Sau một thời gian đi thực tập tôi nhận thấy thực tế giáo dục mầm non hiện nay, giáo viên tổ chức hoạt động làm quen TPVH nhằm mục đích thực hiện nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ mạch lạc còn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, là phương tiện quan trọng nhất cho sự
phát triển trí tuệ và giao tiếp của con người V I Lênin nói: “ Ngôn ngữ là công
cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người” Câu nói của Lênin đã chỉ ra bản
chất của ngôn ngữ là chức năng làm công cụ giao tiếp Tồn tại song song với chức năng giao tiếp của ngôn ngữ là chức năng phát triển nhận thức như U - sin
- xki đã nói: “Ngôn ngữ là cơ sở của sự phát triển, là vốn quí báu của mọi tri
thức” Như vậy, ngôn ngữ là phương tiện hàng đầu để truyền đạt thông tin, kinh
nghiệm, kiến thức của nhân loại hay nói cách khác, ngôn ngữ là phương tiện để phát triển nhận thức và giao tiếp hàng đầu của xã hội loại người
Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ mạch lạc nói riêng
có vai trò đặc biệt quan trọng Trong giao tiếp, nhờ có ngôn ngữ mạch lạc, trẻ mới diễn đạt ý nghĩ của bản thân cho người khác hiểu và hiểu được ý của người khác Về mặt nhận thức và tư duy, mỗi từ của ngôn ngữ đều chứa đựng một khái niệm giúp trẻ hiểu biết thêm hiện thực khách quan, nhìn vào bản chất của sự vật, nắm được bản chất của sự vật khách quan, có cơ sở để làm đơn vị trong quá trình tư duy của mình Điều đó chứng tỏ rằng để phát huy được chức năng làm công cụ giao tiếp và nhận thức, trẻ nhất thiết phải nắm được và biết cách sử dụng ngôn ngữ Bởi vậy, cần phải chú trọng việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Phát triển ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ mạch lạc nói riêng được tích hợp trong tất cả các hoạt động ở trường mầm non, đặc biệt phải kể đến hoạt động làm quen TPVH Hoạt động cho trẻ làm quen TPVH là quá trình cho trẻ tiếp xúc, khám phá, rung động với vẻ đẹp về nội dung và nghệ thuật tác TPVH Văn học xây dựng các hình tượng nghệ thuật bằng phương tiện ngôn từ Bằng ngôn ngữ nghệ thuật, các TPVH đã làm cho hình tượng văn học khắc sâu vào tâm khảm người đọc Vì vậy, quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non hiện
Trang 3nay rất chú trọng đến sự kết hợp việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua tổ chức hoạt động làm quen TPVH
Sau một thời gian đi thực tập tôi nhận thấy thực tế giáo dục mầm non hiện nay, giáo viên tổ chức hoạt động làm quen TPVH nhằm mục đích thực hiện nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ mạch lạc còn mang tính chung chung, giáo viên chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và vai trò của hoạt động làm quen TPVH đối với
sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ Trong tổ chức hoạt động làm quen TPVH cho trẻ, giáo viên chỉ chú ý đến nhiệm vụ nhận thức những sự kiện, những hiện thực được thể hiện trong tác phẩm, mà chưa chú trọng phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Hầu hết giáo viên chưa có sự tìm tòi, nghiên cứu áp dụng các biện pháp thích hợp giúp trẻ lĩnh hội, tích lũy ngôn ngữ và vận dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp, làm hạn chế khả năng ngôn ngữ mạch lạc của trẻ Trong hoạt động làm quen TPVH giáo viên nói nhiều hơn là để trẻ nói, trẻ ít khi được sử dụng ngôn ngữ của riêng mình để tự thể hiện, tự diễn đạt một vấn
đề nào đó, mặt khác do số lượng trẻ quá đông và công việc quá nhiều nên giáo viên ít chú ý nói chuyện với trẻ từ đó ngôn ngữ của mạch lạc của trẻ ngày một bị hạn chế
Chính vì thế, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn
ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen TPVH” để
chúng tôi đã tiếp cận với một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước
Trang 42.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về ngôn ngữ :
Đầu tiên phải kể đến hướng nghiên cứu về vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình phát triển và giáo dục trẻ Đây là hướng nghiên cứu nổi bật nhất xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nổi tiếng: D B Encônhin, L
X Vưgốtxki, V X Mukhina, K D Usinxki, A Xôkhin quan tâm chú ý nghiên cứu tìm hiểu Vai trò của ngôn ngữ được các tác giả khẳng định là công cụ nhận thức thế giới, là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất và là “ cơ sở của mọi sự
phát triển tư duy, trí tuệ Theo X Vưgốtxki: “khi trẻ em gặp phải những khó khăn
trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và của bạn bè có năng lực cao hơn, những người này đã giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này những quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được truyền giao sang trẻ, mà ở đó ngôn ngữ là phương thức đầu tiên trao đổi các giá trị xã hội”, Vưgôtxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển tư duy của trẻ
Trên cơ sở khẳng định vai trò của ngôn ngữ đối sự phát triển của trẻ em, xu hướng thứ hai nghiên cứu đặc điểm sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0 – 6 tuổi (tiêu biểu là V I Iadenco, E I Tikhêêva, P A.Xokhin, K Hainodich) Các tác giả
đã phân chia quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em thành các giai đoạn: 0 – 12 tháng, 12 – 36 tháng, 36 – 72 tháng Với mỗi giai đoạn, các tác giả đã nghiên cứu từng nội dung cụ thể của nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ ở trẻ: đặc điểm phát triển
vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Đặc biệt, những kết quả nghiên cứu gần đây của nhà khoa học Phùng Đức Toàn và nhóm cộng sự của ông ở Trung Quốc đã cho thấy: Ngay từ trong bào thai, trẻ đã có khả năng nghe và phân biệt được âm thanh ở bên ngoài và có phản ứng với cường độ âm thanh khác nhau Do đó, các nhà khoa học cho rằng: Việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ cho trẻ có thể được tiến hành ngay khi trẻ còn trong bào thai
Trang 5Hướng nghiên cứu thứ ba là về phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thể hiện qua các công trình nghiên cứu của các tác giả:
Tác giả E.I Tikheeva đã đề ra các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu về thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ thông qua các hoạt động chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe, để hình thành và phát triển kỹ năng kể chuyện cho trẻ Những tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với khoa học giáo dục mầm non
Tác giả Ph A Sôkhin [Trang 38, 8] và các cộng sự trong tác phẩm "Sự
phát triển ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi mẫu giáo"cho rằng các biện pháp dạy trẻ kể
chuyện: Kể lại tác phẩm văn học, kể chuyện theo tranh, theo đồ chơi, theo kinh nghiệm, kể chuyện sáng tạo có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu ngôn ngữ trong mối liên hệ với các đặc điểm tâm, sinh lý, môi trường sống, hầu hết các tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của ngôn ngữ văn học trong việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, nhận thức và là phương tiện quan trọng trong quá trình đứa trẻ giao tiếp Từ đó, đưa ra các phương pháp, biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Những kết quả trên là cơ sở rất quan trọng đối với các nhà giáo dục học mầm non trong việc nghiên cứu, xây dựng mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp và biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
2.2.Một số nghiên cứu ở Việt Nam trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Trên cơ sở kế thừa các quan điểm nghiên cứu về ngôn ngữ của các nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới, đặc biệt trong giai đoạn thực hiện đổi mới giáo dục mầm non hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ nói chung, phát triển vốn từ cho trẻ mầm non nói riêng
Hướng thứ nhất nghiên cứu đặc điểm phát triển lời nói của trẻ từ 0 – 6 tuổi của các tác giả Nguyễn Huy Cẩn , Lưu Thị Lan, Nguyễn Xuân Thức, Đinh Hồng Thái Kết quả nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm phát âm, vốn từ, phát triển
Trang 6lời nói mạch lạc và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển ngôn ngữ ở trẻ 0 – 6 tuổi
Trên cơ sở khái quát các đặc điểm phát triển ngôn ngữ trẻ em, hướng thứ hai đã xây dựng nội dung, phương pháp, biện pháp, hình thức phát triển ngôn
ngữ mạch lạc cho trẻ Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn "Phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo" đã đề cập đến nhiều nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ
khác nhau, trong đó có nhiệm vụ dạy trẻ nói mạch lạc Tác giả đưa ra một số biện pháp hướng dẫn trẻ kể chuyện nhằm phát triển lời nói độc thoại cho trẻ: kể lại chuyện, kể chuyện theo tri giác, kể chuyện theo trí nhớ và kể chuyện theo tưởng tượng
Những luận điểm của tác giả đã thể hiện cái nhìn toàn diện, sâu sắc và đúng đắn về ý nghĩa tác phẩm thơ ca đối với giáo dục toàn diện nhân cách trẻ mầm non, trong đó, thơ ca có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển ngôn ngữ
Đề cập đến hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen TPVH, các tác giả Hà Nguyễn Kim Giang, Đinh Hồng Thái, Lã Thị Bắc Lý đều chú ý đến các vấn đề: tích hợp hoạt động cho trẻ làm quen TPVH với các hoạt động giáo dục khác trong đó có hoạt động phát triển ngôn ngữ; tích hợp nội dung hướng mục tiêu giáo dục, đặc biệt là tích hợp văn học và phát triển ngôn ngữ trong tổ chức hoạt động làm quen TPVH, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
tổ chức cho trẻ làm làm quen TPVH ở trường mầm non
Qua tìm hiểu vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng tôi nhận thấy: nhìn chung những công trình này đã đề cập đến vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em ở các khía cạnh khác nhau rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, nghiên cứu lĩnh vực phát triển ngôn ngữ mạch lạc trong hoạt động làm quen TPVH cho trẻ mẫu giáo còn rất ít
Các công trình trên là cơ sở phương pháp luận để chúng tôi thực hiện đề
tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông
qua hoạt động làm quen TPVH”
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động làm quen TPVH
4 Đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Phương pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi qua hoạt động làm quen TPVH ở trường mầm non
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen TPVH
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức hoạt động làm quen TPVH kết hợp tạo môi trường sinh hoạt thơ truyện giàu tính thẩm mỹ nhằm kích thích hứng thú, nâng cao khả năng cảm thụ
vẻ đẹp của ngôn từ trong TPVH Phát huy tính chủ động, tự tin cho trẻ khi đọc thơ, kể chuyện Kết hợp với sử dụng trực quan khi dạy trẻ đọc thơ kể chuyện Dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện theo kinh nghiệm một cách hiệu quả sẽ góp phần làm tăng vốn từ và khả năng diễn đạt của trẻ, từ đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu thực trạng việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông
qua hoạt động làm quen TPVH
- Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông
qua hoạt động làm quen TPVH
- Tổ chức TN sư phạm nhằm xác định tính hiệu quả của các biện pháp đã
đề ra
7 Phạm vi nghiên cứu
Trẻ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non 19/5, trường Mầm non Tuổi Thơ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Trang 8- Phương pháp tổng hợp, phân tích hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích TPVH
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
- Phương pháp trò truyện với giáo viên, phụ huynh và trẻ
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp TN sư phạm
8.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
9 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận bao gồm 3 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5-6
tuổi thông qua hoạt động làm quen TPVH ở một số trường mầm non
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen TPVH và TN sư phạm
Phần kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phục lục
Trang 9PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở tâm, sinh lí có liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
ý, ghi nhớ, liên tưởng, tưởng tượng để giải quyết nhiệm vụ chơi, học, sinh hoạt của mình một cách sáng tạo
Ngoài ra, sự lớn khôn và trưởng thành của trẻ còn phụ thuộc vào hoạt động thích nghi với môi trường Để thích nghi, trẻ phải hình thành được những phản xạ Nếu như phản xạ không điều kiện có được do di truyền, mang tính ổn định, bền vững thì phản xạ có điều kiện lại được hình thành trong quá trình sống
và luôn thay đổi Phản xạ có điều kiện là hoạt động tín hiệu nhờ hai loại kích thích: kích thích cụ thể như màu sắc, âm thanh, hình ảnh…và kích thích ngôn ngữ Đối với trẻ mẫu giáo lớn, trẻ đang trong giai đoạn hoàn thiện về ngôn ngữ, các chức năng về não bộ cấu tạo và hoạt động thần kinh, thể lực của trẻ cũng đang hoàn thiện dần nên ở lứa tuổi này chính là điều kiện quan trọng và thuận lợi để trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, lưu loát và biểu cảm để qua đó trẻ có thể tiếp thu được các tri thức sơ đẳng ban đầu một cách thuận lợi nhất
Trang 10Bên cạnh đó cơ quan phát âm của trẻ cũng khá hoàn thiện cả về cấu tạo và hoạt động cho phép trẻ diễn đạt nhu cầu, nguyện vọng của mình một cách rõ ràng, dễ hiểu Muốn nói được con người phải có một bộ máy phát âm bình thường và được tập luyện đúng mức Bộ máy phát âm của con người gồm: cơ quan hô hấp, thanh hầu, khoang miệng, khoang mũi Trẻ càng bé, khả năng điều khiển bộ máy phát âm càng khó khăn, vì vậy cần có nhiều bài tập đối với từng
bộ phận của bộ máy phát âm
Ngoài ra, muốn học nói, trẻ phải nghe được người khác nói Trẻ điếc không thể học nói được Cho nên cơ quan thính giác cũng là một bộ phận quan trọng trong quá trình học nói Tai nghe thu nhận những kích thích âm thanh truyền về vùng thính giác trên vỏ não, rồi phân tích những kích thích đó Tiếp thu những kiến thức, những kinh nghiệm của thế hệ trước qua ngôn ngữ
1.1.2 Cơ sở tâm lý học
1.1.2.1 Cảm giác, tri giác
Ở trẻ 5 -6 tuổi, tri giác nhìn và tri giác nghe phát triển đáng kể Trẻ dần tập trung nhìn, tập trung nghe những điều mà cô giáo yêu cầu Về sau này tuỳ theo từng hoàn cảnh trẻ biết tự mình phát triển lên được những điều tri giác theo nhiệm vụ của cô giáo đề ra Một lĩnh vực đặc biệt phát triển tri giác của trẻ 5- 6 tuổi là sự hình thành tri giác thẩm mỹ các tác phẩm nghệ thuật L.X.Vưgôtxki nhà tâm lý học Nga coi sự tri giác của trẻ là sự xuất hiện các hình tượng nghệ thuật Việc tri giác thẩm mỹ các tác phẩm nghệ thuật của trẻ có những đặc điểm riêng, nó có mối liên quan chặt chẽ với tình cảm và xúc cảm thẩm mỹ Ở trẻ mẫu giáo, có thể phát triển sự tri giác thẩm mỹ các TPVH nói, tức là bước đầu biết nghe và cảm thụ được không chỉ nội dung mà cả hình thức nghệ thuật của tác phẩm Sự phát triển tri giác nghệ thuật của trẻ 5 - 6 tuổi có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với quá trình phát triển tâm lý và tiếp nhận TPVH
1.1.2.2 Tư duy
Bước sang tuổi mẫu giáo lớn, tư duy của trẻ phát triển mạnh mẽ về các kiểu loại, các thao tác và thiết lập mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng thông tin giữa xa và gần, giữa mới và cũ Đặc biệt tư duy của trẻ có bước ngoặt
Trang 11cơ bản, đó là chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong Thực chất
đó là quá trình chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm
Đến cuối tuổi mẫu giáo lớn, ở trẻ bắt đầu xuất hiện mầm mống tư duy lôgic Bởi vậy trong quá trình hướng dẫn trẻ tìm hiểu TPVH, câu hỏi của cô không chỉ dừng lại ở mức độ tái hiện, tái tạo mà cần phải có những câu hỏi mang tính khái quát, giúp trẻ biết suy luận, tổng hợp Việc tổ chức các hoạt động làm quen TPVH chính là con đường thuận lợi để kích thích phát triển tư duy cho trẻ, đặc biệt là tư duy lôgic
và biểu cảm Với đặc điểm ấy, thông qua đọc và kể chuyện của cô, trẻ hoàn toàn
có thể tiếp thu rồi kể lại được truyện.Việc dạy trẻ kể lại truyện là một mục tiêu mang tính phát triển của hoạt động đọc, kể chuyện cho trẻ nghe ở trường mầm non
1.1.2.4 Tưởng tượng
Tưởng tượng của trẻ 5 – 6 tuổi bắt đầu gần với tưởng tượng sáng tạo của người lớn Ở lứa tuổi này, khi tưởng tượng trẻ không phải xây dựng hình ảnh tái tạo theo sự mô tả của người lớn mà hướng tới xây dựng dự định trước, sự sáng
tạo “cho mình” Sự sáng tạo ở đây không phải do tham gia vào quá trình sản
xuất sản phẩm giá trị xã hội nhưng nó có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển các hành động tưởng tượng, chuẩn bị cho sự sáng tạo thực thụ trong tương lai Tưởng tượng tích cực của trẻ được nảy sinh và phát triển trong trò chơi Khi trẻ bắt đầu biết dùng vật thay thế trong trò chơi
1.1.2.5 Xúc cảm, tình cảm
Trang 12Nhờ tâm hồn nhạy cảm và cái nhìn hồn nhiên, thơ ngây, trẻ dễ dàng rung động trước những sự vật hiện tượng rất đỗi đời thường Chúng bước vào thế giới
ấy và tìm ra những mối liên hệ rất táo bạo, bất ngờ - Điều mà người lớn khó nghĩ tới Chính những hình tượng nghệ thuật gây xúc động đã đọng lại ấn tượng sâu sắc, hình thành tình cảm một cách bền vững, giúp trẻ biết yêu ghét rõ ràng
và bước đầu biết đưa ra đánh giá của mình Vì thế, chúng ta cần tăng cường hiểu biết và làm sâu sắc những ấn tượng, tình cảm của trẻ về tác phẩm, làm cơ sở cho
sự hình thành những tình cảm đạo đức, thẩm mĩ ở trẻ
1.1.2.6 Chú ý và ghi nhớ có chủ định
Trẻ mẫu giáo lớn đã có thể tập trung trong khoảng 30 - 50 phút nếu những đối tượng đưa ra có tác dụng lôi cuốn và kích thích ở trẻ sự tò mò và thích thú Chính dựa váo đặc điểm này mà cô giáo khi đọc, kể tác phẩm nghệ thuật phải nắm vững và sử dụng linh hoạt các thủ thuật để lôi cuốn, dẫn dắt nhằm tạo ra sự
phát triển chú ý có chủ định của trẻ
1.2 Cơ sở ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin thì ngôn ngữ là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội loài người
Ngôn ngữ được định nghĩa dưới 3 góc độ :
Dưới góc độ ngôn ngữ học: ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt có phạm
vi sử dụng vô cùng to lớn và có những đặc trưng riêng Ngôn ngữ là công cụ để biểu hiện, để tích lũy và mở rộng các khái niệm tư duy, nhận thức và là phương tiện để hình thành ý thức của con người Cho nên ngôn ngữ phục vụ cho những mục đích bình thường hằng ngày và cả những mục đích cao cả của cuộc sống
Dưới góc độ tâm lý học: ngôn ngữ là một quá trình tâm lý "Ngôn ngữ là quá trình con người sử dụng thực tiễn tiếng nói để giao tiếp với người khác
Trang 13Trong quá trình giao tiếp con người biểu hiện ý nghĩ và cảm xúc nhờ tiếng nói,
do đó hiểu nhau để cùng nhau tiến hành hoạt động"
Dưới góc độ sinh lý học: ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt
động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não cho nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung Các nhà giải phẫu đã khẳng định: trong ba năm đầu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu những vùng não chỉ huy ngôn ngữ Vì thế cần phải phát triển ngôn ngữ đúng lúc mới đạt kết quả tốt
Tóm lại, nói một cách chung nhất ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ được con người lập nên do nhu cầu giao tiếp và nhận thức hiện thực
1.2.1.2 Khái niệm ngôn ngữ mạch lạc
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc là nhiệm vụ quan trọng nhất trong các nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ em Tuy nhiên, hiểu lời nói mạch lạc là gì thì có nhiều ý kiến còn chưa chính xác xuất hiện trong các nghiên cứu gần đây
Khái niệm ngôn ngữ mạch lạc được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau của nhiều nhà ngôn ngữ học, giáo dục học và tâm lý học
Theo D.B Encônhin "Lời nói mạch lạc như là sự bày tỏ bằng ngữ nghĩa
đầy đủ đảm bảo sự giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau Kết quả của sự phát triển lời nói chung" [Trang 12, 8]
S.L.Rubinstein thì cho rằng tính mạch là “tính tương tự, tương xứng gần
giống nhau mà người nói hoặc viết cần phải dung đến nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc hiểu” Ngôn ngữ mạch lạc là ngôn ngữ có thể hiểu hoàn
toàn, hiểu một cách trọn vẹn trên cơ sở chính nội dung thể hiện của nó Do vậy, ông cho rằng phát triển lời nói mạch lạc là phát triển tư duy, phát triển kỹ năng thể hiện ý nghĩa
Nhà sư phạm Nga, tiến sĩ ngôn ngữ hoc Xô- khin đã định nghĩa đơn giản
như sau: “Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác
định, được thực hiện một cách lôgic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có tính biểu cảm”
Trang 14Theo Nguyễn Xuân Khoa thì tính mạch lạc trong lời nói của trẻ thể hiện
ở mối quan hệ chặt chẽ của sự liên kết nội dung và liên kết hình thức Ông cho
rằng: “…nắm vững lời nói mạch lạc không có được nếu không phát triển khả
năng tách biệt các yếu tố của nó như: câu, từ…” Lời nói mạch lạc của trẻ được
xem như là một văn bản được tạo thành từ những câu có sợi dây liên hệ chặt chẽ gọi là liên kết nội dung và liên kết hình thức
Theo Hoàng Thị Hoanh – Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức trong quyển
“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi” quan niệm: ngôn ngữ
mạch lạc là ngôn ngữ trình bày có lôgic, có trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp
và có hình ảnh” Ngôn ngữ mạch lạc bao gồm ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ
đối thoại Nó liên quan chặt chẽ với tư duy Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có lôgic, trình tự,
1.2.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc trưng của con người Ngôn ngữ thường được dùng để chỉ một hệ thống kí hiệu ngữ âm có ý nghĩa chung đối với
cả một tập hợp người và có những qui tắc (Phát âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp) thống
nhất với nhau trong toàn bộ tập hợp người ấy Hệ thống tín hiệu ấy được gọi là tiếng nói hay ngôn ngữ Ngôn ngữ là hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống tinh thần của xã hội loài người Nó là phương tiện giao tiếp và là công cụ của tư duy
Đặc điểm nổi bật nhất của trẻ mẫu giáo lớn là sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc Đây là dấu hiệu của sự phát triển tư duy, lời nói mạch lạc phản ánh lôgic tư duy của trẻ, kĩ năng suy nghĩ về cái tiếp nhận được và phản ánh nó một cách đúng đắn Trước đây, trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu, thay vào
Trang 15đó, lứa tuổi này trẻ sử dụng ngôn ngữ ngữ cảnh, song song với loại ngôn ngữ này ngôn ngữ giải thích, ngôn ngữ miêu tả cũng bắt đầu phát triển mạnh Trẻ có khả năng thể hiện suy nghĩ của mình một cách chặt chẽ, tuần tự, chính xác và có hình ảnh có ảnh hưởng đến sự phát triển thẩm mĩ Khi kể lại, khi sắp đặt những câu chuyện của mình, trẻ cố gắng sử dụng những từ, câu có hình tượng học được
từ các tác phẩm nghệ thuật kĩ năng kể lại chuyện một cách hào hứng và lôi cuốn người nghe bằng sự diễn đạt của mình giúp cho trẻ trở nên thích giao tiếp hơn,
tự tin hơn, khắc phục được tình trạng rụt rè Phát triển lời nói mạch lạc không tách rời việc giải quyết các nhiệm vụ của phát triển lời nói: làm giàu và tích cực hóa vốn từ, hình thành cấu trúc ngữ pháp, giáo dục chuẩn mực âm thanh lời nói
Như vậy có thể nói, ngôn ngữ mạch lạc là điều kiện, phương tiện quan trọng để phát triển nhân cách trẻ nói chung và tư duy trẻ em nói riêng
1.2.2.1 Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp
V.I Lênin đã nói rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất của con người” định nghĩa này chỉ ra bản chất của ngôn ngữ là chức năng
làm công cụ giao tiếp, trong giao tiếp nhờ có ngôn ngữ mà con người có khả năng hiểu biết lẫn nhau Qua ngôn ngữ con người đã thiết lập được các mối quan
hệ giữa con người với con người trong xã hội Ngôn ngữ của con người càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như học hành, nghiên cứu càng thuận lợi
Phương tiện giao tiếp là tất cả những yếu tố mà chúng ta dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những tâm lý khác của mình trong một cuộc giao tiếp
Trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người, bằng ngôn ngữ con người có thể truyền đi một loại thông tin nào, như diễn tả tình cảm, ám chi, miêu tả sự vật Nó dựa vào các yếu tố sau:
Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện duy nhất thoả mãn được tất cả các nhu cầu của con người Sở dĩ ngôn ngữ trở thành một công cụ giao tiếp vạn năng của con người vì nó hành trình cùng con người, từ lúc con người xuất hiện cho đến
Trang 16tận ngày nay Phương tiện giao tiếp ấy được bổ sung và hoàn thiện dần theo lịch sử tiến hoá của nhân loại, theo những trào lưu và xu hướng tiếp xúc văn hoá có từ cổ xưa đến tận ngày nay
Ở trẻ nhỏ nhu cầu giao tiếp rất lớn Trong giao tiếp, trẻ sử dụng ngôn ngữ của mình để trình bày ý nghĩa, tình cảm, hiểu biết của mình với mọi người xung quanh Cho nên, việc tạo cho trẻ được nghe, hiểu và được nói là hết sức cần thiết trong giáo dục ngôn ngữ, nhờ có ngôn ngữ trong giao tiếp ta mời dễ dàng hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ
1.2.2.2 Ngôn ngữ là công cụ của tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lý của việc tìm kiếm và khám phá những điều mới, quá trình phản ánh cụ thể và tổng hợp hiện thực khách quan
Tư duy xuất hiện trên cơ sở hoạt động thực tiễn từ nhận cảm đến nhận thức Tư duy được xem như một hoạt động (hoạt động tâm lý) khi nói về tính tự giác, tính gián tiếp của sự phản ánh hiện thực, biểu hiện ở động cơ hoạt động, các mục đích nhất định của chủ thể và các hành động thao tác trí tuệ hợp lí dựa vào những phương tiện nhất định Chẳng hạn, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy lôgic, biểu tượng tri giác là phương tiện của tưởng tượng Không thể bác bỏ được bản chất hoạt động của tư duy vì nó luôn luôn được nảy sinh và được thúc đẩy bởi động cơ chủ quan của chủ thể mang tâm lí người Vì vậy mà tư duy là hiện tượng tâm lí chỉ có ở con người Tư duy của con người còn mang bản chất
xã hội, tính sáng tạo và tính ngôn ngữ Bản chất xã hội của tư duy được thể hiện
ở chỗ tư duy nảy sinh từ tính huống có vấn đề được đặt ra do yêu cầu của hoạt động cụ thể, song nó lại bị quy định bởi những nhu cầu và nguyên nhân xã hội Trong quá trình tư duy, con người sử dụng phương tiện ngôn ngữ, để nhận thức tình huống các vấn đề, để tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá để đi đến khái niệm, suy đoán, suy luận, rút
ra những quy luật của sự vật hiện tượng dưới hình thức ngôn ngữ - đó là sản phẩm khái quát của tư duy Có thể phân loại tư duy theo nhiều cách khác nhau Xét về phương diện chủng loại và cá thể, tư duy có thể chia thành 3 loại: tư duy
Trang 17trực quan hành động, tư duy trực quan hình tượng, tư duy trừu tượng (tư duy ngôn ngữ - lôgic), đây là loại tư duy đặc trưng chỉ có ở con người
1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi
Ngôn ngữ của trẻ ngày càng phát triển mạnh trong suốt lứa tuổi mẫu giáo: Ngữ âm được hoàn thiện dần, vốn từ được mở rộng, trẻ sử dụng tương đối đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ Sự phát triển ấy được thể hiện rõ qua các đặc điểm sau
đây:
1.3.1.Đặc điểm về phát âm
Trẻ 5 - 6 tuổi cơ quan phát âm đã phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện Trẻ sử dụng thành thạo ngôn ngữ nói Tai nghe âm vị của trẻ phát triển khá tinh nhạy Trẻ đã có thể phát âm đúng tất cả các âm vị của Tiếng Việt kể cả các âm đệm như: thoăn thoắt, thuyền buồm, quang quác Tuy nhiên vẫn còn có lỗi ở các âm vị khó, ý nghĩa có phần xa lạ đối với trẻ như: khúc khuỷu, quyết, nhuyễn,… Điều đó do nhiều nguyên nhân: do tai nghe của trẻ chưa hoàn thiện,
do bẩm sinh, yếu tố tâm lý, do ngôn ngữ của nhữ người xung quanh trẻ… Tuy nhiên số trẻ mắc lỗi về phát âm đã ít hơn nhiều so với các lứa tuổi trước
1.3.2 Đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp
Ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi câu nói của trẻ tương đối hoàn chỉnh, rõ ràng, đầy đủ
và thể hiện nội dung khá phong phú Trẻ biết phát triển các thành phần trong câu, thông thường trẻ sử dụng các dạng câu như: Câu đơn mở rộng, câu phức đẳng lập, câu phức chính phụ, câu kể, câu cảm Các loại câu không rõ thành phần, câu đơn giảm đi và số câu ghép, câu phức hợp tăng dần lên Ngoài ra, trẻ còn biết sử dụng liên từ nhờ vậy câu nói của trẻ trở nên rõ ràng, mạch lạc Điều
đó nói nên ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có sự phát triển đáng kể về chất Tuy vậy, vẫn còn những hạn chế trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, đó là các dạng câu thiếu thành phần, sai trật tự từ, dài dòng không mạch lạc, không rõ ý
mà nguyên nhân chủ yếu do vốn từ còn nghèo hoặc chưa biết sử dụng các từ liên kết, chưa phát triển đúng trình tự lôgic của sự việc
Trong hoạt động lời nói đôi lúc có hiện tượng tư duy và ngôn ngữ chưa phát triển đồng thời Có trường hợp ngôn ngữ của trẻ chưa phát triển kịp với khả
Trang 18năng nhận thức tư duy nên khi diễn đạt trẻ bị ngắc ngứ dẫn đến câu nói sai, thiếu thành phần hoặc trẻ có khả năng sử dụng ngôn ngữ trình bày lưu loát nhưng tư duy hạn chế nên diễn đạt nội dung không rõ ràng, thông tin nghèo nàn.
1.3.3.Đặc điểm phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện trình độ phát triển tương đối cao, không những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy Ở tuổi mẫu giáo, trước đây trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu Dần dần cuộc sống đòi hỏi trẻ phải có một kiểu ngôn ngữ khác, ít phụ thuộc vào tình huống hơn, nhất là trẻ cần phải mô tả lại cho người khác những điều mà mình mắt thấy, tai nghe Ở đây trẻ phải nói năng sao cho người khác có thể hình dung ra được những điều mình định mô tả mà không phải dựa vào một tình huống cụ thể trước mắt Kiểu ngôn ngữ này là ngôn ngữ ngữ cảnh, mang tính chất rõ ràng Tuy nhiên, khi nắm vững ngôn ngữ ngữ cảnh rồi, trẻ mẫu giáo lớn vẫn sử dụng ngôn ngữ tình huống với người xung quanh
Ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc hình thành mối liên hệ qua lại trong nhóm trẻ và với những người xung quanh, đặc biệt là đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Muốn có ngôn ngữ mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần phải được trẻ suy nghĩ rõ ràng, rành mạch ngay từ trong đầu tức là cần được tư duy hỗ trợ Mặt khác chính ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện làm cho tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng mới Đó là việc nảy sinh các yếu tố của tư duy lôgic, nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ được nâng lên một trình độ mới cao hơn Như vậy, sự phát triển ngôn ngữ đồng thời với sự phát triển nhận thức
Như vậy, lời nói mạch lạc không tách rời thế giới tư duy Sự mạch lạc của lời nói chính là sự mạch lạc của tư duy Lời nói mạch lạc phản ánh lôgic tư duy của trẻ, kĩ năng suy nghĩ về cái tiếp nhận được và phản ánh nó một cách đúng đắn Theo mức độ trẻ nói ra suy nghĩ của mình có thể đánh giá được trình độ phát triển ngôn ngữ của trẻ
Ở mẫu giáo 5 – 6 tuổi, trẻ tích cực tham gia trò chuyện với người lớn, với bạn hơn Trẻ có thể đàm thoại về những gì đã biết hoặc đã được nghe Trẻ có thể
Trang 19suy đoán, tranh luận, đưa ra ý kiến của mình Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ
có thể nhận biết được những dấu hiệu, đặc điểm đặc trưng, có thể đưa ra những phân tích đầy đủ về sự vật, hiện tượng Bằng ngôn ngữ, trẻ có thể diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, sự hiểu biết của mình Trẻ biết xây dựng câu chuyện tương đối liên tục rõ ràng, phong phú theo đề tài cho sẵn hoặc kể chuyện theo tranh, đồ chơi, đồ vật
Ở trẻ mẫu giáo lớn, ngôn ngữ mạch lạc đã đạt được trình độ khá cao Để trả lời câu hỏi, trẻ đã sử dụng các câu tương đối chính xác ngắn gọn và khi cần thì mở rộng Lúc này, trẻ đã phát triển kĩ năng nhận xét lời nói và câu trả lời của các bạn, bổ sung hoặc sữa chữa các câu trả lời đó Sang tuổi thứ 6, trẻ có thể đặt các câu chuyện miêu tả hay theo một chủ đề nào đó cho trước một cách tương đối tuần tự và rõ ràng nhưng vẫn cần đến mẫu lời nói của cô giáo
1.3.4 Vai trò của việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi
Trong chương trình chăm sóc giáo dục mầm non hiện nay, nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ bao gồm: dạy trẻ phát âm chuẩn, đúng chính âm; phát triển vốn từ cho trẻ; dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Trong đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc là nhiệm vụ vô cùng quan trọng Trẻ em có thể giao tiếp bằng từ, bằng câu nhưng chỉ nhờ có ngôn ngữ mạch lạc trẻ em mới có thể giao tiếp một cách có kết quả, có hiệu quả cao nhất Ngôn ngữ mạch lạc giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu giao tiếp với mọi người xung quanh, phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy lôgic, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào hoạt động vui chơi, học tập và chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông
Phát triển ngôn ngữ nói chung và lời nói mạch lạc nói riêng là một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục mầm non Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhằm các mục tiêu sau đây:
Giúp trẻ mở rộng các mối quan hệ trong giao tiếp, phát triển tâm lý, tình cảm, xúc cảm của trẻ Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi rất thích tham gia trò chuyện với bạn bè và những người xung quanh Để thoả mãn nhu cầu giáo tiếp, trao đổi, hợp tác trẻ cần biết diễn đạt, trình bày ý nghĩ của mình một cách mạch lạc, rõ ràng Từ đó giúp trẻ mở rộng mối quan hệ trong nhóm trẻ và với người lớn, giúp
Trang 20trẻ thêm mạnh dạn, tự tin và góp phần phát triển tình cảm, xúc cảm của trẻ [Trang 28, 9]
Mục tiêu của phát triển ngôn ngữ mạch lạc cũng là góp phần giúp trẻ khám phá, nhận thức thế giới xung quanh trẻ một cách chính xác và đầy đủ Trong quá trình tiếp xúc với thế giới xung quanh, vốn sống của trẻ ngày càng phong phú hơn, mở rộng hơn, do vậy nhu cầu khám phá nhận thức cũng phát triển theo Trẻ đã có thể nhận thức những dấu hiệu đặc trưng cùng các mối liên
hệ, quan hệ của sự vật, hiện tượng và để thoả mãn nhu cầu nhận thức, giao tiếp
đó đòi hỏi trẻ phải có kỹ năng ngôn ngữ cao hơn mới có thể giúp người nghe hiểu rõ hơn đó là kỹ năng nói mạch lạc Như vậy, lời nói mạch lạc đã góp phần giúp cho quá trình nhận thức của trẻ trở lên phong phú, toàn diện và sâu sắc hơn
Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc đồng thời cũng góp phần hình thành những cơ sở ban đầu để phát triển tư duy trực quan hình tượng của trẻ Tư duy của trẻ ngày càng phát triển và phụ thuộc vào vốn sống, kiến thức, phạm vi giao tiếp và khả năng ngôn ngữ của trẻ Trẻ biết sử dụng ngôn ngữ lời nói mạch lạc của mình để giải thích, mô tả trình bày các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng Như vậy, rõ ràng khi trẻ biết sử dụng lời nói mạch lạc
để diễn tả suy nghĩ của mình cũng chính là làm cho hoạt động nhận thức, quá trình tư duy trở lên cụ thể hơn, rành mạch hơn, mang tính khái quát hơn Lời nói mạch lạc chính là phương tiện để phát triển, thúc đẩy hoạt động tư duy của trẻ phát triển cao hơn
Để có được lời nói mạch lạc, trẻ cần phát âm đúng, vốn từ phong phú, nắm vững cấu trúc câu, khả năng diễn đạt rõ ràng, thể hiện ngữ điệu phù hợp nội dung lời nói Như vậy, nó góp phần nâng cao kỹ năng ngôn ngữ nói chung cho trẻ Việc phát triển lời nói mạch lạc giúp cho trẻ mạnh dạn hơn, tích cực hơn với hoạt động ngôn ngữ Mà tính tích cực của bản thân trẻ đối với hoạt động ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ lĩnh hội kỹ năng ngôn ngữ của trẻ
Tóm lại, ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thoả mãn nhu cầu giao tiếp, quan hệ với bạn bè, với
Trang 21những người xung quanh và có ý nghĩa đặc biệt đối với sự nhận thức, phát triển trí tuệ của trẻ, phát triển tư duy và kỹ năng ngôn ngữ nói chung Đó cũng là góp phần chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi bước sang môi trường mới - trường phổ thông và tham gia hoạt động học tập được thuận lợi Chính vì lẽ đó, một trong những nhiệm vụ giáo dục trẻ mầm non là phát triển ngôn ngữ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc đời và đến cuối tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi) để trẻ có
kỹ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp tương đối thành thạo Trẻ có khả năng hiểu ngôn ngữ của người lớn và biết nói năng mạch lạc, lưu loát, diễn đạt ý nghĩ của mình một cách rõ rang, khúc chiết Trẻ biết sử dụng ngôn ngữ vào các mục đích khác nhau như: nhận thức, giao tiếp, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực của tập thể, giao lưu tình cảm, tổ chức hoạt động
1.4 Hoạt động làm quen TPVH ở trường mầm non nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.4.1 Khái niệm hoạt động làm quen TPVH
1.4.1.1 Khái niệm hoạt động
Các sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động, bằng vận động và thông qua vận động mà chúng có thể tồn tại và thể hiện đặc tính của nó Bởi vậy, vận động
là thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của sự vật, hiện tượng Còn đối với con người thì thuộc tính đó, phương thức đó chính là hoạt động
Hoạt động được định nghĩa theo nhiều góc độ:
Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và
khách thể Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể”
Dưới góc độ tâm lý học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và
bắp thịt của người khác vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh ra trong cuộc sống của họ
Tóm lại, hoạt động là sự giao tiếp đa dạng giữa con người với thế giới xung quanh gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, là quá trình con
Trang 22người thực hiện các mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, với xã hội
và với chính bản thân
1.4.1.2 Khái niệm TPVH
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn học do xuất phát từ những bình diện khác nhau Từ bình diện nhân văn, người ta định nghĩa “Văn học là nhân học” Từ bình diện triết học, ta có quan niệm “Văn học là một hình thái ý thức
xã hội” Từ bình diện xã hội học, thì “Văn học hình thức tồn tại những mối quan
hệ xã hội, thẩm mĩ của con người”… Bình diện ngôn ngữ học xem “Văn học là
sự phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ nghệ thuật”, “Một kiểu lời nói nghệ thuật”, và là “nghệ thuật ngôn từ”
Như vậy, TPVH là sự thống nhất nội dung và hình thức, là một cấu trúc hoàn chỉnh của ngôn ngữ, là một cấu trúc hoàn chỉnh của ngôn ngữ mang nội dung thông tin rõ rệt Ngoài ra, TPVH còn là một phát ngôn của nghệ sĩ về cuộc sống của con người được xây dựng trong cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh (tức là ngôn ngữ được vận dụng với chức năng thẩm mĩ, có khả năng xây dựng nên hình tượng và mang tính biểu cảm)
Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc một tập thể sáng tác nhằm thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ… của chủ thể trước thực tại bằng hình tượng nghệ thuật
Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới nhiều hình thức truyền miệng (văn học dân gian) hay dưới hình thức văn bản nghệ thuật được giữ gìn qua văn tự (văn học viết, văn học bác học), có thể được viết bằng vần hay văn xuôi
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới từ lâu đã có một bộ phận sáng tác văn học dành cho trẻ em Văn học trẻ em là những tác phẩm viết cho trẻ
em, có nội dung và hình thức phù hợp với trẻ Những TPVH này có thể do
người lớn viết hoặc do trẻ em viết, có vai trò to lớn trong việc giáo dục toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ cho trẻ em
1.4.1.3 Khái niệm hoạt động làm quen TPVH
Trang 23Cho trẻ làm quen TPVH là một quá trình sư phạm, dươi sự hoạt động của giáo viên bước đầu nhằm giúp trẻ có những hiểu biết nhất định về văn học nghệ thuật Qua đó góp phần giáo dục tình cảm đạo đức, phát triển những cảm xúc thẩm mỹ và đặc biệt là phát triển ngôn ngữ
Hay nói cách khác làm quen TPVH là thông qua việc kể chuyện, đọc thơ cho trẻ nghe và dạy trẻ học thuộc lòng thơ, kể lại chuyện dưới nhiều hình thức khác nhau giúp trẻ cảm thụ văn học, yêu thích văn học và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đồng thời còn giúp trẻ có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên vui tươi, nhạy cảm với cái đẹp, nói năng mạch lạc…góp phần vào việc hình thành nhân cách trẻ
Với đối tượng là trẻ em mầm non (0 – 6 tuổi), cho trẻ làm quen với văn học
là giúp trẻ cảm nhận sự độc đáo của phong cách nghệ thuật và vẻ đẹp riêng của nội dung hình thức văn chương Trong mỗi TPVH, thế giới mới của cuộc sống thực tại bao gồm thiên nhiên, xã hội, con người được diễn tả, biểu đạt, truyền đạt trong những hình thức đa dạng, độc đáo Văn học nói về thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ mà trẻ nhìn thấy được, cũng nói
về những gì gần gũi trong môi trường sống của trẻ như làng quê, cánh đồng, dòng song, phiên chợ, lớp học, khu phố… Qua TPVH, trẻ bắt đầu nhận ra trong
xã hội các mối quan hệ, những tình cảm gia đình, tình bạn, tình cô cháu,… Trẻ cũng dần nhận ra có một xã hội ràng buộc con người với nhau trong lịch sử đấu tranh cách mạng, trong tình làng nghĩa xóm Văn học có thể đề cập đến những lực lượng siêu nhiên như thần linh, ông bụt, cô tiên, phù thủy, quỷ sứ và cả những phép màu còn tồn đọng trong tâm thức dân tộc Đây cũng là đối tượng miêu tả của văn học làm nên sự phong phú, hấp dẫn của đời sống tinh thần Nhờ được nghe, tiếp xúc với một số lượng văn học đáng kể, trẻ sẽ nhận dạng được văn học, có những hiểu biết sơ đẳng về văn học – đó là khả năng mô tả cuộc sống xung quanh phong phú, hấp dẫn bằng những dạng thức khác nhau Bước đầu trẻ sẽ nhận biết được sự khác nhau về nội dung và hình thức giữa các thể loại thơ, truyện
Trang 24Trẻ mầm non chưa thể tự đọc được mà chỉ nghe người lớn đọc, kể, có thể nói trẻ tiếp nhận TPVH bằng con đường gián tiếp nên người lớn phải tăng cường sức nghe cho trẻ, giúp trẻ nghe được tối đa về nhạc cảm và sự đa thanh, nghe được hết những cung bậc âm thanh và nhịp điệu khác nhau của cuộc sống, nghe
ra những âm thanh mới lạ huyền diệu của thiên nhiên như tiếng chim hót: “mỗi khi sơn ca hót, cỏ cây hoa lá rì rào hòa theo” (Giọng hót chim sơn ca), nghe ra những âm sắc biểu cảm, những rung cảm của trái tim cùng nhịp điệu hài hòa giữa vũ trụ và con người Ngay từ khi còn trong bào thai, ở tháng thứ sáu, con người đã sống trong nhịp điệu, lời ru, tiếng hát, vũ điệu, âm nhạc, những mối dây lien hệ tưởng như vô hình giữa con người và trái đất
Sức mạnh của TPVH vô cùng to lớn Trong quá trình cho trẻ làm quen TPVH, bằng tài năng sư phạm cùng với nghệ thuật đọc và kể chuyện văn học,
cô giáo ở trường Mầm non sẽ hướng trẻ vào những vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật tác phẩm, gây ấn tượng đầu tiên cho trẻ về hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ dân tộc Cô giáo khơi gợi ở trẻ hứng thú bước vào hoạt động văn học nghệ thuật một cách tự nhiên, sáng tạo
1.4.2 Ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động làm quen TPVH cho trẻ ở trường mầm non
Văn học có vai trò to lớn không thể thiếu được trong lĩnh vực hình thành nhân cách cho trẻ, trẻ ở lứa tuổi này chưa biết đọc, việc tiếp xúc với văn học buộc phải thông qua người lớn xung quanh, việc cho trẻ làm quen TPVH nhằm nâng cao nhận thức, thẩm mĩ giáo dục cho trẻ Đặc biệt ở trẻ mầm non đang ở thời kỳ học ăn, học nói nên việc cho trẻ làm quen với văn học có ý nghĩa lớn lao
ở phương diện phát triển lời nói cho trẻ, rèn luyện kĩ năng đọc, kể chuyện cho trẻ
Từ lâu, người ta đã nhận thấy văn học là nguồn suối không cạn của tri thức, là kinh nghiệm sống mà con người cần tiếp thu và phát triển Người ta cũng thấy rõ vị trí sức mạnh riêng của TPVH trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trẻ em nói riêng Nó trở thành nội dung và phương tiện hữu hiệu để giáo dục trẻ Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nga lỗi lạc
Trang 25V.G.Bielinxki đã từng nói: “Một tác phẩm viết cho thiếu nhi là để giáo dục mà
giáo dục là một sự nghiệp vĩ đại vì nó quết định số phận con người”
(V.G.Bielixin toàn tập, tập IV, Matxcơva, NXB Viện hàn lâm khoa học Liên
Xô, 1954, trang 79)
Tổ chức hoạt động làm quen TPVH là một nội dung của chương trình cho trẻ làm quen với văn học ở trường mầm non có một ý nghĩa sư phạm to lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ
1.4.2.1 Hoạt động làm quen TPVH góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ cho trẻ
Trẻ em luôn khao khát nhận thức thế giới xung quanh, các em muốn biết tất cả, muốn thâu tóm tất cả lí do tồn tại của cuộc sống vào khối óc bé nhỏ của mình Thế giới xuất hiện trước mắt trẻ với toàn bộ sự phong phú, phức tạp của
nó Trong điều kiện đó, những câu ca dao, bài thơ, truyện kể là những bài học đầu tiên giúp các em nhận thức thế giới, định hướng cơ bản trong môi trường xung quanh, giúp các em chính xác hóa những biểu tượng đã có về thực tế xã hội, dần dần từng bước cung cấp cho các em những khái niệm mới và mở rộng kinh nghiệm sống Theo H.Read, một đại diện lớn của nền giáo dục Anh nhận định rằng: Mục đích của giáo dục thông qua tác phẩm nghệ thuật chính là khả năng nhận thức các mối liên hệ trong thế giới Đọc “Chú đỗ con” của Viết Linh, trẻ sẽ nhận thấy được quá trình nảy mầm của hạt thành cây dưới mưa xuân và ánh nắng mặt trời, đọc bài thơ “Hoa kết trái” sẽ giúp cho trẻ nhận biết được màu sắc của nhiều loài hoa
Hoa cà tim tím Hoa mướp vàng vàng Hoa lựu chói chang
Trang 26hệ và ý nghĩa của chúng đối với con người Có thể nói, với chức năng phản ảnh cuộc sống, văn học thiếu nhi như “những quyển sách giáo khoa đầu tiên giúp cho trẻ nhận thức và hiểu biết về thế giới xung quanh Bằng những hình tượng văn học sinh động, những “bài học” ấy trở nên hết sức nhẹ nhàng mà không kém phần sâu sắc
1.4.2.2 Hoạt động làm quen TPVH góp phần giáo dục đạo đức cho trẻ
Khi tiếp xúc TPVH qua nghe đọc, kể diễn cảm và sự dẫn dắt của cô giáo, những ấn tượng nghệ thuật mà trẻ thu nhận được sẽ hình thành ở các em những phẩm chất đạo đức bền vững Không ai có thể phủ nhận vai trò của cái đẹp trong
giáo dục đạo đức bởi “Thông qua cái đẹp vươn tới nhân tính” – (V.G
Bielinxki, nhà nghiên cứu Nga thế kỉ XIX) Vì vậy, cái đẹp phải được coi là phương pháp cơ bản nhằm khơi gợi những tình cảm đạo đức cho trẻ, nó có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục thẩm mĩ, nó trở thành một quy luật giáo dục Qua
vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, những hành động tình cảm cao quý của con người thể hiện trong tác phẩm sẽ giáo dục trẻ tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, ý thức bảo vệ cây xanh, có cách đối xử hiền từ với mọi sinh vật trên trái đất, xác lập hành vi, thái độ của con người đối với các hiện tượng của đời sống Bảo vệ thiên nhiên, chinh phục tự nhiên là một trong những vấn đề sống còn của thời đại chúng ta mai sau, nó trở thành đạo đức của ngày hôm nay Về những vấn đề này, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều trong những áng ca dao, những bài thơ, những đoạn văn dành cho trẻ
“Con cò bay lả bay la
Bay từ ruộng lúa bay ra cánh đồng”
Giáo dục tình cảm cho con người là một trong những vấn đề quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách toàn diện với sự phong phú về mặt tinh thần Những tác phẩm viết về gia đình đã dạy trẻ biết yêu thương ông bà, cha mẹ, an hem Bài thơ “Mẹ ốm” – Trần Đăng Khoa, “Làm anh” – Phan Thị Thanh Nhàn, truyện “Ba cô gái” hình thành cho trẻ tình cảm thắm thiết mẹ con, biết sống làm người con hiếu thảo
Trang 27Có những bài học đạo đức khác nữa trong những trang văn học giành cho lứa tuổi nhỏ mà chúng ta không thể kể hết được Như vậy, văn học nghệ thuật và việc cho trẻ làm quen TPVH có ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất tâm hồn, phát triển nhân cách cho trẻ mẫu giáo Có thể nói, trẻ
em rất nhạy cảm đối với nội dung đạo đức là một trong những mặt quan trọng nhất của sự phát triển nhân cách
1.4.2.3 Hoạt động làm quen TPVH góp phần giáo dục thẩm mỹ
Qua tiếp xúc TPVH, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ em sẽ hình thành
và phát triển những cảm xúc thẩm mĩ, thị hiếu nghệ thuật và sáng tạo nghệ thuật Giáo dục mầm non không chỉ cung cấp cho trẻ những nhận thức thẩm mĩ mà còn hướng tới hoạt động sáng tạo thẩm mĩ Có thể nói, văn học chính là nơi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ, nơi giữ gìn phát triển chất nghệ sĩ vốn có trong tâm hồn trẻ em, những phong cảnh, sự vật, con người trong tác phẩm trở nên rất đẹp
và có sức hấp dẫn riêng, nó làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của trẻ em, tạo nên
sự nhạy cảm thẩm mĩ, tâm hồn, tình cảm cao đẹp, sự phong phú của đời sống tinh thần và nhờ đó làm nên những tấm lòng nhân hậu, không nguội lạnh, thờ ơ với số phận con người, biết ghét những cái xấu, cái ác, biết yêu thương đứng về cái tốt, cái đẹp
1.4.2.4 Hoạt động làm quen TPVH góp phần phát triển ngôn ngữ
Hoạt động làm quen TPVH có vai trò quan trọng trong việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ TPVH như một nguời bạn đồng hành cùng trẻ thơ, cung cấp
cho trẻ thơ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật Khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với các TPVH, vốn từ ngữ của các em phong phú và sống động hơn Các em tự hình thành cho mình khả năng diễn đạt một vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm bởi đã được học cách diễn đạt sinh động ấy trong tác phẩm Đối với trẻ mầm non, sự phát triển ngôn ngữ ấy qua hoạt động bắt chước lời nói, việc làm của các nhân vật hoặc những cách diễn đạt trong tác phẩm Chính quá trình trẻ được nghe, được kể diễn cảm truyện, thơ và được trực tiếp tham gia vào hoạt động đọc, kể lại truyện thơ sẽ giúp trẻ tích lũy và phát triển thêm nhiều từ mới Điều này giúp giáo viên có thể
Trang 28dễ dàng hơn trong việc rèn luyện khả năng biểu cảm trong ngôn ngữ nói, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ đối thoại với trẻ
Qua hoạt động làm quen TPVH, giáo viên sử dụng giọng đọc của mình
để truyền đạt, nhấn mạnh các sắc thái của tâm trạng, thể hiện trong các hình ảnh
và tưởng tượng Các sắc thái này được xác định bằng giọng sinh động liên quan đến nhịp và hình ảnh tưởng tượng qua giọng đọc của giáo viên và của chính bản thân trẻ
Sự nhịp nhàng cân đối các giai điệu, tiết tấu giúp trẻ cảm nhận nhịp điệu của lời nói, giúp trẻ rèn luyện phát âm, thỏa mãn nhu cầu được nói có vần, có nhịp của trẻ
Các hình tượng trong TPVH làm phong phú những xúc cảm, tình cảm, đưa đến cho trẻ những hình tượng tuyệt diệu của ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ trong TPVH thường dấu những phương tiện diễn đạt và phương tiện mô tả ngôn ngữ Mỗi lần được nghe, được đọc diễn cảm, trẻ có ấn tượng về cách sử dụng từ, từng bước thu nhận những biểu tượng, những hình ảnh cùng với những tính từ giá trị được biểu hiện trong TPVH
Trong hoạt động cho trẻ làm quen TPVH giáo viên kết hợp các biện pháp giải thích, đàm thoại, thực hành luyện tập, trò chơi… giúp trẻ nắm vững, hiểu sâu sắc nội dung và nghệ thuật được biểu hiện qua ngôn từ Bằng thực hành, trẻ được trực tiếp hoạt động, trẻ có điều kiện tự mình phát hiện qui tắc dùng từ, vận dụng qui tắc đó vào giải quyết các hiện tượng từ vựng trong ngôn ngữ và lời nói Thông qua quá trình vận dụng và phát hiện này mà vốn từ của các em ngày càng được chính xác, củng cố và khắc sâu hơn
Mặt khác, khi trẻ biết vận dụng từ đó trong hành động cụ thể, trẻ có điều kiện vận dụng từ ngữ vào hoạt động lời nói của mình, nâng cao trình độ tiếng
mẹ đẻ từ tự phát lên tự giác, có điều kiện để tập sử dụng từ ngữ đạt hiệu quả diễn đạt, hiểu và đánh giá được giá trị thẩm mỹ của từ ngữ trong ngôn bản, nói câu đúng ngữ pháp, phát triển lời nói mạch lạc
1.4.3 Đặc điểm tiếp nhận TPVH của trẻ 5 - 6 tuổi
Trang 29Đối với trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), ở giai đoạn này, cảm nhận thẩm mĩ
đã có một bước phát triển trong tiếp nhận văn học Sự tiếp nhận tác phẩm đầy đủ hoàn thiện hơn, biểu hiện trước tiên là sự hiểu biết những câu chuyện cổ tích, bài thơ, những đoạn văn xuôi hay và sự làm giàu tình cảm qua quá trình tích lũy hình tượng nghệ thuật Điều quan trọng là cần phát triển ở trẻ sự hướng tới một cách thẩm mĩ các giá trị tác phẩm, hứng thú đối với việc nghe, suy nghĩ về hình tượng nghệ thuật để phân biệt được hình tượng nghệ thuật với hiện thực cuộc sống Sự quan tâm tới TPVH sẽ giúp trẻ hiểu được nội dung tác phẩm, các nhân vật trong tác phẩm trở nên gần gũi dễ hiểu hơn, sự cảm thông với nhân vật, sự lo lắng cho số phận của nhân vật đã mang đặc điểm cá tính hơn
Ở giai đoạn lứa tuổi này, người ta nhận thấy có sự tăng lên rõ rệt sự cảm nhận của trẻ về hình thức nghệ thuật tác phẩm, hình thành sự chú ý tới các phương tiện lời nói diễn cảm Trong khi nắm bắt âm điệu, nhạc tính của bài thơ, trẻ so sánh chúng với các bài hát Việc phát triển và hoàn thiện sự cảm nhận về hình tượng nghệ thuật làm tăng thêm cảm hứng của trẻ, điều đó giúp trẻ hiểu nội dung tác phẩm nghệ thuật Như vậy, trong quá trình này, nhà sư phạm không chỉ đơn thuần giúp trẻ nhận ra, hiểu biết sâu sắc giá trị tác phẩm, đặc biệt giá trị tư tưởng phù hợp với đối tượng trẻ mà còn cần phải hướng trẻ vào giá trị hình thức của TPVH
Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng suy nghĩ sâu về nội dung TPVH và hiểu một số đặc trưng của hình thức thể hiện nội dung Trẻ có thể phân biệt được các thể loại văn học và đặc trưng của từng thể loại, dễ dàng phân biệt văn xuôi và thơ, chỉ ra thơ là những dòng ngắn có sự nhịp nhàng, có giai điệu tình cảm Điều
đó cũng có nghĩa là trẻ đã nhận ra được tính nhịp điệu và cấu tạo vần, sự ngân nga của những câu thơ, còn văn xuôi có ngữ điệu biểu cảm gần với nhịp điệu giọng nói Trẻ phân biệt đó là truyện cổ tích từ công thức mở đầu “ngày xửa ngày xưa” và lối kết thúc có hậu với các nhân vật nhỏ bé được sự giúp đỡ của lực lượng thần kì
Mức độ phát triển lời nói, trí tuệ, cũng như kinh nghiệm của trẻ 5-6 tuổi
đã phát triển Khả năng quan sát thế giới xung quanh ở trình độ cao hơn đã dẫn
Trang 30đến một thực tế là những tác phẩm mang nội dung hiện thực, tức là những tác phẩm mà ở đó trẻ có thể tìm thấy những sự kiện và hoàn cảnh quen thuộc, có thể
mở rộng và củng cố, định hình những hiểu biết là tác phẩm mà trẻ rất thích Các
em hứng thú thật sự khi được nghe kể về thiên nhiên, các vấn đề thuộc về kĩ thuật, một số hiện tượng trong đời sống xã hội Các câu hỏi mà trẻ đặt ra ngày càng cụ thể hơn Chúng muốn tìm hiểu nguyên nhân những sự kiện mà chúng quan sát được, tìm cách dự đoán kết quả của các sự kiện đó Thiên nhiên xung quanh, những mối quan hệ đầu tiên thân thiết và cả những mâu thuẫn trong cuộc sống, sự lựa chọn bạn bè, kết bạn rồi chia tay… tất cả những cái đó càng ngày càng lôi kéo trẻ vào một loạt những quan hệ mang tính người phức tạp Những tác phẩm mà đề tài là những bạn cùng lứa tuổi, quan hệ gia đình, thiên nhiên được trẻ yêu thích Các em thích cả nhân vật được đặt vào những hoàn cảnh khó khăn, bất ngờ không đoán được số phận tiếp theo Trọng tâm chú ý của chúng là hành động nhân vật chứ không phải những trang miêu tả cũng như nội tâm của nhân vật
Đối với trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn, trong quá trình tiếp xúc TPVH, với sách, khả năng đọc cũng là vấn đề quan trọng Đối tượng gây hứng thú của trẻ
em chính là các từ, các chữ được thể hiện trên mặt giấy Trẻ muốn hiểu tận nguồn của mọi thứ nên chúng hỏi ý nghĩa của những chữ cái cụ thể, của các từ
và tìm cách đọc thử, chúng ta có thể bắt đầu dạy đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi Như vậy, trong việc tiếp xúc với văn học của trẻ có xuất hiện một sự thay đổi, song song với việc tiếp nhận văn học qua khâu trung gian – cô giáo đọc diễn cảm tác phẩm
là thời kì mở đầu của việc trẻ đọc Bằng cách này, trẻ được làm quen với chữ cái, khả năng ghép chúng lại với số lượng ngày càng nhiều và hiểu ý nghĩa của tập hợp từ, câu và cốt truyện trong một văn bản
Trẻ 5 – 6 tuổi, trên cơ sở biết so sánh ở giai đoạn trước, trẻ bắt đầu có năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, khái quát hóa, biết phân biệt được khá nhiều màu sắc, hình khối Trẻ bắt đầu biết suy diễn trìu tượng, thích bắt chước,
mô phỏng hành vi, lời nói các nhân vật mà trẻ được xem trên vô tuyến truyền hình hoặc do người khác đọc và kể cho nghe Như vậy, ở giai đoạn lứa tuổimẫu
Trang 31giáo lớn các em đã đạt tới trình độ phân tích, tổng hợp, suy luận nhất định nên thường hay lặng lẽ suy nghĩ, có khi lẩm bẩm nói một mình Đó là biểu hiện của
sự phối hợp hoạt động giữa cảm giác, tri giác, xúc cảm và ngôn ngữ để tạo ra một
1.4.4 Vai trò của giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen TPVH
Trẻ mẫu giáo chưa thể tự đọc bằng mặt chữ một văn bản nghệ thuật, cho nên trẻ tiếp nhận các thể loại văn học nghệ thuật thông qua khâu trung gian là cô giáo – với tư cách là người đọc trực tiếp rồi đọc lại, kể lại trung thành nội dung văn bản với những ấn tượng sâu đậm rõ nét nhất và những hiểu biết kĩ càng giá trị toàn diện văn bản Bằng con đường truyền thụ thông qua ngôn ngữ nói của giáo viên trẻ có thể tiếp nhận được văn học Việc cô giáo kể lại văn bản TPVH
sẽ tận dụng được ưu thế của ngôn ngữ nói, giúp các em cảm nhận tốt các TPVH đồng thời ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển Ngôn ngữ của cô càng mạch lạc, lôgic bao nhiêu thì ngôn ngữ mạch lạc của trẻ theo đó phát triển
Cô giáo phải là người biết đề ra mục đích giáo dục, biết tiến hành bằng những biện pháp, phương pháp khoa học để đạt được mục đích đề ra, cô giáo là người quyết định hiệu quả của những giờ cho trẻ làm quen TPVH Trẻ có hứng thú tiếp nhận tác phẩm hay không, có tự mình nói ra những suy nghĩ và cảm nhận của mình hay không đều dựa vào cô giáo Việc đọc, kể tác phẩm của cô giáo trên lớp có ảnh hưởng rất lớn dến sự cảm thụ văn học nghệ thuật và việc thể hiện tác phẩm của trẻ Cô giáo phải tập trung đọc văn trước lớp, kể lại có nghệ thuật để tác động và phát triển sức nghe của trẻ Việc đọc phải mạch lạc và phân biệt, nhấn mạnh được sắc thái biểu cảm ở những chỗ trọng tâm Từ tác động ngôn ngữ âm thanh, cô giáo tạo điều kiện cho trẻ có khả năng nhìn ra những hình ảnh sinh động, rực rỡ
Việc đọc tác phẩm bắt đầu từ lòng say mê, yêu thích của cô giáo sẽ tạo ở trẻ lòng ham muốn thâm nhập sâu sắc vào nội dung của tác phẩm và nắm được được hình thức của nó
Để có thể dạy tốt môn văn học cho trẻ mầm non cô giáo phải thấy được
Trang 32vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm của mình trước trẻ mà rèn luyện để có những năng lực cảm thụ TPVH, năng lực sư phạm Song có những năng lực kể trên chưa đủ, cô giáo còn phải có một tâm hồn đẹp, một tấm lòng nhân hậu, lòng yêu trẻ thiết tha và có sự sáng tạo sư phạm không ngừng
Bản thân cô giáo mầm non phải trau dồi những kiến thức cơ bản để cảm thụ thật tốt các TPVH thì mới có thể truyền dạy cho trẻ được hết những cái hay,cái đẹp của tác phẩm Với sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ được nghe, được học các TPVH, đó là những bài học làm người đầu tiên, và những bài học đó sẽ cùng trẻ lớn dần lên theo năm tháng, trong suốt cả cuộc đời
Tiểu kết:
Làm quen TPVH có ý nghĩa hết sức quan trọng việc hình thành và phát triển lời nói mạch lạc đồng thời góp phần phát triển quá trình nhận thức, hoạt động tư duy của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Phát triển ngôn ngữ mạch lạc sẽ là cơ sở thuận lợi đối với việc phát triển ngôn ngữ viết sau này của trẻ
TPVH có vai trò to lớn trong sự phát triển toàn diện năm mặt cho trẻ (đức – trí – thể - mĩ – ngôn ngữ) trong đó đặc biệt là phát triển ngôn ngữ của trẻ, không chỉ là rèn luyện trẻ phát âm đúng, một khía cạnh rất quan trọng là tích lũy nội dung ngôn ngữ của trẻ, phát triển vốn từ, phát triển ngữ pháp, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện vạn năng, đặc sắc, trọn vẹn và có hiệu quả để giao tiếp có văn hóa, giúp cho trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp, từ
đó giúp phát triển và hoàn thiện nhân cách trẻ
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ MẠCH LẠC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN TPVH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu thực trạng của chúng tôi nhằm tìm hiểu:
- Nhận thức của giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động LQTPVH
- Thực trạng việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch mạch cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động LQTPVH
- Thực trạng về khả năng ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
bộ Về trình độ chuyên môn: 100% cán bộ, giáo viên đạt trình độ sư phạm Đại học và Cao đẳng
2.2.2 Trường mầm non 19/5
Trường mầm non 19/5 quận Hải Châu là trường trọng điểm chất lượng cấp Quận Trường đạt trường mầm non chuẩn quốc gia năm 2005 và mức độ 1 năm học 2007 – 2008
Năm 2011-2012 có 14 nhóm lớp với 470 cháu và 49 cán bộ giáo viên và nhân viên:
Trang 34Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 49 (Trong đó: BGH: 3; GV: 32; Nhân viên: 14)
- Trình độ chuyên môn:
+ Đại học Mầm non: 10
+ Cao đẳng sư phạm mầm non: 22
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu nhận thức của giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động LQTPVH
Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động LQTPVH
Nghiên cứu thực trạng về khả năng ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi trong hoạt động LQTPVH
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá kết quả khảo sát, chúng tôi sử dụng các phương pháp như: Phương pháp điều tra bằng Anket, phương pháp trắc nghiệm, phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện
- Quan sát hoạt động của cô và trẻ trong hoạt động làm quen TPVH
- Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen TPVH
- Trao đổi, đàm thoại với giáo viên về việc tổ chức hoạt động làm quen TPVH nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
2.5 Kết quả nghiên cứu
2.5.1 Nhận thức của giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen TPVH ở trường mầm non
Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến với 30 giáo viên tại 2 trường: Trường mầm non 19/5, trường mầm non 20/10 nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng nhận thức giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động làm quen TPVH
Trang 35Câu hỏi: Theo chị việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động làm quen TPVH có quan trọng không ?
Đối với câu hỏi này, chúng tôi thu được những ý kiến khác nhau Phần lớn giáo viên đều thấy được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Cụ thể: có 19/30 (tỷ lệ 70%) giáo viên cho rằng việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là rất quan trọng và có 11/30 (tỷ lệ 30%) giáo viên cho rằng việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là quan trọng
Nhận xét: Kết quả trên cho thấy, giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Đây là một điều đáng mừng bởi giáo viên đã có ý thức tổ chức hoạt động làm quen TPVH cho trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, góp phần phát triển toàn diện nhân cách của trẻ mầm non
động Làm quen với TPVH chiếm tỉ lệ cao nhất 86,7%, trong khi đó KPKH về
MTXQ chiếm ít hơn (10%) Ngược lại với ý kiến này chiếm tỷ lệ không lớn đó
là hoạt động Tạo hình (3,3%), không có giáo viên nào chọn hoạt động âm nhạc
Như vậy, giáo viên đã nhận thức đúng đắn ý nghĩa của hoạt động Làm quen với TPVH đối với
phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói chung và ngôn ngữ mạch lạc nói riêng
Trang 36Đối với câu hỏi này, chúng tôi thu được những ý kiến khác nhau Cụ thể:
có 24/30 (chiếm tỷ lệ 80%) giáo viên thường xuyên phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ và có 4/30 (chiếm tỷ lệ 13.3%) giáo viên chỉ thỉnh thoảng phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Như vậy phần lớn giáo viên đã chú trọng đến việc phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua hoạt động làm quen TPVH
1 Trẻ đọc thơ, kể chuyện theo tranh 20 66,7
2 Trẻ đọc thơ, kể chuyện theo tranh trẻ vẽ 3 10
3 Trẻ đọc thơ, kể chuyện sáng tạo theo tranh của
Như vậy, có thể nói trong quá trình làm quen với TPVH, các cô giáo cũng
đã cố gắng sử dụng mọi cách để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, đây là sự
cố gắng cần được khuyến khích động viên Biện pháp được giáo viên sử dụng