Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân
Trang 1i
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
TRẦN THỊ ĐÀO THANH
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN “MẮT – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT”
– CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng, 5/2017
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ
TRẦN THỊ ĐÀO THANH
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN “MẮT – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT”
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, trước hết cho phép em xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo trong khoa Vật Lí trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình chỉ dạy, truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 4 năm học tập tại trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Xin gửi lời cám ơn các BGH trường THPT Phan Châu Trinh và các thầy cô giáo trong tổ Vật lý tại trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em có thể hoàn thành tốt quá trình thực nghiệm đề tài khóa luận của mình
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phùng Việt Hải đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đề tài khóa luận “Thiết kế và
tổ chức dạy học chủ đề dạy học tích hợp liên môn “Mắt – Những điều cần biết” chương trình lớp 11 THPT”
Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và do kiến thức còn hạn chế, chắc chắn đề tài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý và cảm thông của thầy, cô để đề tài khóa luận này của em được hoàn thiện hơn Cuối cùng, em xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Em xin chân thành cảm ơn !
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2017 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Đào Thanh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH iv
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP 4
1.1 Dạy học tích hợp 4
1.1.1 Khái niệm dạy học tích hợp 4
1.1.2 Sự cần thiết phải tổ chức dạy học tích hợp 5
1.1.3 Đặc trưng của dạy học tích hợp 7
1.1.4 Các mức độ (các kiểu) tích hợp trong dạy học 9
1.1.5 Các nguyên tắc tích hợp trong dạy học 11
1.1.6 Qui trình tổ chức dạy học tích hợp 13
1.2 Các phương pháp và kỹ thuật dạy học 20
1.2.1 Dạy học dự án 20
1.2.2 Kỹ thuật 5W1H 22
1.2.3 Kỹ thuật bản đồ tư duy 22
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN “MẮT – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT” – CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 THPT 23
2.1 Lựa chọn chủ đề 23
2.1.1 Cách xác định chủ đề 23
2.2 Xác định các vấn đề cần giải quyết 23
2.3 Xác định mạch kiến thức và địa chỉ tích hợp 24
2.4 Xác định mục tiêu dạy học 26
Trang 52.5 Xây dựng nội dung các kiến thức cụ thể 28
2.5.1 Thông tin trợ giúp 28
2.6 Xây dựng các nội dung dạy học và đánh giá 40
2.6.1 Thiết kế các nhiệm vụ dạy học 40
2.6.2 Xây dựng nội dung kiểm tra đánh giá 43
2.7 Thiết kế tiến trình dạy học 50
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55
3.1 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 55
3.2 Mục tiêu thực nghiệm sư phạm 55
3.3 Phương pháp thực nghiệm 55
3.4 Các bước tiến hành 55
3.4 Phân tích diễn biến thực nghiệm và đánh giá định tính 56
3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thưc nghiệm 60
3.5.1 Thuận lợi 60
3.5.2 Khó khăn 60
3.6 Đánh giá định lượng 60
3.6.1 Đánh giá chủ đề dạy học tích hợp từ các chuyên gia 60
3.6.2 Đánh giá sự hài lòng của học sinh 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
1 Kết luận 63
2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC PL
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH
Bảng 1.1: Sự trình bày ở các phân môn 2
Bảng 1.2: Dạy học tích hợp và dạy học các môn học riêng rẽ 8
Bảng 1.2 Mẫu trình bày sơ bộ mạch phát triển kiến thức và địa chỉ tích hợp 15
Bảng 1.3 Mẫu kế hoạch dạy học 1 chủ đề tích hợp 19
Bảng 2.1: Khoảng cách qua các độ tuổi 32
Hình 1.2 Các mức độ dạy học tích hợp 9
Hình 1.3 Sơ đồ xương cá 9
Hình 1.1 Sơ đồ mạng nhện 10
Hình 1.4 Mức độ tích hợp xuyên môn 11
Hình 1.5 Quy trình tổ chức dạy học tích hợp 13
Hình 1.6 Mô tả cách xây dựng các vấn đề trong chủ đề 14
Hình 1.7 Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy học và đánh giá 17
Hình 2.1: Sơ đồ tư duy các vấn đề về Mắt 24
Hình 2.2: Cấu tạo bên ngoài của Mắt 28
Hình 2.3: Cấu tạo bên trong của Mắt 29
Hình 2.4: Cấu tạo màng lưới của Mắt 29
Hình 2.5: Sơ đồ thu gọn của Mắt 30
Hình 2.6: So sánh Mắt và máy ảnh 30
Hình 2.7: Mắt nhìn vật 31
Hình 2.8: Bẩm sinh do cầu mắt dài 33
Hình 2.9: Thể thủy tinh quá phồng 33
Hình 2.10: Măt đeo kính phân kỳ 34
Hình 2.11: cầu mắt ngắn 34
Hình 2.12: thể thủy tinh bị lão hóa 34
Hình 2.1 3: so sánh mắt lão thị và mắt thường 35
Hình 2.14: so sánh mắt loạn thị và mắt thường 36
Hình 2.15: bệnh đau mắt đỏ 36
Trang 7Hình 2.16: bệnh đục thủy tinh thể 37
Hình 2.17: bệnh đau mắt hột 38
Hình 3.1: Hs thảo luận sôi nổi phiếu học tập số 1 57
Hình 3.2: Phước Thịnh tự tin đại diện trình bày kết quả hoạt động nhóm 57
Hình 3.3: “Bác sĩ” Tiến Đạt tư vấn cho “khán giả” về tật lão thị 58
Hình 3.4: “Bác sĩ” Hoàng Uyên tư vấn cho “khán giả” về tật loạn thị 58
Hình 3.5: Hs thực hành tự đo độ cận của Mắt 59
Hình 3.6: Chuyên gia dinh dưỡng Kim Nguyên Tư vấn cho “bà con” về cách giúp cho đôi mắt luôn khỏe đẹp 59
Đồ thị 3.1: Đánh giá quy trình xây dựng chủ đề 61
Đồ thị 3.2: Khảo sát sự hài lòng của Hs về chủ đề 62
Trang 8DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
DHTHLM : Dạy học tích hợp liên môn
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môn Vật lí ở trường THPT hiện nay nhằm góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS, đồng thời tạo điều kiện cho HS có thể tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, củng cố và phát triển tiếp tục các năng lực chủ yếu của HS đã hình thành ở cấp THCS, đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì mới Như vậy, mục tiêu của môn Vật lí hiện nay đặt nặng vào việc hình thành và rèn luyện cho HS các năng lực cần thiết của người lao động mới (trước đây, mục tiêu chính của môn Vật lí đặt nặng vào việc cung cấp cho HS các kiến thức Vật lí có hệ
thống)
Dạy học tích hợp là một quan điểm dạy học nhằm hình thành ở học sinh những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó cũng
có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà
trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công
dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực
Ở mức độ tích hợp liên môn, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần đến các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra
Với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa các
môn học trong chủ đề được hình dung qua sơ đồ mạng
nhện (hình bên) Như vậy, nội dung các môn học vẫn
được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống, mặt
khác vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học
khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn Hình 1.1: Sơ đồ mạng nhện
Mắt là một trong năm giác quan quan trọng, giúp con người quan sát và kiểm soát
môi trường xung quanh Con người có khả năng dùng mắt để liên hệ, trao đổi thông tin với nhau thay lời nói Ngày nay khi xã hội càng phát triển kéo theo những vấn đề nhức nhối của môi trường thì Mắt đối điện với rất nhiều hiểm nguy Việc hiểu biết về Mắt nói chung và những kiến thức cần có để bảo vệ đôi Mắt nói riêng à điều không thể
thiếu Khi ấy đôi mắt mới thức sự được ví là “cửa sổ tâm hồn”
Đồng thời khi tìm hiểu tổng quan những kiến thức liên quan đến Mắt trong chương trình phổ thông, thấy được sự trình bày ở các phân môn vẫn còn thiếu sót rất nhiều, có thể xem qua bảng sau:
Trang 10Bảng 1.1: Sự trình bày ở các phân môn
Ở kiến thức Vật Lí Ở kiến thức sinh học Chưa được đề cập
Mắt được trình bày là
một hệ quang học hết sức
phức tạp và tinh vi, mắt
được xem là một thấu
kính hội tụ; sự điều tiết
lý và lưu trữ; các bệnh, tật của mắt khái quát
- Tật loạn thị
- Để khắc phục các tật
về mắt thì ngoài cách đeo thấu kính khắc phục thì vẫn có thể sử dụng thuốc điều trị hay bắn lazer khắc phục
- Những vấn đề về môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, là nguy cơ mắc các bệnh, tật trong đó có các bệnh về mắt
Từ đây khẳng định việc xây dựng một chủ đề liên môn về Mắt là rất cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và xây dựng chủ đề dạy học THLM về Mắt phát triển năng lực
(năng lực ngôn ngữ, năng lực tự học, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông) của Hs
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về dạy học tích hợp, trọng tâm là tổ chức dạy học THLM lĩnh vực khoa học tự nhiên
- Nghiên cứu nội dung kiến thức liên quan đến chủ đề bao gồm: SGK Vật Lí 11, Vật lý 9, Sinh Học lớp 8 và Hóa Học 12, tài liệu ngoài làm cơ sở để tổ chức dạy học THLM
- Thiết kế tiến trình tổ chức dạy học THLM chủ đề “Mắt – Những điều cần
biết”
- Thực nghiệm dạy học chủ đề đã xây dựng cho Hs lớp 11 để đánh giá tính thực tiễn của đề tài
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Dạy học tích hợp liên môn lĩnh vực khoa học tự nhiên
- Nội dung và hoạt động dạy và học của Gv và Hs về các kiến thức liên quan chủ
đề “Mắt – Những điều cần biết”
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở lý luận của PPDH tích hợp liên môn và quy trình tổ chức hoạt động DHTHLM
- Hỏi ý kiến chuyên gia
- Thực nghiệm sư phạm
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP
1.1 Dạy học tích hợp
1.1.1 Khái niệm dạy học tích hợp
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latinh
(integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”
Theo từ điển (Oxford Advanced Learner’s Dictionary), từ ‘Intergration’ có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là
sự thống nhất, sự hợp nhất, sự kết hợp” Đó là sự hợp nhất các các bộ phận khác nhau
để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng mà không phải là phép cộng (ghép lại) giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”
Về DHTH, tác giả Đỗ Hương Trà cho rằng “DHTH là một quan điểm sư phạm,
ở đó người học cần huy động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp –
có vấn đề nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân”
Qua các nghiên cứu về tích hợp, dạy học tích hợp, chúng tôi quan niệm: “Dạy
học tích hợp là một quan điểm dạy học nhằm hình thành ở học sinh năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức,
kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực, môn học khác nhau” DHTH đòi hỏi việc học tập
trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này học sinh
có thể đối mặt, vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với học sinh Với cách hiểu như vậy, DHTH phải được thể hiện ở cả nội dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hình thức tổ chức dạy học
Trang 131.1.2 Sự cần thiết phải tổ chức dạy học tích hợp
Phát triển năng lực người học
DHTH là dạy học xung quanh một chủ đề đòi hỏi sử dụng kiến thức, kĩ năng, phương pháp của nhiều môn học trong tiến trình tìm tòi nghiên cứu Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc trao đổi và giao nhau giữa các mục tiêu dạy học của các môn học khác nhau Vì thế, việc tổ chức dạy học tích hợp mở ra triển vọng cho việc thực hiện dạy học theo tiếp cận năng lực
Các tình huống trong dạy học tích hợp thường gắn với thực tiễn cuộc sống, gần gũi và hấp dẫn với người học, người học cần phải giải thích, phân tích, lập luận hoặc tiến hành các thí nghiệm, xây dựng các mô hình, để giải quyết vấn đề Chính qua
đó, tạo điều kiện phát triển các phương pháp và kĩ năng cơ bản ở người học như: lập
kế hoạch, phân tích, tổng hợp thông tin, đề xuất các giải pháp một cách sáng tạo, ; tạo cơ hội kích thích động cơ, lợi ích và sự tham gia vào các hoạt động học, thậm chí với cả các học sinh trung bình và yếu về năng lực học
DHTH không chỉ đánh giá kiến thức đã lĩnh hội được, mà chủ yếu đánh giá xem học sinh có năng lực sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không Nói cách khác, người học phải có khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một vấn đề xuất hiện, hoặc
có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp
Do bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học
Lí do cần DHTH các môn học trong nhà trường còn xuất phát từ chính yêu cầu phát triển của khoa học Các nhà khoa học cho rằng khoa học hiện nay đã chuyển từ giai đoạn phân tích cấu trúc lên giai đoạn tổng hợp hệ thống làm xuất hiện các liên ngành (như sinh thái học, tự động hoá ) Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm sao cho tri thức của HS xác thực và toàn diện Quá trình dạy học phải làm sao liên kết, tổng hợp hoá các tri thức, đồng thời thay thế "tư duy cơ giới cổ điển" bằng "tư duy hệ thống" Nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho học sinh các khái niệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽ hình thành ở học sinh các "suy luận theo kiểu khép kín", sẽ hình thành những con người "mù chức năng", nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các kiến thức đó hàng ngày
Trang 14 Tận dụng vốn kinh nghiệm của người học
Trong dạy học tích hợp, người ta tìm cách hòa nhập các hoạt động của nhà trường vào thực tế cuộc sống Do gắn với bối cảnh thực tế và gắn với nhu cầu người học cho phép kéo theo những ích lợi, sự tích cực và sự chịu trách nhiệm của người học Khi việc học được đặt trong bối cảnh phức hợp, gần gũi với thực tiễn của người học sẽ cho phép tạo ra niềm tin ở người học, giúp họ tích cực huy động và tận dụng vốn kinh nghiệm của mình Chính điều đó sẽ tạo điều kiện cho học sinh đưa ra được những lập luận có căn cứ, có lí lẽ, qua đó họ biết được vì sao hoạt động học diễn ra như vậy – đó là cơ hội để phát triển siêu nhận thức ở người học Có nghĩa, người học
có những đáp ứng tích cực với các hoạt động cần thực hiện, hiểu rõ mục đích các hoạt động, thậm chí là kết quả cần đạt được Khi đó, hoạt động học sẽ trở thành nhu cầu tự thân và có ý nghĩa
Tinh giản kiến thức, tránh sự lặp lại, góp phần giảm tải cho học sinh
Việc thiết kế các nội dung học mang tính tích hợp, ngoài việc tạo điều kiện cho
việc thực hiện tích hợp mục tiêu của hai hay nhiều môn học Dạy học tích hợp còn:
- Cho phép thiết kế các nội dung học để tránh sự lặp lại cùng một kiến thức ở các môn học khác nhau, do đó, tiết kiệm thời gian khi tổ chức hoạt động học, giảm tải cho
HS trong học tập như hiện nay mà vẫn đảm bảo học tích cực, học sâu
- Tạo điều kiện tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng, tận dụng các nguồn tài nguyên cũng như sự huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục Bên cạnh những lợi ích thì dạy học tích hợp cũng đặt ra những thách thức:
- Tiết kiệm thời gian cho việc thực hiện các hoạt động dạy học tích hợp thì lại đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, công sức cho việc xây dựng nội dung học và thiết kế các hoạt động học trong dạy học tích hợp Dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên phải có đầu
óc cởi mở, mềm dẻo và sẵn sàng đối đầu với nguy cơ Giáo viên cần tình nguyện đầu
tư thời gian cần thiết cho việc thiết kế các hoạt động dạy học và sẵn sàng tiếp nhận các nguồn thông tin đến từ các môn học khác cũng như các nguồn thông tin mới của các vấn đề thực tiễn, xã hội và khoa học
- Dạy học tích hợp có thể phá vỡ cấu trúc lôgic của môn học Do vậy, tổ chức dạy học tích hợp xung quanh các chủ đề vẫn cần có sự hệ thống hóa kiến thức giúp người học vừa thấy được kiến thức theo chiều dọc của sự phát triển lôgic môn học, vừa thấy được kiến thức theo chiều ngang trong mối quan hệ với các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác, ví dụ, kiến thức vật lí với kiến thức của hóa học hay sinh học
- Dạy học tích hợp không loại bỏ sự cần thiết của tình huống “dạy trực tiếp kiến thức của một môn học” nhằm phát triển sự làm chủ kĩ năng cơ bản hoặc tiếp nhận một
Trang 15số kiến thức, cho phép giáo viên và học sinh giải tỏa sức ép của việc tiếp nhận phức hợp các kiến thức
1.1.3 Đặc trưng của dạy học tích hợp
DHTH hướng tới việc tổ chức các hoạt động học tập, trong đó HS học cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng trong những tình huống có ý nghĩa gần với cuộc sống Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức của HS từ các môn học khác nhau đựợc huy động và phối hợp với nhau, tạo thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó
Trong DHTH, người học được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế,
họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực hành Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành
DHTH có các đặc trưng chủ yếu sau: làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa, bằng cách gắn quá trình học tập với cuộc sống hằng ngày, làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt; sử dụng kiến thức của nhiều môn học và không chỉ dừng lại
ở nội dung các môn học
Trang 16Bảng 1.2: Dạy học tích hợp và dạy học các môn học riêng rẽ
Dạy học tích hợp Dạy học một môn
Mục
tiêu
Phục vụ cho mục tiêu chung của một số nội
dung thuộc các môn khác nhau
Phục vụ cho mục tiêu riêng rẽ của từng môn học
Mục tiêu rộng, ưu tiên các mục tiêu chung
hướng đến sự phát triển năng lực
Mục tiêu hạn chế hơn, chuyên biệt hơn (thường là các kiến thức và kĩ năng của môn học)
Tổ chức
dạy học
Xuất phát từ tình huống kết nối với lợi ích
và sự quan tâm của học sinh, của cộng đồng,
liên quan tới nội dung của nhiều môn học
Xuất phát từ tình huống liên quan tới nội dung của một môn học
Hoạt động học thường xuất phát từ vấn đề
mở cần giải quyết hoặc một dự án cần thực
hiện Việc giải quyết vấn đề cầu viện vào
các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học
khác nhau
Hoạt động học thường được cấu trúc chặt chẽ theo tiến trình đã dự kiến (trước khi thực hiện hoạt động)
Trung
tâm của
việc dạy
Nhấn mạnh đặc biệt đến sự phát triển năng
lực và làm chủ mục tiêu lâu dài như các
phương pháp, kĩ năng và thái độ của người
quả của
việc học
Dẫn đến việc phát triển phương pháp, thái
độ và kĩ năng, trí tuệ cũng như tình cảm
Hoạt động học dẫn đến việc tích hợp các
kiến thức
Dẫn đến việc tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mang đặc thù của môn học
Trang 171.1.4 Các mức độ (các kiểu) tích hợp trong dạy học
Nhiều nhà khoa học đã phân chia các mức độ tích hợp theo thang tăng dần như
sơ đồ
Hình 1.2 Các mức độ dạy học tích hợp
Tích hợp nội môn (tích hợp trong một môn học)
Là tích hợp trong nội bộ môn học, một số nội dung của các phân môn trong môn học đó được tích hợp lại với nhau theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định
Ví dụ: Tích hợp nội dung của cơ học, nhiệt học và điện từ học trong phần chuyển động của hạt mang điện trong môn Vật lý; Tích hợp giữa các phân môn Đại số, Hình học và Lượng giác trong môn Toán tại một số thời điểm Chẳng hạn như: ứng dụng lượng giác trong hình học (khi tính diện tích, thể tích); ứng dụng lượng giác trong đại số, như biến đổi, chứng minh một số bất đẳng thức; ý nghĩa hình học và cơ học của đạo hàm
Tích hợp đa môn (lồng ghép, liên hệ)
Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn học Ở mức
độ đa môn (lồng ghép, liên hệ), các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên, giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp
Tích hợp đa môn có thể thực hiện thuận lợi ở
nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học Các chủ đề
gắn với thực tiễn, gắn với nhu cầu của người học sẽ có
nhiều cơ hội để tổ chức dạy học lồng ghép Mô hình
xương cá (Hình 1.2) thể hiện quan hệ giữa kiến thức Hình 1.3 Sơ đồ xương cá
Nội môn
Đa môn
Liên môn
Xuyên môn
Trang 18của một môn học (trục chính) với kiến thức của các
môn học khác (các nhánh)
Ví dụ:
- Khi dạy học môn Vật lý lớp 11 bài “Dòng điện trong chất điện phân” có thể tích
hợp lồng ghép nội dung: Viết phương trình phản ứng ở các điện cực, cơ chế hóa học của hiện tượng dương cực tan, ứng dụng mạ điện (môn Hóa học), giáo dục bảo vệ môi trường: chất thải của mạ điện
- Khi dạy học môn Sinh học lớp 11 bài “Quang hợp”, có thể lồng ghép nội dung
kiến thức: Sự tạo thành tinh bột trong cây xanh (môn Hóa học), hiệu ứng nhà kính
(môn Vật lý), giáo dục bảo vệ môi trường về tác dụng của cây xanh với sự sống
Từ cách tiếp cận đa môn này, GV không cần phải thay đổi nhiều lắm nội dung giảng dạy bộ môn của mình Nội dung và đánh giá vẫn nguyên theo bộ môn Đây là mức độ/kiểu mà giáo viên trung học phổ thông vận dụng chủ yếu khi thực hiện quan điểm dạy học tích hợp hiện nay
Tích hợp liên môn
Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần đến các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra Các chủ đề khi
đó được gọi là các chủ đề hội tụ
Với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa các môn
học trong chủ đề được hình dung qua sơ đồ mạng nhện
(Hình 1.3) Như vậy, nội dung các môn học vẫn được
phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống, mặt khác,
vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác
nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn Hình 1.1 Sơ đồ mạng nhện
Việc liên kết kiến thức các môn học để giải quyết một tình huống cũng có nghĩa
là các kiến thức được tích hợp ở mức độ liên môn học
Có hai cách thực hiện mức độ tích hợp này:
Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kì, cuối năm
hoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đề chung (của các môn khoa học tự nhiên hoặc các môn khoa học xã hội) và các thành tựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp học sinh xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội
Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở những
thời điểm đều đặn trong năm học Nói cách khác, sẽ có bố trí xen một số nội dung tích
Trang 19hợp liên môn vào chỗ thích hợp nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau
Tích hợp xuyên môn (hòa trộn)
Mức độ tích hợp xuyên môn (hay hòa trộn) là mức độ cao nhất của dạy học
tích hợp Việc dạy học xuất phát từ các vấn đề/ngữ cảnh cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với HS mà không xuất phát từ các khoa học tương ứng với môn học Điều quan tâm nhất ở đây là sự phù hợp đối với HS Điểm khác duy nhất so với liên môn là ở chỗ chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của HS
Hình 1.4 Mức độ tích hợp xuyên môn
Ở mức độ này, tiến trình dạy học là tiến trình “không môn học”, có nghĩa, nội
dung kiến thức trong bài học không thuộc riêng về một môn học nhưng lại thuộc về nhiều môn học khác nhau, do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy
ở các môn học riêng rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học
Trong quá trình thiết kế, sẽ có những chủ đề, trong đó, các năng lực cần hình thành được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ các nội dung của chủ đề mà không phải chỉ là một nội dung nào đó của chủ đề Các năng lực này chính là các năng lực được hình thành xuyên môn học Ví dụ, với các môn khoa học tự nhiên, đó là năng lực thực hiện các phép đo và sử dụng công cụ đo, năng lực khoa học
Ở mức độ này, cần sự hợp tác của các giáo viên đến từ các môn học khác nhau
Để lựa chọn và xây dựng nội dung học, giáo viên phải có hiểu biết sâu sắc về chương trình và đặt chương trình các môn học cạnh nhau để so sánh, để tôn trọng những đặc trưng nhằm dẫn học sinh đạt tới mục tiêu dạy học xác định Việc phân tích mối quan
hệ giữa các môn học khác nhau trong chủ đề cũng như sự phát triển các kiến thức trong cùng môn học phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp và hợp tác
1.1.5 Các nguyên tắc tích hợp trong dạy học
Tích hợp là sự kết hợp có hệ thống các kiến thức có liên quan (hay còn gọi là kiến thức cần tích hợp) và kiến thức các môn học thành một nội dung thống nhất, gắn
Ngữ cảnh cuộc sống thực
Dựa vào vấn đề
HS là người đưa ra vấn đề
Trang 20bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đưa vào bài học Như vậy cần phải căn cứ vào nội dung bàihọc để lựa chọn kiến thức tích hợp
có liên quan
Nội dung các kiến thức tích hợp chứa đựng trong các bài học, các môn học khác nhau Do đó, GV phải xác định được nội dung cần tích hợp trong kiến thức môn học, biết cách lựa chọn, phân loại các kiến thức tương ứng, phù hợp với các mức độ tích hợp khác nhau để đưa vào bàigiảng, ngoài ra do thời gian một giờ giảng trên lớp có hạn, nên GV phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất để dạy học theo cách tích hợp, còn phần kiến thức nào dễ hiểu nên để HS tự đọc SGK hoặc các tài liệu tham khảo
Việc đưa ra các kiến thức tích hợp vào kế hoạch dạy học cần dựa vào các nguyên tắc
sư phạm sau:
- Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, như không biến bài dạy sinh
học thành bài giảng toán học, vật lí, hoá học hay thành bài giáo dục các cấn đề khác (Môi trường, dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS…),nghĩa là các kiến thức được tích hợp vào phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phảicó mối quan hệ logic chặt chẽ trong bài học
- Khai thác nội dung cần tích hợp một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng: Theo nguyên tắc này, các kiến thức tích hợp được đưa vào bài học phải có hệ
thống, được sắp xếp hợp lí làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, không thích hợp với trình độ của HS, không gây quá tải, ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính
- Đảm bảo tính vừa sức: DHTH phải phát huy cao độ tính tích cực và vốn sống
của HS Các kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải làm cho bài học rõ ràng và bài học tường minh hơn, đồng thời tạo hứng thú cho người học
Trang 21Để xác định được chủ đề DHTH, người học có thể xuất phát từ”
- Rà soát chương trình và sách giáo khoa các môn học hiện hành (trước hết là môn mà cá nhân đảm trách) để tìm nội dung kiến thức gần nhau, giao nhau
- Xuất phát từ các đối tượng tự nhiên quen thuộc, gắn với thực tiễn cuộc sống xung quanh, gắn với địa phương
- Xuất phát từ các vấn đề thực tế xung quanh đang đối mặt như: ô nhiễm môi trường, nóng lên toàn cầu, tai nạn giao thông…
- Đọc các tài liệu chuyên ngành có tính tích hợp: Thổ nhưỡng, lý sinh, y sinh…
Từ đó, thảo luận, lựa chọn chủ đề Kết thúc bước này là đặt tên chủ đề, tên chủ đề cần ngắn gọn, khái quát (thể hiện tính tích hợp, liên môn) và hấp dẫn học sinh
Cách trình bày trong bước lựa chọn chủ đề
Để trình bày bước 1 (trong bản thiết kế chủ đề dạy học), người học có thể trình theo cấu trúc sau:
Trang 22- Nêu ngắn gọn về ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ đề trong đời sống/trong học tập của học sinh;
- Nêu ra các câu hỏi/vấn đề cần quan tâm liên quan đến chủ đề;
- Trình bày sự giải quyết các vấn đề đó trong các đơn môn học hiện nay, chỉ ra những vấn đề mà chương trình hiện nay chưa giải quyết được hoặc chưa giải quyết trọn vẹn Từ đó thấy được tính hợp lý, cần thiết của chủ đề tích hợp sắp xây dựng
Bước 2: Xác định các vấn đề cần giải quyết
Là việc đưa ra các câu hỏi xoay quanh chủ đề (các vấn đề cần giải quyết của chủ đề) có tính vừa sức, gắn với vốn kinh nghiệm của học sinh Các câu hỏi phải liên quan hữu cơ với chủ đề cần nghiên cứu Nó bao gồm các câu hỏi khái quát – câu hỏi bậc 1 (là câu hỏi liên quan trực tiếp đến chủ đề) và các câu hỏi hỏi bộ phận – câu hỏi bậc 2 (là câu hỏi làm rõ thêm các nội dung của từng câu hỏi khái quát)
Kỹ thuật xác định các vấn đề cần giải quyết:
- Sử dụng kỹ thuật 5W1H đề sơ bộ đưa ra các vấn đề chính/câu hỏi khái quát của chủ đề thông qua khai thác 6 câu hỏi xung quanh một hiện tượng, quá trình là: What? When? Where? Who? Why? How?
- Sử dụng kỹ thuật bản đồ tư duy để phát triển thêm các ý tưởng (xây dựng thêm các câu hỏi khái quát) và các vấn đề bộ phận/câu hỏi bộ phận, trong đó có thể tập trung vào các câu hỏi về tính ứng dụng kiến thức của chủ đề
Kết thúc của bước 2 là GV cần đưa ra được các vấn đề cần giải quyết xung quanh chủ đề (được thể hiện dưới dạng các câu hỏi khái quát hoặc khái quát và bộ phận)
Hình 1.6 Mô tả cách xây dựng các vấn đề trong chủ đề
Trang 23Bước 3: Xác định mạch phát triển kiến thức và địa chỉ tích hợp
Từ các vấn đề/câu hỏi đã xác định ở bước 2, GV thiết lập sơ bộ mạch phát triển kiến thức trong chủ đề (chính là bước xác định sơ bộ các nội dung dạy học của chủ đề) Trong đó, tương ứng với các câu hỏi khái quát là các nội dung chính, tương ứng với các câu hỏi bộ phận là các nội dung cụ thể Tiếp đó, giáo viên phải chỉ ra được địa chỉ tích hợp (các kiến thức trên nằm ở môn học nào, lớp nào, bài học nào, mục nào, thời lượng bao nhiêu trong chương trình hiện hành)
Mẫu trình bày bước 3 thể hiện qua bảng 1.2
Bảng 1.2 Mẫu trình bày sơ bộ mạch phát triển kiến thức và địa chỉ tích hợp
Tên chủ đề Các nội dung
chính/chủ đề bậc 1
Nội dung 1.1
Nội dung 1.2
……
Môn, lớp, bài, mục…
………
Trang web, báo…
…phút/ tiết
2 (Tên nội dung 2)
n (Tên nội dung n)
đề đã xây dựng có phải là tích hợp liên môn hay không
Trang 24Bước 4 Xác định mục tiêu dạy học
Để xác định mục tiêu chủ đề tích hợp cần rà soát xem kiến thức cần dạy, kĩ năng cần rèn luyện thông qua chủ đề tích hợp ở từng môn là những kiến thức, kĩ năng
nào Đồng thời căn cứ vào cấu trúc các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của môn khoa học tự nhiên để xác định các năng lực của học sinh (đặc biệt là các năng lực
xuyên môn) có thể được hình thành và phát triển thông qua chủ đề Việc xác định mục tiêu này đôi khi diễn ra đồng thời với việc xác định các nội dung, các hoạt động học
tập của chủ đề tích hợp (cách tiếp cận hỗn hợp)
Mục tiêu chủ đề tích hợp sẽ quyết định xem chủ đề đó tích hợp kiến thức, kĩ năng của môn nào Nếu trong mục tiêu chỉ có những kiến thức học sinh đã được học, những kĩ năng đã thành thục của một môn nào đó thì không thể coi có sự tích hợp của môn này vào trong chủ đề
Các lĩnh vực viết mục tiêu dạy học:
- Kiến thức: GV nên trình bày các kiến thức theo trật tự từng môn học liên quan đến chủ đề
- Kĩ năng ;
- Tình cảm, thái độ;
- Năng lực: Gồm các năng lực chung và năng lực chuyên biệt, mỗi chủ đề nên chọn một hay vài năng lực đặc trưng mà chủ đề sẽ hình thành và phát triển được cho học sinh Các năng lực phổ biến có thể là: năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tự học, năng lực hợp tác…
Bước 5 Xây dựng nội dung các kiến thức cụ thể (thông tin trợ giúp)
Trong một chủ đề HDTH liên môn, các kiến thức thường nằm ở các môn học khác nhau, ở các lớp khác nhau, có khi là các kiến thức ngoài sách giáo khoa, nên đòi hỏi giáo viên phải xây dựng/biên tập lại một cách cô đọng từng kiến thức cụ thể như là một tài liệu giáo khoa liên môn để cung cấp thông tin trợ giúp giáo viên và học sinh trong học tập từng nội dung của chủ đề
Các yêu cầu trong trình bày các nội dung kiến thức cụ thể:
- Các kiến thức (thông tin) được trình bày theo trật tự từng nội dung của chủ đề (Nội dung 1, nội dung 2, …)
- Trình bày kiến thức một cách cô đọng, ngắn gọn (dạng chữ, hình ảnh, đồ thị, bảng biểu)
Trang 25- Phải có nguồn trích dẫn thông tin rõ ràng và tin cậy (các báo, trang web uy tín, ngày truy cập…)
Để thực hiện tốt bước này, GV có thể phối hợp các giáo viên bộ môn có liên quan đến chủ đề cùng xây dựng các nội dung nhằm đảm bảo tính chính xác khoa học
và sự phong phú của chủ đề
Bước 6: Xây dựng các nội dung hoạt động dạy học và đánh giá
Từ các mục tiêu, mạch phát triển nội dung kiến thức của chủ đề, khả năng nhận thức của HS và điều kiện ở địa phương, GV thiết kế các nội dung hoạt động dạy học
cụ thể và đánh giá Cấu trúc của bước này được thể hiện qua hình 1.10
Hình 1.7 Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy học và đánh giá
Bước 6.1 Xây dựng các nội dung dạy học cụ thể, mỗi nội dung chính sẽ
được GV xây dựng thành một hoặc vài hoạt động dạy học nhằm chiếm lĩnh các nội dung kiến thức và phát triển năng lực theo mục tiêu đặt ra Các hoạt động trong DHTH của học sinh thường là:
- Tiến hành thí nghiệm;
- Đọc, tìm kiếm và xử lý thông tin (cho đoạn văn bản, yêu cầu xử lý thông tin thông qua trả lời các câu hỏi)
- Quan sát (thí nghiệm, mô hình, Clip… về chủ đề)
- Xây dựng mô hình sản phẩm Hoạt động này thường gắn với nhóm nhiệm vụ vận dụng kiến thức mới mà HS vừa thu nhận được từ 3 hoạt động trên Hoạt động thường đi liền với dạy học dự án (mẫu nhiệm vụ có thể thiết kế bám theo mẫu yêu cầu của dự án)
Trang 26Các kiểu dự án thường được sử dụng trong dạy học ở THPT là: Chế tạo một sản phẩm thực, một mô hình sản phẩm; điều tra, khảo sát một vấn đề nào đó; đề xuất các giải pháp, một quy trình sản xuất (mô hình lý thuyết); xây dựng một trang web, 1 bài thuyết trình/trình chiếu, 1 poster (bài áp phích) tuyên truyền về nội dung nào đó gắn với chủ đề
Để phát triển tối đa các năng lực của HS, giáo viên có thể thiết kế các các hoạt động dạy học thành các phiếu học tập/nhiệm vụ học tập Tùy theo đặc điểm các kiến thức cần hình thành, các nhiệm vụ cần thực hiện, có thể vận dụng các phương pháp và
kỹ thuật dạy học tích cực (dạy học Dự án, dạy học theo Góc/Trạm, dạy học giải quyết vấn đề …., kỹ thuật mảnh ghép, khăn trải bàn, bản đồ tư duy, kỹ thuật 3x2…) để học sinh tự lực thực hiện các nhiệm vụ, qua đó hình thành nên các năng lực theo các mục tiêu đề ra
Mẫu phiếu xây dựng một hoạt động dạy học, thường gồm:
Bước 6.2 Xây dựng nội dung kiểm tra, đánh giá
Căn cứ vào mục tiêu chủ đề đã đưa ra, nội dung dạy học đã thực hiện, GV soạn
hệ thống câu hỏi kiểm tra, đánh giá kiến thức, năng lực cần hình thành của HS sau khi học xong chủ đề Câu hỏi có thể ở dạng câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm, thực hiện
1 thí nghiệm về nhà/thiết kế một bài trình bày….Cần hạn chế câu hỏi mức độ biết, tăng cường các câu hỏi thể hiện năng lực HS (giải thích, chứng minh, thiết kế….)
Chú ý: Sau khi xây dựng xong bước 6, GV có thể thảo luận với nhóm GV để rà
soát, điều chỉnh và cấu trúc lại các nội dung chủ đề cho phù hợp đảm bảo tính liên môn trong các nội dung kiến thức, tính khả thi của chủ đề (về mặt thời gian, về trình
độ HS và cơ sở vật chất)
Tên nội dung chính/nội dung bậc 1
1 Tên hoạt động: ……… (… phút)
2 Mục tiêu hoạt động: (Nhằm đạt gì)
3 Vật liệu: gồm những gì? (liệt kê các dụng cụ cần dùng)
4 Cách thức tiến hành và nhiệm vụ: bước 1, bước 2… (với
các nhiệm vụ thí nghiệm)
5 Kết quả và thảo luận
6 Kết luận: Về kiến thức, kỹ năng, năng lực
Trang 27Bước 7 Lập kế hoạch dạy học
Dựa trên các nội dung dạy học cụ thể đã xây dựng ở bước 6, GV lập kế hoạch dạy học chủ đề đã xây dựng
Trình tự của bước này là:
- Thảo luận để xác định đối tượng dạy học của chủ đề: HS lớp nào? Dạy thời điểm nào? GV bộ môn nào sẽ dạy (chính)? Thời lượng dành cho chủ đề là bao nhiêu?
- Xác định phương pháp dạy học chính xuyên suốt chủ đề;
- Lập kế hoạch dạy học của chủ đề
Mẫu kế hoạch dạy học 1 chủ đề gồm các nội dung cơ bản, thể hiện qua bảng 1.3
Bảng 1.3 Mẫu kế hoạch dạy học 1 chủ đề tích hợp
Quan sát, thảo luận để xác định chủ
đề
- Ví dụ: Chiếu video/ quan sát hình ảnh/đưa ra
tượng/tình huống liên quan đến chủ đề …
Xác định được chủ
đề học tập,
và các nội dung chính
… phút HĐ2: Hình thành nội
dung kiến thức 1
Cần xác định PPDH, KTDH là gì?
Làm việc nhóm/cá nhân với các phiếu học tập số …
được …
(bám mục tiêu đã viết)
… phút HĐ3: Hình thành nội
dung kiến thức 2
Trang 28Cần xác định PPDH, KTDH là gì?
… phút HĐ n+1: Vận dụng
kiến thức
(Nội dung về ứng dụng kiến thức, liên hệ kiến thức với thực tiễn thường áp dụng DH dự án)
… phút HĐ n + 2: Củng cố,
giao nhiệm vụ về nhà
Bước 8: Tổ chức dạy học và đánh giá
Tổ chức dạy học chủ đề theo kế hoạch dạy học đã lập Sau khi tổ chức dạy học chủ đề, giáo viên cũng cần đánh giá các mặt như:
- Tính phù hợp thực tế dạy học với thời lượng dự kiến
- Mức độ đạt được mục tiêu học tập qua đánh giá các hoạt động học tập
- Sự hứng thú của học sinh với chủ đề, thông qua quan sát và qua phỏng vấn
- Mức độ khả thi với điều kiện cơ sở vật chất
Việc đánh giá tổng thể chủ đề giúp giáo viên điều chỉnh, bổ sung chủ đề cho phù hợp hơn Mặt khác, đánh giá học sinh cho phép giáo viên có thể biết được mục tiêu dạy học đề ra có đạt được hay không Mục tiêu dạy học có thể được thực hiện thông qua các hoạt động dạy học và thông qua các công cụ đánh giá
1.2 Các phương pháp và kỹ thuật dạy học
1.2.1 Dạy học dự án
Dạy học Dự án (Project Based Learning) là một hình thức tổ chức dạy học tích cực trong đó GV hướng dẫn HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả [16]
Trang 29Trong quá trình dạy học dự án, học sinh có thể lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua việc đóng một hoặc nhiều vai (người giải quyết vấn đề, người đưa ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo) nhằm giải quyết vấn đề hay bài tập tình huống gắn liền với thực tiễn Kết quả dự án là sản phẩm thực hiện được của học sinh
Đặc điểm của dạy học dự án:
- Mang tính phức hợp: Dạy học Dự án yêu cầu HS sử dụng các kiến thức của
nhiều môn học khác nhau và có liên quan đến nhiều lĩnh vực để giải quyết vấn
đề
- Định hướng sản phẩm: Kết quả của dự án phải là một sản phẩm có thể công
bố, trưng bày được: bài báo, tranh ảnh, các sản phẩm thật có thể vận hành được
- Định hướng thực tiễn: Ý tưởng (chủ đề) của dự án phải xuất phát từ thực tế, từ
các vấn đề cuộc sống mà các em gặp, con người phải đối mặt trong thực tại và kết quả dự án phải là các sản phẩm có thể giới thiệu được, sử dụng được nhằm phục vụ thực tiễn
- Định hướng hứng thú người học: Nội dung học tập gứn với sở thích và nhu
cầu của học sinh, trong nhiều trường hợp ý tưởng của dự án xuất phát từ phía người học Học sinh được tham gia chọn đề tài, nội dung phù hợp với khả năng
và hứng thú của cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học còn được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu và vận dụng thực tiễn vào trong thực tiễn thực hành, thông qua đó
có thể kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng của học sinh
- Tính tự lực cao của học sinh: học sinh cần tham gia tích cực và tự lực vào các
giai đoạn của quá trình dạy học Điều này cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm và sáng tạo của người học
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập được thực hiện theo nhóm, trong đó có
sự cộng tác và phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm
Thông qua tổ chức dạy học Dự án, học sinh không những hiểu sâu những kiến thức được học từ các môn học mà biết vận dụng kết hợp các kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ có thực, đồng thời hình thành những kĩ năng sống cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, từ đó hình thành nên năng lực cho bản thân, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Trang 30đề dạy học liên môn
Để trình bày một ý tưởng, tóm tắt một sự kiện, một cuốn sách hoặc bắt đầu nghiên cứu một vấn đề, hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi ví dụ như: WHAT? (Cái gì?), WHERE (Ở đâu?), WHEN (Khi nào?), WHY (Tại sao?), HOW (Như thế nào?), WHO (Ai?)
1.2.3 Kỹ thuật bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (còn được gọi là lược đồ tư duy hay sơ đồ tư duy) là một cách trình bày rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề bằng hình ảnh, màu sắc, các từ khóa và các đường dẫn Bản đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề
Trang 31CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN “MẮT – NHỮNG
ĐIỀU CẦN BIẾT” – CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 THPT
2.1 Lựa chọn chủ đề
2.1.1 Cách xác định chủ đề
Tầm quan trọng của chủ đề:
Mắt hay còn gọi là cơ quan thị giác ngoài chức năng thẩm mỹ còn có một chức
năng quan trọng khác là tiếp nhận hình ảnh giúp con người nhận thức th giới bên ngoài Nhờ đôi mắt, người ta có thể đi lại, sinh hoạt được dễ dàng Mắt giúp con người có thể nhận thức được các mối nguy hiểm từ xa, trước khi sờ thấy, nghe thấy hoặc thậm chí ngửi thấy Nhờ có mắt, người ta có thể biết được hình dạng của đồ vật, ước lượng được kích thước và một số tính chất của đồ vật trước khi sờ tay vào đồ
vật Người ta thường ví “mắt là cửa sổ tâm hồn”
2.1.2 Sự trình bày ở các phân môn:
Bảng 1.1: Sự trình bày ở các phân môn
Ở kiến thức Vật Lí Ở kiến thức sinh học Chưa được đề cập Mắt là một hệ quang học
được xem là một thấu
Tật loạn thị phổ biến
Để khắc phục có thể sử dụng thuốc điều trị hay bắn lazer khắc phục
Ô nhiễm môi trường, không khí, mất an toàn vệ sinh thực phẩm…dẫn tới nguy cơ mắc các bệnh, tật
về mắt
2.2 Xác định các vấn đề cần giải quyết
- Sử dụng kỹ thuật 5W1H và bản đồ tư duy
1 Mắt là gì? Mắt được cấu tạo như thế nào?
2 Vì sao ta có thể nhìn thấy một vật?
3 Sự tạo ảnh trên màng lưới như thế nào?
4 Hiện nay mắt thường mắc các tật gì? Khắc phục như thế nào?
5 Hiện nay mắt thường mắc các bệnh gì? Chữa trị như thế nào?
6 Làm thế nào để bảo vệ được đôi mắt luôn khỏe đẹp?
Trang 32Hình 2.1: Sơ đồ tư duy các vấn đề về Mắt
Cấu tạo quang học
Cấu tạo sinh học
Vật Lí 11 Cơ Bản – Bài
31 : Mắt – Mục I Vật Lí 9 – Bài 47+48 : Mắt + Sự tạo ảnh trong máy ảnh
Sinh Học 8 – Bài 49:
Cơ quan phân tích thị giác – Mục II
Sự tạo ảnh ở màng lưới Sinh Học 8 – Bài 49 :
Cơ quan phân tích thị
Trang 33Mắt nhìn
vật như thế
nào? Điều tiết mắt, góc trông
vật, hiện tượng lưu ảnh
giác – Mục 3-II Vật Lí 9 – Bài 47 : Mắt
*Nguyên nhân
*Triệu chứng
*Cách
khắc phục
Sinh Học 8 – bài 50 –
Vệ sinh mắt – Mục I 1,2
-Vật Lí 9 – Bài 49 : Mắt cận và Mắt lão
Bệnh đục thủy tinh thể
Bệnh đau mắt hột
*Định nghĩa
*Nguyên nhân
*Dấu hiệu
*Cách chữa bệnh
Sinh học 8–bài 50: Vệ sinh mắt – Mục II Tài liệu ngoài
Trang 34Mục III - Bài 44 SGK Hóa Học 12
Tài liệu ngoài
- Phát triển khả năng phân tích thuật ngữ trong các cơ chế hoạt động của các bộ phận của mắt
-Kiến thức:
+ Trình bày được cấu tạo quang học, cấu tạo sinh học của mắt
+ Trình bày được các
cơ chế hoạt động của Mắt
+ Nêu được định nghĩa
sự điều tiết, các điểm cực cận, điểm cực viễn, khoảng cực cận, khoảng cực viễn, năng suất phân li và hiện tượng lưu ảnh
+ Nêu được cơ chế mắt nhìn thấy một vật + Nêu được các bệnh, tật của mắt
+ Nêu được cách bảo
vệ đôi mắt và cách chữa
2 NL tự
học
- Thông qua các tài liệu Gv cung cấp
có thể khai thác được thông tin phân tích, so sánh các kiến thức về Vật Lí - Sinh Học - Hóa Học: phân tích các cấu tạo, cơ chế, quá trình nhìn và phân biệt được vật của mắt, các bệnh của mắt và ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài với mắt
Trang 35- Phát triển tư duy phát hiện ý tưởng khoa học qua kiến thức tích hợp liên môn
- Hình thành năng lực tìm tòi mở rộng nhằm áp dụng các kiến thức của chủ đề vào thực tiễn
trị, điều chỉnh khi mắt mắc phải các bệnh, tật
-Thái độ:
+ Ý thức phòng tránh các bệnh, tật về mắt, bảo vệ và chăm sóc đôi mắt khỏe đẹp để lao động và học tập có ích + Ý thức vận dụng kiến thức học được để giải quyết các vấn đề thực tiễn
Trang 362.5 Xây dựng nội dung các kiến thức cụ thể
2.5.1 Thông tin trợ giúp
Định nghĩa - Cấu tạo
Mắt là cơ quan thị giác thực hiện chức năng nhìn, quan sát, thu nhận lại hình ảnh của sự vật, màu sắc để chuyển vào não xử lý và lưu trữ Mắt là một hệ gồm nhiều môi trường trong suốt tiếp giáp nhau bằng các mặt cầu (chiết suất của các môi trường này có giá trị ở trong khoảng 1,336 1,437)
Mắt người cũng là một phần của não, hình thành từ tuần thứ 3 của thai kỳ phát triển và lồi dần ra phía trước tạo thành võng mạc, thủy tinh thể và các thành phần hoàn chỉnh khác
Cấu tạo bên ngoài
Hình 2.2: Cấu tạo bên ngoài của Mắt + Kết mạc: Là một màng mỏng phủ phần màu trắng của mắt Kết mạc bảo vệ
mắt khỏi nhiễm khuẩn và có các mạch máu
+ Mi mắt: một lớp da với nhiều cơ, bảo vệ cho mắt khỏi dị vật, tránh tiếp xúc với
các yếu tố như nắng, gió và bụi, tránh nhiễm khuẩn Mi mắt cũng có tác dụng dàn đều nước mắt để giữ ẩm cho giác mạc Mi mắt chớp mở mỗi vài giây, có tácdụng như cặp gạt nước kính xe hơi, để loại bỏ bụi bặm bám trên giác mạc
Ðêm ngủ, mi mắt khép kín để giác mạc khỏi bị khô.Viền quanh mi mắt là hai hàng lông mi để ngăn vật lạ bay vào mắt Một hàng lông mày nằm phía trên mắt
ngăn mồ hôi, chất lỏng chảy vào mắt
+ Tuyến lệ: nằm dưới mi mắt trên tiết ra nước mằn mặn để mắt khỏi khô
+ Ống lệ: ống thông với miệng ở góc trong mi mắt Cạnh mi có nhiều tuyến tiết
ra chất nhờn, mồ hôi
Trang 37Cấu tạo bên trong
Hình 2.3: Cấu tạo bên trong của Mắt + Màng giác (giác mạc): là lớp màng cứng trong suốt có tác dụng bảo vệ các
phần tử phía trong và làm khúc xạ các tia sáng chiếu vào mắt
+ Thủy dịch : là chất lỏng trong suốt có chiết suất xấp xỉ bằng chiết suất của nước(1,33),được tiết ra ngòai khi có bụi bẩn bay vào mắt hoặc có cảm xúc (nước mắt)
+ Lòng đen : là màn chắn, ở giữa có lỗ trống (hay con ngươi có đường kính thay
đổi tùy theo cường độ sáng) để điều chỉnh chùm sáng đi vào mắt
+ Thể thủy tinh : cấu tạo bởi các sợi protein trong suốt, bao bọc trong một cái vỏ
chun giãn, là khối chất đặc trong suốt có hình dạng thấu kính hai mặt lồi
+ Dịch thủy tinh : là chất lỏng giống chất keo loãng, lấp đầy nhãn cầu phía sau
thể thủy tinh
+ Màng lưới (võng mạc) : là lớp mỏng tại đó tập trung đầu các sợi thần kinh thị
giác bao gồm 2 loại : tế bào nón tiếp nhận các kích thích ánh sáng mạnh và màu sắc, tế bào que có khả năng tiếp nhận kích thích ánh sáng yếu giúp ta nhìn rõ về ban đêm
Hình 2.4: Cấu tạo màng lưới của Mắt +Điểm vàng (hoàng điểm): nơi cảm nhận ánh sáng rất nhạy, các tế bào nón tập
trung chủ yếu ở điểm vàng, càng xa điểm vàng, số lượng tế bào nón càng ít và chủ yếu là các tế bào que Hoàng điểm bị thoái hóa theo tuổi tác sẽ khiến thị lực