có độ khó, độ phân biệt, độ đoán mò, cũng như các phương án nhiễu có độ tương quan điểm nhị phân âm để lưu vào ngân hàng câu hỏi, như ở:
C âu 16 cho thấy: độ khó 0,39; độ phân biệt kém, độ khó IRT 3,92 tức là khó so với năng lực của học sinh; độ đoán mò thấp 0,0001 Nhiễu D tốt hơn nhiễu B,C vì lôi cuốn đƣợc nhiều học sinh chọn, độ phân biệt bé hơn và giá trị p đạt (p