1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thưc trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4 5 tuổi người bahnar thông qua hoạt động tập nói tiếng việt

93 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI NGƯỜI BAHNAR THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẬP NÓI TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM .... Kết quả nhận thức

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

khoa Giáo dục Mầm Non trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy

và hỗ trợ rất nhiệt tình trong suốt chặng đường bốn năm đại học mà em đã đi qua Bên cạnh đó, em luôn biết ơn gia đình, những người luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho em được ăn học nên người Và bạn bè xung quanh luôn ở bên động viên, ủng

hộ em hết mình Hơn hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Tôn Nữ Diệu Hằng, trong suốt thời gian qua cô đã luôn nhắc nhở và quan tâm đến em, cô luôn hỏi thăm

và hướng dẫn bài luận văn rất nhiệt tình để em có thành quả như ngày hôm nay.Cám ơn những kiến thức mà cô đã tận tình truyền đạt cho em.Đây cũng sẽ là hành trang quý báu cho em sau này trên bước đường tương lai, sự nghiệp Và em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và giáo viên đứng lớp ở các trường mầm non

đã hỗ trợ rất nhiệt tình để em có thể hoàn thành tốt luận văn này: Trường Mầm non Hoa Pơ Lang và Trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Kon Tum Bài khóa luận của em tuy đã hoàn thành nhưng không tránh khỏi sự thiếu sót.Kính mong quý thầy

cô xem xét và đóng góp ý kiến để em có được một bài khóa luận hoàn chỉnh hơn

Sinh viên thực hiện

Y Minh Truyền

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Những đóng góp của đề tài 4

9 Cấu trúc của đề tài 4

B PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ

4 - 5 TUỔI NGƯỜI BAHNAR THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẬP NÓI

TIẾNG VIỆT……… ……….….5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8

1.2 Khái quát về từ và từ loại tiếng Việt 10

1.2.1 Khái niệm từ và các tiêu chí nhận diện từ 10

1.2.2 Cấu tạo từ tiếng Việt 10

1.2.3 Phân loại từ tiếng Việt theo cấu tạo 12

1.2.4 Khái niệm từ loại và cơ sở phân loại từ 15

1.2.5 Phân loại từ 16

1.3 Chương trình Tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum 25

1.3.1 Khái niệm Tập nói tiếng Việt 25

1.3.2 Chương trình Tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum 25

1.4 Phát triển vốn từ cho trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói tiếng Việt 38

1.4.1 Vài nét về nguồn gốc và đời sống văn hóa vật chất của người Bahnar 38

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI NGƯỜI BAHNAR THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẬP NÓI TIẾNG VIỆT Ở

CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM 55

2.1 Khái quát về quá trình điều tra thực trạng 55

2.1.1 Mục đích điều tra 55

2.1.2 Nội dung điều tra 55

2.1.3 Đối tượng điều tra 55

2.1.4 Phương pháp điều tra 56

2.2 Tiêu chí và thang đánh giá mức độ biểu hiện vốn từ của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi người Bahnar 57

2.2.1 Tiêu chí đánh giá 57

2.2.2 Thang đánh giá 59

2.3 Kết quả điều tra 60

2.3.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động “Tập nói tiếng Việt” 60

2.3.2 Thực trạng biểu hiện phát triển vốn từ của trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động “Tập nói tiếng Việt” 67

2.4 Nguyên nhân thực trạng 70

2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 70

2.4.2 Nguyên nhân khách quan 70

2.5 Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động “Tập nói tiếng Việt ” 71

2.5.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 71

2.3.2 Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi

người Bahnar thông qua hoạt động “Tập nói tiếng Việt” 73

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 83

1 Kết luận 83

2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 5

BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả nhận thức của giáo viên về mức độ sử dụng tiếng phổ thông

của trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói Tiếng Việt

62

Bảng 2.2: Kết quả về những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển vốn từ cho

trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói Tiếng Việt

Bảng 2.5: Kết quả biểu hiện vốn từ của trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar thông qua

hoạt động Tập nói tiếng Việt ở trường mầm non Hoa PơLang, trường mầm non

Tuổi Thơ Thành phố Kon Tum

68

Trang 6

BIỂU ĐỒ TRANG

Biểu đồ 2.1.Kết quả nhận thức của giáo viên về mức độ sử dụng tiếng phổ

thông của trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói Tiếng Việt 63 Biểu đồ 2.2: Mức độ biểu hiện vốn từ của trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar 68

Trang 7

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản của con người nó là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển nhân cách Song ngôn ngữ không phải là cái bẩm sinh, mà nó hình thành và phát triển trong quá trình đứa trẻ sống và giao lưu với những người xung quanh và tiếng “mẹ đẻ” là cơ sở phát triển trí tuệ, là vốn quý của mọi tri thức Vì vậy việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho trẻ qua việc đọc, nói là trang bị cho trẻ nhận thức thế giới xung quanh và mở rộng mối quan hệ với mọi người Mặt khác, ở lưá tuổi mẫu giáo yêu cầu khả năng diễn đạt, ngôn ngữ mạch lạc, phát âm rõ ràng tiếng mẹ đẻ là vô cùng quan trọng

Đối với trẻ mẫu giáo, muốn diễn đạt được những suy nghĩ của mình, trẻ phải dùng ngôn ngữ để trao đổi và cũng nhờ ngôn ngữ đó mà người lớn giúp trẻ có nhận thức đúng đắn, phân biệt được cái tốt, cái xấu, có tình yêu đối với con người và thiên nhiên Nhưng đối với trẻ người Bahnar thì việc diễn đạt bằng tiếng Việt rất khó khăn

Xuất thân từ người Bahnar tôi biết học ngôn ngữ thứ 2 ngoài tiếng mẹ đẻ rất khó khăn đối với trẻ, vì trong cuộc sống hằng ngày trẻ tiếp xúc với mọi người đa số dùng tiếng Bahnar để giao tiếp

Vì vậy, dạy trẻ tập nói tiếng Việt là một hoạt động quan trọng của giáo dục mầm non, việc này càng cần thiết đối với trẻ ở vùng dân tộc thiểu số Thực tế cho rằng chất lượng học tập học sinh Tiểu học ở những vùng này phụ thuộc rất lớn vào trình độ tiếng Việt của các em Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, trước khi vào lớp 1, trẻ chỉ học được một ít tiếng Việt ở lớp mẫu giáo theo lối truyền khẩu Trong giao tiếp ở gia đình và cộng đồng, trẻ không có thói quen nói tiếng Việt, nên vốn tiếng Việt của trẻ nghèo nàn, khả năng sử dụng tiếng Việt còn rất hạn chế

Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, trẻ đã biết lắng nghe âm thanh và nhận ra giọng nói của mẹ.Thực tế cho thấy, một đứa trẻ sẽ biết nói nhanh hơn khi được mọi người xung quanh chủ động trò chuyện

Trang 8

Đối với trẻ người Bahnar, ở nhà trẻ đa số giao tiếp với người thân, mọi người xung quanh đều bằng tiếng Bahnar Hiện tại tất cả người Bahnar khi ra ngoài xã hội rất tự ti về việc giao tiếp bằng ngôn ngữ phổ thông.Được thể hiện bằng việc dù trẻ

đi học ở trường lớp, giáo viên nói tiếng phổ thông thì trẻ trả lời lại bằng tiếng phổ thông, nhưng khi học nhóm hay giao tiếp trong lớp trẻ đa số vẫn nói tiếng Bahnar.Vì vậy vốn từ của trẻ không phong phú, cách dùng ngôn ngữ không mạch lạc, dẫn đến việc học tập của trẻ bị giảm sút

Phát triển vốn từ cho trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar đây chính là thời gian trẻ đi học nhiều, mong muốn giao tiếp với mọi người xung quanh nhiều hơn Vào thời điểm này trẻ đa số đã biết nhiều và hiểu ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, nên việc phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ sẽ dễ dàng hơn, dễ nhớ hơn so với các nhóm tuổi khác, đây cũng chính là thời gian vàng để trẻ hiểu các từ ngữ, cung cấp vốn từ để bước vào lớp một Khi rào cản ngôn ngữ xóa bỏ, trẻ sẽ tự tin tiếp xúc kho tang kiến thức trên các phương tiện, đồng thời dễ dàng hòa nhập vào môi trường xã hội

Vì vậy tôi chọn đề tài: Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói tiếng Việt

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng của việc phát triển vốn từ cho trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar qua hoạt động Tập nói tiếng Việt Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao việc phát triển vốn từ cho trẻ Bahnar thông qua hoạt động Tập nói tiếng Việt, ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Kon Tum

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình tổ chức hoạt động “Tập nói tiếng Việt” cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Kon Tum

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar

Trang 9

4 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên biết sử dụng một số biện pháp hợp lí, khoa học thì góp phần phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar

5.2 Phạm vi thời gian: từ tháng 10 năm 2016 đến cuối tháng 4 năm 2017

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu một số cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

6.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4 -

5 tuổi người Bahnar qua hoạt động “Tập nói tiếng Việt” ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Kon Tum

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận

Thu thập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2 Phương pháp đàm thoại

- Trao đổi trực tiếp với giáo viên để thấy được nhận thức của giáo viên về việc phát triển vốn từ cho trẻ người Bahnar

Trang 10

- Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi người Bahnar nhằm đánh giá thực trạng vốn từ tiếng Việt của trẻ

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng Anket

Sử dụng phiếu thăm dò, điều tra các giáo viên ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Kon Tum để nắm được nhận thức, thái độ, kinh nghiệm và các biện pháp mà các giáo viên sử dụng khi phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói tiếng Việt

7.2.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các công thức thống kê toán học để xử lý số liệu

8 Những đóng góp của đề tài

- Hệ thống lí luận của đề tài

- Tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói tiếng Việt ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Kon Tum

9 Cấu trúc của đề tài

Khóa luận gồm 3 phần:

A Phần mở đầu

B Phần nội dung: gồm 2 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển vốn từ cho trẻ 4 – 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói tiếng Việt

Chương 2: Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar qua hoạt động Tập nói tiếng Việt ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Kon Tum

C Phần kết luận và kiến nghị sư phạm

D Tài liệu tham khảo

Trang 11

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI NGƯỜI BAHNAR THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG

TẬP NÓI TIẾNG VIỆT

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Loài người ngay từ thuở sơ khai đã sáng tạo ra ngôn ngữ, một hệ thống tín hiệu đặc biệt dùng làm phương tiện cơ bản và quan trọng nhất trong giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng người Cũng từ đó ngôn ngữ được phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Ngôn ngữ chính là một trong những yếu tố nâng tầm cao của con người lên vượt xa về chất so với mọi giống loài

Ngôn ngữ là chức năng tâm lý cấp cao của con người, là công cụ để tư duy, để giao tiếp, là chìa khoá để con người nhận thức và chiếm lĩnh kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại

Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn từ 0

- 6 tuổi (lứa tuổi mầm non) Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời người - trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày.Đây chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ.Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này khó có thể phát triển tốt được Chính vì vậy ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu

Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại.Nhưng thời cổ đại người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíc học Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của các bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con người Trong cuốn "Bàn về phương pháp", Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người, khác với động vật Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn

Trang 12

ngữ, cái tín hiệu duy nhất chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người và con vật" Chỉ đến giữa thế kỷ 19 khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là Shteintal (1823

- 1899) Ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc.Theo ông, ngôn ngữ học phải đưa vào tâm lý cá nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dùa vào tâm lý dân tộc trong khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc.Thuyết tâm lý liên tưởng - đại biểu là V.Vunt (1832 - 1920) - nghiên cứu lý thuyết về dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa chuyển đổi của từ, về nghĩa hiện có của từ và câu, về mối quan hệ liên tưởng có tính ngữ đoạn

Đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về ngôn ngữ: Đầu tiên phải kể đến hướng nghiên cứu về vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình phát triển và giáo dục trẻ Đây là hướng nghiên cứu nổi bật nhất xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nổi tiếng: D B Enconhin, X Vưgốtxki, V X Mukhina, K D Usinxki, A Xookhin… quan tâm chú ý nghiên cứu tìm hiểu vai trò của ngôn ngữ được các tác giả khẳng định là công cụ nhận thức thế giới, là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất và là “cơ sở của mọi sự phát

triển tư duy, trí tuệ” Theo X Vưgốtxki: “khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong

cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và củ bạn bè có năng lực cao hơn, những người này đã giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này những quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được truyền sang trẻ, mà

ở đó ngôn ngữ là phương thức đầu tiên trao đổi các giá trị xã hội”, Vưgốtxki

coingôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tư duy của trẻ

Trên cơ sở khẳng định vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em,

xu hướng thứ hai nghiên cứu đặc điểm sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0-6 tuổi (tiêu biểu là V I Iadenco, E I Tikkhêêva, P A Xokhin, K Hainodich) Các tác giả đã phân chia quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em thành các giai đoạn: 0 –

12 tháng, 12 – 36 tháng, 36 – 72 tháng Với mỗi giai đoạn, các tác giả đã nghiên

Trang 13

cứu từng nội dung cụ thể của nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ ở trẻ: đặc điểm phát triển vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc

Đặc biệt, những kết quả nghiên cứu gần đây của nhà khoa học Phùng Đức Toàn và nhóm cộng sự của ông ở Trung Quốc đã cho thấy: Ngay từ trong bào thai, trẻ đã có khả năng nghe và phân biệt được âm thanh ở bên ngoài và có phản ứng với với cường độ âm thanh khác nhau Do đó, các nhà khoa học cho rằng: Việc giáo dục

và phát triển ngôn ngữ cho trẻ có thể được tiến hành ngay khi trẻ còn trong bào thai Hướng nghiên cứu thứ ba là về phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thể hiện qua các công trình nghiên cứu của các tác giả

Tác giả E I Tikheva đã đề ra các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu về thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ thông qua các hoạt động chơi, xem tranh, kể chuyện… để hình thành và phát triển kỹ năng cho trẻ Những tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với giáo dục mầm non

Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu ngôn ngữ trong mối liên hệ với các đặc điểm tâm, sinh lí, môi trường sống, hầu hết các tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của ngôn ngữ văn học trong việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, nhận thức và là phương tiện quan trọng trong quá trình đứa trẻ giao tiếp Từ đó, đưa ra các phương pháp, biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Những kết quả trên là cơ sở rất quan trọng đối với các nhà giáo dục học mầm non trong việc nghiên cứu, xây dựng mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp và biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Một số nhà nghiên cứu đã gợi ý ra rằng từ vựng là một yếu tố cực kì quan trọng trong sự phát triển của trẻ đặc biệt là ở kĩ năng đọc và nói.Khi trẻ có một vốn

từ vựng phong phú thì chúng sẽ nói tốt hơn và có khuynh hướng học tốt hơn so với những đứa trẻ cùng lứa mà có vốn từ hạn hẹp.Tuy nhiên vấn đề vốn từ cũng như phát triển vốn từ cho trẻ chưa được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm nhiều

Trang 14

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Trên cơ sở kế thừa các quan điểm nghiên cứu về ngôn ngữ của các nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới, đặc biệt trong giai đoạn thực hiện đổi mới giáo dục mầm non hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ nói chung, phát triển vốn từ cho trẻ mầm non nói riêng

Hướng thứ nhất nghiên cứu đặc điểm phát triển lời nói của trẻ từ 0 – 6 tuổi của các tác giả Nguyễn Huy Cẩn, Lưu Thị Lan, Nguyễn Xuân Đức, Đinh Hồng Thái Kết quả nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm phát âm, vốn từ, phát triển lời nói và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển ngôn ngữ ở trẻ 0 – 6 tuổi Trên cơ sở khái quát các đặc điểm phát triển ngôn ngữ trẻ em, hướng thứ hai

đã xây dựng nội dung, phương pháp, biện pháp, hình thức phát triển ngôn ngữ mạch

lạc cho trẻ.Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho

trẻ mẫu giáo” đưa ra các phương pháp cụ thể giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, vốn từ

của mình.Tác giả đã đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ, vốn từ của mình Tác giả đã đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ như: hướng dẫn trẻ quan sát, sử dụng tranh ảnh, đồ dùng, đồ chơi, sử dụng trò chơi học tập, trò chơi phát triển ngôn ngữ…

Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với Phương pháp

phát triển ngôn ngữ Tác giả đã đưa ra các phương pháp để giúp trẻ tăng vốn từ của

âm của trẻ em Việt Nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ, giai đoạn ngôn ngữ, về mặt ngữ âm có những bước tiến dài đặc biệt là giai đoạn 4 – 5 tuổi Các bước phát triển về từ vựng được tác giả thống kê ở lứa tuổi với số lượng từ tối thiểu và số

Trang 15

lượng từ tối đa.Từ 18 tháng trở đi trẻ có sự nhảy vọt về số lượng từ và yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến vốn từ của trẻ

Các nhà nghiên cứu giáo dục đều khẳng định phát triển vốn từ là nền tảng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mọi mặt sau này của trẻ

Trong việc phát triển ngôn ngữ , Sở giáo dục và đào tạo thành phố Kon Tum

đã biên soạn tài liệu giảng dạy môn “Tập nói tiếng việt” cho trẻ mẫu giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, người Bahnar nói riêng, nhằm giúp trẻ mẫu giáo dân tộc Bahnar có một trình độ tiếng Việt nhất định để giao tiếp, học tập, tạo thuận lợi cho trẻ học tốt các môn học lớp 1

Chương trình Tập nói tiếng Việt dành cho trẻ em người dân tộc thiểu số ở vùng núi được Sở giáo dục chú trọng quan tâm đến Hoạt động Làm quen với môi trường xung quanh được thay thế bằng Chương trình Tập nói tiếng Việt, nên ở các vùng có đồng bào sinh sống thì ở các trường mầm non có các hoạt động: Tập nói tiếng Việt, Làm quen với toán, Tạo hình, Âm nhạc, Làm quen với tác phẩm văn học, Vận động …

Trẻ người Bahnar đã được tiếp xúc từ mới sinh ra bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình đó là tiếng Bahnar, nên ít phần nào trẻ cũng hiểu và biết tiếng Bahnar Nhưng khi trẻ đi học bắt buộc trẻ phải học thêm ngôn ngữ thứ hai đó là tiếng Việt, để có thể phục vụ cho mọi việc ở ngoài xã hội nói chung, trong công việc học tập nói riêng Việc học một lúc hai ngôn ngữ không dễ dàng cho trẻ, nhưng trong độ tuổi 0 – 6 tuổi là độ tuổi nhạy cảm nhất của trẻ nên việc dạy tiếng Việt cho trẻ không thể chậm trễ được

Các công trình trên là cơ sở phương pháp luận để tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi người Bahnar thông qua hoạt động Tập nói tiếng Việt”

Trang 16

1.2 Khái quát về từ và từ loại tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm từ và các tiêu chí nhận diện từ

a) Khái niệm từ :Từ trước tới nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ

Ngay trong giới Việt ngữ, việc định nghĩa từ hay sự nhận diện ranh giới của từ cùngtheo hai khuynh huớng khác nhau Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp thì

đồng nhất tiếng với từ Trong khi đó, các tác giả khác nhu Nguyễn Kim Thản,

Hoàng Tuệ, Ðái Xuân Ninh, Hồ Lê, Ðỗ Hữu Châu,…[trích dẫn theo 11] lại không

đồng nhất tiếng với từ Ở bài giảng này, để tiện theo dõi, chúng tôi theo quan diểm

về từ của GS.TS Ðỗ Thị Kim Liên “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc

một số âm tiết, có ý nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và duợc vận dụng tự do

để cấu tạo nên câu” [11, tr 18]

b) Các tiêu chí nhận diện từ

- Từ là đơn vị của ngôn ngữ, có âm thanh được biểu thị bằng một hoặc một số

âm tiết

- Từ là đơn vị mang nghĩa

- Từ có cấu tạo hoàn chỉnh

- Từ có khả nang vận dụng tự do để tạo nên câu

1.2.2 Cấu tạo từ tiếng Việt

a) Ðơn vị cấu tạo từ tiếng Việt

Trong ngôn ngữ, từ chưa phải là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Nếu phân xuất từ,

ta có được những đơn vị nhỏ hơn gọi là hình vị.Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa

được dùng dể cấu tạo nên từ

* Từ trước đến nay, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau khi định nghĩa hình vị

Có nhiều nhà ngôn ngữ đã định nghĩa về hình vị

- Đơn vị ngữ pháp cơ sở của Ngữ pháp học Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” (Nguyễn Như Ý chủ biên) có nêu một số cách định nghĩa của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam nhu: Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Anh Quế, Hữu Quỳnh, Phan Thiều, Trần Ngọc Thêm, Hồ Lê, Ðỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Võ Bình, Ðái Xuân Ninh Xin được dẫn ra một số cách định nghĩa:

Trang 17

“Hình vị là đơn vị nhỏ nhất mà có mang ý nghĩa, mang giá trị ngữ pháp”

(Nguyễn Tài Cẩn Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb ÐHQGHN, H., 1994, tr.67)

“Hình vị là đơn vị hai mặt, có đầy đủ tính chất tín hiệu Ðã là tín hiệu thì cái quan trọng, về mặt chức năng là phần nội dung biểu đạt, nó quyết định sự tồn tại của bản thân tín hiệu” (Phan Thiều, “Thảo luận chuyên đề Tiếng, hình vị và từ trong

tiếng Việt”, Ngôn ngữ, 2 , H., 1984, tr.54)

“Hình vị là một đơn vị ngôn ngữ có nghĩa, nhỏ nhất và không độc lập về cú pháp” (Trần Ngọc Thêm, “Bàn về hình vị tiếng Việt duới góc độ ngôn ngữ học đại

Tóm lại, dù định nghĩa hình vị ở góc độ và phương diện nào thì các nhà ngôn ngữ cũng dễ thống nhất với nhau ở những đặc điểm của hình vị:

- Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là đơn vị gốc để tạo thành từ

- Hình vị được cấu tạo bởi các âm vị

- Hình vị là đơn vị không độc lập về cú pháp

- Ý nghĩa tồn tại ở dạng tiềm năng (không được dùng trực tiếp để giao tiếp, tức không trực tiếp được dùng để kết hợp với nhau tạo thành câu)

* Bàn về ranh giới hình vị, từ trước tới nay có hai khuynh hướng rõ rệt:

Thứ nhất, ranh giới hình vị trùng với ranh giới âm tiết Tiêu biểu gồm các tác

giả như M.B.Emeneau, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Ðinh Văn Ðức, Nguyễn Tài Cẩn, Lưu Vân Lang, Nguyễn Văn Tu, Lê Văn Lý

Trang 18

Thứ hai, ranh giới hình vị không hoàn toàn trùng với ranh giới âm tiết Tiêu

biểu là các tác giả như L Thompson, Ðỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Kim Thản…)

Trong học phần này, chúng tôi theo quan diểm của khuynh hướng thứ nhất,

tức là ranh giới của hình vị trùng với ranh giới âm tiết Trong tiếng Việt, âm tiết bằng với tiếng.Tuy nhiên, về mặt thuật ngữ ngôn ngữ học, âm tiết không cần chứa nghĩa, còn tiếng phải có nghĩa (hoặc tiềm ẩn nghĩa) Ðối với nguời Việt, tiếng là đơn vị dễ nhận diện nhất Và tiếng (hình vị) chính là đơn vị trực tiếp cấu tạo từ tiếng

Việt

1.2.3 Phân loại từ tiếng Việt theo cấu tạo

Xét ở mặt số lượng tiếng, chúng ta có:

- Từ đơn: là từ chỉ chứa một tiếng Ví dụ:học, trường, sách, sẽ, đang,

- Từ phức: là từ gồm 2 tiếng trở lên, như: tàuxe, trường học, máy tính, Căn

cứ vào mặt quan hệ giữa các thành tố cấu tạo từ, nguời ta tiếp tục phân loại từ phức (từ đa tiết) ra làm các loại: từ ghép, từ láy, từ ngẫu kết

+ Từ ghép: Từ ghép là từ chứa hai (hoặc hơn hai) hình vị và trong đó nhìn

chung không có hiện tượng “hoà phối ngữ âm tạo nghĩa”

Về mặt ngữ pháp, từ ghép được chia thành 2 nhóm lớn theo kiểu quan hệ giữa các thành tố: từ ghép đẳng lập (còn gọi là từ ghép song song) và từ ghép chính phụ

Từ ghép đẳng lập: Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là: Quan hệ

ngữ pháp giữa các thành tố trong nó là quan hệ bình đẳng Ý nghĩa ngữ pháp do cơ chế ghép đẳng lập tạo ra là ýnghĩa tổng hợp, ý nghĩa chỉ loại sự vật, đặc trưng (hành

động, trạng thái, tính chất, quan hệ) chung Căn cứ vào vai trò của các thành tố

trong việc tạo nghĩa của từ ghép, ta chia từ ghép đẳng lập thành 3 kiểu chính là: từ

ghép gộp nghĩa, từ ghép lặp nghĩa, từ ghép đơn nghĩa

Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: (từ ghép hội ứng) * Ví dụ: điện nuớc, xăng dầu,

nghe nhìn, ăn uống, học tập, may rủi,

* Ðặc điểm tạo nghĩa của từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: Ý nghĩa của từng hình

vị cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩachung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung

Trang 19

đó có thể có phần ý nghĩa của từng hình vị Ví dụ: “sách vở” chỉ các loại sách vở nói chung, trong đó có thể có cả sách và vở Khi sử dụng, nghĩa chung của từ ghép

có thể ứng với tất cả các sự vật, các đặc trưng do từng hình vị gọi tên, cũng có thể chỉ ứng với một số sự vật, đặc trưng được nhắc đến trong một hình vị mà thôi Khi

có thể sử dụng riêng từng hình vị với tư cách từđơn, ý nghĩa của từng từ rời này rất

xác định và khác nhau Ví dụ: sách khác vở

Từ ghép đẳng lập lặp nghĩa (từ ghép trùng ứng) * Ví dụ:núi non, binh lính, cấp bậc, mây phúc, thay đổi, tìm kiếm,

* Ðặc điểm tạo nghĩa của từ ghép lặp nghĩa: Các hình vị trong nó là những

yếu tố đồng nghĩa hoặc gần nghĩa, cùng nhau gộp lại để biểu thị những ý nghĩa

chung của từ ghép, chẳng hạn: binh lính, thay đổi, tìm kiếm Ý nghĩa của từ ghép

này tương đương với ý nghĩa của từng hình vị (trừ ý nghĩa ngữ pháp “tổng hợp”) khi những hình vị này được dùng như từ đơn

Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa (từ ghép đẳng lập đơn ứng) * Ví dụ:chợ búa, đường sá, xe cộ, tre pheo, bếp núc, sầu muộn,

* Ðặc diểm tạo nghĩa của từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: Ý nghĩa của từ ghép

ứng với ý nghĩa của hình vị rõ nghĩa nhất trong số các hình vị có mặt (trừ ý nghĩa

ngữ pháp tổng hợp) Chẳng hạn nghĩa của từ “bếp núc” ứng với ý nghĩa“bếp” trừ ý

nghĩa ngữ pháp tổng hợp Ý nghĩa của hình vị còn lại có xu huớng phai dần, hư hóa, chỉ còn có tác dụng góp sức tạo ra ý nghĩa tổng hợp của chung cả từ ghép

Từ ghép chính phụ

Từ ghép chính phụ có những đặc trưng chung là:

- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong nó là quan hệ bất bình đẳng, quan

hệ chính phụ Trong đó yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật lớn, loại đặc trưng lớn và yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, loại đặc trưng

đó

- Ý nghĩa của từ ghép chính phụ là ý nghĩa không tổng hợp và khi cần cụ thể hóa nó thì có thể phân biệt trong đó ý nghĩa dị biệt, ý nghĩa sắc thái hóa Có thể chia

Trang 20

từ ghép chính phụ thành 2 kiểu chính là: từ ghép chính phụ dị biệt và từ ghép chính phụ sắc thái hóa

Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó tên gọi nêu ở thành tố chính

được cụ thể hóa bằng cách thêm vào một tên gọi ở thành tố phụ, làm cho những sự vật cùng loại được gọi tên ở thành tố chính phân biệt được với nhau nhờ thành tố phụ

Ví dụ: xe đạp, xe máy, xe lửa, xe bò dưa hấu, dưagang, dưa chuột, dưa bở - toán học, sử học, vậtlý học, khảo cổ học… - hợp tác hóa, công nghiệp hóa,

hiện đại hóa,…

Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là từ ghép trong đó thành tố phụ có tác dụng

bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho toàn từ ghép này khác nghĩa với thành tố chính khi thành tố chính hoạt động như từ đơn và từ ghép sắc thái hóa này

khác từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa Ví dụ: - xanh lè, xanh um, xanh rì, xanh

lục, xanh lo - thẳng do, thẳng tắp, thẳng duột, thẳng tuột

+ Từ láy: Từ láy là “từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng

tạo nghĩa” Ðể tạo ra nhạc tính cho sự hòa phối âm thanh đối với một ngôn ngữ vốn giàu nhạc tính như tiếng Việt, sự láy không đơn thuần là sự lặp lại âm, thanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng có sự biến đổi âm, thanh nhất định, dù là ít nhất, để tạo ra cái thế vừa giống nhau lại vừa khác nhau Láy của tiếng Việt phải được hiểu

là “sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trung hóa” Ý nghĩa của từ láy là ý nghĩa

biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng Căn cứ vào số lượng tiếng người ta thường chia từ láy

ra làm 3 lớp: từ láy đôi, từ láy ba, từ láy tư

* Từ láy đôi: Từ láy đôi được xem xét dựa vào cách cấu tạo tương ứng của hai tiếng trong từ Khi xem xét từ láy đôi, dựa vào yếu tố ngôn ngữ được lặp lại có thể phân biệt các kiểu: Từ láy toàn bộ, từ láy bộ phận

Từ láy toàn bộ: là từ láy trong dó tiếng gốc được lặp lại toàn bộ ở tiếng láy với

sự khác biệt về thanh điệu hoặc trọng âm Ví dụ: - hao hao, lam lam, dùng dùng

- do dỏ, ho hớ, sừng sững,

Trang 21

Từ láy bộ phận: + Từ láy âm đầu là từ có phụ âm đầu trùng lặp và có phần

vần khác biệt ở tiếng gốc và tiếng láy Ví dụ: đủng đỉnh, rung rinh, mộc mạc, lúc

lắc, hể hả, ngo ngoe, hổn hển, nhúc nhích, mỉa mai, + Từ láy vần: là từ có phần

vần trùng lặp và có phụ âm đầu khác biệt ở tiếng gốc và tiếng láy Ví dụ: luẩn quẩn,

bâng khuâng, chạng vạng, khéo léo, hấp tấp, tần ngần, bỡ ngỡ, khúm núm, tẹp nhẹp,

*Từ láy ba: Từ láy ba là từ láy gồm 3 tiếng Kiểu phối thanh thường gặp là: Tiếng thứ hai mang thanh bằng Tiếng thứ nhất và thứ ba phải đối lập về âm vực

hoặc âm điệu Ví dụ: sạch sành sanh, dửng dừng dưng, cỏn còn con, sát sàn sạt,

*Từ láy tư: Là từ láy gồm 4 tiếng Phần lớn từ láy tư có phần gốc là một từ láy

đôi.Ví dụ: ấm ớ ấm a ấm ớ hì hục hì hà hì hục ham hở ham ham hở hở

+ Từ ngẫu kết: Ngoài ra, tiếng Việt còn có một lớp từ mà người bản ngữ hiện

nay không thấy giữa các thành tố cấu tạo của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa Vì vậy, từ góc độ phân loại, cần tách chúng ra và gọi là các từ ngẫu kết

(từ ngẫu hợp) với ngụ ý: các tiếng tổ hợp với nhau ở đây một cách ngẫu nhiên Ví dụ: bồ câu, bồ hòn, bồ nông, mồ hóng, mồ hôi, kì nhông, cà nhắc,vằn thắn, lục tàu

xá, a-xít, mit tinh, so mi, mùi xoa, xà phòng, cao su, ca cao, hắc ín, sô-cô-la

1.2.4 Khái niệm từ loại và cơ sở phân loại từ

a) Khái niệm từ loại

“Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong đoản ngữ (cụm từ), trong câu để thực hiện chức năng ngữ pháp giống nhau.”

b) Cơ sở để phân loại từ

Ý nghĩa khái quát : “Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ,

trên cơ sở khái quát hóa từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung” Trong phạm vi đơn vị được xét là từ, thì ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho một

lớp từ Ðây là căn cứ đầu tiên để phân định từ loại Ví dụ các từ như: thợ, trâu,

trăng, sao, nhà, tình cảm,…có ý nghĩa khái quát là chỉ sự vật, hiện tượng; còn các

từ nhưăn, học, đi, chạy…có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt dộng

Trang 22

Khả năng kết hợp:Những từ cùng xuất hiện trong một bối cảnh, có khả năng

thay thế nhau ở cùng một vị trí, có tính chất thường xuyên, được tập hợp vào một lớp từ Các từ tạo ra bối cảnh thường xuyên cho những từ có thể thay thế nhau ở vị trí nhất định được gọi là chứng tố (hay từ chứng) Với những từ loại lớn như danh

từ, động từ, tính từ; nguời ta tìm được lớp từ chứng này Chẳng hạn từ chứng cho

danh từ thường là: những, các, mọi, cái, con, này, kia, đấy, đó,ấy,này, nọ ; từ chứng cho động từ thường là: đã, đang, sẽ, hãy, đừng, xong, rồi, mãi, nữa .; từ chứng cho tính từ thường là: rất, hoi, quá, lắm

Chức năng cú pháp: Tham gia vào cấu tạo câu, các từ có thể đứng ở một hay

một số vị trí nhất định trong câu, hoặc có thể thay đổi cho nhau ở vị trí đó và cùng biểu thị một mối quan hệ về chức năng cú pháp với các thành phần khác trong cấu tạo câu thì có thể phân vào một từ loại Tuy nhiên vì thường một từ có thể giữ nhiều chức năng cú pháp trong câu nên cần phải xem xét chức năng cú pháp nào của từ là chủ yếu để làm căn cứ phân loại Chẳng hạn, những từ có ý nghĩa chỉ sự vật thường làm chủ ngữ, bổ ngữ; còn những từ chỉ hoạt động, trạng thái thường làm vị ngữ…

1.2.5 Phân loại từ

Căn cứ vào các tiêu chí ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp,

từ loại được chia thành hai lớp lớn dó là thực từ và hư từ

Thực từ: là lớp từ có ý nghĩa từ vựng- ngữ pháp, có chức năng biểu thị sự vật,

trạng thái, quá trình, trạng thái, đặc trưng của sự vật

Thực từ có khả năng đảm nhận các thành phần, vị trí trong câu và có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ

Thực từ là tập hợp lớp nhất về số luợng trong vốn từ vựng tiếng Việt; bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ

Hư từ: là lớp từ không có ý nghĩa từ vựng, chỉ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp hoặc

ý nghĩa tình thái Hư từ không có khả năng làm thành tố chính trong cụm và nó được dùng kèm với thực từ với tác dụng nối kết, diễn dạt ý nghĩa tình thái.Hư từ gồm phó từ, luợng từ, quan hệ từ, trợ từ, tình thái từ, chỉ từ, thán từ

Trang 23

a) Danh từ

- Ý nghĩa khái quát: Danh từ là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể

- Khả năng kết hợp

Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ; có khả năng kết

hợp với các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ ; có khả năng kết hợp trực tiếp hay

gián tiếp với số từ

- Chức năng cú pháp: Chức năng cú pháp chính của nó là làm chủ ngữ trong

câu

- Phân loại và miêu tả

Danh từ riêng: Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật cụ

thể…Danh từ riêng bao gồm:

+ Danh từ riêng chỉ tên người: Tên riêng của người Việt thường gồm 3 yếu tố:

họ, đệm, tên

Bên cạnh tên riêng chính thức, nguời Việt còn dùng tên riêng thông dụng và tên riêng đặc biệt (bí danh, bút danh, biệt hiệu )

+ Danh từ riêng chỉ sự vật: gồm tên gọi một con vật cụ thể, tên gọi một đồ vật

cụ thể, tên gọi tổ chức xã hội cụ thể, dịa danh

Danh từ chung: là từ chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái

quát, trừu tuợng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể được gọi tên Bao gồm các loại: danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật

+ Danh từ chỉ đơn vị: Ðây là một tiểu loại danh từ rất đa dạng, bao gồm các

lớp từ không thuần nhất Nét nổi bật của nó là khả năng kết hợp trực tiếp, vô điều kiện với số từ (là danh từ đếm được tiêu biểu)

Nhóm danh từ chỉ đơn vị tính toán quy uớc: (thường đứng ở vị trí trung gian

giữa số từ và danh từ chỉ chất liệu), ví dụ: cân, tạ, lít, yến, mét, sào, mẫu, cốc,

thúng, bó, chai, ly

Nhóm danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (danh từ chỉ loại, loại từ): Ðây là một tiểu

loại danh từ khá dặc biệt Tiếng Việt có các danh từ chỉ loại chuyên dùng như: con,

Trang 24

tấm, bức, cái,chiếc, ngôi, hòn, dứa, thằng; có những danh từ chỉ loại lâm thời như: người, ông, bà, cô, bác, anh, chị, em , cây, quả, lá, ngọn

Danh từ chỉ sự vật

+ Danh từ tổng hợp: danh từ tổng hợp dùng để gọi tên những sự vật tồn tại

thành từng tổng thể gồm nhiều sự vật cùng loại với nhau hoặc có chung một số đặc

điểm nào dấy Ví dụ: quần áo, sách vở, chợ búa, đất đai, bàn ghế

+ Danh từ không tổng hợp: bao gồm các tiểu loại khác nhau

Nhóm danh từ chỉ chất liệu: biểu thị sự vật có ý nghĩa chỉ về chất liệu ở các thể chất khác nhau Ví dụ: nuớc, dầu, mỡ, khí, hoi, duờng, bột, cát, sạn,…

Nhóm danh từ chỉ khái niệm thời gian, không gian: chốn, miền, phía hướng,

hồi, dạo, buổi, vụ, mùa, khi, lúc, thuở

Nhóm danh từ chỉ khái niệm về sự vật, sự việc, khái niệm trừu tượng: sự, nỗi,

niềm, cuộc, trận, phen, trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau, bắc

Nhóm danh từ chỉ người: bao gồm từ chỉ quan hệ thân thuộc, chức vụ, nghề

nghiệp, học hàm, tầng lớp xã hội Ví dụ: ông, bà, anh, chị, cô, bác, đàn ông, đàn

bà, bác si, kỹ su, học sinh, hiệu truởng

Nhóm danh từ chỉ đồ vật, động vật, thực vật Ví dụ: bàn, ghế, sách, vở, tre,

trúc, hoa, quả, trâu, bò, gà, vịt

Nhóm danh từ chỉ đơn vị tổ chức, địa lý, chẳng hạn: tỉnh, xã, phường, đoàn, ủy

ban, viện, khoa, trường

b) Ðộng từ

- Khả năng kết hợp:Ðộng từ làm trung tâm trong cụm động từ Các từ chứng tiêu biểu của động từ là: hãy, đừng, chớ, đã, đang, sẽ, đều,vẫn, cũng, xong, rồi, nữa

- Chức năng cú pháp: Chức năng cú pháp chính là làm vị ngữ trong câu

- Phân loại và miêu tả:Dựa vào bản chất nghĩa – ngữ pháp của động từ, ta có

thể chia động từ thành hai loại lớn: Những động từ độc lập và những động từ không độc lập

Trang 25

Nhóm động từ độc lập: Ðộng từ độc lập là những động từ tự thân có nghĩa

Chúng có thể dùng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm Bao gồm:

+Nhóm động từ tác động đến đối tượng: loại động từ này đòi hỏi phải có thành

tố phụ (bổ ngữ) đi sau Ví dụ: làm, cắt, chặt, quang, trồng, vẽ

+ Nhóm động từ trao nhận: thường cần hai bổ ngữ Ví dụ:cho, biếu, tặng, bán,

nhận, vay, mua

+ Nhóm động từ gây khiến: loại này cung cần hai bổ ngữ Ví dụ:cấm, bảo, bắt

buộc, kêu gọi, đề nghị, xin, ép, khuyên, để

+ Nhóm động từ cảm nghi, nói năng:biết, hiểu, nghi, nghe, thấy

+ Nhóm động từ chuyển động: ra, vào, lên, xuống, di, chạy, bò, lan, kéo, xô,

dẩy

+ Nhóm động từ tồn tại hoặc tiêu biến:còn, có, biến, mất, hết

+ Nhóm động từ không tác động đến đối tượng Ví dụ: ở, ngồi, đứng, nằm,

ngủ, thức, cuời, cằn nhằn

+ Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết

thúc, ngừng, thôi, hết

+Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến trong không gian:gần, xa, ở

+ Nhóm động từ trạng thái tâm lý:yêu, ghét, sợ, thích, mê

+ Nhóm động từ tổng hợp:đi đứng, ra vào, trò chuyện

Nhóm động từ không độc lập: Là những động từ biểu thị tình thái vận động,

quá trình nhưng tự thân chưa mang nghĩa trọn vẹn Bao gồm:

+ Nhóm động từ chỉ quan hệ so sánh, đối chiếu:giống, khác, như, tựa, in, hệt + Nhóm động từ chỉ quan hệ đồng nhất: là, làm…

+ Nhóm động từ chỉ quan hệ sở hữu: có

+ Nhóm động từ biến hóa Ví dụ:làm, trở thành, hóa, hóa ra

+ Nhóm động từ tình thái: Tình thái về sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải

Tình thái về khả năng: có thể, không thể, chưa thể… Tình thái về ý chí: định, toan,

nỡ, dám… Tình thái về mong muốn: mong, muốn, uớc, tưởng, ngỡ… Tình thái về

Trang 26

sự tiếp thu chịu đựng: bị, mắc, phải, duợc… Tình thái về đánh giá: cho, xem, thấy

(thường kèm với từ “rằng”)

c) Tính từ

- Ý nghĩa khái quát: Tính từ “là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của

thực thể hay đặc trưng của quá trình)”

- Khả năng kết hợp:Tính từ thường làm thành tố trung tâm trong cụm tính từ

Từ chứng cho tính từ là các phó từ như: rất, hoi, quá, lắm

- Chức năng cú pháp: Tính từ thường làm vị ngữ trong câu

- Phân loại và miêu tả :Dựa vào nghĩa và khả năng kết hợp của tính từ (về ngữ pháp) có thể chia tính từ thành các tiểu loại Những tính từ chỉ đặc trưng, tính chất

tuyệt đối (không được đánh giá theo thang độ): Ví dụ: riêng, chung, công, tu, chính, phụ, công cộng,đỏ lòm, trắng phau, đen sì, xanh muợt và những tính từ chủ đặc trưng thuộc về phẩm chất (được đánh giá theo thang độ)

+ Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc, mùi vị Ví dụ: xanh, đỏ, vàng, đậm, nhạt,

thom, thối, cay, ngọt, nhạt

+Tính từ chỉ tính chất phẩm chất Ví dụ: tốt, đẹp, xấu, khéo, vụng, tầm thường,

quan trọng, phải, trái, hèn, mạnh, dũngcảm

+Tính từ chỉ đặc trưng về kích thước, số lượng Ví dụ: to, nhỏ, nặng, nhẹ,

nhiều, ít, rậm, thua, ngắn, dài, cao, thấp

+ Tính từ chỉ đặc trưng về cường dộ Ví dụ: mạnh, yếu, nóng, lạnh

+Tính từ chỉ đặc trưng về hình thể Ví dụ: vuông, tròn, thẳng, gãy, cong, méo,

gầy, béo

+ Tính từ chỉ đặc trưng về âm thanh Ví dụ: ồn, im, ồn ào, im lìm

+ Tính từ chỉ đặc trưng mô phỏng: chúng thường là từ láy Ví dụ: ào ào, đùng

đùng, chênh vênh, gập ghềnh…

d) Số từ

- Ý nghĩa khái quát: So với đại từ, số từ gần với thực từ hơn vì nó còn có

những nét nghĩa chân thực Số từ gồm những từ biểu thị ý nghĩa số Ý nghĩa số vừa

có tính chất thực, vừa có tính chất hư

Trang 27

- Khả năng kết hợp:Số từ phổ biến là được dùng kèm với danh từ để biểu thị

số lượng sự vật nêu ở danh từ Số từ có thể có từ kèm bổ nghĩa cho nó (hạn chế):

bốn phần năm

* Số từ không xác định: biểu thị số không chính xác Loại này có số lượng

không nhiều lắm.Ví dụ: vài, dăm, mươi, vài ba, đôi ba, dăm ba, một vài, một hai, ba

bảy, hai ba, năm sáu, mấy (phân biệt với từ mấy là đại từ dể hỏi)

e) Ðại từ

- Ý nghĩa khái quát: Ðại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Nghĩa của đại

từ là biểu thị các quan hệ định vị bao hàm cả nghĩa trỏ và thay thế.Ý nghĩa thay thế

ở đây là thay thế cái đã được gọi tên, cái đã được nói tới và được biết tới trước đó.Ý

nghĩa thay thế là thay thế về mặt cú pháp chứ không thay thế về từ loại

- Khả năng kết hợp: Ðại từ có khả năng kết hợp rất hạn chế

- Chức năng cú pháp: Ðại từ nói chung có thể đảm nhận được các chức năng

cú pháp của thực từ được thay thế

- Phân loại và miêu tả

* Ðại từ để trỏ

+ Ðại từ trỏ người, sự vật (đại từ xưng hô): tôi, tao, tớ, ta, mày, nó, hắn, chúng

tôi, chúng mày, chúng bay, họ, ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, chủ tịch, bác si, sếp

+ Ðại từ trỏ số lượng: bấy, bấy nhiêu,…

+ Ðại từ trỏ hoạt động, tính chất: thế, vậy…

* Ðại từ để hỏi

+ Ðại từ để hỏi về người, sự vật: ai, gì, nào (cái gì, cái nào)…

Trang 28

+ Ðại từ để hỏi về số lượng: bao giờ, bao lâu, mấy, bao nhiêu,

+ Ðại từ để hỏi về hoạt động tính chất: sao, vì sao, nào, thế nào, ra

f) Chỉ từ

- Ý nghĩa khái quát: Chỉ từ là những từ trỏ nơi chốn, thời điểm xác định (định

vị về thời gian và không gian) Cách gọi khác là đại từ chỉ định (Lê Biên), chỉ định

từ (Diệp Quang Ban)

- Khả năng kết hợp: Làm thành phần phụ sau trong cụm danh từ

- Chức năng cú pháp: Có thể làm trạng ngữ hoặc chủ ngữ trong câu

- Phân loại

+ Chỉ từ chỉ không gian: này, đây, đấy, đó, ấy, kia, kìa, nọ

+ Chỉ từ chỉ thời gian: bây giờ, giờ, rày, bấy giờ, nãy,…

g) Lượng từ

- Ý nghĩa khái quát: là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ

- Khả năng kết hợp: chuyên dùng kèm với danh từ

- Chức năng: làm thành tố phụ trong cụm danh từ

+ Nhóm “cả, tất cả, tất thảy, hết thảy, hết cả, cả thảy…” (Nhóm này truớc đây

được xếp vào nhóm đại từ chỉ số lượng tổng thể)

h) Phó từ

- Ý nghĩa khái quát: là những từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và

đặc trưng với thực tại, biểu thị ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng trong hiện thực

- Khả năng kết hợp: thường dùng kèm với động từ, tính từ

Trang 29

- Chức năng cú pháp: làm thành tố phụ trong cụm động từ, cụm tính từ khi các

cụm từ tham gia cấu tạo thành phần câu

- Phân loại

+ Phó từ chỉ thời gian: đã, đang, sẽ, vừa, mới, sắp, từng…

+ Phó từ chỉ sự khẳng định, phủ định: không, chưa, chẳng (chả), có

+ Phó từ chỉ ý nghĩa mệnh lệnh: hãy, đi, thôi, đừng, chớ, hẵng,…

+ Phó từ chỉ sự so sánh, tiếp diễn: cũng, đều, vẫn, còn, mải, lại, cứ, mãi, nữa… + Phó từ chỉ mức độ: rất, quá, lắm, khá, khí, hơi…

+ Phó từ chỉ ý nghĩa kết thúc, hoàn thành của hành động: xong, rồi…

+ Phó từ chỉ kết quả: mất, được, lấy…

+ Phó từ chỉ huớng diễn biến: ra, lên, xuống, di, lại, sang, qua, lại, dến, vào… + Phó từ biểu thị sự đánh giá bất lợi: cho, phải…

+ Phó từ chỉ tần số: thuờng, hay, nang, thuờng xuyên, luôn, luôn luôn…

i) Quan hệ từ

- Ý nghĩa khái quát: Quan hệ từ là từ loại biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các

khái niệm và đối tượng được phản ánh Quan hệ từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu mà nó liên kết Quan hệ từ không có ý nghĩa từ vựng chỉ thuần túy mang ý nghĩa ngữ pháp

- Khả năng kết hợp:Không làm thành tố trung tâm trong cụm từ Quan hệ từ

được dùng để nối kết các từ, các kết hợp từ, các câu, các đoạn văn với nhau

- Chức năng cú pháp: Không làm thành phần chính trong câu

- Phân loại

+ Quan hệ từ chính phụ: chỉ ý nghĩa quan hệ chính phụ Chúng dùng để nối

kết thành tố phụ vào thành tố chính Chẳng hạn: của, cho, bằng, do, vì, bởi, tại, để,

mà, về, đến, tới, từ, trong, ngoài, trên, dưới, giữa

+ Quan hệ từ đẳng lập: chỉ ý nghĩa quan hệ đẳng lập Quan hệ từ chuyên nối

các thành tố có quan hệ đẳng lập Chẳng hạn: và, với, cùng, hay, hoặc, rồi, còn , là,

thì, thà, chứ

Trang 30

j) Trợ từ

- Ý nghĩ khái quát: Trợ từ là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái bằng cách nhấn

mạnh vào từ, kết hợp từ…có nội dung phản ánh liên quan đến thực tại mà người nói muốn lưu ý người nghe Chúng được dùng để nhấn mạnh vào một chi tiết nào đó

hoặc để biểu thị sự đánh giá của nguời nói đối với một sự tình trong câu

- Khả năng kết hợp: Trợ từ không có khả năng làm trung tâm trong cụm từ Nó

có thể đứng trước từ mà nó bổ sung ý nghĩa tình thái

- Chức năng cú pháp: Không có khả năng làm thành phần câu

- Phân loại: chính, tự, ngay, cả, những, hàng, đích, đích thị, chỉ, chỉ là, đến,

đến cả, đến nỗi, thật ra, thì, là, mà, cái, ngay cả, ngay như, ngay những, đúng, đúng

là,

k) Tình thái từ

- Ý nghĩa khái quát: Tình thái từ là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan

hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung được phản ánh, hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn Tuy tình thái từ có số lượng không nhiều nhưng nó mang những sắc thái khá đa dạng.Nhờ nó mà người nói (người viết)

có thể bày tỏ được những sắc thái tình cảm và thái độ tế nhị đối với người nghe, hoặc đối với nội dung câu nói

- Khả năng kết hợp: Tình thái từ không có mối liên hệ hình thức với từ đứng

trước hoặc sau chúng

- Chức năng cú pháp :Tình thái từ thường làm dấu hiệu chỉ rõ mục đích phát

ngôn của câu

- Phân loại

+ Tình thái từ nghi vấn: à, u, nhỉ, nhé, chứ, chang, hử, hả, không, phỏng…

+ Tình thái từ cầu khiến: đi, thôi, nào, với, kia, chứ…

+ Tình thái từ thể hiện thái độ ngạc nhiên: nhỉ, u

+ Tình thái từ cảm thán: thay, sao…

+ Tình thái từ biểu hiện cảm xúc: a, á, ạ, vậy, mà, co, hử, nhé, đấy…

Trang 31

l) Thán từ

- Ý nghĩakhái quát :Thán từ là từ loại dùng để biểu hiện cảm xúc, biểu lộ trực

tiếp thái độ, tình cảm chủ quan của chủ thể phát ngôn

- Khả năng kết hợp: Thán từ không có mối liên hệ hình thức với từ đứng trước

hoặc sau chúng

- Chức năng cú pháp: Thán từ vừa có vai trò như một từ, vừa có vai trò tương

đương với một câu và có thể đứng độc lập, tạo thành một khối riêng Nó có thể dùng độc lập như một câu đơn đặc biệt, có thể dùng kết hợp với các từ khác

- Phân loại: Một số thán từ thường gặp:ồ, ôi, chao ôi, ủa, chà, ơ hay, ô kìa, ơ

này, trời ơi, trời đất ơi, ái chà, eo ôi, a, hỡi, ơi, này, vâng, dạ

1.3 Chương trình Tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum

1.3.1 Khái niệm Tập nói tiếng Việt

Tiếng việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam.Tiếng việt còn

là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam trong đó có dân tộc Bahnar Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây

là chữ Nôm – một hệ chữ dựa trên chữ Hán để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại) Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ, cùng các dấu thanh để viết Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để viết

Tập nói tiếng Việt là dạy cho trẻ những vốn từ, từ loại về các đặc điểm, tính chất các hiện tượng tự nhiên, đời sống xã hội cho trẻ

1.3.2 Chương trình Tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum

Chương trình Tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo người dân tộc thiểu số

(DTTS) được biên soạn, hoàn thiện trên cơ sở chương trình “Hướng dẫn tập nối

tiếng Việt cho học sinh dân tộc” của Bộ Giáo Dục và Đào tạo để chuẩn bị cho học

Trang 32

sinh vào lớp một, môn “Tìm hiểu môi trường xung quanh” trong chương trình mẫu

giáo của Bộ Giáo Dục và Đào tạo và những kinh nghiệm qua thực tiễn dạy học chương trình mầm non, tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum trong các năm qua

Chương trình Tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số gồm:

- Phát huy tính tích cực của trẻ, rèn tính mạnh dạn cho trẻ trong giao tiếp

b) Nội dung – Kế hoạch dạy học:

Các chủ điểm: Chương trình được xây dựng trên cơ sở môn Môi trường

xung quanh của chương trình mẫu giáo 26 tuần làm trọng tâm để lựa chọn các nội

dung tập nói tiếng Việt thông qua giờ học, vui chơi, sinh hoạt ở lớp

- Chủ điểm 7: Hiện tượng tự nhiên – Thời gian

- Chủ điểm 8: Các hoạt động xã hội

- Chủ điểm 9: Bác Hồ - Trường Tiểu học

Mỗi chủ điểm gồm có từ 6 đến 13 bài, tổng cộng chương trình có 75 bài, mỗi bài cung cấp 5 – 10 từ ngữ, từ 1 – 3 mẫu câu

Trang 33

Kế hoạch dạy học:

Các bài dạy tập nói tiếng Việt:

CHỦ ĐIỂM BÀI DẠY SỐ TIẾT

9 Ôn tập về chủ điểm lớp mẫu giáo 2

III Gia đình

17 Công việc của những người trong gia đình 2

18 Đồ dùng cá nhân trong gia đình 2

21 Nề nếp, thói quen trong ăn uống 2

IV Động vật

24 Các con vật nuôi trong gia đình 2

25 Các con vật nuôi trong gia đình 2

Trang 34

26 Các con vật sống trong rừng 2

40 Ôn tập chủ điểm Lễ hội – Làng – Mùa xuân

Trang 35

53 Bầu trời ban đêm 2

55 Ôn tập chủ điểm Hiện tượng thiên nhiên – Thời gian

63 Các loại phương tiện giao thông đường bộ 2

65 Các loại phương tiện giao thông đường thủy, trên không

Trang 36

c) Yêu cầu cần đạt đối với trẻ ở từng chủ điểm:

 Chủ điểm 1: Lớp mẫu giáo

- Trẻ vui vẻ khi đến lớp

- Biết chào cô, chào bạn khi đến lớp và khi ra về

- Biết giới thiệu tên của mình, biết tên bạn trong lớp

- Hiểu , thực hiện các qui định, nề nếp trong lớp như xếp hàng khi nghe hiệu lệnh, xin phép cô giáo khi cần ra ngoài

- Biết rửa tay, rửa mặt trước khi đến lớp

- Biết tên, công dụng của đồ dùng dạy học, đồ chơi trong lớp

- Biết các hoạt động hằng ngày ở lớp

- Biết về lớp mẫu giáo của mình (tên lớp, địa điểm, tên cô giáo)

- Biết đặt câu hỏi:

Bạn tên là gì?Tay bạn như thế nào?

Cái gì đây?Cái này dùng để làm gì?

Lớp mẫu giáo của chúng ta ở đâu?Tên cô giáo là gì?

Và biết trả lời đúng các câu hỏi đó

 Chủ điểm 2: Bản thân

- Biết tuổi, giới tính, địa chỉ nhà

- Biết gọi tên các bộ phận của cơ thể, lợi ích của chúng ta và biết vệ sinh thân thể hằng ngày

- Biết giữ gìn quần áo, giày dép phục vụ bản thân

- Biết trả lời câu hỏi:

Tên cháu là gì?Cháu bao nhiêu tuổi?

Cháu là trai hay gái?Cháu học lớp nào?

Nhà cháu ở đâu?

Vì sao chúng ta phải tắm rửa hằng ngày?

Giặt quần áo hằng ngày để làm gì?

- Biết thực hiện các câu mệnh lệnh của giáo viên:

Hãy đưa cho cô …! Hãy đội mũ lên!

Trang 37

Hãy mặc áo vào?Hãy mang dép vào?

 Chủ điểm 3: Gia đình

- Biết tên những người trong gia đình, số người trong gia đình

- Biết công việc của bố, mẹ, anh, chị

- Biết tên các đồ dùng trong gia đình, cách sử dụng, lợi ích của đồ dùng

- Biết sử dụng các từ ngữ đã học để kể về ngôi nhà của mình

- Biết một số kiến thức về nề nếp thói quen trong ăn uống

- Biết lợi ích của việc vệ sinh môi trường

- Biết trả lời các câu hỏi:

Bố cháu làm gì?Mẹ cháu làm gì?

Cháu thích gì nhất ở ngôi nhà của mình?

Vì sao phải rửa tay trước khi ăn?

Vì sao chúng ta phải giữ vệ sinh môi trường?

Ta nên làm gì để giữ vệ sinh môi trường?

- Thực hiện được câu mệnh lệnh:

Cháu hãy kể công việc của bố/ mẹ!

Hãy kể về đồ dùng chung trong gia đình?

Hãy kể tên đồ dùng cá nhân trong gia đình?

Hãy kể về ngôi nhà của cháu!

 Chủ điểm 4: Động vật

- Nhận biết và gọi đúng tên các con vật nuôi trong gia đình

- Biết phân nhóm các con vật thuộc nhóm gia cầm (hai chân, đẻ trứng), các con vật thuộc nhóm gia súc (bốn chân, đẻ con), lợi ích các con vật nuôi

- Biết gọi tên các con vật sống trong rừng, một số đặc điểm của chúng

- Biết tên các con vật sống dưới nước, lợi ích của chúng

- Biết tên một số loại côn trùng, lợi ích, tác hại, cách phòng tránh

- Có khả năng nhận biết con vật thông qua tiếng kêu, thức ăn, môi trường sống, qua tranh ảnh

Trang 38

- Trẻ có kỹ năng đặt câu hỏi và trả lời theo mẫu câu:

Đây là con gì? Tiếng kêu của nó như thế nào?Nó có những đặc điểm gì? Nhà bạn có nuôi con gì? Con … nhà bạn nó có những đặc điểm gì?

Đây là con chim gì? Vì sao chim bay được?

- Nghe, hiểu các câu mệnh lệnh:

Cháu hãy kể về con …! Cháu hãy bắt chước tiếng kêu của…!

Cháu hãy kể tên các con vật sống trong rừng!

Cháu hãy kể tên các con vật sống dưới nước!

Cháu hãy kể tên một số loài chim!

 Chủ điểm 5: Lễ hội – Làng – Mùa xuân

- Biết được tên làng, tên xã, các hoạt động lễ hội ở làng

- Biết sử dụng các từ ngữ nói về nhà rông của làng, các sinh hoạt ở nhà rông

- Tham gia cùng với lớp tổ chức các hoạt động lễ hội của làng tại lớp

- Biết đặc điểm của mùa xuân (thời tiết, hoa nở, các hoạt động trong ngày tết nguyên đán, trang phục, món ăn truyền thống của địa phương)

- Biết nói về làng quê Tây Nguyên

- Trẻ có kỹ năng đặt câu hỏi và trả lời theo mẫu câu:

Làng nơi cháu ở tên gì?Làng thuộc xã nào?

Ở làng cháu có những gì?

Đây là cảnh gì?Ở làng quê có những gì?

Mọi người thường đến nhà rông để làm gì?

Đây là mùa gì?Mùa xuân thường có những gì?

Ngày tết Nguyên đán có những gì?

Trong ngày tết các bạn nhỏ được mặc quần áo như thế nào?

- Nghe, hiểu các câu mệnh lệnh:

Các cháu hãy kể về làng mình!

Cháu hãy kể về nhà rông của làng mình!

Các cháu hãy kể về ngày tết nguyên đán!

Trang 39

 Chủ điểm 6: Thực vật

- Biết kể tên các loại cây xanh, cây ăn quả gần gũi tại địa phương, bộ phận của cây, lợi ích

- Biết lợi ích của cây lấy gỗ

- Biết gọi tên một số các loại rau ăn lá, ăn củ, ăn quả, lợi ích, các món ăn được chế biến từ các loại rau

- Biết gọi tên một số loại hạt, một số loại hoa phổ biến của địa phương

- Trẻ có kỹ năng đặt câu hỏi và trả lời theo mẫu:

Đây là cây gì?Đây là phần gì của cây?

Đây là lá của cây gì? Cây ăn quả có lợi ích gì với đời sống con người? Đây là rau gì?Rau này dùng để làm gì?

Đây là hạt gì?Hạt này dùng để làm gì?

Đây là hoa gì?Hoa dùng để làm gì?

- Hiểu và làm theo câu mệnh lệnh:

Cháu hãy kể tên các loại cây ăn quả!

Cháu hãy kể tên các loại rau!

Cháu hãy kể tên các loại hoa!

 Chủ điểm 7: Hiện tượng thiên nhiên – Thời gian

- Hiểu, gọi đúng tên sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên qua quan sát và trải nghiệm về thời tiết mưa, nắng

- Biết các loại nguồn nước, lợi ích của nước, bảo vệ nguồn nước

- Biết về thời gian trong ngày: sáng, trưa, chiều, tối

- Biết về bầu trời ban đêm, mặt trăng, các vì sao, mặt trời

- Biết số ngày, số thứ tự trong tuần, những ngày đi học và những nagyf nghỉ

- Trẻ có kỹ năng đặt câu hỏi và trả lười theo mẫu câu:

Hôm nay trời như thế nào?Hôm nay trời nắng

Đi nắng phải đội gì?Đi nắng phải đội mũ/ nón

Hôm nay trời như thế nào?Hôm nay tròi mưa

Đi dưới trời mưa phải làm gì?Đi dưới mưa phải che dù/ mặc áo mưa

Trang 40

Nước dùng để làm gì?

Trong ngày có những buổi nào?

Bầu trời ban đêm có những gì?

Trong một tuần lễ có mấy ngày?

Những ngày nào đi học?những ngày nào được nghỉ?

 Chủ điểm 8: Các hoạt động xã hội

Cô giáo dạy cháu những gì?

Bác sĩ/ y tá làm gì?Khi nào các cháu đến trạm y tế?

- Phân loại các phương tiện theo dấu hiệu: nươi hoạt động, tốc độ

- Biết một số qui định về giao thông đường bộ đơn giản: đi bên phải, đi sát lề đường hoặc đi trên vỉa hè, không chơi trên lòng đường

- Trẻ có kỹ năng đặt câu hỏi và trả lời theo mẫu câu:

Phương tiện giao thông đường bộ có những loại xe nào?

Ngày đăng: 26/06/2021, 19:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Đức Tiến – Nguyễn Đắc Lam – Lê Thị Ánh Tuyết – Hà Nguyễn Kim Giang, Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen tác phẩm văn học/ Khác
2. Đinh Văn Vang, Giáo trình giáo dục học mầm non, Nhà xuất bản giáo dục Khác
3. Chương trình Tập nói Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tỉnh Kon Tum Khác
4. Mai Ngọc Chữ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Viêt, Nhà xuất bản giáo dục Khác
5. Nguyễn Xuân Khoa, Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm Khác
6. Nguyễn Xuân Khoa – Hoàng Thị Oanh, Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm Khác
7. Nguyễn Ánh Tuyết, Giáo trình Tâm lý học trẻ em lưa tuổi mầm non (từ lọt lòng đến 6 tuổi). Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Khác
8. Phạm Thị Châu – Nguyễn Thị Oanh – Trần Thị Sinh, Giáo dục học mầm non. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Khác
9. TS. Lê Thanh Vân, Giáo trình sinh lý học trẻ em, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
10. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb giáo dục, Hà Nội 11. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb giáo dục, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ, Nxb Khoa học xã hội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w