1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các thể loại văn bản trong dạy học tập làm văn ở tiểu học

61 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 713,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn kỹ năng viết các thể loại văn bản trong dạy học phân môn Tập làm văn ở Tiểu học nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn theo đề bài đã cho thuộc các thể loại văn bản khác n

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn phải tiếp xúc, viết nhiều văn bản khác nhau phục vụ các nhu cầu sinh hoạt và học tập Tùy thuộc vào mục đích sử dụng, các văn bản được chia thành nhiều thể loại khác nhau Mỗi thể loại văn bản có chức năng, đặc điểm riêng và cấu tạo khá chặt chẽ Để có thể viết hoặc tiếp nhận văn bản, chúng ta phải có tri thức về các thể loại văn bản và đặc trưng của mỗi thể loại Ngoài các kỹ năng có tính phổ biến chung cho các thể loại văn bản thì một số thể loại văn bản thuộc các phong cách khác nhau lại

có thêm những kỹ năng có tính đặc thù Việc nắm vững các kỹ năng viết các thể loại văn bản được chú trọng đưa vào chương trình dạy học ở bậc Tiểu học

Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản trong đó có kỹ năng viết văn bản Bên cạnh đó, dạy Tiếng Việt phải được xem như là dạy một phương tiện để giao tiếp và một công cụ để

tư duy với mục tiêu hàng đầu là hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học các

kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Các kỹ năng sử dụng tiếng Việt được dạy học thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt

Phân môn Tập làm văn là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học, nhằm hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập ngôn bản trên cơ sở giao tiếp và nhằm mục đích giao tiếp Sách giáo khoa Tiếng Việt đã được đưa vào những kiến thức cơ bản, yêu cầu học sinh làm quen, nhận biết cũng như viết một số thể loại văn bản Điều đó đòi hỏi học sinh phải có hiểu biết về các thể loại văn bản để có thể nhận diện và tiến tới viết văn bản đúng và hay

Rèn kỹ năng viết các thể loại văn bản trong dạy học phân môn Tập làm văn ở Tiểu học nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn theo đề bài

đã cho thuộc các thể loại văn bản khác nhau Mỗi văn bản là kết tinh nhiều mặt của nhiều kỹ năng, năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh được rèn luyện qua

Trang 4

từng lớp học, là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếp nhận được trong quá trình học tập các môn học nói chung Do vậy, bên cạnh việc bồi dưỡng tình cảm, vốn sống,… cho học sinh qua các bài học ở các môn học; giáo viên còn phải chú trọng rèn kỹ năng viết văn bản cho học sinh theo những yêu cầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tư duy của học sinh

Do đó, việc khảo sát các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học để đưa ra một số bài tập bổ trợ nhằm rèn kỹ năng viết văn bản cho học sinh, có thể giúp cho giáo viên Tiểu học nói chung cũng như sinh viên ngành Sư phạm Tiểu học nói riêng có cái nhìn khái quát hơn về các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát các thể

loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học” để nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu

Việc rèn kỹ năng viết văn bản nói chung và viết văn bản cho học sinh Tiểu học nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Sau đây chúng tôi điểm qua một số công trình tiêu biểu:

Lê A – Đinh Thanh Huệ “Tiếng Việt thực hành” NXB Giáo dục, 1997

cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về văn bản như khái niệm, phân loại, các mối quan hệ và sự liên kết nội dung - hình thức trong một văn bản và rèn kỹ năng viết văn bản qua một số bài tập thực hành

Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa “Phong cách học tiếng Việt” NXB

Giáo dục, 1995 đã nêu những vấn đề đặt ra cho phong cách học trong đó chú ý phân biệt các thể loại văn bản như: nghệ thuật, hành chính, khoa học, chính luận, Ngoài ra, các tác giả còn đưa ra một số bài tập nhằm rèn kỹ năng viết các thể loại văn bản Ví dụ: văn bản nghệ thuật, văn bản hành chính,…

Dự án phát triển giáo viên Tiểu học “Tiếng Việt thực hành” NXB Đại

học Sư phạm và NXB Giáo dục, 2007 đã đưa ra những yêu cầu chung của việc viết văn bản, mô tả các đặc điểm chính của các thể loại văn bản, xác định những nét đồng nhất và những nét khác biệt trong việc viết các loại văn bản, hướng dẫn

Trang 5

vận dụng những lí thuyết về văn bản để tạo lập văn bản đúng theo yêu cầu, đưa

ra một số bài tập thực hành nhằm hướng dẫn rèn các kỹ năng viết văn bản đúng phong cách

Nguyễn Trí “Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

ở Tiểu học” NXB Giáo dục, 2009 đã đề cập những kiến thức cơ bản về các thể

loại văn bản và phương pháp tạo lập văn bản Đồng thời tác giả cũng đề cập đến những vấn đề chung của việc dạy các văn bản trong chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học

TS Hoàng Thị Mai “Rèn luyện kỹ năng thực hành tiếng Việt cho học sinh Tiểu học” NXB Hà Nội, 2007 đã bổ sung và nâng cao một số kỹ năng thực

hành tiếng Việt trong đó đề cập đến vấn đề luyện kỹ năng viết văn bản cho học sinh Tiểu học như: luyện kỹ năng viết văn miêu tả, luyện kỹ năng viết văn kể chuyện, luyện kỹ năng viết một số văn bản thông thường Bên cạnh đó, tác giả

đã nêu đặc điểm, bản chất của các thể loại văn bản và hoạt động viết văn bản ở học sinh Tiểu học

Dự án phát triển giáo viên Tiểu học “Dạy lớp 2 theo chương trình Tiểu học mới” Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2007 đã trình bày những điểm mới

về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Trong đó, đề cập đến một số phương pháp dạy nhằm rèn kỹ năng viết văn bản cho học sinh lớp 2

Lê Phương Nga – Nguyễn Trí “Phương pháp học Tiếng Việt 2” và Nguyễn Trí “Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học” NXB Giáo dục, 2001 đã đi sâu vào

nhiều phương diện của việc dạy học Tập làm văn ở Tiểu học, trong đó có đề cập đến một số phương pháp dạy học sinh Tiểu học rèn kỹ năng viết văn bản

Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dạy học Tập làm văn ở Tiểu học Nhìn chung các tác giả đều chú trọng đến việc tìm hiểu nội dung chương trình, phương pháp dạy học Tập làm văn ở các khối lớp cũng như phương pháp dạy một số kiểu bài văn tiêu biểu Tuy nhiên, ở các công trình mới chỉ đề cập đến một cách sơ lược chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học Vì vậy, ở khóa luận này, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu về vấn đề đó Những công trình nghiên cứu

Trang 6

trên đây là tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học

có thể góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn Tập làm văn ở Tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

- Thống kê, phân loại các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học

- Xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn kỹ năng viết văn bản cho học sinh lớp 2

5 Giả thuyết khoa học

Đề tài sẽ là tài liệu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học, góp thêm một phần tài liệu tham khảo

bổ ích cho giáo viên Tiểu học nói chung và sinh viên ngành sư phạm Tiểu học nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

Trang 7

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích, khái quát, nhận xét các thể loại văn bản đã thống kê, phân loại Trên cơ sở đó xây dựng bài tập nhằm rèn kỹ năng viết văn bản cho học sinh lớp 2

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Khảo sát các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học Chương 3: Xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm rèn kỹ năng viết văn bản cho học sinh lớp 2

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của văn bản

1.1.1.1 Khái niệm

- Tác giả Huỳnh Bá Học quan niệm về văn bản như sau: “Theo nghĩa rộng, văn bản được hiểu là vật mang tin được ghi bằng ký hiệu hay bằng n gôn ngữ, nghĩa là bất cứ phương tiện nào dùng để ghi nhận và truyền đạt thông tin từ chủ thể này đến chủ thể khác Theo cách hiểu này, bia đá, hoành phi, câu đối ở đền, chùa; chúc thư, văn khế, thư tịch cổ; tác phẩm văn học hoặc khoa học kỹ thuật; công căn, giấy tờ khẩu hiệu, băng ghi âm, bản vẽ… ở cơ quan đều được gọi là văn bản

Theo nghĩa hẹp, văn bản được hiểu là các tài liệu, giấy tờ, hồ sơ được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế Theo nghĩa này, các loại giấy tờ dùng để quản lý và điều hành các hoạt động của cơ quan, tổ chức như chỉ thị, thông tư, nghị quyết, quyết định,đề án công tác, báo cáo… đều được gọi là văn bản.” [3 5]

- Tác giả Hồ Lê cho rằng:“Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được tạo lập bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn… tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định” [5 16]

- Theo các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở dạng viết, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định.” [9 3]

Qua trên, chúng tôi nhận thấy, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau

về văn bản Các định nghĩa của các tác giả tuy có sự khác nhau nhưng đều có điểm chung là:

- Các văn bản đều được tạo ra bằng ngôn ngữ viết

Trang 9

- Đều có tính trọn vẹn về nội dung và tính hoàn chỉnh về hình thức

- Đều hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định

Như vậy có thể hiểu: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở dạng viết, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định.” [9 3]

1.1.1.2 Đặc trưng của văn bản

Văn bản có các đặc trưng sau:

- Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở dạng viết Sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ gọi là ngôn bản Đó là những lời được nói ra, viết ra khi chúng ta giao tiếp với nhau Như vậy ngôn bản tồn tại dưới hai dạng: dạng nói và dạng viết Nếu ngôn ngữ tồn tại dưới dạng viết, ta có văn bản

- Văn bản là đơn vị của ngôn ngữ được tổ chức từ các câu, thường bao gồm nhiều câu (như một bài văn, một bài thơ, một tiểu thuyết,…) Song vẫn có trường hợp, văn bản chỉ có một câu (một câu châm ngôn, một câu tục ngữ, một khẩu hiệu,… được ghi lại)

- Văn bản mang tính chỉnh thể (hoàn chỉnh) Nó thể hiện ở hai phương diện nội dung và hình thức

Tính chỉnh thể của nội dung được thể hiện ở đặc điểm: nội dung các câu, đoạn, các phần trong văn bản đều tập trung thể hiện chủ đề của văn bản

Mỗi văn bản dù ngắn hay dài cũng trình bày một nội dung trọn vẹn, khiến cho người khác hiểu được một sự việc, một tư tưởng hay một cảm xúc nào đó Mỗi văn bản tập trung vào việc thể hiện một chủ đề Chủ đề này có thể được phát triển qua nhiều chủ đề bộ phận (của từng chương, từng mục, từng đoạn,…), nhưng toàn văn bản phải luôn luôn đảm bảo tính nhất quán về chủ đề Tính trọn vẹn về nội dung và tính nhất quán về chủ đề khiến cho văn bản dù lớn đến đâu cũng mang một tiêu đề chung hoặc có khả năng đặt một tiêu đề

Trang 10

Tính chỉnh thể về hình thức của văn bản được bộc lộ ở kết cấu: tiêu đề, phần mở đầu, phần phát triển, phần kết luận Các chương, phần, mục, đoạn văn trong văn bản được tách bạch rõ ràng, sắp xếp hợp lí và có tính liên kết với nhau

- Mỗi văn bản hướng tới một mục tiêu nhất định Văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp vì vậy mục tiêu của quá trình giao tiếp chính là mục tiêu của văn bản Nó quy định việc lựa chọn chất liệu, việc tổ chức nội dung, lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và tổ chức văn bản Đó chính là đích giao tiếp của văn bản

và trả lời cho câu hỏi: văn bản viết ra nhằm mục đích gì? Viết để làm gì? Mục đích luôn luôn chi phối bản thân hoạt động giao tiếp và sự tổ chức văn bản

Trang 11

thông qua khái quát hóa, trừu tượng hóa để nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan

- Văn bản khoa học sử dụng từ toàn dân, với tính đơn nghĩa (nghĩa đen), trung hòa về sắc thái cảm xúc, dùng nhiều thuật ngữ khoa học, các hệ thống kí hiệu, công thức, sơ đồ, mô hình, bảng biểu,… Khoa học phải thông qua khái quát hóa, trừu tượng hóa để nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan Mục đích của khoa học là phát hiện ra các qui luật tồn tại trong các sự vật, hiện tượng nên càng không thể dừng lại ở những cái gì riêng lẻ, bộ phận, lời nói khoa học loại bỏ yếu tố cá nhân, không có tính chất riêng cá nhân Vì vậy, văn bản khoa học mang tính khái quát, trừu tượng

1.1.2.2 Văn bản chính luận

- Văn bản chính luận là loại văn bản dùng để trình bày, bình luận, đánh giá theo một quan điểm nhất định những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hóa,… Chức năng cơ bản của nó là tác động vào tư tưởng, tình cảm, ý chí, đạo đức,… nhằm thuyết phục, lôi cuốn, động viên người nghe, người đọc

- Văn bản chính luận có các kiểu văn bản: văn bản nghị luận chính trị, văn bản nghị luận kinh tế, văn bản nghị luận văn hóa, văn bản chính luận tổng quát, văn bản chính luận báo chí, văn bản chính luận hội nghị,…

- Văn bản chính luận có các đặc trưng cơ bản là tính bình giá công khai, tính chặt chẽ và tính truyền cảm mạnh mẽ

Văn bản chính luận mang tính bình giá công khai vì người viết sử dụng văn bản chính luận để thể hiện quan điểm chính trị, thể hiện đường lối, thái độ chính trị của mình đối với sự kiện một cách công khai, rõ ràng, trực tiếp

Văn bản chính luận mang tính chặt chẽ bởi hệ thống lập luận được đưa

ra trong diễn đạt và suy luận phải logic, xuyên suốt và chặt chẽ thì mới có thể thuyết phục được người đọc về vấn đề người viết đang đề cập

Văn bản chính luận có tính truyền cảm mạnh mẽ bởi vì để đạt hiệu quả cao, văn bản chính luận cần có diễn đạt hung hồn, sinh động, có sức hấp dẫn; thuyết phục người đọc, người nghe cả bằng lí trí, cả bằng tình cảm và đạo đức

Trang 12

- Văn bản chính luận thường sử dụng vốn từ ngữ thông thường và nhiều

từ ngữ chính trị; câu văn có kết cấu chặt chẽ, chuẩn mực, các câu có sự gắn kết logic trong mạch suy luận Ngoài lớp từ toàn dân, văn bản chính luận còn dung nhiều từ ngữ thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hóa, kinh tế,…

Nó sử dụng một cách đa dạng các kiểu câu Các biện pháp tu từ, phương tiện diễn cảm thường được sử dụng để tăng cường tính thuyết phục, hấp dẫn Về mặt kết cấu, văn bản chính luận có kết cấu mạch lạc, chặt chẽ cách đoạn, các phần tách bạch rõ ràng nhưng lại có liên kết chặt chẽ với nhau

1.1.2.3 Văn bản hành chính

- Là loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức, quản lí, điều hành xã hội và thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân và ngược lại giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với quần chúng Với hai chức năng chủ yếu: chức năng thông báo và chức năng tác động hành động

- Văn bản hành chính bao gồm các loại văn bản: văn bản quy phạm pháp luật (hiến pháp, pháp lệnh, nghị định, thông tư, thông báo, điều lệ, quy chế,…), các văn bản hành chính thông thường (văn thư, đơn từ, báo cáo, tường trình, giấy giới thiệu, hợp đồng, hóa đơn, văn bằng,…), các văn bản ngoại giao (hiệp định, hiệp ước, nghị định thư, công hàm,…), các văn bản quân sự (mệnh lệnh, điều lệnh, kế hoạch quân sự,…)

- Văn bản hành chính mang tính khuôn mẫu, tính chính xác, minh bạch

và tính hiệu lực cao

- Loại văn bản này được trình bày, sắp xếp theo các khuôn mẫu quy định

và trong nhiều trường hợp đã có bản in sẵn, chỉ cần điền nội dung cần thiết

Về từ ngữ, văn bản hành chính dùng nhiều từ ngữ hành chính, đồng thời

từ ngữ mang tính khách quan, tính toàn dân Về cú pháp, nó yêu cầu những cách đặt câu rõ ràng, rành rọt Ngôn ngữ chính xác, đơn nghĩa, trung tính

1.1.2.4 Văn bản báo chí

- Là những văn bản trên báo, đài và bản tin thông báo, phản ánh hoạt động thông tin, dư luận chung của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự Với chức năng chủ yếu là thông báo – tác động

Trang 13

- Văn bản báo chí được chia ra 3 kiểu văn bản: văn bản cung cấp tin tức, văn bản phản ảnh công luận, văn bản thông tin – quảng cáo

- Văn bản báo chí có các đặc trưng như:

Có tính chiến đấu, bởi vì thông tin phải chân thực, khách quan, gây cho người đọc một sự thích thú, một sự lựa chọn, chứ không phải một sự áp đặt chủ quan của người viết

Có tính thời sự, luôn luôn cung cấp thông tin mới nhất hàng ngày trên mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, khi đã có nội dung thông tin là sự thật rồi, thông tin còn cần phải được truyền đi kịp thời, nhanh chóng thì mới có tác dụng

Đạt tính hấp dẫn, khi đó mới khêu gợi được hứng thú của người đọc, người nghe Bởi đối tượng tiếp thu thông tin đông đảo, thời gian nghe, đọc diễn

ra trong khoảnh khắc, nội dung thông tin phong phú, đa dạng

- Văn bản báo có thể sử dụng nhiều từ ngữ thuộc nghề báo, có tính năng động và linh hoạt; đầu đề ngắn gọn, hấp dẫn, đập vào mắt, thâu tóm toàn bộ nội dung Bên cạnh đó, với mỗi thể loại báo khác nhau thì cách trình bày và ngôn ngữ sử dụng cũng khác nhau Mỗi loại văn bản báo chí thường có một mảng từ vựng chuyên dùng, Ví dụ: các văn bản thuộc kiểu cung cấp tin tức thường được kết cấu theo những khuôn mẫu nhất định,thường dùng các danh từ chỉ tên riêng, địa danh thời gian, sự kiện,… để việc truyền đạt và tiếp thu thông tin được dễ dàng, nhanh chóng còn tin tức ở phóng sự điều tra không phải là tin tổng hợp mà thường dùng các động từ, tính từ, miêu tả hoạt động, trạng thái, tính chất của sự vật, sự việc,…

Trang 14

Văn bản nghệ thuật mang tính hình tượng Nó thể hiện ở cách diễn đạt thông qua một hệ thống các hình ảnh, màu sắc, biểu tượng,… của văn bản để người đọc dùng trí thức, vốn sống của mình liên tưởng, suy nghĩ và rút ra những bài học nhân sinh nhất định Nó còn có thể được hiện thực hóa thông qua các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, điệp âm,… Tính hình tượng làm cho ngôn ngữ nghệ thuật trở nên đa nghĩa Tính đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật cũng quan hệ mật thiết với tính hàm súc: lời ít mà ý sâu xa, rộng lớn

Ví dụ: Bài ca dao

”Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chẹn nhị vàng

Nhị vàng, bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

(Ca dao) Hình ảnh “hoa sen” trong bài thơ có ý nghĩa là “bản lĩnh của cái đẹp – ngay cả ở trong môi trường xấu nó vẫn không bị tha hóa Hình ảnh lá xanh, bông trắng, nhị vàng,… cùng với các hình ảnh hôi tanh, bùn,… nói lên cái đẹp hiện thực về loài hoa sen trong đầm lầy

Tính truyền cảm của văn bản nghệ thuật thể hiện ở chỗ làm cho người đọc, người nghe cùng vui buồn, yêu thích, căm giận, tự hào,… như chính người nói (viết)

Ví dụ:

“Gió đưa cây cải về trời Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”

(Ca dao) Bên cạnh đó, văn bản nghệ thuật còn mang tính cá thể bởi vì khi sản sinh

ra một văn bản nghệ thuât, tính hình tượng được hiện thực hóa thông qua một hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật (từ ngữ, câu, đoạn, âm thanh, nhịp điệu, hình ảnh,…) gây cảm xúc cho người đọc Tuy nhiên, việc vận dụng sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật trong mỗi tác phẩm mang dấu ấn của mỗi cá nhân

Trang 15

- Cách diễn đạt và ngôn từ trong văn bản nghệ thuật hết sức đa dạng, giàu hình ảnh, cảm xúc, có nhiều tầng nghĩa Văn bản nghệ thuật sử dụng rộng rãi ngôn ngữ hội thoại và các yếu tố của ngôn ngữ nghề nghiệp, thổ ngữ,… Các từ ngữ được sử dụng có tính hình ảnh, hình tượng và nhịp điệu có tác động thẩm

mĩ tới người đọc

1.1.2.6 Văn bản sinh hoạt hàng ngày

Ngôn ngữ trong văn bản sinh hoạt hàng ngày thể hiện qua các dạng biến thể: sinh hoạt hàng ngày tự nhiên và sinh hoạt hàng ngày văn hóa, chủ yếu ở dạng nói (độc thoại, đối thoại); một số trường hợp có ở cả dạng viết (nhật ký,

hồi ức cá nhân, thư từ, tin nhắn

Văn bản sinh hoạt hàng ngày có một số đặc trưng như:

Mang tính cụ thể: cách thức trình bày ngôn ngữ sinh hoạt cụ thể về hoàn cảnh, về con người và về cách nói năng, từ ngữ diễn đạt với lối nói cụ thể, nổi bật làm cho sự vật không chỉ được gọi tên mà còn được hiện lên với những hình ảnh, âm thanh rõ rệt Nhằm đạt tới tính sáng rõ, chính xác và cụ thể hóa vấn

đề được nói đến Tính cụ thể trong sinh hoạt hàng ngày làm cho giao tiếp trở nên

dễ dàng, nhanh chóng ngay trong trường hợp phải đề cập đến những vấn đề trừu tượng

Tính cảm xúc: việc sử dụng ngôn ngữ mang sắc thái biểu cảm cao, thể hiện tư tưởng tình cảm của con người qua ngôn từ Ngôn ngữ trong sinh hoạt hàng ngày vô cùng cụ thể, sinh động, truyền đạt những tư tưởng, tình cảm hết sức phong phú, đa dạng của con người Vì vậy, lời nói trong các văn bản sinh hoạt hàng ngày mang tính xúc cảm tự nhiên

Tính cá thể: mỗi người thường có vốn từ ngữ riêng thể hiện giọng điệu thái độ, tình cảm, vốn từ ngữ ưa dùng, cách nói và cách biểu đạt của từng cá nhân, Vì vậy, văn bản sinh hoạt hàng ngày thể hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi trao đổi, trò chuyện, tâm sự với người khác

- Ngôn từ được sử dụng trong văn bản sinh hoạt hàng ngày rất đa dạng với nhiều màu sắc, tình cảm khác nhau để thực hiện chức năng giao tiếp

Trang 16

1.2 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học

1.2.1 Vị trí của phân môn Tập làm văn

Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản Nó

có vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì: Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt của các phân môn khác như: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu Thứ hai, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng măt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp Như vậy, phân môn Tập làm văn đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt để giao tiếp, tư duy và học tập

1.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn

Sản phẩm của Tập làm văn là các ngôn bản ở dạng nói và dạng viết Mục đích của Tập làm văn là tạo lập được ngôn bản Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn là giúp cho học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách khác nhau với các thể loại văn bản khác nhau do chương trình quy định Nói cách khác, nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh Năng lực tạo lập ngôn bản được phân tích thành các kỹ năng bộ phận như: xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời dưới dạng nói, viết thành câu, đoạn, bài Vì vậy, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn là cung cấp cho học sinh những kiến thức và hình thành, phát triển ở các em những kỹ năng này Bên cạnh đó, phân môn Tập làm văn còn có nhiệm vụ rèn kỹ năng nói theo các nghi thức lời nói và viết các ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả

Ngoài các kỹ năng chung để viết văn bản, mỗi thể loại văn bản cụ thể đòi

hỏi có những kỹ năng riêng Ví dụ, để viết văn bản miêu tả cần có kỹ năng quan

sát, kỹ năng diễn đạt một cách có hình ảnh; để viết các văn bản kể chuyện cần

có kỹ năng xây dựng cốt truyện và nhân vật, kỹ năng lựa chọn các tình tiết,…

Trang 17

Ngoài nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập ngôn bản, phân môn Tập làm văn còn góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh

Phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng; từ óc quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến khả năng nhào nặn các chất liệu trong đời sống thực để xây dựng nhân vật, cốt truyện Khả năng tư duy logic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn,… Quá trình sản sinh văn bản cũng giúp cho học sinh có kỹ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn

Phân môn Tập làm văn khi dạy các nghi thức lời nói cũng đồng thời dạy cho học sinh cách cư xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng Ngoài ra, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn là tạo cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và vạn vật xung quanh: từ một cơn mưa, một buổi sáng đẹp trời, một em bé bị ngã, một người phụ nữ đang gặp khó khăn đến một chú gà trống, một đồ vật đã từng gắn bó,… Từ đây tâm hồn và nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển

Trong cuộc sống hằng ngày, học sinh Tiểu học luôn phải tiếp xúc với nhiều văn bản khác nhau phục vụ các nhu cầu sinh hoạt và học tập Văn bản chính là phương tiện để giao tiếp và công cụ để tư duy Hiểu và sử dụng được các văn bản chính là các em có được phương tiện để giao tiếp và công cụ để tư duy trong học tâp và sinh hoạt hằng ngày Từ đó, các em sẽ dần dần hình thành được nhân cách và trau dồi vốn sống của mình Vì vậy, văn bản đóng vai trò rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học Với nhiều thể loại khác nhau, ngôn ngữ thể hiện phong phú và đa dạng, có các chức năng, đặc điểm riêng và cấu tạo khác nhau, việc hiểu và sử dụng được các thể loại văn bản là kỹ năng rất cần thiết cho học sinh

1.4.1 Đặc điểm về nhận thức

Tư duy của học sinh Tiểu học có sự phát triển theo lứa tuổi và trình độ nhận thức

Trang 18

Giai đoạn lớp 1, 2, 3: Tư duy của học sinh chủ yếu là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Học sinh tiến hành hoạt động phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng

Giai đoạn lớp 4, 5: Các em bắt đầu biết khái quát hoá lí luận cụ thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn đối với các đối tượng đó Các em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ

Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh Tiểu học dần dần chuyển từ mặt nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành những so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng Trên cơ sử đó học sinh dần dần học tập được các khái niệm khoa học

Kỹ năng phân biệt các dấu hiệu và tách ra các thuộc tính bản chất không phải dễ gì thực hiện được ngay Khi khái quát hóa, học sinh lớp 1, 2 thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng Nhờ hoạt động học, nhận thức được phát triển, học sinh lớp 3, 4 đã biết xếp bậc các khái niệm rộng hơn, hẹp hơn Trên cơ sở này học sinh phân loại và phân hạng trong nhận thức

Hoạt động phân tích – tổng hơp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Học sinh cuối bậc Tiểu học có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó

Việc lĩnh hội và tạo lập văn bản của học sinh Tiểu học chịu sự chi phối của đặc điểm tâm sinh lí từng lứa tuổi Vì vậy, việc dạy Tập làm văn nói chung và rèn kỹ năng viết các thể loại văn bản cho học sinh Tiểu học nói riêng, phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tâm lí, sinh lí và khả năng nhận thức của học sinh

1.4.2 Đặc điểm về ngôn ngữ

Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, từ ngữ và ngữ pháp

Trang 19

Hầu hết học sinh có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1, bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5, ngôn ngữ nói đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà học sinh

có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác

Vốn từ của các em ngày càng phong phú, chính xác và giàu hình ảnh nhờ tham gia nhiều hoạt động, tiếp xúc rộng rãi với những người xung quanh và được tiếp thu tri thức qua các môn học

Tiểu kết

Ở chương này, chúng tôi đã tổng hợp, khái quát những lí thuyết cơ bản về văn bản như: khái niệm và đặc trưng của văn bản, vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học, vai trò của văn bản đối với học sinh Tiểu học, đặc điểm

về nhận thức và ngôn ngữ của học sinh lứa tuổi Tiểu học

Đây là những cơ sở lí luận cần thiết để giúp chúng tôi nghiên cứu chương

2 và chương 3

Chương 2: KHẢO SÁT CÁC THỂ LOẠI VĂN BẢN TRONG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN Ở TIỂU HỌC 2.1 Tiêu chí phân loại

Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau về các thể loại văn bản Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc khảo sát các thể loại văn bản trong dạy học phân môn Tập làm văn ở Tiểu học, chúng tôi căn cứ vào cách phân loại của các tác

giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng Các tác giả chia các văn bản tiếng Việt

thành 6 thể loại văn bản, đó là: văn bản khoa học, văn bản chính luận, văn bản hành chính, văn bản báo, văn bản sinh hoạt hằng ngày và văn bản nghệ thuật [9 10]

Trang 20

2.2 Thống kê, phân loại các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở

Tiểu học (Cụ thể xin xem phần phụ lục)

Bảng thống kê các thể loại văn bản

2.3 Nhận xét các thể loại văn bản trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học

Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, lớp 1 chưa có tiết Tập làm văn Lớp 2,

3, mỗi tuần có 1 tiết Tập làm văn, cả năm có 31 tiết (không kể 4 tuần ôn tập giữa học kì và cuối học kì) Tất cả các tiết Tập làm văn đều không có phần lí thuyết

mà các kỹ năng nói, viết các thể loại văn bản hình thành thông qua bài tập thực hành Lên lớp 4, 5 ngoài các bài tập thực hành, các kiến thức lí thuyết được học thành bài riêng Đồng thời các tiết Tập làm văn đã được học tăng lên Mỗi tuần

có 2 tiết Tập làm văn, cả năm có 62 tiết (không kể các tuần ôn tập giữa học kì) Trong đó có 19 tiết lí thuyết và 43 tiết thực hành (ở lớp 4), 3 tiết lí thuyết và 59 tiết thực hành (ở lớp 5)

Tập làm văn là một phân môn mang tính chất thực hành Do đó, nội dung dạy và học Tập làm văn ở Tiểu học được thực hiện thông qua hệ thống bài tập

đã đáp ứng được nhiệm vụ này Học sinh lớp 2, 3, 4, 5 được làm quen và rèn các

kỹ năng để tiếp nhận và tạo lập một số thể loại văn bản

Thông qua hệ thống bài tập, học sinh nắm được những kiến thức về văn, về lập dàn ý, triển khai ý thành lời nói hay bài văn cụ thể, giúp học sinh có hiểu biết

và hình thành những kỹ năng viết một số thể loại văn bản: văn bản khoa học,

Trang 21

văn bản chính luận, văn bản hành chính, văn bản báo chí, văn bản nghệ thuật, văn bản sinh hoạt hàng ngày

Theo kết quả khảo sát, hệ thống bài tập rèn kỹ năng viết các thể loại văn bản, được xây dựng theo quy luật đồng tâm từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó Hệ thống bài tập được mở rộng và nâng cao dần về yêu cầu kiến thức, kỹ năng làm văn theo từng khối lớp Ở lớp 2, 3 hầu hết các bài tập đều có phần gợi

ý để học sinh dựa vào đó viết bài còn ở lớp 4, 5 chỉ những bài tập khó, phức tạp mới có phần gợi ý

(Tiếng Việt 2 – Bài tập 3 – Tập 1 – Tr.20)

2 “Dựa vào các số liệu dưới đây, em hãy lập bảng thống kê về tình hình

phát triển giáo dục tiểu học của nước ta từ năm học 2000 – 2001 đến năm học 2004 – 2005:

Trang 22

- Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số : 19,1% ”

(Tiếng Việt 5 – Bài tập 2 – Tập 2 – Tr.163) Các bài tập rèn kỹ năng viết các thể loại văn bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học chủ yếu là bài tập tự luận, còn bài tập trắc nghiệm rất ít Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc trưng nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Tập làm văn là

hình thành và phát triển ở học sinh kỹ năng tạo lập ngôn bản (nói và viết)

Nội dung các bài tập có sự tích hợp giữa các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu

Ví dụ:

1 “Dựa theo mẫu bài tập đọc Thư gửi bà, em hãy viết một bức thư ngắn cho

người thân:

- Dòng đầu thư: Nơi gửi, ngày tháng năm

- Lời xưng hô với người nhận thư (ông, bà, chú, bác, )

Trang 23

- Nội dung thư (4 – 5 dòng): Thăm hỏi, báo tin cho người nhận thư Lời chúc và hứa hẹn

- Cuối thư: Lời chào, chữ kí và tên.”

(Tiếng Việt 3 – Bài tập 1 – Tập 1 – Tr 83)

2 “Đọc lại bản tin Vẽ về cuộc sống an toàn (sách Tiếng Việt 4, tập hai, trang

54 – 55) và trả lời câu hỏi:

a) Bản tin này gồm mấy đoạn?

b) Xác định sự việc chính được nêu ở mỗi đoạn Tóm tắt mỗi đoạn bằng một hoặc hai câu

c) Tóm tắt toàn bộ bản tin.”

(Tiếng Việt 4 – Bài tập 1 – Tập 2 – Tr 63) Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, hệ thống bài tập Tập làm văn rèn kỹ năng tiếp nhận và tạo lập một số thể loại văn bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học đã được xây dựng khá phong phú, đa dạng về nội dung và hình thức Về cơ bản hệ thống bài tập này đã đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn

Qua bảng thống kê cho thấy, SGK đã xây dựng 442 bài tập về một số thể loại văn bản Trong đó:

- Thể loại văn bản khoa học có 7 bài, chiếm 1,58%

- Thể loại văn bản chính luận có 11 bài, chiếm 2,49%

- Thể loại văn bản hành chính có 46 bài, chiếm 10,41%

- Thể loại văn bản báo chí có 10 bài, chiếm 2,26%

- Thể loại văn bản nghệ thuật có 305 bài, chiếm 69,00%

- Thể loại văn bản sinh hoạt hàng ngày có 63 bài, chiếm 14,26%

Dưới đây, chúng tôi sẽ nhận xét cụ thể từng thể loại văn bản:

2.3.1 Văn bản khoa học

Theo kết quả khảo sát, có 7 bài tập rèn kỹ năng viết văn bản khoa học,

chiếm 1, 58% Cụ thể: lớp 2 có 5 bài tập, chiếm 71,43%; lớp 3, lớp 4 sách giáo

khoa không xây dựng bài tập; lớp 5 có 2 bài tập, chiếm 28,57% So với các bài

Trang 24

tập rèn kỹ năng viết các văn bản khác thì bài tập rèn kỹ năng viết văn bản khoa

học có số lượng ít nhất, chỉ chiếm 1,58% (Cụ thể xin xem phần phụ lục: Tr 1)

Ở lớp 2, học sinh chỉ mới bắt đầu làm quen với văn bản khoa học nên nội

dung các bài tập rèn kỹ năng viết văn bản khoa học ở mức độ đơn giản, phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh

Các tiết Tập làm văn trong sách giáo khoa chưa đề cập đến các kiến thức

lí thuyết về thể loại văn bản khoa học mà chỉ rèn cho học sinh các kỹ năng thực hành một số kiến thức đơn giản về văn bản khoa học như: tra mục lục sách, ghi tên riêng của nhân vật theo trình tự bảng chữ cái

Ví dụ:

(1) “Đọc mục lục các bài ở tuần 6 Viết tên các bài tập đọc trong tuần ấy.”

(Bài 3 – Tập 1 – Tr.47)

(2) “Ghi lại tên riêng của các nhân vật trong những bài tập đọc đã học ở tuần

7 và tuần 8 theo đúng thứ tự bảng chữ cái.”

(Bài 3 – Tập 1 – Tr.70)

Ở lớp 5, Các tiết Tập làm văn trong sách giáo khoa không đề cập các kiến

thức lí thuyết mà chỉ xây dựng 2 bài tập nhằm rèn cho học sinh kỹ năng lập bảng thống kê các bài tập đọc theo một chủ điểm với các nội dung cần trình bày (tên bài, tên tác giả, thể loại):

Ví dụ:

(1)“Lập bảng thống kê các bài tập đọc trong chủ điểm Giữ lấy màu xanh

Nội dung cần trình bày:

Trang 25

- Tác giả

- Thể loại (văn, thơ, kịch)”

(Bài tập 3 – Tập 1 – Tr.173) Các bài tập này có mức độ tương đối dễ, phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh lớp 5

2.3.2 Văn bản chính luận

Theo kết quả khảo sát, có 11 bài tập rèn kỹ năng viết văn bản chính luận,

chiếm 2,49% Cụ thể: lớp 2 sách giáo khoa không xây dựng bài tập; lớp 3 có 2

bài, chiếm 18,18%; lớp 4 có 2 bài, chiếm 18,18%; lớp 5 có 7 bài, chiếm 63,64%

(Cụ thể xin xem phần phụ lục: Tr 2 – Tr 5)

Ở lớp 3, Các tiết Tập làm văn chưa đề cập đến các kiến thức lí thuyết mà

chỉ xây dựng 2 bài tập nhằm rèn cho học sinh kỹ năng tổ chức một cuộc họp tổ

và giới thiệu hoạt động

Ví dụ:

(1) “Hãy cùng các bạn trong tổ mình tổ chức một cuộc họp

Gợi ý về nội dung họp: trao đổi về trách nhiệm của học sinh trong cộng đồng

Ví dụ:

- Tôn trọng luật đi đường

- Bảo vệ của công

- Giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn.”

(Bài tập 2 – Tập 1 – Tr.61)

(2) “Hãy giới thiệu về tổ em và hoạt động của tổ em trrong tháng vừa qua

với một đoàn khách đến thăm lớp

(Bài 2 – Tập 1 – Tr.120)

Ở lớp 4, các tiết Tập làm văn trong sách giáo khoa đã được xây dựng 2

bài tập nhằm rèn kỹ năng trao đổi một vấn đề với người thân Mức độ của bài

Trang 26

tập đơn giản, đề tài tranh luận gần gũi, có phần gợi ý hướng dẫn học sinh cách thực hiện

Ví dụ:

(1) “Em có nguyện vọng học thêm một môn năng khiếu (họa, nhạc, võ

thuật,…) Trước khi nói với bố mẹ, em muốn trao đổi với anh (chị) để anh (chị) hiểu và ủng hộ nguyện vọng của em

Hãy cùng bạn đóng vai em và anh (chị) để thực hiện cuộc trao đổi

(Bài tập 1 – Tập 1 – Tr.95)

(2) “Em và người thân trong gia đình cùng đọc một truyện nói về một

người có ghị lực, có ý chí vươn lên Em trao đổi với người thân về tính cách đáng khâm phục của nhân vật đó

Hãy cùng bạn đóng vai người thân để thực hiện cuộc trao đổi trên

(Bài tập 1 – Tập 1 – Tr.109)

Ở lớp 5, số lượng bài tập rèn kỹ năng viết văn bản chính luận có số lượng

nhiều nhất so với các lớp 3, 4, với 7 bài tập

Nội dung các bài tập rèn cho học sinh kỹ năng thuyết trình, tranh luận

Ví dụ:

(1) “Giả sử em là bạn của nhân vật bạn nhỏ (truyên Người gác rừng tí

hon), em hãy nêu nhận xét về bạn nhỏ và tìm dẫn chứng minh họa cho nhận xét

của em.”

(Bài tập 3 – Tập 1 – Tr.173)

(2)“Hãy đóng vai một trong ba bạn (Hùng, Quý hoặc Nam) nêu ý kiến

tranh luận bằng cách mở rộng thêm lí lẽ và dẫn chứng để trả lời tranh luận thêm sức thuyết phục

(Bài tập 1 – Tập 2 – Tr.91) Theo kết quả khảo sát, ngoài các bài tập rèn kỹ năng thực hành, học sinh lớp 5 đã được học lí thuyết về cách thuyết trình, tranh luận với người khác

Ví dụ:

“a) Muốn thuyết trình, tranh luận về một vấn đề, cần có những điều kiện gì? Hãy ghi lại những câu trả lời đúng và sắp xếp chúng theo trình tự hợp lí:

Trang 27

- Phải có hiểu biết về vấn đề được thuyết trình, tranh luận

- Phải nói theo ý kiến của số đông

- Phải biết cách nêu lí lẽ và dẫn chứng

- Phải có ý kiến riêng về vấn đề được thuyết trình, tranh luận

b) Khi thuyết trình, tranh luận, để tăng sức thuyết phục và đảm bảo phép lịch sự, người nói cần có thài độ như thế nào?”

(Bài tập 3 – Tập 2 – Tr.91) Mức độ của các bài tập rèn kỹ năng viết văn bản chính luận trong dạy học Tập làm văn ở Tiểu học sách giáo khoa đưa ra hợp lí, phù hợp với khả năng nhận thức và yêu cầu giao tiếp của học sinh lớp 5

2.3.3 Văn bản hành chính

Theo kết quả khảo sát, có 46 bài tập rèn kỹ năng viết văn bản hành chính,

chiếm 10,41% Cụ thể: lớp 2 có 8 bài, chiếm 17,78%; lớp 3 có 11 bài, chiếm

24,44%; lớp 4 có 6 bài, chiếm 13,33%; lớp 5 có 20 bài, chiếm 44,45%

(Cụ thể xin xem phần phụ lục: Tr 6 – Tr 20)

Nội dung các bài tập chủ yếu rèn cho học sinh viết các văn bản hành chính thông thường như: văn thư, đơn từ, báo cáo, tường trình, giấy giới thiệu, hóa đơn, …

Nhìn chung, nội dung của các bài tập này phù hợp với đặc điểm tư duy và

ngôn ngữ, phù hợp với yêu cầu giao tiếp của học sinh Tiểu học

Nội dung dạy học văn bản hành chính được trình bày xen kẽ với các nội dung dạy học khác trong phân môn Tập làm văn Chính cách bố trí này giúp cho người dạy và người học tránh được sự nhàm chán và cảm giác khô khan, nặng

nề khi dạy học thể loại văn bản hành chính

Ví dụ: Sau bài “Luyện tập làm báo cáo thống kê” là bài văn “Tả cảnh”,

sau bài “Luyện tập làm đơn” là bài “Luyện tập tả người”,…

Bên cạnh đó, bài Tập làm văn liên quan đến rèn kỹ năng viết thể loại văn bản hành chính thường được sắp xếp ngay sau các nội dung dạy học văn bản hành chính của các phân môn khác như Tập đọc, Chính tả,… trong cùng đơn vị

Trang 28

học Do đó, học sinh có sự làm quen, chuẩn bị và sẽ có sự liên tưởng tốt khi viết văn bản hành chính

Hệ thống bài tập thường có nhiều lựa chọn, do đó, học sinh có thể lựa chọn những bài tập gắn với thực tiễn đời sống của bản thân, thuận lợi hơn khi tạo lập văn bản

Ví dụ:

“Chọn một trong các đề sau:

1 Phố em có một hàng cây to, nhiều cành vướng vào đường dây điện, một số cành sà xuống thấp, mùa mưa bão đến dễ gây nguy hiểm Em hãy giúp bác tổ trưởng dân phố viết đơn gửi công ti cây xanh hoặc ủy ban nhân dân địa phương (quận, huyện, thị xã, thị trấn,…) đề nghị cho tỉa cành để tránh xảy ra tai nạn đáng tiếc

2 Nơi em ở có một con suối hoặc một dòng sông chảy qua Gần đây, có một

số người dùng thuốc nổ đánh bắt cá, làm cá chết nhiều và gây nguy hiểm cho người qua lại Em hãy giúp bác trưởng thôn (hoặc tổ trưởng dân phố) làm đơn gửi ủy ban nhân dân hoặc công an địa phương (xã, phường, thị trấn,…) đề nghi ngăn chặn việc làm trên để bảo vệ đàn cá và đảm bảo an toàn cho nhân dân

(Tiếng Việt 5 – Bài tập 1 – Tập 1 – Tr 111)

Ở lớp 2, 3, chưa có bài học lí thuyết riêng, các bài tập rèn kỹ năng viết

văn bản hành chính được sách giáo khoa xây dựng chủ yếu là các bài tập viết đơn (điền vào giấy tờ in sẵn), với nội dung đơn giản, gần gũi với hoạt động học tập ở trường của học sinh

Trang 29

- Học sinh lớp:

- Trường: ”

(Tiếng Việt 2 – Bài tập 3 – Tập 1 – Tr 20)

(2) Dựa theo mẫu dưới đây, hãy viết một lá đơn xin nghỉ học

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Em làm đơn này xin phép cô (thầy) cho em nghỉ buổi học:

Lí do nghỉ học:

Em xin hứa:

Ý kiến của gia đình học sinh Học sinh

(Tiếng Việt 3 – Bài tập 3 – Tập 1 – Tr 28) Như vậy, các bài tập luyện kỹ năng viết văn bản hành chính ở lớp 2, lớp 3

là tương đối dễ, phù hợp với khả năng của học sinh

Ở lớp 4, 5 nội dung các bài tập tiếp tục luyện cho học sinh cách điền vào

giấy tờ in sẵn và không có mẫu in sẵn, với nội dung phức tạp hơn gắn với đời sống, sinh hoạt và học tập của học sinh Ngoài ra, học sinh còn được rèn luyện

kỹ năng viết báo cáo, lập bảng thống kê số liệu

Những đề bài yêu cầu viết văn bản hành chính trong chương trình lớp 4, 5 đều gắn liền với các tình huống sử dụng hoặc tình huống đòi hỏi sự xuất hiện của văn bản hành chính Đó là những tình huống gần gũi trong đời sống thực tế của học sinh, đòi hỏi các em tìm hiểu thực tế, quan sát những sự việc xung

quanh mình Ví dụ: về môi trường nơi mình sống, về các hoạt động của trường, của lớp, Bên cạnh đó, các tác giả biên soạn sách giáo khoa cũng đã chú trọng việc

Trang 30

đưa ra những tình huống thú vị, ngộ nghĩnh, phù hợp với đặc điểm tâm lí của các em

ví dụ như: Biên bản về việc mèo vằn ăn hối lộ của nhà chuột; hoặc khai thác tình huống trong bài Tập đọc đã học ví dụ như: Biên bản về việc bệnh nhân trốn viện

Ví dụ:

(1) “Đọc bài văn và trả lời câu hỏi:

Đề bài: Trong bức tranh dân gian Đám cưới chuột có cảnh đàn chuột phải cống nạp mèo một con chim và một con cá để đám cưới đi trót lọt Em hãy tưởng tượng vụ ăn hối lộ của mèo bị vỡ lở và lập biên bản về vụ việc đó

H: Nội dung và cách trình bày biên bản ở đây có những điểm gì giống và khác với biên bản cuộc họp?”

(Tiếng Việt 5 – Bài tập 1 – Tập 1 – Tr.161)

(2) “Giả sử em là bác sĩ trực phiên cụ Ún trốn viện (bài Thầy

cúng đi bệnh viện) Dựa theo mẫu biên bản vừa đọc ở bài tập 1,

em hãy lập biên bản về vụ việc này

(Tiếng Việt 5 – Bài tập 2 – Tập 1 – Tr.163) Ngoài các bài tập thực hành, các tiết Tập làm văn trong sách giáo khoa đã

đề cập đến các kiến thức lí thuyết nhằm hình thành và củng cố kiến thức về văn bản hành chính cho học sinh

d) Đêm liên hoan văn nghệ

e) Xử lí vi phạm pháp luật về giao thông

f) Xử lí việc xây dựng nhà trái phép.”

(Tiếng Việt 5 – Bài tập 1 – Tập 1 – Tr.142) Với những đề tài phù hợp với đời sống giao tiếp của học sinh, nội dung các bài tập rèn kỹ năng viết văn bản hành chính ở lớp 4, 5 còn có tác dụng giúp

học sinh mở rộng hiểu biết (về tác hại của chất độc màu da cam, về các vấn đề liên quan đến môi trường,…)

Ngày đăng: 26/06/2021, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8]. Th.s Bùi Thị Thanh – Bài giảng “Phương pháp dạy học tiếng Việt” (Tài liệu dùng cho sinh viên ngành Đại học Tiểu học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
[10]. Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học – “Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” – Nhà xuất bản giáo dục năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục năm 2006
[12]. Trang web điện tử: http://www.google.com [13]. Trang web điện tử http://www.violet.vn [14]. Trang web điện tử http://www.dantri.com.vn [15]. Trang web điện tử http://www.gdtd.vn Link
[1]. Đinh Thanh Huệ – Tiếng Việt Thực Hành – NXB giáo dục – năm 1997 [2]. Hà Thúc Hoan – Tiếng Việt thực hành – NXB Giáo dục – năm 1996 Khác
[3]. Huỳnh Bá Học – Khái quát chung về văn bản – NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 1999 Khác
[4]. Đinh Trọng Lạc – Phong cách học Tiếng Việt – NXB ĐHQG Hà Nội – năm 1997 Khác
[5]. Hồ Lê – Dẫn Luận ngôn ngữ – NXB Đại học Mở – Bán công TPHCM – năm 1995 Khác
[6]. GS.TS. Lê Phương Nga – Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm – năm 2011 Khác
[7]. Hữu Quỳnh – Cơ sở ngôn ngữ học Tập II – Nhà xuất bản giáo dục – năm 1997 Khác
[9]. Bùi Minh Toán – Lê A – Đỗ Việt Hùng – Tiếng việt thực hành – NXB Giáo dục – năm 1998 Khác
[11]. Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học 2, 3, 4, 5 – NXB Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w