1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát ngữ liệu văn học dân gian được sử dụng trong dạy học môn tiếng việt ở tiểu học

79 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 734,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON ------ TRẦN THỊ MAI Khảo sát ngữ liệu văn học dân gian được sử dụng trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

TRẦN THỊ MAI

Khảo sát ngữ liệu văn học dân gian được

sử dụng trong dạy học môn Tiếng Việt ở

Tiểu học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học

Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, thầy giáo chủ nhiệm và các thầy cô trong khoa

GD Tiểu học - Mầm non đã cho em nhiều ý kiến quý báu

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Bùi Thị Thanh, Giảng viên Khoa Tiểu học - Mầm non, người đã tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu, chắc chắn sẽ có nhiều sai sót Kính mong quý thầy cô góp ý để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin gửi đến quý thầy cô lòng biết ơn sâu sắc và chân thành Kính chúc thầy cô sức khỏe

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 10 năm 2011

Sinh viên Trần Thị Mai

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Môn Tiếng Việt là môn học trung tâm trong trường Tiểu học với mục tiêu hàng đầu là hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) cho học sinh Tiểu học Bộ môn này không những là điều kiện và phương tiện cần thiết mà còn là công cụ để các em học tốt các môn học khác, giúp học sinh có cơ sở tiếp thu kiến thức ở các lớp trên

Trang 4

Trong quá trình dạy học tiếng Việt ở Tiểu học, việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu dạy học có vai trò hết sức quan trọng Ngữ liệu không chỉ là tư liệu nhằm phục vụ việc chuyển tải nội dung tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn có quan hệ mật thiết tới việc sử dụng phương pháp, biện pháp, hình thức

tổ chức dạy học Nó có tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tình cảm của học sinh, đến hoạt động dạy học của giáo viên Vì vậy, việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu dạy học đang là vấn đề được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, của đội ngũ giáo viên Để từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, thực hiện được mục tiêu dạy học tiếng Việt trong nhà trường hiện nay

Trong số các loại ngữ liệu được sử dụng để dạy học tiếng Việt, có một bộ phận được khai thác, lựa chọn từ văn học dân gian như: câu đố, tục ngữ, ca

dao, truyện cười, truyện cổ tích,… Đó là những ngữ liệu văn học dân gian

Trong quá trình học tiếng Việt, được tiếp xúc với ngữ liệu văn học dân gian, học sinh có điều kiện tìm về cội nguồn cuộc sống của ông cha, hiểu biết về cuộc sống lao động vất vả trong công cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên,

mở mang bờ cõi của tổ tiên trước đây Các em sẽ sống lại với những kì tích chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, và còn biết bao những kiến thức về quan hệ xã hội, về phong tục tập quán, về ước mơ, cảnh đẹp của quê hương đất nước, Bên cạnh đó, các em sẽ được tiếp thu qua phần ngữ liệu văn học dân gian những kiến thức cần thiết trong cuộc sống: dạy cho các em biết yêu cái tốt, ghét cái xấu, có lối sống nhân ái biết bênh vực, bảo vệ, đấu tranh cho cái đúng, cho sự công bằng xã hội

Văn học dân gian là kho kinh nghiệm phong phú của nhân dân, là nơi lưu trữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tiếp xúc với văn học dân gian cũng là tiếp xúc với cái đẹp trong văn học - cái đẹp đã được chọn lọc, gọt dũa, sàng lọc qua bao thế hệ Văn học dân gian là nguồn sữa vô tận nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn cho các em Những nội dung đó được thể hiện qua hình thức là những câu tục ngữ, ca dao, những câu đố vui, truyện cười, những câu chuyện cổ tích, Đó là những tiếng cười hay những tình huống lý thú trong

Trang 5

giao tiếp có tác dụng cung cấp tri thức và rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh Qua khảo sát ngữ liệu văn học dân gian, chúng ta sẽ thấy được tác dụng của chúng trong việc phục vụ nội dung dạy học tiếng Việt

Bên cạnh đó, tác giả Lê Xuân Thại đã cho rằng “Văn học dân gian là một trong những tư liệu dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tiếng Việt cho học sinh” Tác giả khẳng định, “giáo viên dạy ngôn ngữ, dạy tiếng Việt có một lợi thế rất lớn là có thể khai thác trong kho tàng câu chuyện dân gian từ cổ chí kim, từ đông sang tây nhiều câu chuyện lí thú và sinh động giúp học sinh suy ngẫm và lí giải các hiện tượng ngôn ngữ” [19, tr.22]

Xét về mặt tâm lý, về nhu cầu và tình cảm, các ngữ liệu văn học dân gian

đã đáp ứng được những đặc trưng của lứa tuổi học sinh trong quá trình học tập tiếng Việt Nắm được đặc trưng này, việc sử dụng ngữ liệu văn học dân gian không những không tùy tiện, chủ quan mà còn có tác dụng khai thác và phát huy hết những tác dụng của nó Đây cũng là một trong những biện pháp nhằm phát huy tinh thần sáng tạo, linh hoạt, chủ động của học sinh trong quá trình tiếp thu tri thức và rèn luyện kĩ năng, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt nhằm hoàn thiện nhân cách, góp phần thực hiện những mục tiêu giáo dục của nhà trường Tiểu học hiện nay

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát ngữ liệu văn học dân gian được sử dụng trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học” để

nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề sử dụng NLVHDG trong dạy học môn Tiếng Việt đã được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Trong phần này, chúng tôi

xin điểm qua một số công trình tiêu biểu sau:

+ Dưới góc độ lí thuyết, các tác giả Đinh Gia Khánh, Hoàng Tiến Tựu,

Trần Đức Ngôn với cuốn “Văn học dân gian”, NXB Giáo dục, 1997 đã nói cụ

thể về các thể loại của VHDG như: câu đố, tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích,

Trang 6

những đặc trưng về nội dung, ý nghĩa của VHDG và việc sử dụng VHDG vào dạy học tiếng Việt

+ Các tác giả Nguyễn Đổng Chi (1982), Vũ Ngọc Khánh (1996), Ninh

Viết Giao (2003), với các cuốn sách “Kho tàng cổ tích Việt Nam, Hành

trình vào xứ sở cười, Câu đố Việt Nam, ” là những đóng góp lớn trong việc

tập hợp, khảo cứu, phân tích các sáng tác dân gian của kho tàng văn học dân gian Việt Nam và thế giới

+ Nguyễn Văn Tứ - “Ngữ liệu văn học dân gian trong dạy học tiếng

Việt” - NXB Đại học Sư phạm, 2004 đã nghiên cứu các vấn đề về NLVHDG

và việc sử dụng NLVHDG trong dạy học tiếng Việt và môn Ngữ văn ở trường Tiểu học và Trung học phổ thông Tác giả đã đưa ra hệ thống NLVHDG chung cho các cấp học, bậc học một cách sơ lược, nói về nội dung, hình thức

và quy trình sử dụng NLVHDG trong dạy học tiếng Việt Từ đó, tác giả đã đưa ra một số NLVHDG phục vụ cho việc dạy học tiếng Việt và giáo dục ngôn ngữ

Trong thực tế, các công trình đưa ra NLVHDG chung từ Tiểu học đến Trung học phổ thông Trong nhiều năm qua, NLVHDG đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm và đã có nhiều bài viết về những khía cạnh khác nhau như: Đôi nét khái quát về NLVHDG, các thể loại của VHDG, nhưng vẫn chưa có một công trình nào đi sâu vào khảo sát hệ thống NLVHDG được sử dụng vào dạy tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học Bởi vậy,

ở khóa luận này, chúng tôi dựa vào ý kiến của các tác giả đi trước cùng những gợi ý của họ về NLVHDG để nhìn nhận rõ hơn việc sử dụng NLVHDG vào dạy học tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học

3 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát hệ thống NLVHDG được sử dụng trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học Từ đó, bổ sung NLVHDG nhằm nâng cao hiệu quả dạy tiếng Việt trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 7

Để đạt được mục đích trên thì đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu

cụ thể sau:

+ Nghiên cứu phần lí luận liên quan đến đề tài

+ Thống kê, phân loại hệ thống NLVHDG được sử dụng để dạy học tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5

+ Bổ sung NLVHDG vào quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

5 Phạm vi nghiên cứu

Sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5

6 Đối tượng nghiên cứu

Ngữ liệu văn học dân gian dùng để dạy học tiếng Việt trong sách giáo khoa

Tiếng Việt ở Tiểu học

7 Giả thuyết khoa học

Đề tài sẽ giúp cho giáo viên Tiểu học nói chung, sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học nói riêng có cái nhìn tổng quát về hệ thống NLVHDG được sử dụng trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học Đề tài này là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học nói riêng, giáo viên Tiểu học nói chung, góp phần nâng cao hiệu quả dạy tiếng Việt trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

8 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp lí thuyết: Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến

đề tài

+ Phương pháp khảo sát thống kê: Thống kê và phân loại hệ thống

NLVHDG dùng để dạy học tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học

+ Phương pháp quy nạp: Quy nạp các kết quả thống kê, phân loại trên

cơ sở đó bổ sung NLVHDG vào quá trình dạy học tiếng Việt ở Tiểu học

9 Cấu trúc của đề tài

- Phần mở đầu gồm các tiểu mục sau

Trang 8

+ Khách thể và đối tượng nghiên cứu

+ Giả thuyết khoa học

+ Phương pháp nghiên cứu

- Phần nội dung gồm 3 chương

+ Chương 1: Cơ sở lí luận

+ Chương 2: Khảo sát ngữ liệu văn học dân gian được sử dụng để dạy học tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học

+ Chương 3: Bổ sung ngữ liệu văn học dân gian trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

1.1.1 Khái niệm văn học dân gian

Văn học dân gian là một loại nghệ thuật ngôn từ do quần chúng nhân dân sáng tác và lưu truyền bằng miệng [14, tr.2]

Trang 9

VHDG còn gọi là văn học bình dân, văn học truyền miệng

VHDG là một loại nghệ thuật ngôn từ, tức là loại nghệ thuật mà hình tượng được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ (lời nói) Hình thức sống của tác phẩm VHDG là sự diễn xướng và truyền miệng tác phẩm

VHDG là sáng tác của giai cấp lao động, tầng lớp bị áp bức, bóc lột Một sáng tác được coi là dân gian không chỉ do khởi phát từ quần chúng nhân dân

mà còn do nó hướng tới nhân dân, được nhân dân tiếp nhận, sử dụng và lưu truyền

1.1.2 Giá trị nội dung của văn học dân gian

Vì vậy, khi học các tác phẩm VHDG, học sinh có điều kiện tìm về cội nguồn cuộc sống của cha ông Các em sẽ có những hiểu biết về cuộc sống lao động vất vả để chinh phục thiên nhiên, mở mang bờ cõi của tổ tiên trước đây

và rất nhiều những kiến thức về quan hệ xã hội, về phong tục tập quán, về ước

mơ, cảnh đẹp của quê hương đất nước

1.1.2.2 Giá trị giáo dục

Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lý làm người VHDG

là kho kinh nghiệm phong phú của nhân dân, là nơi lưu trữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Vì vậy, VHDG có tác dụng giáo dục to lớn VHDG giáo dục cho con người ở mọi lứa tuổi một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc về những kinh nghiệm sống, những ứng xử cần thiết trong xã hội,

Trang 10

Đối với học sinh Tiểu học, VHDG dạy cho các em biết yêu cái tốt, ghét cái xấu; đặc biệt dạy cho các em lối sống nhân ái, biết bênh vực, bảo vệ, đấu tranh cho cái đúng, cho sự công bằng xã hội Những câu truyện cổ dân gian thắp sáng trong lòng các em ngọn lửa yêu nước, thương nòi, khơi dậy niềm tự hào về sức mạnh dân tộc trong lao động, chiến đấu, niềm tin vào sức mạnh bản thân

phẩm VHDG sẽ là nguồn sữa nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn cho các em

1.1.3 Các thể loại của văn học dân gian

Có nhiều cách phân loại VHDG Ở đây, chúng tôi dựa vào phương thức thể loại, có thể chia VHDG thành hai loại chính:

+ Truyện cổ dân gian: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện

ngụ ngôn và truyện cười

+ Thơ ca dân gian: câu đố, tục ngữ, vè, ca dao - dân ca, đồng dao

Trong đó, mỗi thể loại VHDG được nhân dân giao phó những nhiệm vụ, chức năng khác nhau:

Trang 11

1.1.3.1 Truyện cổ dân gian

Truyện cổ dân gian là danh từ chỉ chung toàn bộ các loại truyện do nhân dân sáng tác và lưu truyền bằng miệng theo hình thức kể xuôi hoặc kể vần gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười

a Thần thoại

Thần thoại là những câu chuyện xa xưa, kể về các vị thần, phản ánh

nhận thức và sự hình dung của người Việt cổ về vũ trụ và cuộc sống con người [14, tr.6]

Là truyện kể dân gian về các vị thần hoặc các nhân vật anh hùng đã được thần thánh hoá, phản ánh những quan niệm ngây thơ của con người thời xa xưa về các hiện tượng tự nhiên và khát vọng chinh phục thiên nhiên

Hình tượng thần thoại thật kì vĩ, bay bổng, giàu tính thẩm mĩ Nó giúp cho người sau hiểu biết về một thời nguyên thủy trong sáng đẹp đẽ “một đi không trở lại với loài người”, thời kì con người sống hồn nhiên, dân chủ, bình đẳng Mãi về sau thần thoại vẫn còn ý nghĩa lớn lao trong việc giáo dục các thế hệ vươn lên làm chủ thiên nhiên, tinh thần cần cù lao động, niềm tin vào sức mạnh của bản thân, thần thoại chắp cánh cho trí tưởng tượng bay bổng của các em

b Truyền thuyết

Truyền thuyết là truyện dân gian truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử của một cộng đồng dân tộc, thường mang nhiều yếu tố thần kì [14, tr.8]

Trang 12

Truyền thuyết là một kho tàng quý báu về sử học, tái hiện lịch sử từ thời đầu dựng nước và giữ nước đến thời kì chống giặc phương Bắc xâm lược Truyền thuyết có giá trị giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc

Có thể nói: “Truyền thuyết đã đi cùng với lịch sử dân tộc” Âm điệu chủ yếu trong truyền thuyết là âm điệu ca ngợi Khi học truyền thuyết các em biết được các sự tích về các vị anh hùng dựng nước và giữ nước Niềm tự hào dân tộc trong những thiên truyền thuyết đời sau gắn liền với việc ca ngợi người anh hùng như những nhân vật đẹp một cách phi thường và hoàn hảo

c Truyện cổ tích

Truyện cổ tích là loại truyện kể về con người trong những mối quan hệ

xã hội và sinh hoạt thời cổ [14, tr.10]

Truyện cổ tích phản ánh nhân sinh quan của người lao động trong xã hội

Tư tưởng quán xuyến của truyện cổ tích là sự chiến thắng của cái thiện: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”

Thông qua việc ca ngợi và phê phán, truyện cổ tích làm cho các em biết yêu thương, quý trọng những người tốt nhưng bị vùi dập, hắt hủi; căm, ghét cái xấu, cái bất nhân Sự chiến thắng của cái tốt, cái thiện với cái xấu, cái ác tạo cho con người một sức mạnh vươn lên trong cuộc đấu tranh xây dựng một

xã hội công bằng, tốt đẹp Cũng chính điều này đã thắp sáng niềm tin cho trẻ thơ: “Trên đời này không chỉ có cái xấu, cái ác mà còn có những người giàu lòng yêu thương”

d Truyện ngụ ngôn

Truyện ngụ ngôn là loại sáng tác dân gian thường mượn loài vật, sự vật, hiện tượng để nói về người nhằm nêu lên một bài học luân lí, triết lí hoặc kinh nghiệm sống dưới hình thức kín đáo tế nhị [14, tr.13]

Là truyện kể có tính chất thế sự, dùng cách ẩn dụ để thuyết minh cho một chủ đề luân lý, triết lý một quan niệm nhân sinh hay một nhận xét về thực

tế xã hội

Trang 13

Truyện ngụ ngôn truyền đạt một tư tưởng: Giáo dục đạo đức, truyền đạt một kinh nghiệm sống (hơn là phê phán thực tế) Mỗi câu chuyện khuyên người ta một kinh nghiệm ứng xử, một lối sống phù hợp với đạo đức xã hội Bài học nhận thức khô khan, trừu tượng đã được trình bày dưới hình thức ngụ ngôn thật giản dị, sinh động Khi tiếp xúc với truyện ngụ ngôn, các em sẽ biết thêm về những triết lí sống, những kinh nghiệm xử thế, những bài học nhân sinh Răn dạy bằng mặt trái của cuộc sống, truyện ngụ ngôn đã tạo cho mình một sức thuyết phục mạnh hơn là trực tiếp nêu lên sự thật của lẽ phải

e Truyện cười (còn gọi là truyện tiếu lâm)

Truyện cười là truyện kể những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống, trong hành vi của người đời [14, tr.12]

Truyện cười lấy tiếng cười làm phương diện để thực hiện mục đích giáo dục, châm biếm, đả kích hoặc mua vui, giải trí Đây là điểm khác biệt giữa truyện cười với các loại truyện dân gian khác Tiếng cười bật ra trong truyện cười là do tư duy của con người phát hiện ra một sự mâu thuẫn nào đó trong đời sống, trong lời nói, hành vi hoặc hoạt động của con người

Truyện cười rất gần gũi với các em học sinh Tiểu học Ngoài các truyện cười có tác dụng mua vui, giải trí thì những câu chuyện phê phán những thói

hư tật xấu như: thói lười nhác, tính tham lam, hèn nhát, Từ đó, giáo dục để các em có những hành vi đẹp, tính cách tốt Tiếng cười ở đây nhẹ nhàng, dễ tiếp thu nhưng cũng rất sâu sắc Với những nội dung, ý nghĩa đó, truyện cười

là minh chứng cho tinh thần lạc quan và trí thông minh, sắc sảo của nhân dân

ta trong cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác

1.1.3.2 Thơ ca dân gian

Thơ ca dân gian là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ lời thơ (bao gồm lời

của các loại dân ca (tức ca dao) và lời thơ trong các hình thức sáng tác dân gian khác) [11, tr.10]

Trang 14

a Câu đố

Câu đố là các bài văn vần, hoặc câu nói thường có vần, mô tả vật đố bằng những hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải, nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và cung cấp những tri thức về đời sống

[11, tr.12]

Câu đố được xây dựng nhằm mục đích mô tả, bằng hình tượng hoặc từ ngữ, những dấu hiệu đặc trưng và chức năng của những vật đố cá biệt, cụ thể Ðiều này biểu hiện ở hình thức cấu tạo câu đố: Ðố - Giải

Không phải mọi sự đoán giải đều là câu đố, câu đố là một thể loại văn học dân gian độc lập Nó giúp cho học sinh phát triển tư duy, trí tuệ và mở rộng kiến thức về tự nhiên, xã hội và đặc biệt là mảng kiến thức tiếng Việt như nghĩa của từ, cấu tạo tiếng, phân biệt lỗi chính tả,

b Tục ngữ

Là những câu ngắn gọn thường có vần, điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm đạo đức của nhân dân; Là một sự khái quát cao những kinh nghiệm thực tiễn về công việc đồng áng, lời ăn tiếng nói hàng ngày, [11, tr.14]

Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn

Trong dạy học tiếng Việt, tục ngữ có khối lượng lớn cung cấp cho học sinh Tiểu học những kiến thức về cuộc sống, những kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của các em

c Vè

Vè là thể loại tự sự dân gian bằng văn vần, có cơ sở từ lối nói vần vè của nhân dân, chủ yếu nhằm phản ánh kịp thời và cụ thể những chuyện về người thật, việc thật ở từng địa phương, những sự kiện có ý nghĩa trong đời sống nhân dân [11, tr.15]

Vè là chuyện khen chê có ca vần và việc sáng tác vè là việc đặt chuyện khen chê có ca vần Vè xuất hiện để kể chuyện theo cách có vần có nhịp, cùng

Trang 15

với lối kể truyện bằng văn xuôi đáp ứng đầy đủ hơn việc biểu hiện nội dung các vấn đề xã hội nhân dân muốn nêu lên

d Ca dao - dân ca

Ca dao - dân ca là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân

ca, ru con hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát

Là giai điệu thể hiện tình cảm của những người yêu nhau, là tiếng hát ca ngợi quê hương đất nước con người [11, tr.17]

Ca dao - dân ca để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội Trong đó, hát ru là một thể loại của ca dao - dân ca có chức năng đưa trẻ thơ vào giấc ngủ Hát ru thường được thực hiện trong không gian gia đình

e Đồng dao

Đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam Đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát, câu hát trẻ em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em [11, tr.18]

Các bài đồng dao và các bài vè là những câu hát có vần điệu, giúp các

em dễ nhớ dễ thuộc, là những trò chơi dí dỏm, vui nhộn, Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi trẻ em

1.2 Khái quát chung về ngữ liệu văn học dân gian

1.2.1 Khái niệm ngữ liệu

Ngữ liệu là tư liệu ngôn ngữ được dùng để nghiên cứu ngôn ngữ và dạy tiếng Trong dạy học tiếng Việt, ngữ liệu hay còn gọi là tư liệu, dẫn chứng, ví

dụ, có thể được trích dẫn, khai thác lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau tùy theo nội dung, mục đích và đối tượng dạy học Đó là những ngữ liệu được trích dẫn từ văn học dân gian, văn học viết, ngữ liệu do người dạy tự đặt hay

từ những nguồn gốc khác [19, tr.9]

Trang 16

1.2.2 Khái niệm ngữ liệu văn học dân gian

“Ngữ liệu văn học dân gian là những ngữ liệu được khai thác, lựa chọn, trích dẫn mô phỏng từ các tác phẩm văn học dân gian Đó là những sáng tác dân gian có dung lượng ngắn gọn như: ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cười, được sử dụng để góp phần cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng, kiểm tra đánh giá kết quả, có tác dụng gây hứng thú học tập và giáo dục nhân cách, trong quá trình dạy học tiếng Việt” [19, tr.10]

Như vậy, NLVHDG là một loại ngữ liệu được xác định chủ yếu căn cứ vào đặc trưng, tính chất thuộc về nội dung hình thức hơn là căn cứ vào chủ thể sáng tạo Các NLVHDG được sử dụng trong dạy học tiếng Việt bao gồm những sáng tác văn vần và văn xuôi, các câu ca dao, tục ngữ hay các câu chuyện cổ tích, truyện cười, nhằm phục vụ những mục đích, yêu cầu của hoạt động dạy học

1.2.3 Đặc trưng của ngữ liệu văn học dân gian

VHDG là tiếng nói có tính chất cộng đồng, được sáng tạo bởi lí do xã hội và sự thể hiện của chúng như là một ứng xử văn hóa có tính tự nhiên, ngẫu hứng như là một hoạt động giao tiếp, nói năng cụ thể của con người Chính vì vậy, các văn bản của các tác phẩm VHDG thể hiện được tính tự nhiên, sinh động, tính thực tiễn, cụ thể của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong quá trình lao động sản xuất, VHDG được sử dụng để thể hiện những tâm tư tình cảm của con người Qua đó, họ cũng muốn giáo dục, truyền đạt cho nhau những kiến thức, những cách sống Những lúc đắp đê, kéo sợi, giã gạo hay ngồi trên những con thuyền xuôi ngược trên sông, bà con thường

kể cho nhau nghe những câu chuyện cười, câu ca dao, tục ngữ hay đố nhau những câu đố vui Bởi những lúc đó cần những tiếng cười để xua tan mệt nhọc, vất vả của công việc và tăng thêm nguồn sinh lực giúp họ làm việc có hiệu quả hơn

Đối với việc dạy học tiếng Việt, NLVHDG là những văn bản có tính hoàn chỉnh, trọn vẹn, thể hiện được các đặc trưng của lời nói, của ngôn ngữ

Trang 17

NLVHDG đã kết tinh được những đặc sắc của dân gian trong quá trình sử dụng tiếng Việt để giao tiếp Qua NLVHDG, chúng ta không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức có tính chất lý thuyết về hệ thống tiếng Việt, hệ thống ngôn ngữ mà còn luyện tập cho học sinh vận dụng được những tri thức

đó trong thực tiễn giao tiếp với sự đa dạng trong các mối quan hệ văn hóa - xã hội Những ngữ liệu ấy luôn được cụ thể hóa bằng những tư liệu sinh động, được gọt dũa thành những mẫu mực trong việc dạy tiếng Việt

Muốn sử dụng ngôn ngữ với tư cách là một phương tiện của giao tiếp xã hội cần phải hiểu ngôn ngữ ấy thông qua chức năng giao tiếp cụ thể, thông qua các tình huống nói năng trong thực tiễn Sự song hành giữa việc cung cấp những mô hình ngôn ngữ có tính chất khái quát và việc luyện tập những tình huống nói năng cụ thể là điều kiện cho việc dạy học tiếng Việt đạt hiệu quả nhanh nhất Chính vì vậy, việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường hiện nay đang được khai thác trên nhiều lĩnh vực với hệ thống ngôn ngữ phong phú để giúp cho các em học tốt

1.3 Đặc điểm tâm lí ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức của học sinh Tiểu học

1.3.1 Nhu cầu nhận thức

Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học phát triển rất rõ nét, đặc biệt

là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết Đầu tiên là nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, những hiện tượng riêng biệt (lớp 1, 2) sau

đó đến nhu cầu gắn liền với sự phát hiện những nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ giữa các hiện tượng (lớp 3, 4, 5) Khi các em biết đọc thì các em

có nhu cầu đọc sách, báo, truyện,

1.3.2 Về tư duy

Tư duy của học sinh Tiểu học là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng, hiện tượng cụ thể

Trang 18

1.3.2.1 Về khả năng phân tích khái niệm

Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh Tiểu học dần dần chuyển từ mặt nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành những so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng được những suy luận sơ đẳng Để hình thành cho các em một khái niệm khoa học, cần dạy cho các em biết xem xét, phân biệt những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của đối tượng

1.3.2.2 Về khả năng khái quát hóa

Học sinh lớp 1, 2 thường quan tâm đến những dấu hiệu trực quan, bề ngoài Sau quá trình học tập, lên lớp 3, 4, các em đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, nhận ra các mối quan hệ Học sinh cuối bậc Tiểu học có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn với đối tượng đó Học sinh các lớp này có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ

1.3.3 Trí nhớ

1.3.3.1 Giai đoạn lớp 1, 2

Ở giai đoạn này, học sinh Tiểu học ghi nhớ máy móc phát triển tương

đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

1.3.3.2 Giai đoạn lớp 4, 5

Ở giai đoạn này, học sinh Tiểu học ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm

lý tình cảm hay hứng thú của các em

Trang 19

1.3.4 Chú ý

1.3.4.1 Ở đầu tuổi tiểu học

Ở giai đoạn này, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý

có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có

đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,

1.3.4.2 Ở cuối tuổi tiểu học

Ở giai đoạn này, trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như: học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,

1.3.5 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học phát triển mạnh mẽ cả về ngữ âm, từ ngữ và ngữ pháp Vốn từ của các em ngày càng phong phú, chính xác và giàu hình ảnh nhờ tham gia nhiều hoạt động, tiếp xúc rộng rãi với mọi người xung quanh và được tiếp thu qua các môn học

Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

1.3.6 Về tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng

Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ

Trang 20

chưa đến trường Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, ít bền vững Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Điều này có được là nhờ vào kinh nghiệm đã trở nên phong phú, nhờ tri thức khoa học các em lĩnh hội ở nhà trường Các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình ảnh có tính khái quát và trừu tượng hơn

1.4 Chương trình Tiếng Việt Tiểu học

1.4.1 Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Môn Tiếng Việt là môn học trung tâm trong trường Tiểu học với mục tiêu hàng đầu là hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy

Bên cạnh đó, môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài

Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.4.2 Nguồn ngữ liệu cho môn Tiếng Việt

Các phân môn Tiếng Việt sử dụng một nguồn ngữ liệu rất phong phú, bao gồm các tác phẩm nghệ thuật và phi nghệ thuật Đó là các bài thơ, văn xuôi thuộc bộ phận văn học viết; những câu chuyện cổ tích, thần thoại, tục ngữ, truyền thuyết, câu đố, bài vè, bài đồng dao thuộc bộ phận văn học dân gian Còn các tác phẩm phi nghệ thuật là các văn bản thuộc phong cách báo chí, khoa học, hành chính có nội dung nói về thiên nhiên, môi trường, nhằm giới thiệu cho học sinh một số vấn đề xã hội như: những nghề phổ biến, an toàn giao thông, đời sống văn hóa xã hội của các địa phương trên cả nước, các mẫu đơn, phiếu chuyển tiền.v.v

Trang 21

Môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng trong nhà trường Tiểu học nhằm rèn luyện những kĩ năng sử dụng tiếng Việt, cung cấp những kiến thức tự nhiên

và xã hội, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho các em học sinh Môn Tiếng Việt chiếm thời lượng cao nhất so với các môn học khác, nó sử dụng nguồn ngữ liệu phong phú, trong đó NLVHDG là nguồn ngữ liệu quan trọng Qua việc tiếp nhận NLVHDG các em được hiểu thêm những đặc điểm tính chất của sự vật và hiện tượng xung quanh Đó là những sự vật gần gũi với các em mà các

em được thấy hàng ngày

Việc dạy tiếng Việt trong nhà trường hiện nay đang gặp khó khăn từ

nhiều vấn đề Vì vậy, trong việc dạy tiếng Việt nếu chúng ta biết lựa chọn, khai thác, sử dụng NLVHDG theo đúng các tiêu chuẩn, nội dung hình thức và quy trình hợp lí thì những ngữ liệu đó sẽ có tác dụng nâng cao hứng thú nhận thức, góp phần cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh

1.4.3 NLVHDG phù hợp với đặc điểm tâm lí và hứng thú nhận thức của học sinh Tiểu học

1.4.3.1 NLVHDG phù hợp với đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học

Lứa tuổi học sinh Tiểu học vốn rất hiếu động, vui nhộn thích khám phá, chú ý những điều mới lạ Những đặc điểm tác động, những cảm xúc phù hợp với đặc điểm tâm lí này sẽ gây ấn tượng mạnh mẽ, dễ lưu lại trong trí nhớ, trong kĩ năng từ đó hình thành thói quen và nhận thức của học sinh Việc sử dụng NLVHDG trong dạy học tiếng Việt, tùy vào hoàn cảnh và đối tượng cụ thể đã đáp ứng được yêu cầu này của học sinh

Đối với học sinh Tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp, NLVHDG phù hợp nhất là câu đố Câu đố là một thể loại văn học phù hợp với trình độ hiểu biết

và hứng thú của các em Câu đố có tác dụng rèn luyện năng lực tư duy, năng lực quan sát, rèn luyện trí thông minh và kích thích nhu cầu muốn hiểu biết, khám phá của các em Chính vì thế thông qua sử dụng câu đố, chúng ta có thể

Trang 22

cung cấp tri thức, mở rộng tầm hiểu biết về tự nhiên và xã hội, trong đó có những hiểu biết về tiếngViệt

Đặc biệt ở lứa tuổi Tiểu học, nghe kể chuyện, đọc chuyện là một nhu cầu rất lớn Trong đó, các câu chuyện vui, truyện cười rất hấp dẫn đối với các em Đây cũng là một đặc điểm thuộc về tích cách của con người Việt Nam: ưa hài hước, thích cười, thích nói “trạng” Nắm được đặc điểm tâm lí này của học sinh, nhiều giáo viên có kinh nghiệm đã biết khéo léo chọn truyện, chọn cách

kể, chọn thời điểm và hoàn cảnh để đưa vào giờ học để gây hứng thú nhận thức, hứng thú học tập cho học sinh

1.4.3.2 NLVHDG phù hợp với hứng thú nhận thức của học sinh Tiểu học

Trong việc dạy tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học, việc tạo hứng thú học tập cho các em là rất quan trọng Tuy nhiên, việc tạo hứng thú học tập tiếng Việt đối với học sinh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố để từ đó các em nắm vững được tiếng Việt với tư cách là phương tiện của giao tiếp, tư duy, học tập, Các NLVHDG đã đáp ứng được những yêu cầu nhằm gây hứng thú, kích thích tính tích cực học tập của học sinh Cụ thể:

NLVHDG là những lời ăn tiếng nói hàng ngày, rất gần gũi, gắn bó, với đời sống thực tế, với những tình huống giao tiếp quen thuộc, dễ hiểu, dễ gây

ấn tượng và thu hút sự chú ý của học sinh Các khái niệm, các quy tắc của bài học cần được cụ thể hóa, đơn giản hóa bằng các ngữ liệu phù hợp với trình độ hiểu biết và tâm sinh lí của học sinh Học sinh sẽ nhận thức được các hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa trong tiếng Việt thông qua các câu tục ngữ, ca dao quen thuộc, dễ nhớ Những triết lý, kinh nghiệm của cuộc sống sẽ được các em tiếp thu nhanh hơn qua các câu chuyện cổ, Bên cạnh đó, hình thức ngắn gọn, lối nói vần vè, những yếu tố gây cười, của các NLVHDG cũng tác động đến xúc cảm, trí nhớ, khêu gợi nhu cầu hiểu biết, khám phá của các

em Từ đó, việc dạy và học tiếng Việt trở nên sinh động, học sinh dễ nhớ, dễ thuộc các quy tắc, khái niệm trừu tượng

Trang 23

NLVHDG là những câu có vần điệu, dễ hiểu và ghi nhớ phù hợp với tâm lí và trình độ hiểu biết của học sinh Tiểu học Với các quy tắc, bài học khó tái hiện lại nhưng đối với những câu đố, câu ca dao, tục ngữ thì việc nhớ lại rất dễ dàng Đó là điều kiện để học sinh có thể liên hệ bài học với những tri thức và kĩ năng của tiếng Việt

Hay các câu chuyện cười, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, làm cho không khí giờ học thêm sôi nổi, hào hứng nhờ những tình huống vui, cười được khai thác và sử dụng đúng chỗ, đúng lúc Từ đó, những kiến thức, những bài học răn dạy cũng được các em tiếp thu, vận dụng vào cuộc sống hàng ngày

Vì vậy, các NLVHDG không chỉ có tác dụng giáo dục ngôn ngữ mà còn có tác dụng giáo dục nhận thức, tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ, vốn sống của học sinh Chính vì thế, nó cuốn hút các em và bài học, kích thích các em khám phá để tìm kiếm kiến thức được gửi gắm qua các NLVHDG

ca dao là thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát; truyện cười là loại truyện dân gian lấy tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để thực hiện mục đích châm biếm, đả kích, giáo dục hoặc mua vui, giải trí, Trẻ thích được nghe những câu hát ru vỗ về cho bé ngủ ngon trong vòng tay mẹ Những câu chuyện cổ tích của bà là món ăn hợp khẩu vị trẻ Song trẻ không chỉ có hát ru và những chuyện cố tích mà trẻ thích cả câu đố nữa Hình tượng trong câu đố biểu hiện khá sinh động, bóng bẩy, có hồn và khá dí dỏm Câu đố phù hợp với tính tò mò, cái nhìn ngộ nghĩnh của trẻ

Trang 24

Trong hệ thống ngữ liệu sử dụng để dạy tiếng Việt, NLVHDG là những

tư liệu sinh động, cụ thể như lời ăn tiếng nói hàng ngày, tồn tại một cách tự nhiên không bị ràng buộc bởi những cấu trúc khô cứng Đó cũng chính là trực quan sinh động của chuẩn mực ngôn ngữ, của việc dạy tiếng và của quá trình nhận thức Một câu tục ngữ, câu ca dao hay một câu chuyện cười , ngoài những chuẩn mực chung của ngôn ngữ, đó còn là sự biến hóa linh hoạt trong thực tiễn sử dụng và các mối quan hệ của hoạt động giao tiếp mà không một tài liệu nào có thể khái quát hết được Đó là một môi trường tự nhiên của việc dạy học và rèn luyện năng lực sử dụng tiếng Việt Chính vì thế, việc sử dụng NLVHDG không những phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ mà còn đáp ứng được mục đích, yêu cầu của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường là rèn luyện năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh, trang bị cho các em phương tiện tư duy, giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày

Từ những cơ sở đó, ở chương 2 chúng tôi đi vào thống kê, phân loại hệ thống ngữ liệu văn học dân gian được sử dụng để dạy học tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5

Trang 25

Chương 2 KHẢO SÁT NGỮ LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN ĐƯỢC SỬ DỤNG

ĐỂ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TRONG SÁCH GIÁO KHOA

TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 2.1 Thống kê, phân loại ngữ liệu văn học dân gian được sử dụng để dạy học tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học

2.1.1 Tiêu chí phân loại

Dựa vào phương thức thể loại của văn học dân gian:

- Truyện cổ dân gian bao gồm:

Trang 26

2.1.2.1 Truyện cổ dân gian

Truyện cười

Tổng số NLVHDG

Trang 27

2.1.2.2 Thơ ca dân gian

Trang 28

2.2 Nhận xét về hệ thống NLVHDG được sử dụng để dạy tiếng Việt trong SGK Tiếng Việt Tiểu học

Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học là bộ sách chia làm 5 khối lớp từ lớp

1 đến lớp 5 Môn Tiếng Việt được chia ra gồm nhiều phân môn: Học vần (chỉ

có ở lớp 1), Tập viết (chỉ có lớp 1, 2, 3), Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn (có từ lớp 2 đến lớp 5) Trong đó, hệ thống NLVHDG được sử dụng để dạy học tiếng Việt trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học khá phong phú, đa dạng nhưng lại chưa được phân bố ra tất cả các phân môn Việc khai thác, sử dụng nguồn NLVHDG của dân tộc sẽ góp phần cung

cấp kiến thức cho học sinh Tiểu học trong quá trình học tiếng Việt

Qua phần thống kê NLVHDG trong tất cả các khối lớp cho thấy, môn Tiếng Việt đã sử dụng 333 NLVHDG vào dạy học tiếng Việt Các NLVHDG xuất hiện với tần số nhiều, với sự đa dạng về thể loại như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, ca dao - dân ca, tục ngữ, câu đố, Các ngữ liệu được phân

bố đều ở các phân môn, giúp cho quá trình học tiếng Việt của các em không nhàm chán về thể loại và hình thức Ở mỗi phân môn, các ngữ liệu lại thực hiện những nhiệm vụ khác nhau nhưng chúng đều phục vụ cho việc dạy học tiếng Việt Cụ thể:

2.2.1 Truyện cổ dân gian (Bảng 1)

Qua phần khảo sát, thống kê cho thấy, truyện cổ dân gian được sử dụng với số lượng không nhiều và chưa được phân bố ở tất cả các phân môn Truyện cổ dân gian thường được sử dụng trong các phân môn như Tập đọc,

Kể chuyện, Tập làm văn còn các phân môn khác thì sử dụng rất ít Thể loại của truyện cổ dân gian khá phong phú nhưng số lượng còn ít, chỉ tập trung chủ yếu ở truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười Còn thần thoại và truyền thuyết được khai thác rất ít Truyện cổ dân gian được sử dụng nhiều ở các lớp đầu cấp Ở các lớp cuối cấp, truyện cổ dân gian được sử dụng rất ít, đặc biệt là ở khối lớp 5

Trang 29

2.2.1.1 Ở lớp 1

Số lượng truyện cổ dân gian khá lớn là 27 NLVHDG, thuộc các thể loại như: truyện cổ tích là 10 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 37,03%, được sử dụng ở phân môn Kể chuyện Truyện ngụ ngôn là 14 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 51,58% Trong

đó, phân môn Kể chuyện sử dụng tới 12 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 44,44%; phân môn Tập đọc chỉ sử dụng 2 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 7,40% Ngoài ra, truyền thuyết đã được đưa vào phân môn Kể chuyện với số lượng là 2 truyền thuyết, chiếm tỉ lệ là 7,40% và một truyện cười được sử dụng ở phân môn Tập đọc, chiếm tỉ lệ là 3,45% Tuy truyền thuyết và truyện cười chiếm số lượng ít nhưng nó cũng góp phần làm cho thể loại NLVHDG thêm phong phú hơn Thần thoại không được sử dụng ở khối lớp này Như vậy, so với các khối lớp khác thì khối lớp 1 cũng đã sử dụng khá nhiều truyện cổ dân gian vào dạy học

tiếng Việt

Ở lớp 1, sau khi các em đã thành thạo kĩ năng đọc vần, ghép vần thành tiếng thì trong các bài ôn tập ở phân môn Kể chuyện các em đã được nghe kể

và tập kể lại những truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn Từ đó, các em được rèn

kĩ năng lắng nghe, ghi nhớ và kể lại được một số tình tiết của câu chuyện Bên cạnh đó, ý nghĩa của mỗi câu chuyện cũng phần nào được truyền tải đến cho các em, giúp các em có thêm những hiểu biết về cuộc sống bên ngoài, có thêm nhiều kinh nghiệm sống quý báu

Vì đây là lớp đầu cấp, bước từ mầm non lên các em vẫn chưa quen với những giờ học căng thẳng và kiến thức khô khan Vì thế, những câu chuyện nhẹ nhàng và ý nghĩa sẽ hấp dẫn các em, kích thích các em tìm hiểu bài học Các tác phẩm truyện dân gian đã được chọn làm ngữ liệu để dạy học các phân môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập đọc và Kể chuyện Việc đưa mảng kiến thức truyện cổ dân gian vào trong chương trình Tiểu học góp phần to lớn trong việc hình thành nhân cách ban đầu của các em

Như vậy, NLVHDG được sử dụng chủ yếu ở hai phân môn là Tập đọc

và Kể chuyện Phân môn Tập đọc sử dụng 3 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 11,11%

Trang 30

bao gồm hai thể loại: truyện ngụ ngôn và truyện cười Ngữ liệu được sử dụng nhiều nhất ở phân môn Kể chuyện là 24 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 88,89% bao gồm các thể loại như: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn

2.2.1.2 Ở lớp 2

Số lượng NLVHDG được sử dụng trong dạy học tiếng Việt đã tăng lên

29 ngữ liệu Trong đó, truyện cổ tích có 8 truyện, chiếm tỉ lệ là 27,59% được

sử dụng ở phân môn Tập đọc là 3 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 10,34%; phân môn Kể chuyện là 2 ngữ liệu chiếm, tỉ lệ là 6,90%; ở phân môn Chính tả là 2 truyện, chiếm tỉ lệ là 6,90% và phân môn Tập làm văn là 1 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 3,45% Truyện ngụ ngôn đã tăng lên 16 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 55,17%, trong

đó phân môn Tập đọc sử dụng 7 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 24,14%; phân môn Kể chuyện là 4 ngữ liệu, chiếm tỉ 13,79%; phân môn Chính tả sử dụng 5 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 17,24% Truyện cười cũng tăng lên là 3 ngữ liệu được sử dụng ở phân môn Tập đọc, chiếm tỉ lệ 10,34% Ở khối lớp này, truyền thuyết vẫn sử dụng 2 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 6,90% Thần thoại chưa được sử dụng Các thể loại đã tăng lên về số lượng giúp cho hệ thống ngữ liệu thêm phong phú Như vậy, qua thống kê, ta thấy truyện cổ dân gian được sử dụng ở nhiều phân môn như Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả và Tập làm văn Đặc biệt, NLVHDG sử dụng chủ yếu ở phân môn Tập đọc, Kể chuyện và Chính tả Trong đó, phân môn Tập đọc đã sử dụng 15 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ lớn là 51,72% với các thể loại như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười và truyền thuyết; phân môn Kể chuyện sử dụng 6 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 20,70%, chủ yếu hai thể loại là truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn; phân môn Chính tả

sử dụng 7 ngữ liệu chiếm tỉ lệ là 24,13% với hai thể loại là truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn Qua việc sử dụng NLVHDG vào các phân môn này, các em được tập đọc các câu chuyện kể để rèn kĩ năng đọc, được nghe kể các câu chuyện và kể lại các câu chuyện ấy bằng ngôn ngữ kể của mình từ đó giúp học sinh có vốn từ ngữ phong phú hơn Ở phân môn Chính tả, các em sẽ được viết lại các câu chuyện để rèn kĩ năng viết, đồng thời nắm được nội dung của

Trang 31

các câu chuyện Như vậy, qua việc sử dụng NLVHDG vào các phân môn, các

em rèn luyệnkĩ năng nghe, nói, đọc, viết Từ đó, nội dung của các câu chuyện

là những bài học bổ ích về cuộc sống, về lao động sản xuất hằng ngày sẽ được các em tiếp thu một cách nhanh nhất

2.2.1.3 Ở lớp 3

Số lượng truyện cổ dân gian đã giảm xuống còn 22 ngữ liệu, sử dụng ở các phân môn như Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả và Tập làm văn với các thể loại như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười Trong đó, truyện cổ tích có số lượng nhiều là 17 truyện, chiếm tỉ lệ 77,27%; phân môn Tập đọc sử dụng 7 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 31,28%; phân môn Kể chuyện sử dụng 6 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 27,27%; phân môn Chính tả sử dụng 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 18,18% Truyện ngụ ngôn đã giảm xuống chỉ còn 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 18,18% và được rải ra các phân môn Tập đọc, Chính tả và Tập làm văn Truyện cười cũng chỉ còn 1 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 4,55% trong phân môn Tập làm văn Ở khối lớp này, thần thoại và truyền thuyết không được sử dụng vào quá trình dạy học tiếng Việt

Qua bảng thống kê, các NLVHDG đã được sử dụng ở các phân môn với

số lượng cân bằng hơn Trong đó, phân môn Tập đọc sử dụng lượng NLVHDG nhiều nhất là 9 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 40,91%, tiếp đó là phân môn

Kể chuyện là 7 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 31,28%; phân môn Chính tả sử dụng 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ là 18,18% và phân môn Tập làm văn sử dụng 2 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 9,09%

2.2.1.4 Ở lớp 4

Tổng số NLVHDG chỉ còn 14 ngữ liệu được sử dụng vào quá trình dạy học tiếng Việt Ở khối lớp này, các truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn đã giảm xuống chỉ còn 3 truyện cổ tích và 5 truyện ngụ ngôn Nhưng đặc biệt, có một thể loại mới đó là thần thoại đã được sử dụng ở phân môn Tập đọc là 3 ngữ liệu chiếm tỉ lệ 21,43%; phân môn Kể chuyện là 1 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 7,14% Từ đó, các em đã được tiếp xúc với một thể loại mới đó là thần thoại

Trang 32

Ngoài ra, truyện cười vẫn được sử dụng 2 ngữ liệu ở phân môn Chính tả và phân môn Luyện từ và câu

Như vậy, ở khối lớp này, NLVHDG cũng đã được sử dụng ở hầu hết các phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn

Số lượng của các thể loại cũng được chia đều trong các phân môn Trong đó, phân môn Tập đọc và Kể chuyện đều sử dụng 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 28,57%, tiếp đó là phân môn Chính tả là 3 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 21,43% và các phân môn khác như: Luyện từ và câu, Tập làm văn

2.2.1.5 Ở lớp 5

Các em học sinh ở giai đoạn này đã có nhiều thay đổi về nhận thức Vì vậy, truyện cổ dân gian đã giảm xuống chỉ còn 3 ngữ liệu Trong đó, truyện cười đã được sử dụng 2 ngữ liệu trong phân môn Chính tả, chiếm tỉ lệ 66,67% Các câu chuyện cười với mục đích giúp các em vừa học, vừa giải trí, thư giãn Phân môn Tập đọc sử dụng 1 thần thoại và 1 truyện ngụ ngôn Các thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích đã không còn được sử dụng trong khối lớp này

Như vậy, 5 khối lớp đã sử dụng 95 ngữ liệu truyện cổ dân gian, chiếm

tỉ lệ 28,53% trong tổng số 333 NLVHDG Truyện cổ dân gian đã được sử dụng ở nhiều phân môn khác nhau nhằm phục vụ cho việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học Đồng thời, qua đó, các em có thể tiếp xúc với kho tàng truyện cổ của dân tộc ta, từ đó các em sẽ có những kiến thức và hiểu biết cần thiết về tự nhiên và xã hội

2.2.2 Thơ ca dân gian (Bảng 2)

Không chỉ sử dụng truyện cổ dân gian để dạy tiếng Việt, số lượng thơ

ca dân gian cũng được sử dụng khá phổ biến và với số lượng nhiều Thơ ca dân gian thường được sử dụng trong các phân môn như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết Thể loại của thơ ca dân gian cũng khá phong phú

và số lượng sử dụng nhiều, tập trung chủ yếu ở các thể loại như câu đố, ca

Trang 33

dao, tục ngữ, đồng dao Vè được khai thác rất ít, chỉ có một bài nhưng cũng giúp cho các em biết về thể loại này.Cụ thể:

2.2.2.1 Ở lớp 1

Số lượng thơ ca dân gian cũng được khai thác và sử dụng là 27 ngữ liệu Thơ ca dân gian được sử dụng chủ yếu ở hai phân môn Tập đọc và Chính tả Câu đố bước đầu đã được sử dụng nhiều là 9 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 33,33% Trong đó, phân môn Tập đọc sử dụng 6 ngữ liệu (chiếm tỉ lệ 22,22%); phân môn Chính tả sử dụng 3 ngữ liệu (chiếm tỉ lệ 11,11%) Bởi vì, câu đố kích thích tính tò mò, lòng ham hiểu biết và có tác dụng rèn luyện tư duy cho các

em học sinh Bên cạnh đó, câu đố đã được các em làm quen nhiều ở bậc Mầm non, vì thế thể loại này được các em tiếp nhận nhanh Tục ngữ được sử dụng với số lượng ít là 1 ngữ liệu (chiếm tỉ lệ 3,70%) Vì tục ngữ đúc kết những kinh nghiệm của nhân dân nên tục ngữ là thể loại khó hiểu đối với các em học sinh lớp 1 Trong khi đó, các bài ca dao, đồng dao lại được sử dụng nhiều vì

nó dễ hiểu và quen thuộc với các em Những bài đồng dao thường gắn liền với các trò chơi dân gian mà các em đã được tiếp xúc, làm quen ở bậc học Mầm non Số lượng ca dao được sử dụng là 9 ngữ liệu trong phân môn Tập đọc, chiếm tỉ lệ lớn 33,33%, các bài đồng dao là 8 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 29,63% Trong đó, sử dụng trong phân môn Tập đọc là 7 ngữ liệu chiếm tỉ lệ 25,93%; phân môn Chính tả sử dụng 1 bài đồng dao, chiếm tỉ lệ là 3,70% Vè không được sử dụng ở khối lớp này

Như vậy, qua khảo sát ta thấy, phân môn Tập đọc sử dụng số ngữ liệu nhiều nhất lên tới 23 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 85,19% Bao gồm các thể loại như: câu đố, tục ngữ, ca dao, đồng dao; phân môn Chính tả sử dụng 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 14,81%, bao gồm hai thể loại là câu đố và đồng dao

2.2.2.2 Ở lớp 2

Số lượng thơ ca dân gian được sử dụng là 23 ngữ liệu, tập trung ở các phân môn Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết Bên cạnh sự giảm xuống của các thể loại như: câu đố chỉ còn 2 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 8,70%, đồng dao giảm

Trang 34

xuống chỉ còn 3 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 13,15% thì số lượng các câu tục ngữ đã tăng lên đáng kể là 11 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 47,83% Trong đó, sử dụng ở phân môn Chính tả là 10 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 43,48% và phân môn Tập viết là 1 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 4,35% Các câu ca dao được sử dụng là 7 ngữ liệu trong phân môn Chính tả, chiếm tỉ lệ 30,43%

Như vậy, phân môn Chính tả đã sử dụng lượng NLVHDG nhiều nhất lên đến 21 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 91,30% và có sự phong phú về thể loại như câu

đố, tục ngữ, ca dao và đồng dao Phân môn Tập viết và phân môn Luyện từ và câu cũng đã sử dụng các câu tục ngữ và các bài đồng dao vào quá trình dạy học Phân môn Tập đọc và Kể chuyện đã sử dụng nhiều truyện cổ dân gian, vì vậy thơ ca dân gian đã không được đưa vào hai phân môn này Ở khối lớp này, NLVHDG được sử dụng nhiều là các câu ca dao, tục ngữ Đó là những câu hát về tình cảm con người, những kinh nghiệm được đúc rút từ cuộc sống được ông cha truyền lại cho các thế hệ Qua đó, các em tự tìm tòi, khám phá

ra ý nghĩa sâu sắc của nó

2.2.2.3 Ở lớp 3

Ngược lại hoàn toàn so với sự giảm sút của truyện cổ dân gian, thơ ca dân gian được sử dụng ở khối lớp này rất phong phú về thể loại và đa dạng về hình thức Số lượng thơ ca dân gian lên đến 79 ngữ liệu, tập trung chủ yếu ở 3 thể loại chính đó là câu đố, tục ngữ, ca dao Ở khối lớp này, NLVHDG đã được sử dụng ở nhiều phân môn như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết

Số lượng câu đố tăng lên khá nhiều là 32 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 40,51% được sử dụng chủ yếu ở phân môn Chính tả; các câu tục ngữ tăng lên là 28 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 35,44% được sử dụng ở các phân môn như: Chính tả là 7 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 8,86%; phân môn Luyện từ và câu là 4 ngữ liệu chiếm tỉ

lệ 85,06% và nhiều nhất là ở phân môn Tập viết số lượng câu tục ngữ lên đến

17 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 21,52% Đặc biệt, số lượng các câu ca dao tăng lên là

19 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 24,05%, sử dụng ở các phân môn như Tập đọc là 6

Trang 35

ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 7,59%; phân môn Chính tả là 3 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 3,80% và nhiều nhất là ở phân môn Tập viết là 10 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 12,66%

Từ khối lớp này, các bài đồng dao đã không còn được sử dụng Vì qua khối lớp này, các em đã chuyển sang giai đoạn 2 lớp 4; 5, các em đã học với khối kiến thức lớn hơn, khó hơn nên nội dung các bài đồng dao đã không còn phù hợp Thay vào đó là kiến thức, những hiểu biết, kinh nghiệm được đúc rút

từ các câu đố, các câu ca dao, tục ngữ được các em khai thác và tiếp thu Như vậy, NLVHDG được sử dụng phổ biến ở tất cả các phân môn khác nhau như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết Trong đó, phân môn Chính tả sử dụng nhiều nhất là 42 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 53,16%; phân môn Tập viết cũng sử dụng đến 27 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 34,18% Còn lại các phân môn khác cũng sử dụng một lượng NLVHDG khác nhau Từ đó, giúp cho các

em được tiếp xúc với hệ thống ngữ liệu phong phú của dân tộc ta

2.2.2.4 Ở lớp 4

Ở khối lớp này, thơ ca dân gian cũng vẫn được sử dụng với số lượng nhiều là 58 ngữ liệu Các câu tục ngữ vẫn tiếp tục tăng lên tới 36 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 62,06% Trong đó, phân môn như Tập đọc sử dụng 8 ngữ liệu chiếm tỉ lệ 13,79%; phân môn Chính tả là 5 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 8,62% và nhiều nhất là phân môn Luyện từ và câu sử dụng 23 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 39,66% Từ đó, nhằm cung cấp cho các em nhiều kinh nghiệm sống của cha ông ta Các câu đố cũng chiếm số lượng lớn là 19 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 32,76%, được sử dụng ở hai phân môn Chính tả là 9 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 15,52% và phân môn Luyện từ và câu là 10 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 17,24% Bao gồm các câu đố về các loài vật, sự vật diễn ra hằng ngày rất cuốn hút các em vào bài học Ca dao cũng được 2 ngữ liệu trong phân môn Chính tả, chiếm tỉ

lệ 3,45% Đặc biệt, có một thể loại mới đã được đưa vào dạy học tiếng Việt

đó là vè Mặc dù chỉ có 1 bài vè ở phân môn Chính tả, chiếm tỉ lệ 1,72%

Trang 36

nhưng nó đã giúp cho các em tiếp xúc thêm một thể loại nữa của hệ thống NLVHDG

Như vậy, NLVHDG được sử dụng chủ yếu ở ba phân môn, nhiều nhất là

33 ngữ liệu ở phân môn Luyện từ và câu, chiếm tỉ lệ 56,90%; phân môn Chính tả là 17 ngữ liệu chiếm tỉ lệ 29,31% và phân môn Tập đọc là 8 ngữ liệu chiếm tỉ lệ 13,79% Ở khối lớp này, việc truyền đạt kiến thức, tăng thêm vốn sống cho các em là chủ yếu Vì các em ở khối lớp này đã có khả năng khái quát cao nên những câu tục ngữ được các em khai thác sâu hết những ý nghĩa của nó Các câu đố cũng trừu tượng hơn để các em suy nghĩ và giải đáp

2.2.2.5 Ở lớp 5

Số lượng thơ ca dân gian được sử dụng là 51 ngữ liệu Các câu tục ngữ vẫn chiếm số lượng nhiều là 32 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ tỉ lệ 62,75%, được sử dụng chủ yếu ở phân môn Luyện từ và câu là 31 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 60,78% Các câu ca dao cũng tăng lên 15 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 29,41% Trong đó, phân môn Luyện từ và câu sử dụng số câu tục ngữ nhiều nhất là 10 ngữ liệu, chiếm

tỉ lệ 19,61%; phân môn Tập đọc sử dụng 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 7,84% và phân môn Tập làm văn sử dụng 1 ngữ liệu Câu đố vẫn đồng hành cùng các

em trong quá trình học tiếng Việt là 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 7,84% trong hai phân môn Chính tả và phân môn Luyện từ và câu

Qua khảo sát, NLVHDG đã xuất hiện ở tất cả các phân môn như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Trong đó, NLVHDG được sử dụng nhiều nhất ở phân môn Luyện từ và câu là 43 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 84,31%; phân môn Tập đọc là 4 ngữ liệu, chiếm tỉ lệ 7,84%, Vì các em ở khối lớp này đã có khả năng khái quát cao nên những câu tục ngữ, ca dao được các em vận dụng vào cuộc sống thực tế nhiều Đây là lớp cuối cấp nên

số lượng NLVHDG đã giảm xuống để thay vào đó các em tìm hiểu thêm và các lĩnh vực về tự nhiên và xã hội trong các môn học khác

Như vậy, 5 khối lớp đã sử dụng 238 ngữ liệu thơ ca dân gian chiếm tỉ lệ 71,47% trong tổng số 333 NLVHDG So với truyện cổ dân gian thì thơ ca dân

Trang 37

gian được sử dụng với số lượng nhiều hơn trong các phân môn Những câu đố vui tươi, dí dỏm; những câu tục ngữ, ca dao đầy ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống, những bài đồng dao vui nhộn, đã kích thích các em tìm hiểu, suy ngẫm giúp cho các em có được những kiến thức về tiếng Việt và cả những kinh nghiệm sống quý báu của ông cha qua các thế hệ

2.3 Nhận xét về mục đích sử dụng NLVHDG trong dạy học tiếng Việt

Qua phần khảo sát việc sử dụng NLVHDG trong Sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học, chúng ta thấy, sách giáo khoa là một trong những tài liệu học tập quan trọng, chủ yếu giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức, rèn luyện

kĩ năng sử dụng tiếng Việt với tư cách là phương tiện tư duy, giao tiếp SGK dạy học tiếng Việt đã đảm bảo cung cấp những tri thức và kĩ năng tiếng Việt một cách khoa học, cơ bản, hệ thống nhằm thực hiện được những mục tiêu của môn học Các soạn giả đã huy động một khối lượng các tác phẩm VHDG làm ngữ liệu cho việc trình bày ở các bài, các chương, sử dụng các tác phẩm dân gian bên cạnh các loại ngữ liệu khác làm cho SGK môn Tiếng Việt vừa thực hiện được chức năng thông tin, hướng dẫn, chỉ đạo học sinh học tập, vừa thực hiện được chức năng kích thích hứng thú học tập của học sinh

2.3.1 NLVHDG được sử dụng phổ biến, phong phú về số lượng và đa dạng

về thể loại

Số lượng NLVHDG được sử dụng trong dạy học tiếng Việt rất phong phú và đa dạng về thể loại Một ngữ liệu có thể được sử dụng nhiều lần, nhiều hình thức nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau như: để giới thiệu bài học, để minh họa cho bài học hay để làm bài tập Cụ thể:

2.3.1.1 NLVHDG được sử dụng để giới thiệu bài học

Để học sinh có hứng thú đối với bài học thì việc giới thiệu bài giữ một vị trí quan trọng NLVHDG có những đặc trưng và ưu thế có tác động tốt trong việc giới thiệu bài Giới thiệu bài bằng một câu tục ngữ, ca dao, một câu đố hay một câu chuyện cười gắn với nội dung bài học sẽ cuốn hút được các em học sinh Tiểu học

Trang 38

Ví dụ: Tiếng Việt 3 - Tập 1/Trang 97, khi giới thiệu bài tập đọc về một

số danh lam thắng cảnh của đất nước, bài tập đọc đã sử dụng các câu ca dao nói về cảnh đẹp của đất nước ta:

“Đồng Đăng có phố Kì Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.”

“Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương, Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.”

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.”

“Hải Vân bát ngát nghìn trùng Hòn Hồng sừng sững đứng trong vịnh Hàn.”

“Nhà bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.”

“Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.”

Như vậy, qua các câu ca dao giới thiệu về các cảnh đẹp của đất nước ta các em vừa được biết về nhiều cảnh đẹp của đất nước, đồng thời các câu ca dao sẽ giúp các em nhớ lâu hơn Qua đó, các địa danh được giới thiệu không khô khan mà kích thích thêm sự tò mò của các em tìm hiểu thêm về cảnh đẹp của nước mình

2.3.1.2 NLVHDG được sử dụng để minh họa cho bài học

Sử dụng NLVHDG làm tư liệu phân tích, chứng minh cho những tri thức, kiến thức của bài học là hình thức sử dụng rộng rãi, phổ biến và có hiệu quả nhất trong việc dạy học tiếng Việt hiện nay

Yêu cầu của hình thức sử dụng này là làm cho học sinh hiểu, ghi nhớ được những khái niệm, quy tắc của bài học Mặt khác, việc sử dụng

Trang 39

NLVHDG sẽ làm cho bài giảng sinh động, học sinh tiếp thu một cách hứng thú, chủ động

Ví dụ 1: Trong SGK Tiếng Việt 3 - Tập 2/T121, khi học về chủ điểm

“Bầu trời và mặt đất”, để minh họa cho chủ đề này là câu chuyện cổ tích

“Cóc kiện Trời” Câu chuyện kể về sự tích thường ngày: Tại sao khi Cóc

nghiến răng là báo hiệu trời sắp mưa Qua đây, học sinh có thêm hiểu biết về các hiện tượng trong tự nhiên Đồng thời, câu chuyện cũng kích thích học sinh tăng thêm nhiều hứng thú tìm hiểu về những hiện tượng tự nhiên, diễn ra hằng ngày

Ví dụ 2: Câu tục ngữ cũng được dùng để minh họa cho bài học thể hiện

sự tương phản của các sự vật, hiện tượng:

“Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa.”

(Tiếng Việt 2 - Tập 2/Trang 127) Đây là kinh nghiệm về thời tiết của ông cha rút ra nhằm phục vụ cho lao động sản xuất hàng ngày, từ đó các em sẽ hiểu thêm về một số hiện tượng trong tự nhiên

2.3.1.3 NLVHDG được dùng để làm bài tập

Việc sử dụng NLVHDG để làm bài tập có tác dụng đa dạng hóa các loại hình bài tập, các hình thức đánh giá, nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực hoạt động giao tiếp của học sinh NLVHDG là những ngôn bản, những tình huống giao tiếp thực tế làm cho học sinh dễ dàng liên hệ giữa lí thuyết với thực tiễn Đó cũng chính là mục đích của việc dạy học, của từng bài học hay nội dung cụ thể của dạy học tiếng Việt trong nhà trường

- Trước hết, là dạng bài tập nhận diện kiến thức tiếng Việt qua NLVHDG: Yêu cầu của loại bài tập này là học sinh phải nhận diện, phát hiện

được những tri thức đã học, đã biết về tiếng Việt được thể hiện qua các NLVHDG Vì vậy, việc lựa chọn ngữ liệu cần phù hợp với nhận thức của học sinh Từ đó, sẽ giúp học sinh luyện tập, khắc sâu tri thức

Ngày đăng: 26/06/2021, 19:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w